1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế lượng 2 phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số BMI của người trẻ

32 468 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 671,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOA KINH TẾ QUỐC TẾ ---***---BÀI GIỮA KÌ MÔN KINH TẾ LƯỢNG 2 ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ BMI CỦA NGƯỜI TRẺ Nhóm sinh viên thực hiện: NH

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

-*** -BÀI GIỮA KÌ MÔN KINH TẾ LƯỢNG 2

ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ

SỐ BMI CỦA NGƯỜI TRẺ

Nhóm sinh viên thực hiện: NHÓM 4

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG I - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6

1.1 Cơ sở chọn lựa biến và mẫu 6

1.2 Định nghĩa 6

1.2.1 Biến phụ thuộc: BMI

6 1.2.2 Biến độc lập

6 1.3 Một số đánh giá về BMI 7

1.3.1 Mối quan hệ giữa BMI và các yếu tố quyết định

7 1.3.2 Khía cạnh tích cực của đo lường chỉ số BMI

7 1.3.3 Khía cạnh tiêu cực của đo lường chỉ số BMI

8 CHƯƠNG II - CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 9

2.1 Nghiên cứu về lối sống ảnh hưởng đến tỷ lệ béo phì thông qua đánh giá chỉ số BMI của một nhóm nam giới ở tỉnh miền trung Sri Lanka được thực hiện bởi N.S.Kalupahana và cộng sự. 9

2.2 Nghiên cứu về các yếu tố hành vi và xã hội ảnh hưởng đến chỉ số BMI giữa nam và nữ tại khu ổ chuột Nairobi được đưa ra bởi hiệp hội H3Africa (2015) 9

2.3 Nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến chỉ số BMI ở trẻ em và thanh thiếu niên, được thực hiện bởi Edwin A Mitchell và cộng sự (2018) 10

2.4 Nghiên cứu về BMI của người mẹ và tình trạng sinh non thực hiện bởi Maria Regina Torloni,Ana Pilar Betrán, Silvia Daher và các cộng sự (2010) 11 2.5 Nghiên cứu về tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến chỉ số BMI ở trẻ nhỏ từ 9 - 11 tuổi

Trang 3

CHƯƠNG III – PHƯƠNG PHÁP LUẬN 14

3.1 Phương trình hồi quy OLS 14

3.2 Mô hình kinh tế 14

3.3 Mô hình kinh tế lượng 16

1

Trang 4

3.4 Dữ liệu 16

3.4.1 Thu thập dữ liệu

16 3.4.2 Mô tả dữ liệu

16 3.4.3 Kỳ vọng của các tham số

18 CHƯƠNG IV – MÔ HÌNH HỒI QUY VÀ PHÂN TÍCH TRONG 20

4.1 Tương quan giữa các biến 20

4.2 Hồi quy mô hình 21

4.3 Kiểm định 22

4.3.1 Kiểm định khuyết tật mô hình

22 4.3.2 Kiểm định ý nghĩa của các hệ số

24 4.3.3 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình

25 KẾT LUẬN 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 5

2

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Giải thích biến 17

Bảng 2: Mô tả thống kê các biến 17

Bảng 3: Phân phối của biến sex 18

Bảng 4: Kết quả tương quan giữa các biến trong mô hình 20

Bảng 5: Mô tả kết quả kiểm định 23

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Trong quá khứ, chọn lọc tự nhiên đã ưu tiên những loại gen có thể chịu đựng môitrường sống khắc nghiệt bằng cách tích trữ năng lượng dưới dạng mỡ và cơ thể conngười cũng thích ứng với môi trường xung quanh bằng cách này Nhưng những ảnhhưởng xấu của việc tích mỡ quá nhiều hoặc quá ít đã được y học ghi nhận từ thế kỉ thứXVIII và được tuyên bố có thể gây chết người vào thế kỉ XIX

Trong nhiều thập kỉ trở lại đây, không chỉ Việt Nam mà nhiều nước trên thế giớiđang đối mặt với gánh nặng dinh dưỡng kép là suy dinh dưỡng và béo phì Hai vấn đề

về dinh dưỡng này bị gây ra là do sự mất cân bằng nghiệm trọng giữa lượng calorie nạpvào và calorie tiêu thụ Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá suy dinh dưỡng

và béo phì như đo lớp mỡ dưới da, đo tỷ trọng mỡ cơ thể, cân đặc biệt để đo tỷ lệ phầntrăm mỡ trong cơ thể Phương pháp thông dụng nhất được Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) khuyến cáo dùng để đánh giá tình trạng béo là dựa vào chỉ số khối cơ thể (BMI

- Body Mass Index)

BMI là một chỉ số để xác định lượng mỡ trong cơ thể bằng cách dựa vào cân nặng

và chiều cao một cách dễ dàng, tiện lợi Kết quả đo BMI có thể bị ảnh hưởng bởi nhiềunhân tố trong thói quen sống của con người ví dụ như số phút trung bình tập thể dụctrong một ngày, số giờ ngủ, Trong cuộc sống hiện đại, ngày càng xuất hiện nhiều thựcphẩm ngày rẻ, nhiều calo (ví dụ, thức ăn nhanh - hoặc đồ ăn vặt) chứa mức calorie caokết hợp với lối sống ít vận động, số bữa ăn trong một ngày có ảnh hưởng lớn đến chỉ sốBMI Hơn nữa, thu nhập cá nhân cũng đóng một vai trò quan trọng trong chỉ số này.Nhưng những yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến chỉ số BMI như thế nào và yếu tố nào ảnhhưởng mạnh nhất? Để trả lời câu hỏi này, nhóm quyết định nghiên cứu để tìm ra câu trảlời phù hợp nhất Vì quy mô quá lớn của vấn đề, nhóm chỉ tập trung vào đối tượng là

những người trẻ và lựa chọn đề tài là: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số BMI của người trẻ" Thông quа nghiên cứu và phân tích dữ liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu hướng tới các mục tiêu sаu:

Trang 8

Hai là, xây dựng mô hình hồi quy thể hiện mức độ tác động củа các nhân tố ảnh

hưởng đến chỉ số BMI

Ba là, kiểm tra phát hiện khắc phục các khuyết tật trong mô hình

Bốn là, kiến nghị, đưa ra giải pháp cải thiện chỉ số BMI

Bài tiểu luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Chu Thị Mai Phương.Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành vẫn còn rất nhiều thiếu sót chúng em mongnhận được sự góp ý của cô để tiểu luận này được hoàn chỉnh hơn

Trang 9

CHƯƠNG I - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU1.1 Cơ sở chọn lựa biến và mẫu

Theo kênh Better Health được quản lý và uỷ quyền bởi Bộ Y Tế và Dịch vụ Nhânsinh chính phủ bang Victoria, Úc, xu hướng tích trữ chất béo trên cơ thể bị ảnh hưởngbởi gen Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể điều chỉnh lượng mỡ trong cơ thể theo mộtchiều hướng tốt bằng hoạt động thể chất, ngủ sớm và ăn chất béo không bão hoà thay

vì chất béo bão hoà, Những cách này đã được chứng minh giúp giảm nguy cơ béo phì

và dẫn đến một chỉ số BMI lý tưởng

Do những đặc điểm của BMI - sử dụng cân nặng và chiều cao Vì vậy, nhóm chọn

5 biến số ảnh hưởng gián tiếp và trực tiếp đến BMI của người trẻ: giới tính, số bữa ănmột ngày, thời gian ngủ mỗi ngày (tính bằng giờ), thời gian tập thể dục trung bình 1ngày (tính bằng phút), thu nhập trung bình 1 tháng

Nhóm sử dụng mô hình hồi quy bội Dựa trên kết quả của biến độc lập ta có thể

dự đoán được biến phụ thuộc (BMI)

1.2 Định nghĩa

1.2.1 Biến phụ thuộc: BMI

Chỉ số khối cơ thể - BMI (Body Mass Index) là một cách nhận định cơ thể củamột người là gầy hay béo bằng một chỉ số, được rút ra từ khối lượng cơ thể và chiềucao của một cá nhân

Chỉ số khối cơ thể của một người tính bằng công thức:

BMI (kg/ " ) = #

$ %

Trong đó:

● W là khối lượng của một người (tính bằng kg)

● H là chiều cao của người đó (tính bằng m)

1.2.2 Biến độc lập

Giới tính: Điều kiện sinh lý và xã hội ở nam/nữ

Số bữa ăn một ngày: tổng số lần ăn trong một ngày

Trang 10

Thời gian tập thể dục trung bình 1 ngày (tính bằng phút): số phút vận động hàngngày của cơ thể để tăng cường và duy trì thể lực, sức khoẻ.

Thu nhập trung bình 1 tháng: số tiền kiếm được từ làm việc và hoạt động đầu tư mỗi tháng

Thời gian ngủ trung bình mỗi ngày (tính bằng giờ): là thời gian thần kinh bị trìhoãn, cơ bắp bị hạn chế một cách tương đối, giảm tương tác với môi trường xungquanh trong một ngày

1.3 Một số đánh giá về BMI

1.3.1 Mối quan hệ giữa BMI và các yếu tố quyết định

Theo một chiến lược kiểm soát cân nặng, TS.BS Hana Kahleova đã nói: “Ănsáng như vua, ăn trưa như hoàng tử và ăn tối như ăn mày" Vì thời gian và tần suấ t củabữa ăn đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán giảm cân và tăng cân

Ở bệnh nhân suy tim, chỉ số BMI tăng có liên quan đến chất lượng cuộc sống thấp cũng như giảm sức bền một cách nghiêm trọng

Chỉ số BMI tăng dần theo thu nhập hàng tháng với mức tăng giảm dần cho thấy ởnhóm người trung lưu có nguy cơ cao mắc bệnh thừa cân và béo phì Chỉ số BMI ởnam giới bị ảnh hưởng bởi thu nhập trung bình hàng tháng cao hơn phụ nữ

1.3.2 Khía cạnh tích cực của đo lường chỉ số BMI

Sự đơn giản của việc tính toán chỉ số BMI giúp mọi người dễ dàng đánh gía thôngtin cơ bản về sức khỏe tại nhà thay vì đến chuyên gia y tế đánh giá hoặc mua thiết bịđắt tiền

Theo NPR (National Public Radio), BMI được phát minh bởi Lambert AdolpheJacques Quetelet vào đầu thế kỉ XIX Công thức này được ông tạo ra để dễ dàng tínhtoán mức độ béo phì trong dân số để chính phủ có định hướng nguồn nhân lực mộtcách thích hợp

Chỉ số BMI được cho là chính xác nhất khi được sử dụng đúng mục đích của nó

-để tính toán mức độ béo phì và cân nặng trên phạm vi lớn

Trang 11

1.3.3 Khía cạnh tiêu cực của đo lường chỉ số BMI

BMI là một thước đo lỗi thời để đo lường sức khoẻ Mặc dù được sử dụng bởinhiều chuyên gia y tế, chỉ số BMI nói chung có thể dẫn đến hình ảnh cơ thể kém vàphân loại trọng lượng sai Nhiều người cố gắng dùng BMI để phản ánh tình trạng sứckhỏe Theo CDC (Centers for Disease Control - Trung tâm Kiểm soát Dịch bênh), BMIkhông đo lượng mỡ thừa trong cơ thể, mà là đánh giá mức dộ thừa cân

BMI sử dụng một phương trình toán học nhưng hoàn toàn không tính đến sự khácbiệt giữa các cá nhân và sắc thái riêng lẻ giữa các cá nhân đó Phương trình BMI khôngtính đến việc một người có thể mắc chứng chán ăn bất kể loại bất chấp người đó tạngngười như thế nào BMI chỉ đơn giản là gia tăng thêm sự kỳ thị và tư tưởng đập khuôn

đã có sẵn cho chứng chán ăn

Trang 12

CHƯƠNG II - CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.1 Nghiên cứu về lối sống ảnh hưởng đến tỷ lệ béo phì thông qua đánh giá chỉ số BMI của một nhóm nam giới ở tỉnh miền trung Sri Lanka được thực hiện bởi N.S.Kalupahana và cộng sự.

Tổng cộng có 2469 nam giới trong độ tuổi từ 16 đến 72 được đưa vào nghiên cứu.Mẫu bao gồm dữ liệu của các cá nhân tham gia kiểm tra y tế thường xuyên tại Viện Y

tế Giao thông Quốc gia, Kandy, Sri Lanka Các ngưỡng giá trị của BMI dành chongười châu Á đã được sử dụng để phân loại những người tham gia thành bốn nhóm làthiếu cân, cân nặng bình thường, thừa cân hoặc béo phì Dữ liệu về chế độ ăn uống vàlối sống như cường độ của các hoạt động thể chất, hút thuốc, uống rượu, giờ ngủ và dữliệu nhân khẩu học xã hội khác được lấy bằng bảng câu hỏi tự khai Mô hình hồi quylogistic đa thức được sử dụng để đánh giá mối liên hệ của các kiểu lối sống cá nhân vớithừa cân và béo phì thông qua đánh giá chỉ số BMI

BMI trung bình của nhóm nghiên cứu là 22,7 kg/m^(2) và tỷ lệ thừa cân và béophì lần lượt là 31,8 và 12,3% (BMI>25) Sau khi điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu tiềm

ẩn, tình trạng BMI có liên quan đến tuổi tác (p <0,0001) khi BMI ở nam giới từ 41 đến

50 tuổi cao hơn so với nhóm tuổi trẻ hơn, tính sắc tộc (p = 0,0033) và mức thu nhập (p

= 0,0006) cũng ảnh hưởng đến chỉ số BMI Trong khi việc tăng thời gian dành cho cáchoạt động thể chất làm giảm tỷ lệ béo phì ( khoảng tin cậy: 0,744, 0,84), uống rượu, ăntrái cây, mức độ giáo dục, số giờ ngủ, tỷ lệ hút thuốc, tiêu thụ cá, thịt, sữa, đồ ngọt hoặc

đồ ăn nhanh không liên quan đáng kể đến tình trạng BMI

2.2 Nghiên cứu về các yếu tố hành vi và xã hội ảnh hưởng đến chỉ số BMI giữa nam và nữ tại khu ổ chuột Nairobi được đưa ra bởi hiệp hội H3Africa (2015)

2014-2015, một nghiên cứu về đàn ông và phụ nữ ở độ tuổi 40-60 ở khu ổ chuộtNairobi (Korogocho và Viwandani) đã được thực hiện bới hiện hội H3Africa Các dữliệu được thu thập bao gồm các đặc điểm xã hội, hành vi và sinh học BMI trung bình,

tỷ lệ thừa cân và béo phì đã được tính toán Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến đượcthực hiện riêng cho nam và nữ để khám phá các yếu tố liên quan đến BMI

Trang 13

Các nhà nghiên cứu đã đưa vào các yếu tố mà họ cho là trực tiếp ảnh hưởng tớitình trạng BMI của những người dân tại khu ổ chuột, bao gồm: Tình trạng hôn nhân,mật độ hộ gia đình; tỷ lệ sử dụng thuốc lá, sử dụng rượu; chế độ ăn uống, thời giandành cho các hoạt động thể chất có cường độ vừa phải đến mạnh; mãn kinh ở phụ nữ,bệnh tiểu đường, bệnh lao và HIV, chỉ số thịnh vượng (được tính toán dựa trên thunhập và các tài sản cá nhân đó đang sở hữu).

Kết quả cho thấy, một tỷ lệ lớn dân số trong các khu ổ chuột đô thị ở Nairobi có chỉ

số BMI cao và phụ nữ ở đây có chỉ số BMI cao hơn nam giới Nghiên cứu này giúp cácnhà nghiên cứu hiểu được các yếu tố độc lập liên quan đến chỉ số BMI cao giữa nam và nữ

để có thể đưa ra các chính sách can thiệp nhắm mục tiêu theo giới Sự giàu có có liên quanđến chỉ số BMI cao ở cả nam và nữ Các yếu tố hành vi như tiêu thụ bánh mì

ở nam giới, việc ít tham gia các hoạt động thể chất và uống rượu ở phụ nữ có liên quanđến chỉ số BMI cao hơn Những phát hiện này cho ta thấy những hành vi không lànhmạnh điển hình của văn hóa đô thị Một số yếu tố hành vi bao gồm hút thuốc lá ở phụ

nữ và nam giới, thời gian ngủ đêm dài hơn ở phụ nữ có liên quan đến chỉ số BMI thấphơn Trong số các yếu tố sinh học được đánh giá, việc mắc bệnh tiểu đường ở nam giới

có liên quan đến chỉ số BMI cao hơn trong khi nhiễm HIV và báo cáo nhiễm lao ở cảnam và nữ có liên quan đến BMI thấp hơn Phụ nữ thuộc tất cả các nhóm dân tộc cóBMI thấp hơn so với phụ nữ thuộc dân tộc Kikuyu Bằng việc nghiên cứu độc lập cácbiến hành vi và biến sinh học ảnh hưởng đến tình trạng BMI cao, béo phì ở đàn ông vàphụ nữ sống tại khu ổ chuột, nhóm nghiên cứu đã đưa ra các khuyến nghị giúp cho cácnhà hoạch định chính sách có các quyết định chính xác và đa chiều hơn

2.3 Nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến chỉ số BMI ở trẻ em và thanh thiếu niên, được thực hiện bởi Edwin A Mitchell và cộng sự (2018)

Phân tích thứ cấp dữ liệu từ một nghiên cứu đa trung tâm, đa quốc gia Chamẹ/người giám hộ của trẻ em 6 đến 7 tuổi đã hoàn thành bảng câu hỏi về chiều cao vàcân nặng hiện tại của trẻ và các yếu tố khác được yêu cầu Thanh thiếu niên từ 13 đến

14 tuổi đã báo cáo chiều cao và cân nặng của chính mình và trả lời các câu hỏi về các

Trang 14

yếu tố được khảo sát Mô hình tuyến tính đã được sử dụng để xác định mối liên quan giữa BMI và các yếu tố được đề xuất.

65.721 trẻ em (27 trung tâm, 15 quốc gia) và 189.282 thanh thiếu niên (70 trung tâm,

35 quốc gia) đã được đưa vào các phân tích cuối cùng Nhiều mối tương quan có ý nghĩathống kê đã được xác định, mặc dù đối với hầu hết các biến, hiệu ứng vẫn còn nhỏ

Ở trẻ em cân nặng khi sinh (đối với mỗi kg cân nặng tăng lên, chỉ số BMI tăng +0,43

kg / m2, p <0,001), xem truyền hình (cứ tăng lên 5 giờ / ngày +0,33 kg / m2 p < 0,001),thức ăn nhanh (≥3 lần / tuần +0,16 kg / m2 so với không lần nào, p <0,001) hoạt độngthể chất mạnh mẽ (3+ giờ / tuần +0,071 kg / m2 so với không bao giờ, p = 0,023) vàviệc hút thuốc ở bà mẹ năm đầu tiên của cuộc sống (+0,13 kg / m2, p <0,001) được liênkết với chỉ số BMI cao hơn trong mô hình Ăn các loại hạt (≥3 lần / tuần -0,11 kg / m2

so với không bao giờ, p = 0,002) có liên quan đến chỉ số BMI thấp hơn.Tiếp xúc sớmvới kháng sinh, paracetamol cũng liên quan đến BMI Đối với thanh thiếu niên có mốiliên quan có ý nghĩa thống kê với BMI : xem truyền hình (5+ giờ / ngày +0,23 kg / m2

so với <1 giờ / ngày, p <0,001) , thức ăn nhanh (≥3 lần / tuần -0,19 kg / m2 so vớikhông bao giờ, p <0,001), hoạt động thể chất mạnh mẽ (3+ giờ / tuần 0,047 kg / m2 sovới không bao giờ, p <0,001) và ăn các loại hạt (≥3 lần / tuần -0,22 kg / m2 so vớikhông bao giờ, p <0,001)

Mặc dù một số yếu tố đầu đời có liên quan đến sự khác biệt về BMI, hầu hết mức

độ của sự ảnh hưởng đều nhỏ Các yếu tố mang lại sự thay đổi BMI lớn bao gồm: xemtruyền hình ( BMI cao hơn) và tiêu thụ hạt thường xuyên (BMI thấp hơn) ở cả trẻ em

và thanh thiếu niên, cho thấy hành vi hiện tại quan trọng hơn các yếu tố đầu đời

2.4 Nghiên cứu về BMI của người mẹ và tình trạng sinh non thực hiện bởi Maria Regina Torloni,Ana Pilar Betrán, Silvia Daher và các cộng sự (2010)

Mục tiêu của nghiên cứu để kiểm tra mối liên quan giữ a chỉ số khối cơ thể mẹ(BMI) chuẩn bị cao và nguy cơ sinh non Nhóm tác giả sử dụng các nghiên cứu thuần tập

và nghiên cứu kiểm soát trường hợp được công bố từ năm 1968 về kiểm tra mối liên quangiữa BMI và sinh non của tất cả các loại, sinh tự nhiên, sinh tự chọn ngày và sinh

Trang 15

với màng vỡ (PPROM) trong ba giai đoạn tuổi thai: dưới 37 tuần, từ 32 đến 36 tuần và dưới 32 tuần.

Kết quả cho thấy 20.401 trích dẫn đã được sàng lọc và 39 nghiên cứu (1.788.633 phụnữ) được sử dụng Phụ nữ tiệm cận béo phì (BMI, 25, 29,9) và béo phì loại I (BMI, 30,3434) giảm nguy cơ mắc các trường hợp sinh non lần lượt là AOR = 0,85 (KTC 95%:0,80, 0,92) và 0,83 (KTC 95%: 0,75 0,92) Rủi ro của nhóm phụ nữ này đối với sinh non từ

32 đến 36 tuần lần lượt là 1,20 (95% CI: 1.04–1.38) và 1,60(95% CI: 1.32–1.94) Phụ nữbéo phì II (BMI: 35 - 40) có nguy cơ mắc sinh non dưới 37 tuần (AOR = 1.33, 95%Khoảng tin cậy: 1.12 - 1.57) từ 32 đến 36 tuần (AOR = 2.43, 95% Khoảng tin cậy: 1.46

- 4.05) và dưới 32 tuần (AOR = 1,96, KTC 95%: 1,66 - 2.31) Phụ nữ béo phì loại III(BMI> 40) thậm chí còn có nguy cơ mắc sinh non còn cao hơn (AOR = 2,27, KTC95%: 1,76 - 2,94) BMI cao không thay đổi rủi ro cho PPROM và làm tăng rủi ro chosinh non tự chọn ngày Như vậy BMI của mẹ cao có thể có tác động khác nhau đối vớicác trường hợp sinh non khác nhau

2.5 Nghiên cứu về tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến chỉ số BMI ở trẻ nhỏ từ 9 - 11 tuổi thực hiện bởi Gerson Luis de Moraes Ferrari, Victor Matsudo , Peter T

Katzmarzyk, Mauro Fisberg (2013)

Dữ liệu được thu thập từ tháng 3 năm 2012 đến tháng tháng 4 năm 2013, 328 trẻ

em trong độ tuổi từ 9 - 11 tuổi được đưa vào nghiên cứu cuối cùng bằng cách điều trabảng hỏi Bố mẹ/ người giám hộ trả lời câu hỏi về thu nhập của gia đình, số anh chị em,tuổi, dân tộc Trẻ em trả lời bảng hỏi về chế độ ăn uống và lối sống Mô hình hồi quytuyến tình được sử dụng để xác định mối liên quan giữa chỉ số BMI và giới tính, dântộc, trường học, số anh chị em và tổng thu nhập gia đình hàng năm

Kết quả thu được, BMI trung bình là 20,1kg/m2 và 51,8% trẻ em bị thừa cân/béo phì(50,3% bé trai, 53,4% bé gái, p = 0,011) Ở tất cả các đối tượng tham gia, yếu tố liên quancủa BMI là tỷ lệ mỡ trong cơ thể (BF%, = 0,0216, p <0,001) và thời gian sàng lọc (ST, =0,0050, p = 0,006) Ở trẻ em trai, các yếu tố liên quan là BF% (= 0,0209, p < 0,001), ST (=0,006, p = 0,036) và các chính sách hoặc ăn uống lành mạnh (= 0,0276, p = 0,025) Ở trẻ

Trang 16

Từ phân tích, các nhà nghiên cứu đã kết luận tỷ lệ thừa cân/béo phì cao đã đượcquan sát thấy ở trẻ em tại São Caetano do Sul Giữa các giới tính, các yếu tố ảnh hưởngđến chỉ số BMI lại khác nhau, chỉ có BF% (tỷ lệ mỡ trong cơ thể) là phổ biến ở cả haigiới tính.

2.6 Nghiên cứu về các biến ảnh hưởng đến sự phát triển của BMI từ 2 đến 5 năm sau VBG (2000)

Nhóm các tác giả (R Hernandez-Estefania, D Gonzalez-Lamuño, M RibesM Garcia-FuentesJ C CagigasA IngelmoC Escalante) đã thực hiện một nghiêncứu vào tháng 4 năm 2000 Họ đã điều tra tác động của một số yếu tố nội tại và ngoạilai ở những bệnh nhân béo phì trải qua VBG (Vertical Banded Gastroplasty), với mụcđích thiết lập tiên lượng giảm cân lâu dài

Garcia-Phương pháp: 67 bệnh nhân béo phì liên tiếp trải qua VBG và được theo dõi trong

2 năm; trong số này, 34 người được theo dõi thêm 3 năm nữa, như vậy tổng thời giantheo dõi của những người này là 5 năm BMI được theo dõi và tương quan với nhânkhẩu học (BMI trước phẫu thuật, người có cùng huyết thống bị béo phì, tuổi và giớitính) và các biến về lối sống (hoạt động thể chất, chế độ ăn uống theo thói quen và tìnhtrạng nghề nghiệp)

Kết quả: BMI toàn cầu giảm từ 47,5 tại thời điểm can thiệp xuống 32,1 khi bệnhnhân được kiểm tra 12 tháng sau phẫu thuật Từ năm thứ hai, BMI có xu hướng tăng vàtới năm thứ 5, BMI ở mức trên 35 - mức được xem là nằm trong phạm vi rủi ro cao vềsức khỏe Các biến ảnh hưởng đến lối sống đã cho thấy những tác động khá đáng kểđến sự phát triển của BMI Trong số các biến số nội tại, BMI trước khi phẫu thuật vàcha mẹ béo phì cũng ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài

Tạm kết:

Có một số lượng lớn các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến BMI trong dân sốnói chung, một số ở trẻ em, một số ở người lớn, một số là nam giới Tuy nhiên, ở cácnghiên cứu đi trước các yếu tố ảnh hưởng tới người trẻ chưa được tập trung và đi vào chitiết Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ chỉ ra một số yếu tố chính ảnh hưởng đến BMI

Ngày đăng: 22/06/2020, 21:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w