TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOA KINH TẾ QUỐC TẾ ---TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG 2 Đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ gia tăng dân số của các nước đang phát triển khu vực Châu Á giai đoạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG 2
Đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ gia tăng dân số của các nước đang phát triển khu vực Châu Á giai đoạn 2007 -2017
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý thuyết 3
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tốc độ phát triển dân số 3
1.2 Các lý thuyết liên quan đến tốc độ tăng trưởng dân số 4
1.2.1 Lý thuyết chuyển đổi nhân khẩu học 4
1.2.2 Học thuyết về sự tăng trưởng dân số của Thomas Robert Malthus 5
1.2.3 Lý thuyết dân số tối ưu 6
1.3 Các nghiên cứu tiền nhiệm liên quan đến tốc độ gia tăng dân số 7
1.3.1 Nhóm các nghiên cứu các yếu tố có ảnh hưởng thuận chiều lên tốc độ gia tăng dân số 7
1.3.2 Nhóm các nghiên cứu các yếu tố có ảnh hưởng nghịch chiều lên tốc độ gia tăng dân số 8
1.4 Lỗ hổng nghiên cứu 10
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
1.1 Mô hình nghiên cứu 12
1.1.1 Dạng mô hình 12
1.1.2 Giải thích biến 12
1.2 Nguồn dữ liệu 13
1.3 Mô tả thống kê và mô tả tương quan các biến số 13
1.3.1 Mô tả thống kê 13
1.3.2 Mô tả tương quan 15
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ THẢO LUẬN 16
1.1 Lựa chọn mô hình 16
Trang 31.2 Kiểm định 16
1.2.1 Sự phù hợp của các kết quả ước lượng đối với lý thuyết kinh tế 17
1.2.2 Kiểm định các khuyết tật của mô hình 17
CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 20
1.1 Những khuyến nghị về chính sách dân số cho các nước đang phát triển 20
1.2 Định hướng các nghiên cứu tiếp theo 22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
DO – FILE 26
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ra trên khắp thếgiới, sự “gia tăng dân số” hay “quả bom dân số” đã và đang là một trong những nguyênnhân tác động mạnh mẽ làm kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội, làm giảm chất lượnghoạt động của các ngành và chất lượng cuộc sống của người dân Nhiều quốc gia, đặcbiệt đối với các nước đang phát triển đã có nhận thức sâu sắc về vấn đề này bởi tính nguyhại và cấp thiết, cũng như những áp lực mà vấn đề dân số gây ra cho con người Trongmột báo cáo được Liên Hiệp Quốc công bố vào ngày 21/06/2017 cho biết, dân số thế giớihiện nay là 7,6 tỉ người, tăng so với mức 7,4 tỉ người năm 2015 Đóng góp vào sự giatăng này là tỉ lệ sinh tương đối cao tại các nước đang phát triển Theo báo cáo, dân sốtoàn cầu tăng thêm 83 triệu người mỗi năm và với tốc độ này, thế giới sẽ lần lượt có 8,6
tỉ người năm 2030, 9,8 tỉ người năm 2050 và 11,2 tỉ người năm 2100 Sự tăng trưởng
dân số tập trung chủ yếu ở những nước nghèo nhất, những nước đang phát triển trên
thế giới, gây ra thách thức không nhỏ khi cộng đồng quốc tế nỗ lực đạt được những mụctiêu đề ra trong Chương trình phát triển bền vững 2030 nhằm xóa sổ tình trạng đói nghèo
và bảo vệ hành tinh Vì vậy, trong vòng bốn thập niên trở lại đây, cụ thể giai đoạn 2007 –
2017, các quốc gia đang phát triển Châu Á nói riêng và thế giới nói chung đang gấp rút đề
ra giải pháp và hạnh động giải quyết kịp thời trước thực trạng diễn biễn ngày càng phứctạp của vấn đề gia tăng dân số
Tuy nhiên, trước khi tìm đến những giải pháp khắc phục tình trạng tốc độ gia tăng dân sốđang bùng phát tại các nước đang phát triển, trước tiên chúng ta phải hiểu rõ về các yếu
tố có ảnh hưởng đến vấn đề này Mặc dù có rất nhiều yếu tố có thể nói là ảnh hưởng đếntốc độ gia tăng và bùng nổ dân số, nhưng khi đi phân tích thì chúng có thực sự ảnh hưởngkhông và ảnh hưởng với tỷ lệ bao nhiêu thì đó vẫn còn là một câu hỏi lớn Mà hiện naytrên thế giới, chưa có nhiều những nghiên cứu rõ và sâu về vấn đề này Vì vậy, nhóm
chúng tôi quyết định chọn đề tài bài tiểu luận là Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ gia tăng dân số của các nước đang phát triển khu vực Châu Á giai đoạn 2007 – 2017.
Bài tiểu luận tập trung phân tích những yếu tố có ảnh hưởng đến tốc độ gia tăng dân số.Nguồn dữ liệu được lấy từ Worldbank và Indexmund với việc phân tích các yếu tố như
1
Trang 5tổng tỷ suất sinh sản, tỷ lệ sinh thô, tỷ lệ tử thô và tỷ lệ di cư thuần Bên cạnh đó, nhóm sửdụng phương pháp nghiên cứu định lượng.
Bài tiểu luận gồm 4 chương:
Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 : Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 : Kết quả ước lượng và thảo luận
Chương 4 : Kiến nghị và giải pháp
2
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý thuyết
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tốc độ phát triển dân số
Tăng dân số là sự thay đổi trong dân số theo thời gian, và có thể được định lượngnhư sự thay đổi trong số lượng của các cá thể của bất kỳ giống loài nào sử dụng cách tínhtoán "trên đơn vị thời gian" Cách thông thường nhất để thể hiện sự gia tăng dân số là một
tỷ số, không phải một tỷ lệ Sự thay đổi trong dân số trong một đơn vị thời gian được thểhiện như một phần trăm của dân số tại thời điểm bắt đầu của chu kỳ
Trong nhân khẩu học và sinh thái, tỷ lệ tăng trưởng dân số (PGR) là tỷ lệ theophân số mà số các cá nhân trong một dân số tăng lên Nói rõ hơn, tỷ lệ tăng trưởng dân sốthường chỉ tới sự thay đổi trong dân số trong một đơn vị thời gian, thường được thể hiệnnhư một phần trăm của số lượng cá nhân trong dân số ở thời điểm bắt đầu của giai đoạn
đó Điều này có thể được thể hiện như công thức:
Trong đó: PGR: Tỷ lệ gia tăng dân số
P1 : số lượng dân ở cuối kỳ (cuối năm)
P0 : số dân ở đầu kỳ (đầu năm)
Công thức trên có thể được mở rộng thành:
PGR = CBR - CDR + IMR - OMRTrong đó: CBR : Tỷ suất sinh thô;
Tỷ lệ nhập cư thực là sự khác biệt giữa số người nhập cư và số người di cư
3
Trang 7Một tỷ lệ tăng dương cho thấy dân số đang gia tăng, trong khi một tỷ lệ âm chothấy dân số đang giảm Một tỷ lệ tăng trưởng bằng không xuất hiện khi con số người ởhai giai đoạn là bằng nhau - khác biệt thực giữa sinh, tử và di cư bằng không Tuy nhiên,một tỷ lệ tăng trưởng có thể bằng không thậm chí khi có những thay đổi lớn trong các tỷ
lệ sinh, tỷ lệ tử và tỷ lệ nhập cư và phân bố độ tuổi giữa hai giai đoạn
1.2 Các lý thuyết liên quan đến tốc độ tăng trưởng dân số
1.2.1 Lý thuyết chuyển đổi nhân khẩu học
Sự chuyển đổi nhân khẩu học (Demographic Transition) là sự chuyển đổi từ tỷ lệ sinh và chết cao sang tỷ lệ sinh và chết thấp, nó cho thấy một đất nước hay một vùng đi
từ thời kì đầu công nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp Giả thuyết này được đặt ra bởi nhà nhân khẩu học người Mỹ Warren Thompson
Tỷ lệ sinh và tỷ lệ tử là hai biến số cơ bản trong các phân tích về dân số Khi nói tỷ
lệ sinh thô (Crude birth rate) hàng năm là 20 phần nghìn có nghĩa là cứ 1000 dân thì có 20
bé được sinh ra trong một năm Tương tự, tỷ lệ tử vong thô (Crude death rate) là 14 phầnnghìn có nghĩa là cứ 1000 dân thì có 14 người chết mỗi năm Tỷ lệ tăng trưởng dân số(Population growth rate) là hiệu số giữa tỷ lệ sinh và tỷ lệ tử Các nước rất nghèo thường
có cả tỷ lệ sinh cao và tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ sinh sản (Fertility rate) là số con mà mộtngười phụ nữ có thể có trong cả cuộc đời Ở các nước nghèo, tỷ lệ sinh sản có thể lên tới
7 hoặc 8, trong khi ở các nước giàu, tỷ lệ này thường chỉ là 2 hoặc thấp hơn
Quá trình chuyển dịch nhân khẩu học trên thế giới diễn ra qua 3 giai đoạn, cụ thể như sau:
Giai đoạn 1: Tỉ suất sinh và tỉ suất tử đều cao, gia tăng dân số thấp Trong giaiđoạn này, các quốc gia còn lạc hậu và có đặc trưng là tỉ suất sinh và tỉ suất tử cao,
vì thế tỉ lệ gia tăng dân số vẫn thấp
Giai đoạn 2: Tỉ suất sinh vẫn giữ nguyên nhưng tỉ suất tử giảm mạnh Ở bước này,nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển nhanh Năng suất lao động của khu vựcnông nghiệp và công nghiệp tăng nhanh, phương tiện giao thông phát triển Y tếđược chú trọng hơn Từ đó khiến cho tỉ suất tử giảm, nhưng tỉ suất sinh vẫn giữ ổnđịnh
Giai đoạn 3: Tỉ suất sinh giảm đến gần bằng với tỉ suất tử, tỉ lệ gia tăng dân sốthấp Giai đoạn này, tỉ suất sinh giảm và có chiều hướng lùi dần đến tỉ suất tử vì 4
Trang 8thế tỉ lệ gia tăng dân số cũng giảm Khi sự phát triển kinh tế giúp thu nhập tăng quamức đảm bảo nhu cầu cuộc sống cơ bản, thì chất lượng cuộc sống khi đó cũng sẽtăng.
Nói một cách tổng quát, học thuyết đã dự đoán chính xác rằng đối với các nướcđang phát triển, mức chết sẽ giảm trước mức sinh Học thuyết còn cho biết tính quy luậtcủa phát triển dân số qua các thời kỳ tuy nhiên mức độ diễn ra nhanh – chậm tùy thuộcvào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng, mỗi quốc gia Tại các nước đangphát triển, trước đây sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành chiếm ưu thế nhưng gần đây,hiện đại hóa và công nghiệp hóa là một t rong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm mứcsinh Theo học thuyết quá độ, việc đạt được một trình độ hiện đại hóa nhất định vềphương tiện sản xuất là điều kiện tiên quyết cho việc giảm sinh
1.2.2 Học thuyết về sự tăng trưởng dân số của Thomas Robert Malthus
Những tư tưởng và lý thuyết dân số trước Malthus:
Chủ nghĩa trọng thương: Thường được coi là lý thuyết kinh tế của thời kỳ sơ khởicách mạng công nghiệp
Chủ nghĩa trọng nông: Khác với chủ nghĩa trọng thương, các nhà trọng nông coinông nghiệp là nguồn gốc tạo ra của cải
Malthus đã viết cuốn “Luận bàn về quy luật dân số” (An Essay on the Principle ofPopulation, 1798) Quan điểm của Malthus được nhiều người tán thành và cũng nhiềungười phản đối Cho đến nay, nó vẫn còn ảnh hưởng vang dội, bởi vì chính ông là ngườithiết lập một cách rõ ràng mối quan hệ giữa dân số và nhu cầu về lương thực thực phẩm.Ông cho rằng lương thực thực phẩm sẽ tăng lên theo kiểu: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9… Dân
số sẽ tăng lên theo kiểu: 1, 2, 4, 8, 16, 32, 64, 128, 256 Sau hai thế kỷ, dân số và lươngthực thực phẩm sẽ có mối tương quan: 256 và 9, sau ba thế kỷ mối tương quan này sẽ là
4096 và 13, sau hai nghìn năm thì mối tương quan này quá lớn không thể tính được
Tuy nhiên các tính toán của ông đã không hoàn toàn phù hợp với thực tế, vì tronghai thế kỷ gần đây tốc độ tăng dân số vẫn xảy ra song song với việc giảm bớt nghèo đói
Đó là vì trong nghiên cứu của mình, Malthus không tính toán tới sự phát triển của khoahọc công nghệ sẽ giúp sản lượng sản xuất tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân số Nhưng rõràng, phát minh khoa học và tiến bộ công nghệ bất kể xuất phát điểm vẫn có ảnh hưởng 5
Trang 9lan tỏa tới các nước đang phát triển Sự chuyển đổi cơ cấu dân số và quá trình phát triển kinh
tế mang trong đó mối quan hệ hai chiều Cùng tương tác với mức độ tăng giảm dân số tựnhiên là ảnh hưởng ngày càng lớn của các dòng di cư Đi kèm với dòng di cư này là sự dịchchuyển ý tưởng và nhân tài, nguồn gốc của các phát minh hay tiến bộ công nghệ
Cuối thế kỷ 19 đã xuất hiện thuyết Malthus mới ở Anh, Pháp và Thụy Điển Đạidiện cho phái Mathus mới ở Pháp là Paul Robin (1837-1912) và Octave Mirbeau (1848-1917) Khi phân tích tư tưởng của chủ nghĩa Malthus, những người theo chủ nghĩaMalthus mới đã phê phán chủ nghĩa Malthus cũ là duy lý và ích kỷ, chỉ bảo vệ quyền lợicho những người giàu có bằng cách đưa ra ý tưởng rằng những người nghèo phải chịutrách nhiệm về tình trạng của mình và các công ty, xí nghiệp hoạt động phải vì mục đíchlợi nhuận và mục đích lợi nhuận của các công ty không hề làm tổn hại đến cuộc sống củangười dân nghèo Place Francis (1771-1854), cũng là một trong những người tán thànhchủ nghĩa Malthus mới ở Anh Năm 1822, ông cũng xuất bản tờ rơi về nguyên tắc dân số.Ông là một trong những người đầu tiên đề xuất ý tưởng cần kiểm soát mức sinh bằngphương pháp ngừa thai
Bên cạnh đó, có rất nhiều học thuyết về dân số chống lại Malthus, Karl Marx(1818-1883) là người đưa ra quan điểm chống lại quan điểm của Malthus Theo quanđiểm của Marx, “Dân số là cơ sở và là chủ thể của nền sản suất xã hội” và cùng vớiphương thức sản xuất, hoàn cảnh địa lý tạo nên “tồn tại xã hội” Marx cho rằng, tái sảnxuất dân số có bản chất kinh tế-xã hội chứ không chỉ đơn thuần là sinh học như quanđiểm của Malthus Do vậy, mỗi hình thái kinh tế xã hội có quy luật sống riêng Ông viết:
“Mỗi phương thức sản xuất xã hội đều có quy luật dân số riêng của nó Quy luật chỉ ápdụng riêng cho phương thức sản xuất đó và vì vậy chỉ có một giá trị lịch sử mà thôi”
1.2.3 Lý thuyết dân số tối ưu
Lý thuyết dân số tối ưu đã được Edwin Cannan đưa ra trong cuốn sách “Wealth” xuấtbản năm 1924 và được phổ biến bởi Robbins, Dalton và Carr-Saunders Không giống như lýthuyết của Malthus, lý thuyết tối ưu không thiết lập mối quan hệ giữa tăng trưởng dân số vàcủa cải Lý thuyết Malthus là một lý thuyết chung cung cấp thực phẩm Thay vào đó, nó quantâm đến mối quan hệ giữa quy mô dân số và sản xuất của nghiên cứu vấn
6
Trang 10đề dân số của một quốc gia phù hợp với điều kiện kinh tế của nó Do đó, lý thuyết tối ưu
là lý thuyết thực tế hơn so với lý thuyết dân số của người Malthus
Dân số tối ưu là quy mô, kỹ thuật sản xuất và nguồn vốn trong một quốc gia, cómột quy mô dân số xác định dân số lý tưởng cung cấp thu nhập tối đa trên đầu người Bất
kỳ sự tăng hoặc giảm kích thước của dân số trên hoặc dưới mức tối ưu sẽ làm giảm thunhập trên đầu người Với nguồn tài nguyên thiên nhiên tương ứng với thu nhập bìnhquân đầu người cao nhất Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, bất kỳ sai lệch nào
từ dân số có kích thước tối ưu này sẽ dẫn đến giảm thu nhập bình quân đầu người Nếu
sự gia tăng dân số được theo sau bởi sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người, quốc gianày bị thiếu dân số và họ có thể đủ khả năng để tăng dân số cho đến khi đạt đến mức tối
ưu Ngược lại, nếu sự gia tăng dân số dẫn đến giảm thu nhập bình quân đầu người, quốcgia này quá đông dân và cần giảm dân số cho đến khi thu nhập bình quân đầu ngườiđược tối đa hóa
1.3 Các nghiên cứu tiền nhiệm liên quan đến tốc độ gia tăng dân số
1.3.1 Nhóm các nghiên cứu các yếu tố có ảnh hưởng thuận chiều lên tốc độ gia tăng dân số
Theo đồ án “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ gia tăng dân số cơ họccủa Thành phố Hồ Chí Minh” của nhóm tác giả: Bùi Thị Hồng Ngọc, Châu Ngô AnhNhân, Nguyễn Nhật Anh, Trần Mai Huy, Hồ Quang Đệ; các tác giả đã sử dụng phươngpháp hồi quy OLS để phân tích và đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sựgia tăng dân số cơ học tại Tp.HCM giai đoạn 1980 – 2008 Sau khi kiểm định mô hìnhphù hợp tác giả phát hiện tổng cơ sở sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ tăng thìnhu cầu lao động cũng sẽ tăng và làm cho dân di cư đến TP Hồ Chí Minh tăng và ngượclại Tỉ lệ dân nhập cư tăng đồng nghĩa với việc làm cho tốc độ tăng dân số của thành phốtăng Bên cạnh đó, mô hình còn cho thấy chỉ số phát triển giáo viên đại học, cao đẳng sovới năm gốc và GDP (tổng sản phẩm của TP.HCM) cũng có ảnh hưởng thuận chiều với
sự gia tăng dân số của thành phố Khi mức sống được nâng cao, khi giáo viên đại họcđược phát triển cùng với nền giáo dục, điều này sẽ hút sinh viên từ các khu vực khác vềhọc tại TP.HCM và làm cho dân số cơ học của TPHCM tăng Kết hợp lại với nhau, những
7
Trang 11phát hiện của đồ án này chỉ ra mối liên hệ giữa chất lượng giáo dục; hoạt động sản suất;
sự tăng trưởng kinh tế và sự gia tăng dân số có ảnh hưởng dương lẫn nhau
Theo G Nargund (2009) luôn có một mối quan tâm về tỷ lệ sinh giảm ở cả cácnước phát triển và các nước đang phát triển Tỷ lệ sinh sản có xu hướng cao hơn ở cácnước có nguồn lực kém phát triển Ở các nước đang phát triển, trẻ em được sử dụng nhưmột lực lượng lao động và phải chăm sóc cha mẹ khi về già Ở những nước này, tỷ lệsinh cao hơn do không được tiếp cận với các biện pháp tránh thai và mức độ giáo dục nữthấp hơn Cơ cấu xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, sự phát triển kinh tế và đô thị hóa ở mỗiquốc gia có khả năng ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh cũng như tỷ lệ phá thai Các nước pháttriển có xu hướng có tỷ lệ sinh thấp hơn do lựa chọn lối sống liên quan đến sự sung túckinh tế - nơi tỷ lệ tử vong thấp Điều này cho chúng ta thấy được rằng tỉ lệ sinh thô có tácđộng cùng chiều lên sự tăng trưởng dân số, khi sự sinh sản ngày một gia tăng, thì tổng tỷ
lệ sinh sản sẽ ngày một tăng, tác động trực tiếp tới tốc độ tăng dân số
Yếu tố về tỉ suất sinh sản tác động đến gia tăng dân số cũng được chứng minhbởi nghiên cứu của Thabani Nyon (2018), trong bài nghiên cứu về tốc độ tăng trưởng dân
số của Pakistan – nước thuộc nhóm nước đang phát triển tại khu vực Châu Á Tại nghiêncứu này, tác giả đưa ra các biến độc lập ảnh hưởng đến sự tăng trưởng dân số đó là tổng
tỷ suất sinh sản, tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong, tăng trưởng kinh tế dựa theo bình quân đầungười, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai và tuổi thọ bình quân Theo phương phápnghiên cứu OLS, tác giả phát hiện ra rằng, tổng tỷ suất sinh sản mang dấu dương với sựtăng trưởng dân số Cụ thể, với mức ý nghĩa 1%, trong điều kiện các yếu tố khác khôngđổi, khi tổng tỷ suất sinh sản tăng 1% thì sự gia tăng dân số tăng xấp xỉ 1.98% Kết quả
mà Thabani Nyon tìm được cũng giống với kết quả nghiên cứu của Anwar (2009) vàKamal & Pervaiz (2011)
1.3.2 Nhóm các nghiên cứu các yếu tố có ảnh hưởng nghịch chiều lên tốc độ gia tăng dân số
Với mục đích tìm hiểu nguyên nhân tâm lý dẫn tới hiện tượng gia tăng đột biến tỷ
lệ sinh con thứ ba, Trần Anh Châu (2004) đã nghiên cứu: “Một số yếu tố tác động đếnviệc gia tăng dân số nhìn từ góc độ tâm lí học” Đoàn Thanh niên Viện Tâm lý học đã tiếnhành tìm hiểu nguyên nhân tâm lý như thái độ, cảm nhận về hạnh phúc gia đình, cách
8
Trang 12nhìn nhận về trách nhiệm của gia đình đối với đất nước có ảnh hưởng như thế nào đến sốcon trong gia đình Nhìn chung, nghiên cứu chỉ ra rằng, khác với các nước có dân số giàhóa như Nhật Bản, các quốc gia Châu Âu,… với chính sách khuyến khích và chế độ ưuđãi sinh con thứ ba, thì tại Việt Nam, sức ép gia tăng dân số đối với xã hội, môi trường,…còn lớn thì các cặp vợ chồng đều phải tuân theo chính sách dân số, thực hiện kế hoạchhóa gia đình Khi tìm hiểu về áp lực xã hội, 57% số người được hỏi cho rằng nếu khônggặp áp lực xã hội, họ sẽ sinh nhiều hơn 2 con Và trong Pháp lệnh dân số (2003 – điều thứ10), việc quyết định số con là hoàn toàn phụ thuộc vào mỗi người, nghĩa là không còn áplực xã hội Đây là một trong những nguyên nhân làm tăng tỷ lệ sinh con thứ ba trong thờigian 2004 – nay Điều này cho thấy sự gia tăng dân số cũng chịu sự tác động từ góc độtâm lý của con người, sự tác động này thể hiện nghịch chiều đối với tăng dân số.
Theo trang web ThoughtCo tỷ lệ tử vong thô toàn cầu năm 2016 là 7,6 và tạiHoa Kỳ, tỷ lệ này là 8 trên 1.000 Tỷ lệ tử vong thô đối với thế giới đã có xu hướng giảm
kể từ năm 1960 Tỷ lệ tử thô đã giảm trên toàn thế giới (và đáng kể ở các nền kinh tế đangphát triển) do tuổi thọ kéo dài do nguồn cung cấp và phân phối thực phẩm tốt hơn, dinhdưỡng tốt hơn, chăm sóc y tế tốt hơn và có sẵn rộng rãi hơn (và phát triển các công nghệnhư tiêm chủng và kháng sinh), cải thiện vệ sinh và cung cấp nước sạch Phần lớn sự giatăng dân số thế giới trong thế kỷ qua nói chung đã được quy cho nhiều hơn là tuổi thọ dàihơn là sự gia tăng tỷ lệ sinh
Ngoài ra, dự án Pew-Templeton Global Religious Futures – dự án phân tích nhữngthay đổi tôn giáo và tác động của nó đối với các hoạt động xã hội khác – đã nghiên cứu báocáo thực hiện bởi Pew Research Center (2015) liên quan đến sự khác biệt về tuổi tác, tỷ lệsinh; tỷ lệ tử; di cư và mô hình quốc tế trong chuyển đổi cơ cấu dân số của các vùng tôn giáo.Trong bài báo cáo, trung tâm nghiên cứu đã phối hợp với các nhà nghiên cứu tại Viện phântích hệ thống ứng dụng quốc tế (The International Institute for Applied Systems Analysis) đãphát triển một kỹ thuật để tính các kiểu di dân Đầu tiên, sự thay đổi về nguồn gốc và đíchđến của người di cư trên toàn thế giới được ước tính bằng cách sử dụng bảng điều tra dân số
và dữ liệu khảo sát về người và số dân di cư sống ở mỗi quốc gia Bài báo cáo sử dụng dữliệu trong giai đoạn 2005-2010 để ước tính dòng người di cư,
9
Trang 13số người di chuyển giữa các quốc gia và có tính đến sự di cư chậm lại ở nhiều nơi trênthế giới do sự suy thoái kinh tế Dựa trên các số liệu được bài báo cáo đưa ra, yếu tố di
cư thuần có ảnh hưởng ngược chiều đến sự gia tăng dân số Khi tỷ lệ di dân cao nhưng
tỷ lệ sinh mà tương đối cao thì tổng dân số vẫn sẽ được dự đoán tăng lên Điều nàychứng tỏ tỷ lệ di cư thuần sẽ có tác động nghịch chiều với sự gia tăng dân số
và được nghiên cứu trong giai đoạn 1980-2008, thời kì với nền công nghiệp hóa, hiện đạihóa còn chưa đạt đến sự phát triển mạnh nhất Ngoài ra, do mẫu khảo sát nhỏ, giới hạncủa dữ liệu thu thập nên mô hình hồi quy ước lượng chưa lượng hóa hết được nhữngnhân tố trên thực tế ảnh hưởng tới việc gia tăng dân số cơ học nói chung tại các nướcđang phát triển như Việt Nam Mặt khác, nghiên cứu thiếu kỹ năng xử lý dữ liệu, đánhgiá và kiểm định đối với phần dư nên mô hình đã lựa chọn chắc chắn chưa phải là môhình tốt nhất có thể từ bộ dữ liệu đã chọn
Thứ hai, về các nghiên cứu nước ngoài, có thể thấy phạm vi các yếu tố ảnh hưởng
là rất rộng, nhưng phạm vi nghiên cứu lại khá hẹp, không có những nghiên cứu cụ thểnào cho một nhóm khu vực mà cụ thể cho từng quốc gia Thực tế, những quốc gia pháttriển và những nước đang phát triển có những điểm mạnh, điểm yếu chung để có thểnghiên cứu và đưa ra ảnh hưởng của một khu vực kinh tế là như thế nào Hầu như cácnghiên cứu đều chỉ ra những yếu tố khá rõ ràng có liên quan đến gia tăng dân số, đặc biệt
là nghiên cứu kĩ về tỉ lệ sinh sản và tỉ lệ di cư thuần mà chưa tìm hiểu sâu đến những yếu
tố khác như tỉ lệ sinh thô và tỉ lệ tử thô Hai yếu tố này chỉ được suy ra dựa trên lý thuyếtthực tế nghiên cứu mà không được đưa vào mô hình cụ thể để nghiên cứu triệt để
Chính vì vậy, tận dụng những ưu điểm từ các bài nghiên cứu trước và khắc phụcnhững nhược điểm nhận thấy trong quá trình nghiên cứu chúng tôi quyết định sẽ nghiên
10
Trang 14cứu sâu hơn về các tác động cụ thể là tổng tỷ suất sinh sản, tỉ lệ sinh thô, tỉ lệ tử thô và tỉ
lệ di cƣ thuần
11
Trang 15CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Mô hình nghiên cứu
1.1.1 Dạng mô hình
Từ việc tham khảo các bài nghiên cứu trước, nhóm nghiên cứu đã quyết định sử dụng hàm hồi quy tuyến tính tổng quát để thực hiện mục đích nghiên cứu Hàm hồi quy tổng quát bao gồm 1 biến phụ thuộc và 4 biến độc lập Dạng hàm như sau:
: Hệ số hồi quy: Sai số ngẫu nhiên
Ferti Tổng tỷ suất sinh sản đại diện Mang dấu (+) Tổng tỉ suất
cho số trẻ em sinh ra từ một Theo nghiên sinh sản càng
Death Tỷ lệ tử thô cho biết số ca tử Mang dấu (-) Tỷ lệ tử thô
giảm thì tỷ lệ
(Crude vong xảy ra trong năm, trên 1000 % Theo
gia tăng dân
Death rate) dân số ước tính vào giữa năm. ThoughtCo
số giảm
Bir Tỷ lệ sinh thô cho biết số ca sinh % Mang dấu (+) Tỷ lệ sinh thô
(Crude sống xảy ra trong năm, trên 1000 Theo G tăng thì tỷ lệ
12