Đã có rất nhiều bài báo, nghiên cứukhoa học nghiên cứu về vấn đề này, trong đó phải kể đến: nhóm tác giả của trường đại học Văn Hiến 2016 đã công bố Nghiên cứu tác động của vốn đầu tư tư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2019
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 3
1.1 Những nghiên cứu lí thuyết 3
1.2 Những nghiên cứu thực nghiệm 7
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.1 Xây dựng mô hình lý thuyết 9
2.2 Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu 10
2.3.Mô tả thống kê và mô hình tương quan 12
3 , KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ THẢO LUẬN 15
3.1 Lựa chọn mô hình 15
3.2 Kiểm định các khuyết tật của mô hình 17
3.3 Khắc phục khuyết tật của mô hình 18
4, HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 20
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
PHỤ LỤC 25
Trang 3Trong quá trình theo dõi những biến động kinh tế, chúng ta không thể bỏ quayếu tố GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) GDP là một yếu tố rất quan trọng với một
nền kinh tế.Tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết
tắt của Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ
cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốcgia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) GDP được xem là một trongnhững chỉ số quan trọng nhất để đánh giá tình trạng sức khỏe nền kinh tế của mộtquốc gia Nó đại diện cho tình hình sản xuất, sự tăng trưởng kinh tế, là thước đo thểhiện chất lượng cuộc sống của người dân Nghiên cứu các nhân tố tác động đếnGDP luôn là một đề tài thiết thực, có tính ứng dụng cao Đối với Việt Nam, giữa cáckhu vực vẫn còn tồn tại những sự khác biệt về mặt tăng trưởng kinh tế Vậy, đâu lànguyên nhân dẫn đến những sự khác biệt đó? Những nguyên nhân đó tác động nhưthế nào đến tăng trưởng kinh tế của khu vực? Đã có rất nhiều bài báo, nghiên cứukhoa học nghiên cứu về vấn đề này, trong đó phải kể đến: nhóm tác giả của trường
đại học Văn Hiến (2016) đã công bố Nghiên cứu tác động của vốn đầu tư tư nhân,
lao động và cơ sở hạ tầng đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng song Cửu Long, Inflation and economic growth của tác giả Barro, R.J xuất bản năm 1995 với mục
tiêu phân tích tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế và đầu tư,…
Vì thế nên chúng em lựa chọn đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến GDP các
tỉnh thành Việt Nam từ năm 2008 đến 2018 với mong muốn sẽ tìm câu trả lời cho
câu hỏi trên Với nghiên cứu của mình , chúng em hi vọng sẽ đánh giá được sự phát
Trang 4triển của từng tỉnh một cách đúng đắn nhất cũng như tìm ra được công thức chungcho sự phát triển GDP của các tỉnh dựa vào các yếu tố ngoại sinh phát hiện được.
Bài tiểu luận được chia làm 4 phần chính như sau:
Phần 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Phần 2: Phương pháp nghiên cứu
Phần 3: Kết quả ước lượng và thảo luận
Phần 4:Hạn chế của nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, do giới hạn kiến thức và kinh nghiệm nên bàinghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, chúng em rất mongnhận được sự góp ý từ người đọc để sửa chữa tiểu luận của chúng em và cũng nhưhoàn thiện kiến thức của chính bản thân mình
Chúng em xin chân thành cảm ơn
Trang 51.TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Những nghiên cứu lí thuyết
Tăng trưởng kinh tế luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà kinh tế vàcác nhà hoạch định chính sách Để phản ánh tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế sửdụng số liệu về GDP, đây là chỉ tiêu được các nhà kinh tế coi là tốt nhất để phản ánhtình trạng hoạt động của nên kinh tế.GDP là thước đo thành tựu kinh tế Vì vậy, từtrước tới nay có rất nhiều những nghiên cứu, mô hình lí thuyết liên quan tới cácnhân tố ảnh hưởng tới GDP và tăng trưởng kinh tế Trong phạm vi mục tiêu nghiêncứu của bài tiểu luận này, nhóm nghiên cứu xin được đề cập tới một số nhân tố ảnhhưởng như lạm phát, FDI, lao động …
* Những lý thuyết và quan điểm đề cập tới mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trưởng kinh tế.
Theo lý thuyết của Keynes, trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát
và tăng trưởng Nghĩa là, muốn cho tăng trưởng đạt tốc độ cao thì phải chấp nhậnmột tỷ lệ lạm phát nhất định Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát dichuyển cùng chiều Sau giai đoạn này, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúcđẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm mà có xu hướng giảm đi Theo chủnghĩa trọng tiền mà đại diện là Milton Friedman cho rằng lạm phát là sản phẩm củaviệc gia tăng cung tiền hoặc tăng hệ số tạo tiền ở mức độ lớn hơn tốc độ tăng trưởngkinh tế Lập luận này cũng được thể hiện trong công thức nổi tiếng của Irving Fisher(lý thuyết số lượng tiền tệ - Quantity theory of Money):
Cũng theo Friedman, nếu giá cả hàng hóa trong nền kinh tế tăng gấp 2 lần
mà thu nhập của người lao động cũng tăng gấp 2 lần, họ sẽ không quan tâm đến việc tăng giá hàng hóa Trong trường hợp như vậy, tăng trưởng không bị suy giảm
Trang 6bởi lạm phát Nếu lạm phát xảy ra theo hướng này thì không ảnh hưởng nguy hiểmđến tăng trưởng kinh tế.
Nói tóm lại, theo quan điểm của thuyết trọng tiền, trong dài hạn, giá cả bị ảnhhưởng bởi cung tiền chứ không thực sự tác động lên tăng trưởng Nếu cung tiềntăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra Nếu giữcung tiền và hệ số tạo tiền ổn định thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát
Theo lý thuyết tân cổ điển: Tobin (1965, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif2004) phát triển mô hình Mundell (1963, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004)cho rằng lạm phát là nguyên nhân làm cho con người tránh giữ tiền mà chuyển tiềnthành các tài sản sinh lợi Điều này sẽ làm gia tăng sự tích lũy vốn trong nền kinh tế
và thúc đẩy kinh tế phát triển Theo mô hình này giữa lạm phát và tăng trưởng cómối quan hệ cùng chiều
Bổ sung thêm cho mô hình trên của lý thuyết tân cổ điển nhà kinh tế họcSidrauski (1967, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004) có cùng quan điểm vớichủ nghĩa trọng tiền, Sidrauski đề cập đến một trạng thái “vô cùng dửng dưng”(superneutral) với lạm phát Kết quả nghiên cứu của ông là khi các biến số độc lậpvới việc tăng cung tiền trong dài hạn thì việc tăng lạm phát không ảnh hưởng đếntăng trưởng
Mô hình của Stockman (1981, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004) - mộtnhà kinh tế học thuộc trường phái tân cổ điển - thì cho rằng lạm phát tăng cao sẽlàm cho tăng trưởng kinh tế giảm
* Những nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa FDI với tăng trưởng kinh tế:
Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điểm hay còn gọi là lý thuyết tăng trưởng ngoạisinh Theo lý thuyết này, tăng trưởng kinh tế được tạo bởi các yếu tố ngoại sinh nhưtích lũy vốn và lao động Điều này có được là nhờ FDI làm gia tăng vốn ở nước sởtại và sau đó thúc đẩy kinh tế tăng trưởng hướng tới trạng thái ổn định mới bằngcách tích tụ vốn Theo lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh thì FDI tác động đến tăngtrưởng kinh tế thông qua tác động đến đầu tư trong nước
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh xác định tăng trưởng kinh tế bằng việc giớithiệu quy trình sản xuất công nghệ mới ở nước sở tại và FDI được giả định là hiệuquả hơn đầu tư trong nước Do đó, FDI tăng cường tăng trưởng kinh tế thông qua sự
Trang 7lan tỏa công nghệ, dịch chuyển lao động, đào tạo kỹ năng quản lý và sắp xếp tổchức Kết quả là, đầu tư nước ngoài có thể làm tăng năng suất nền kinh tế chủ nhà
và sau đó FDI có thể được coi như chất xúc tác của đầu tư trong nước và tiến bộcông nghệ
Để nghiên cứu được mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, cũng nhưđánh giá được tác động của nó, phần sau đây trình bày một khung khổ lý thuyết sửdụng mô hình tăng trưởng nội sinh
Trong mô hình này, Y là sản phẩm đầu ra của nền kinh tế được tạo ra bởi khuvực sản xuất sản phẩm cuối cùng bằng công nghệ sản xuất tổng quát, sử dụng cácyếu tố đầu vào là vốn vật chất K và vốn con người H:
Y(t) = A(t)f(K(t), H(t))
Giả sử tiến bộ công nghệ gọi là (t), tăng trưởng với tốc độ không đổi a (hay(t) (0) với (0) là mức độ công nghệ tại thời điểm gốc), thì hàm sản xuất giả định ởtrên, trình độ công nghệ sẽ ảnh hưởng tích cực đến cả hai yếu tố đầu vào K(t), H(t).Kết quả của cơ chế này là tiến bộ công nghệ sẽ tác động gián tiếp tới sản phẩm đầu
ra Y(t) Lúc này Y là tổng sản phẩm quốc nội GDP thể hiện tốc độ tăng trưởng kinh
tế qua mô hình sau:
gy = gGDP = -θ[Ω(F(b, N/N*))-1 -ρ]
Điều quan trọng nhất rút ra từ mô hình là tồn tại mối quan hệ trực tiếp giữaFDI và tăng trưởng kinh tế Thông qua FDI, không những hàng hóa vốn mới đượctạo ra (tăng tài sản vốn vật chất của nền kinh tế) mà chi phí để sản xuất ra chúng còngiảm đi, qua đó tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Raymond Vermon :
Lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Raymond Vermon giải thích sự phát triển củacác công ty xuyên quốc gia qua 3 giai đoạn phát triển của sản phẩm mới: đổi mới,tăng trưởng và bão hào Để sản xuất tiếp tục được phát triển, công ty phải mở rộngthị trường phát triển ở nước ngoài, nhưng do bị hạn chế bở hàng rào thuế quan vàhạn ngạch, nên hoạt động đầu tư nước ngoài sẽ đem lại hiệu quả hơn
Lý thuyết chu kỳ sản phẩm bắt kịp của Akamatsu:
Theo Akamatsu, sản phẩm mới được phát minh và ra đời ở nước đầu tư Sau
đó được xuất khẩu ra thị trường quốc tế Tại nước nhập khẩu, do ưu điểm cảu sản
Trang 8phẩm mới và nhu cầu của thị tường nội địa tăng lên, chính phủ nước nhập khẩu đãtăng cường sản xuất thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vàovốn, kỹ thuật của nước ngoài Đến khi nhu cầu nội địa về sản phẩm mới được sảnxuất trong nước đạt đến bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện và cứ theo chu kỳnhư vậy mà hình thành FDI Akanatsu cũng đã xây dựng nên mô hình “đàn nhạnbay” (flying geese), chỉ ra lộ trình phát triển của một ngành công nghiệp cụ thể vànguyên nhân xuất hiện FDI ra nước ngoài Các quá trình đó xuất hiện, phát triển vàsuy thoái, cũng tạo ra mô hình làn sóng.
* Những nghiên cứu lý thuyết về vai trò của lao động tới tăng trưởng kinh tế
Vai trò của nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế đã được ghi nhậntrong các lý thuyết về tăng trưởng nội sinh Romer (1986), Lucas (1988), Squire(1993), Schultz (1999), Bassanini & Scarpetta (2001) đã xác định nguồn nhân lựctrở thành yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo
Mô hình của K.Marx: Marx đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong
việc sản xuất ra giá trị thặng dư Theo Marx, sức lao động đối với nhà tư bản là mộthàng hóa đặc biệt Nó có thể tạo ra giá trị lớn hơn của bản thân nó, giá trị đó bằnggiá trị của sức lao động công với giá trị thặng dư Từ phân tích của Marx, chúng tanhận thấy được vai trò rất quan trọng của lao động trong quá trình tạo ra thu nhậpcủa xã hội cũng như tăng trưởng của nền kinh tế
Mô hình cổ điển Adam- Smith: Trong thuyết về “ Giá trị lao động ’’, Adam
Smith cho rằng lao động chứ không phải đất đai, tiền bạc là nguồn gốc cơ bản tạo ramọi của cải cho đất nước
Quan điểm của A-Fisher : A.Fisher chú trọng đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu
lao động khi có sự tiến bộ của kỹ thuật , khi kỹ thuật có bước tiến bộ, nhu cầu về laođộng kỹ thuật, lao động về trình dộ chuyên môn để tiếp nhận và làm chủ những kỹthuật mới đó là tăng lên Do đó, năng suất lao động mới tăng lên được, hiệu quảkinh tế mới đảm bảo
*Khái niệm liên quan
FDI là Nguồn vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài ( Foreign Direct Investment) Đây là hình thức kinh doanh của các doanh nghiệp tổ chức trên lãnh thổ nền kinh
Trang 9tế này trên lãnh thổ của nền kinh tế khác nhằm đạt được lợi ích lâu dài và vị thế ổnđịnh bản thân.
PCI là Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial CompetitivenessIndex) - là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam vềchất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việcphát triển doanh nghiệp dân doanh Đây là dự án hợp tác nghiên cứu giữa PhòngThương mại và Công nghiệp Việt Nam và dự án sáng kiến cạnh tranh Việt Nam (là
dự án do cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ - USAID, tài trợ và thí điểm vào năm
2005 và chính thức đưa vào triển khai từ 2006 đến nay
Lạm phát là sự gia tăng mức giá chung của tiền tệ và hàng hóa theo thời gian
và là sự mất giá trị của một loại tiền nào đó Lạm phát là một yếu tố xuất hiện ở hầuhết các quốc gia và phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ
1.2 Những nghiên cứu thực nghiệm
Theo những tài liệu chúng em tìm được thì trước nay có khá nhiều những bàibáo cáo liên quan đến sự ảnh hưởng của biến ngoại sinh tới biến phụ thuộc là GDP
Inflation and economic growth của tác giả Barro, R.J xuất bản năm 1995 với
mục tiêu phân tích tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế và đầu tư bằngphương pháp ước lượng hồi quy cổ điển đã dựa trên lí thuyết lạm phát chỉ có tácđộng xấu đến nền kinh tế của Briault (1995) để cho thấy kết quả là nếu lạm pháttăng trung bình 10% mỗi năm thì tốc độ tăng trưởng GDP thực tế sẽ giảm 0.2-0.3%
và tỷ lệ đầu tư cũng giảm 0.4 -0.6% mỗi năm Tuy nhiên mặt trái của sự nghiên cứunày là Kết quả thống kê chỉ có ý nghĩa khi tỉ lệ lạm phát cao được đưa vào trongmẫu Ở Việt Nam năm 2015 tạp chí của Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ ChíMinh cũng đã công bố một bài nghiên cứu của hai tác giả : Nguyễn Minh Sáng và
Tôn Nữ Diệu Khuê về vấn đề lạm phát và tăng trưởng kinh tế của các nước đang
phát triển từ 2000 đến 2012 , trong đó có Việt Nam Thông qua phương pháp phân
tích hồi quy cổ điển OLS, tác giả đã rút ra được mức lạm phát ở 17 quốc gia đangphát triển là ở ngưỡng 11-12% Dưới ngưỡng này thì tác động của lạm phát không
rõ ràng , còn trên ngưỡng này thì lạm phát có tác động tiêu cực tới nền kinh tế và rút
ra một số biện pháp cụ thể để giảm thiểu lạm phát trên nhiều khía cạnh.Nhưng kết
Trang 10quả hồi quy còn hạn chế do mẫu nghiên cứu chưa đồng đều , thời gian nghiên cứuchưa đủ dài
Bài nghiên cứu Chính quyền đô thị tại Việt Nam: Nghiên cứu tình huống từ
thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng do nhóm tác giả của trường Đại học Kinh tế
-Luật thuộc Đại học Quốc gia TP HCM thực hiện từ tháng 9/2012 đến tháng 7/2013.Nghiên cứu định tính thông qua khảo sát thực tế, phỏng vấn sâu về nhìn nhận củacác bên về tính hiệu lực và hiệu quả của chính quyền đô thị hiện nay tại TP HCM
và Đà Nẵng Theo cách tiếp cận định lượng nhóm tác giả sử dụng số liệu thống kêthứ cấp để đánh giá vai trò của các thành phố trực thuộc trung ương trong phát triểnkinh tế - xã hội của Việt Nam và ước lượng chi phí cơ hội của các phương thứcquản lý chính quyền đô thị hiện hành Kết quả phân tích vai trò của 4 đô thị trựcthuộc trung ương gồm hai đô thị đặc biệt là TP HCM và Hà Nội và hai đô thị loạimột là Đà Nẵng và Cần Thơ cho thấy bốn thành phố là trung tâm kinh tế thể hiệntrong đóng góp GDP, thu ngân sách, thu hút FDI, hoạt động xuất khẩu, thu hút đầu
tư trong nước qua số lượng doanh nghiệp, dịch chuyển cơ cấu kinh tế Năm 2011bốn đô thị có tổng dân số chiếm 18,74%, diện tích chiếm 2,45% so với cả nướcnhưng đã đóng góp đến 33,52% GDP, 61,13% tổng thu ngân sách, 40,51% kimngạch xuất khẩu, 48,25% số dự án, 30,1% tổng vốn FDI đăng ký, 57,28% tổng sốdoanh nghiệp đang hoạt động của cả nước Bốn thành phố này, cùng với Hải Phòng
là trụ cột kinh tế của quốc gia và đang có cấu trúc quản lý đô thị hiệu quả để đảmbảo cho sự phát triển
Bên cạnh đó hai tác giả Granger và Engle thực hiện Lí thuyết đồng liên kết
(cointegration) để phân tích quan hệ giữa các biến số kinh tế sử dụng dữ liệu theo
dãy số thời gian.Nghiên cứu được phát triển bởi Granger (1981) và hoàn thiện bởiEngle và Granger (1987) Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phân tích hồiquy tuyến tính dựa trên lí thuyết xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng Tuynhiên mô hình lại không đảm bảo thuộc tính tĩnh cần có
Năm 2003 Laura Alfaro xuất bản bài viết Foreign Direct Investment and
Growth: Does the Section Master? trên Harvard Business School bàn về việc phân
tích thực nghiệm sử dụng dữ liệu chéo và áp dụng các mô hình hồi quy kinh tếlượng để chỉ ra rằng FDI ảnh hưởng tới rất nhiều mặt lĩnh vực kinh tế Hạn chế của
Trang 11bài viết lại là chỉ dừng lại ở mức tổng quan, chưa thể hiện rõ tác động bên trong vấn
đề, cơ chế truyền dẫn Cũng trong cùng chủ đề về FDI có các nhóm tác giả thuộctrường đại học International Black Sea University nghiên cứu về ảnh hưởng củaFDI lên sự phát triển kinh tế của một số nước trong khoảng từ 1997 đến 2010 Đề
tài : FDI and Economic Growth Relationship Based on Cross-Country Comparison
của nhóm tác giả đã khẳng định mối quan hệ giữa FDI và phát triển kinh tế là vôcùng quan trọng như tạo nên những cơ hội việc làm mới, dòng vào của công nghệ
và nó có ảnh hưởng tích cực lên sự phát triển của thị trường hàng hoá
Mặt khác năm 2016, nhóm tác giả của trường đại học Văn Hiến cũng đã công
bố Nghiên cứu tác động của vốn đầu tư tư nhân, lao động và cơ sở hạ tầng đến tăng
trưởng kinh tế vùng Đồng bằng song Cửu Long Mục đích của nghiên cứu này là
phân tích tác động của vốn đầu tư tư nhân, lao động, cơ sở hạ tầng đến tăng trưởngkinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng cách sử dụng hồi quy bằng phươngpháp ước lượng (FEM).Kết quả thu được cho rằng cơ sở hạ tầng, vốn và lao động cótác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2009-
2013 Trong các điều kiện khác không thay đổi, các biến đôc lập của mô hình nàygiải thích 64,17% sự thay đổi của biến phụ thuộc tăng trưởng kinh tế Điểm yếu củabài quan sát này chính là thời gian quan sát mới chỉ dừng lại ở 5 năm: chưa đánh giáđược độ trễ tác động các yếu tố cơ sở hạ tầng vào tăng trưởng kinh tế khu vựcĐBSCL
Những nghiên cứu trên hầu như đều tập trung đi vào một yếu tố chính vàchưa có sự tổng hợp của các yêu tố và một số bài nghiên cứu chưa hề áp dụng vào líthuyết thực tiễn của Việt Nam Bài của chúng em bên cạnh việc kế thừa kết quả từnhững nghiên cứu trên thì hi vọng có thể khắc phục những khuyết điểm trước vàđồng thời có thể áp dụng được cho tình hình nước ta Bên cạnh đó số liệu đượcupdate cũng tính đến năm 2018 vì vậy hi vọng kết quả đem lại sẽ chính xác vàmang tính thực tế cao hơn
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Xây dựng mô hình lý thuyết
Dựa vào cơ sở lý thuyếtvà nghiên cứu “tác động của vốn đầu tư tư nhân, laođộng và cơ sở hạ tầng đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng song Cửu Long”kết
Trang 12hợp với nghiên cứu “Chính quyền đô thị tại Việt Nam” nhằm phù hợp hóa mô hìnhđối với môi trường ở Việt Nam, nhóm đã xây dựng mô hình này để nghiên cứu mốiquan hệ, ảnh hưởng của các yếu tố ngoại sinh đến GDP:
lnGDP = f(lnLABO, INFLA, PCI, CITY, lnFDI)
Trong đó:
• GDP: mức tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội hàng năm (nghìn USD)
• LABO: số lượng lao động (nghìn Dollar)
• INFLA: tỷ lệ lạm phát hàng năm (% của tổng sản phẩm quốc nội)
• PCI: chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
• FDI: đầu tư trực tiếp nước ngoài (triệu Dollar)
• CITY: Thành phố trực thuộc trung ương
1: thành phố trực thuộc trung ương
0: trường hợp còn lại
Để kiểm tra ảnh hưởng các yếu tố ngoại sinh đến mức tăng trưởng
của tổng sản phẩm quốc nội, từ lý thuyết đã trình bày bên trên, nhóm đề
xuất dạng mô hình nghiên cứu như sau:
Mô hình hàm hồi quy tổng thể:
PRF: ln(GDP i )= β 1 + β 2 ln(LABO i )+ β 3 INFLA i + β 4 PCI i + β 5 CITY i +
β 6 ln(FDI)+ u i
Mô hình hàm hồi quy mẫu:
SRF: ln(GDP i )= 1 + 2 ln(LABO i ) + 3 INFLA i + 4 PCI i + 5 CITY i + 6 ln(FDI i ) + i
2.2 Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 13Số liệu đã nhóm thu thập thuộc dạng thông tin thứ cấp, dạng số liệu hỗn hợp,thể hiện thông tin của các yếu tố kinh tế của từng tỉnh trong giai đoạn từ 2008 đến2018.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được lấy từ nguồn xác minh có tính chính xác cao, cụthể là từ nguồn dữ liệu của Tổng cục thống kê, niên giám thống kê và trang thống kêPCIVIETNAM
Cụ thể:
mục thu nhập phân theo 5 nhóm thu nhập và địa phương GDP tính theo thu nhậpnhưng thực tế, chính phủ chỉ thực hiện điều tra thu nhập 2 năm một lần Vậy nên, sốliệu của nhóm sử dụng không thể liên tục từng năm, mà sẽ chu kì 2 năm một lầntrong giai đoạn 2008 đến 2018
FDI: tính theo số liệu báo cáo của niên giám thống kê mục đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép phân theo từng địa phương
Lao động: tính theo số liệu của tổng cục thống kê mục lao động từ 15 tuổi trở lênphân theo địa phương
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
Nhóm đã sử dụng phần mềm Stata để xử lý sơ lược số liệu, sau đó tiếp tụctính ma trận tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc
2.2.3 Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu
Để đánh giá các tác động của các nhân tố đến GDP các tỉnh thành, bài nghiêncứu sử dụng phần mềm STATA để phân tích và kiểm định mô hình dữ liệu bảng(data panel) Đối với dữ liệu bảng ta có thể tiến hành hồi quy theo ba phương phápsau:
Hồi quy bình phương nhỏ nhất ( Pooled Ordinary Least Square – Pool OLS): Phương pháp hồi quy này kết hợp tất cả các quan sát, bỏ qua yếu tố thời gia
và sự khác biệt giữa các đơn vị chéo Phương pháp này chỉ là sự quan sát dữ liệuthông thường và có nhược điểm khi sử dụng để ước lượng dữ liệu bảng như nhậnđịnh sai mô hình, ràng buộc quá chặt vào đơn vị chéo