1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế lượng thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ số hành tinh hạnh phúc HPI

35 356 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt:Mục đích: Nghiên cứu ảnh hưởng của những nhân tố tác động đến chỉ số hành tinh hạnh phúc HPI bao gồm: chỉ số hài lòng cuộc sống Life Satisfaction Index, dấu chân sinh tháiEcologi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

-*** -TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG I

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ

HÀNH TINH HẠNH PHÚC HPI (HAPPY PLANET INDEX)

Giảng viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thu Giang

Nhóm sinh viên thực hiện: Ngô Việt Anh 1714410016

Nguyễn Thủy Nguyên 1714410172

Hà Nội, tháng 3 năm 2019

Trang 2

Tóm tắt:

Mục đích: Nghiên cứu ảnh hưởng của những nhân tố tác động đến chỉ số hành tinh hạnh

phúc HPI bao gồm: chỉ số hài lòng cuộc sống (Life Satisfaction Index), dấu chân sinh thái(Ecological Footprint), tuổi thọ trung bình (Life Expectancy), thu nhập bình quân đầungười (GDP/ capita), dân số (Population)

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng mô hình OLS trên phần mềm R.

Kết quả: Chỉ số hài lòng cuộc sống (Life Satisfaction Index), dấu chân sinh thái (Ecological

Footprint), tuổi thọ trung bình (Life Expectancy) có ảnh hưởng đến chỉ số hạnh phúc HPI

Trang 3

MỤC LỤC

Tóm tắt: 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

DANH MỤC HÌNH ẢNH 4

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Lý thuyết liên quan và hỗ trợ nghiên cứu 7

1.1.1 Tổng quan về chỉ số hành tinh hạnh phúc HPI 7

1.1.2 Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của các nhân tố đã chọn đến HPI 7

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.2.1 Các nghiên cứu liên quan trong & ngoài nước 9

1.2.2 Nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu tố di truyền và hạnh phúc 10

1.2.3 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa trí tuệ và hạnh phúc 10

1.2.4 Nghiên cứu mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc 10

1.3 Lỗ hổng nghiên cứu 11

1.4 Giả thiết nghiên cứu 12

CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG 13

2.1 Phương pháp nghiên cứu 13

2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu 13

2.1.2 Phương pháp xử lý số liệu 13

2.1.3 Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu 13

2.2 Xây dựng mô hình 13

2.3 Mô tả các biến 14

2.4 Mô tả dữ liệu của mô hình 17

2.4.1 Nguồn dữ liệu đã sử dụng 17

2.4.2 Mô tả thống kê 18

2.5 Kì vọng ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc dựa vào biểu đồ tương quan (scatter plot) 18

2.6 Hệ số tương quan giữa các biến 21

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ SUY DIỄN THỐNG KÊ 23

3.1 Bảng kết quả, so sánh ước lượng và diễn giải kết quả 23

Trang 4

3.1.1 Kết quả ước lượng 23

3.1.2 Phân tích bảng kết quả 24

3.2 Kiểm định 24

3.2.1 Kiểm tra các giả định của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển 24

3.2.2 Kiểm định hệ số hồi quy 26

CHƯƠNG 4: KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 28

4.1 Khuyến nghị về chính sách 28

4.2 Kết luận 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

PHỤ LỤC 32

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1: Mô tả thống kê dữ liệu nghiên cứu 18

Bảng 2: Hệ số tương quan giữa các biến 21

Bảng 3: Kết quả chạy mô hình 23

Bảng 4: Kiếm định hệ số hồi quy 27

DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1: Biểu đồ tương quan giữa HPI và Lex 18

Hình 2: Biểu đồ tương quan giữa HPI và LSI 19

Hình 3: Biểu đồ tương quan giữa HPI và EF 19

Hình 4: Biểu đồ tương quan giữa HPI và PPP 20

Hình 5: Biểu đồ tương quan giữa HPI và Pop 21

Hình 6: Phân tích phần dư 26

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ năm 2014 đến nay Việt Nam liên tục đứng trong top 5 các nước có chỉ số hành tinhhạnh phúc (HPI) cao nhất trên thế giới Trong khi đó những quốc gia và khu vực như NhậtBản, Hồng Kông, Canada… lại có số hạng rất thấp trong bảng này Câu hỏi được đặt ra về

độ tin cậy và thuyết phục của chỉ số hành tinh hạnh phúc Liệu chỉ số này có thuần túy đo

sự hạnh phúc của một quốc gia? HPI được xác định bởi những yếu tố nào?

Bởi còn rất nhiều nhận thức chưa đúng về HPI dẫn đến hệ quả là những hành động sai lầmtrong hiện tại và tương lai Thông qua nghiên cứu thực nghiệm, các biến ảnh hưởng đến HPI

cũng được xác định Vì vậy, chúng em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thiết lập mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ số hành tinh hạnh phúc HPI”.

Hy vọng bài tiểu luận này sẽ phần nào giúp mọi người có cái nhìn đúng đắn hơn về chỉ sốHPI Từ đó có những giải pháp để trong tương lai Việt Nam thực sự là một quốc gia hạnhphúc

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định và phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố đếnchỉ số hành tinh hạnh phúc của một quốc gia

Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm về sự ảnh hưởng của cácnhân tố như chỉ số hài lòng, dấu chân sinh thái, tuổi thọ trung bình, thu nhập bình quânđầu người và sự bất bình đẳng trong một quốc gia đến HPI

Ước lượng mô hình hàm hồi quy và phân tích ảnh hưởng của các biến đến HPI Kiểmđịnh và khắc phục các khuyết tật của mô hình đã được ước lượng

Những gợi ý về chính sách để Việt Nam tiếp tục duy trì chỉ số hành tinh hạnh phúc hiệntại và hạnh phúc thực sự trong tương lai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Sự ảnh hưởng của các biến chỉ số hài lòng, dấu chân sinh thái, tuổi thọ trung bình, thu nhập bình quân đầu người và dân số trong một quốc gia đến chỉ số

hành tinh hạnh phúc của quốc gia đó

Trang 6

4 Hạn chế khó khăn khi nghiên cứu

Các yếu tố được chọn trong mô hình là những khái niệm khá mới lạ đồng thời đề tài nàykhá phức tạp, chưa được quan tâm và nghiên cứu nhiều tại Việt Nam Do đó quá trình thuthập tài liệu gặp nhiều khó khăn: rất ít số liệu và tài liệu tham khảo bằng Tiếng Việt, sốliệu được tìm kiếm hoàn toàn bằng Tiếng Anh

Ngoài ra, do kiến thức chuyên ngành nói chung và kiến thức về môn kinh tế lượng nóiriêng còn hạn chế nên đề tài vẫn còn có rất nhiều sai sót Mong quý thầy cô sẽ thông cảmcho chúng em

5 Lý do lựa chọn biến

Dân số: Mỗi quốc gia lại có điều kiện tự nhiên cũng như khí hậu khác nhau từ đó dẫn đến

dân số cũng khác nhau, như những nơi có khí hậu khắc nghiệt thì tập trung ít dân số hơnnơi có khí hậu thuận lợi Hay như diện tích các quốc gia nhỏ hay lớn, chính sách dân sốcủa quốc gia đó và nhiều nhân tố khác tác động đến số lượng dân của quốc gia đó Vì vậydân số của mỗi quốc gia là biến ngẫu nhiên

Thu nhập bình quân đầu người: Các nước trên thế tài nguyên thiên nhiên khác nhau, có

nước thì nhiều tài nguyên như Dubai, có nước lại ít tài nguyên như Nhật Bản Cũng cónước phải chịu chiến tranh, thiên tai, điều kiện thời tiết khắc nghiệt nên thu nhập bìnhquân đầu người của mỗi nước là một biến ngẫu nhiên

Tuổi thọ trung bình: Tuổi thọ trung bình phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Gen, chi phí khám chữa bệnh, trình độ giáo dục… Mà các quốc gia lại không giống nhau về những

điều này nên tuổi thọ trung bình là một biến ngẫu nhiên

Dấu chân sinh thái:

1 số nhu cầu cho

Trang 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN1.1 Lý thuyết liên quan và hỗ trợ nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan về chỉ số hành tinh hạnh phúc HPI

Mặc dù việc nghiên cứu định lượng về hạnh phúc mang những hạn chế không nhỏ, songnhiều học giả và tổ chức quốc tế cho rằng hướng nghiên cứu này không phải không có ýnghĩa Quá trình đo đạc, trắc nghiệm hạnh phúc luôn mở cái nhìn sâu hơn, thực tế hơn vềcuộc sống con người

Chỉ số hành tinh hạnh phúc (Happy Planet Index, viết tắt HPI) là chỉ số do NEF (NewEconomics Foundation - một tổ chức nghiên cứu kinh tế - xã hội có trụ sở chính tạiVương quốc Anh) công bố vào tháng 7 năm 2006 Đây được coi là công trình nghiên cứuđịnh lượng hạnh phúc có quy mô lớn nhất từ trước đến nay Kết quả dựa vào các số liệuchọn lọc từ các quốc gia, các tổ chức quốc tế và các số liệu do chính NEF điều tra

Báo cáo chỉ số hạnh phúc hành tập hợp và đưa ra được thực trạng hạnh phúc của 140nước, tức là hầu hết các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Một số quốc gia có hoàncảnh chính trị - xã hội khá đặc biệt như Iraq, Afghanistan, CH DCND Triều Tiên, Somali,Tây Sahara, Liberia, Đảo Greenland, Serbi & Montenegro, Đông Timor không nằmtrong bản báo cáo này

Tuy một số học giả chưa thỏa mãn với cách thiết kế chỉ số, logic của việc quy giản kháiniệm hạnh phúc theo như NEF… Nhưng đến nay, đây vẫn được coi là công trình nghiêncứu khá uy tín và chưa có quốc gia hay tổ chức quốc tế nào lên tiếng phản đối bản báo cáonày

1.1.2 Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của các nhân tố đã chọn đến HPI

Dựa trên cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu trước đó, chỉ số hành tinh hạnh phúc ảnhhưởng bởi các yếu tố sau: chỉ số hài lòng cuộc sống (Life Satisfaction Index), dấu chânsinh thái (Ecological Footprint), tuổi thọ trung bình (Life Expectancy), thu nhập bìnhquân đầu người (GDP/ capita), dân số (Population)

a) Chỉ số hài lòng cuộc sống

Chỉ số hài lòng cuộc sống có tiêu chí chung là vật chất đầy đủ, tinh thần thoải mái (bao

gồm cả vấn đề dân chủ, công bằng xã hội), chăm sóc về y tế, giáo dục, an ninh tốt, cũng

có nghĩa Nhà nước cần có chính sách kinh tế và an sinh xã hội hợp lý làm người dân đồngtình Tuy nhiên mức độ để hài lòng của mỗi người là khác nhau Có người dù đầy đủ vậtchất vẫn chưa thỏa mãn, có người chỉ cần được đáp ứng đủ nhu cầu thiết yếu

Đã có nhiều nghiên cứu và phỏng vấn về chỉ số hài lòng hạnh phúc Chẳng hạn: 100% ngườiPhilippines làm người giúp việc tại Hồng Kông hài lòng với cuộc sống của mình (vì thu nhập

ở Philippines chỉ được 100USD/tháng còn ở Hồng Kông tới 700USD/tháng) Song cũng100% số người này mong muốn có cuộc sống như người giàu có ở Hồng Kông Trong khi đó,chỉ có 50% người giàu có tại Hồng Kông hài lòng với cuộc sống của mình

Chỉ số hài lòng càng cao càng chứng tỏ người đó thỏa mãn với cuộc sống của mình Từ

đó, họ càng hạnh phúc

Trang 8

b) Dấu chân sinh thái

Dấu chân sinh thái nêu lên tình trạng khai thác tài nguyên phục vụ cho cuộc sống của các

quốc gia Đây là một thuật ngữ được sử dụng vào những năm 1990 Theo đó, dấu chânsinh thái là một thước đo nhu cầu về các diện tích đất, nước có khả năng cho năng suấtsinh học cần thiết để cung cấp thực phẩm, gỗ cho con người, bề mặt xây dựng cơ sở hạtầng, diện tích hấp thụ cacbon điôxít, khả năng chứa đựng và đồng hóa chất thải

Con người đang khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho lợi ích của mình TuyTrái Đất có khả năng tái tạo nhưng khả năng tái tạo là có hạn Nếu con người tiếp tục khaithác tài nguyên vượt quá khả năng của Trái Đất như hiện nay thì hậu quả trong tương lai

Trong thời bình, sự khác biệt về tuổi thọ trung bình trên thế giới giữa các vùng chủ yếu do

cơ sở vật chất thiếu thốn, nghèo đói, dịch bệnh và sự phát triển của y tế Ở khu vực ChâuPhi, nơi y tế kém phát triển, nạn đói hoành hành, có rất nhiều quốc gia tuổi thọ trung bìnhcủa người dân luôn ở dưới mức 50 tuổi, thấp hơn trung bình thế giới rất nhiều Trong khi

đó Nhật Bản, cường quốc công nghệ của thế giới, tuổi thọ trung bình của người dân là 83tuổi Như vậy, tuổi thọ trung bình của người dân càng cao càng góp phần chứng mình sựphát triển, hạnh phúc của quốc gia đó

d) Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người quy đổi theo phương pháp sức mua tương đương

Sức mua tương đương PPP là một lý thuyết kinh tế liên kết giữa tỷ giá hối đoái với giá củahàng hóa hay dịch vụ ở hai quốc gia bất kỳ Sức mua tương đương cho ta biết một đơn vị tiền

tệ tại nước này có thể mua bao nhiêu bằng một đơn vị đo lường quốc tế (thường là đồng đô laMỹ), bởi vì hàng hóa và dịch vụ ở các nước khác nhau có giá khác nhau

Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người là giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụđược tạo ra bên trong một quốc gia trong một năm cho trước chia theo dân số trung bìnhcủa năm đó

GDP bình quân đầu người theo phương pháp sức mua tương đương là một trong nhữngthước đo quan trọng để đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trong

so sánh quốc tế, đồng thời là một căn cứ quan trọng phục vụ cho việc tính chỉ số phát triểncon người Con số này phản ánh sự giàu nghèo, sự khác nhau trong giá cả sinh hoạt giữacác quốc gia

Trang 9

Chẳng hạn bạn có thể sống ngưỡng người nghèo ở Mỹ nhưng cùng số tiền đó tính theo đô

la Mỹ, bạn có thể sinh hoạt đầy đủ tại Việt Nam Ví dụ: Năm 2006, GDP bình quân đầungười của Việt Nam đạt khoảng 723,9 USD, trong khi tính theo sức mua tương đương,con số này đạt 3.373,3 USD

e) Dân số

Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một không giannhất định, là nguồn lao động quý báu cho sự phát triển kinh tế – xã hội, thường được đobằng cuộc điều tra dân số và biểu hiện bằng tháp dân số

Số người trên Trái Đất không ngừng tăng lên và tăng nhanh nhất khi bước sang giữa thế kỷ

19 đến đầu thế kỷ 20, trong đó các nước trên thế giới đang phát triển có tốc độ gia tăng dân

số tự nhiên đến chóng mặt Bùng nổ dân số là một trong những vấn đề toàn cầu của xã hộihiện nay Bùng nổ dân số là vấn nạn bởi nó mang lại tác động xấu đến kinh tế, xã hội và môitrường Theo mô hình tăng trưởng của Solow, ông có cái nhìn tiêu cực về ảnh hưởng của dân

số đến kinh tế Tốc độ tăng dân số càng tăng nền kinh tế càng nhanh chóng đạt

điểm dừng, ngừng tăng trưởng Kinh tế bị kìm hãm bởi thừa lao động, thất nghiệp và đóinghèo; chất lượng giáo dục, dịch vụ yếu kém, tệ nạn xã hội; khai thác cạn kiệt tài nguyênthiên nhiên, ô nhiễm môi trường

Bùng nổ dân số chính là cội nguồn của mọi vấn đề, là nguyên nhân sâu xa của sự trì trệ, đói nghèo, không hạnh phúc của một quốc gia

Nhưng ngược lại, tỷ lệ tăng dân số cũng phần nào phản ánh sự hạnh phúc của một quốcgia Theo công thức tính, tỷ lệ tăng dân số lớn không chỉ thể hiện tỷ lệ sinh thô cao màcòn nói lên tỷ lệ tử thô nhỏ Ngày nay, khi nhận thức cộng đồng đã được nâng cao, chỉ khicuộc sống đầy đủ, ấm no vật chất, họ mới có ý định sinh con Ngoài ra, tỷ lệ tử thô giảm

do vấn đề đói nghèo và bệnh tật được giải quyết nhờ sự phát triển của khoa học, các dịch

vụ y tế và chăm sóc sức khỏe Tỷ lệ này còn tính bởi tỷ lệ nhập cư và di cư Tỷ lệ nhập cưcao, tỷ lệ dân số tăng cũng thể hiện quốc gia đó hạnh phúc, nền kinh tế phát triển, thu hútlao động nước ngoài

Như vậy, dân số chắc chắn ảnh hưởng đến chỉ số hạnh phúc Câu hỏi được đặt ra cho môhình rằng chỉ số hạnh phúc nhạy cảm với tác động tiêu cực hay tác động tích cực của dân

số hơn

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2.1 Các nghiên cứu liên quan trong & ngoài nước

Tuy ở Việt Nam, việc nghiên cứu về hạnh phúc còn chưa phổ biến nhưng trên thế giới,trước bản báo cáo của NEF đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được đưa ra

The Science of Happiness được coi là tác phẩm xuất hiện sớm trong nghiên cứu khoa học

về hạnh phúc của một nhóm tác giả xuất bản tại London năm 1861 Năm 1909, một cuốnkhác cùng tên của Henry S Williams xuất bản tại New York tiếp tục gây được sự chú ý

Từ đó, các công trình, chuyên khảo, bài báo khuynh hướng nghiên cứu khoa học vềhạnh phúc xuất hiện với tần suất lớn hơn

Trang 10

Gần đây, ở phương Tây, Science of Happiness đã được coi là một ngành nghiên cứutương đối độc lập với đối tượng nghiên cứu là hạnh phúc.

1.2.2 Nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu tố di truyền và hạnh phúc

Một yếu tố được các nhà quan tâm khi nghiên cứu về hạnh phúc là yếu tố di truyền Vềmặt sinh học, những người bình thường (trừ trường hợp những người quá dị biệt mà ngaykhi sinh ra đã bị coi là bất hạnh) đều xuất phát từ một mặt bằng chung, từ một điểm xuấtphát giống nhau để đi tới hạnh phúc, hay ngược lại, ngay từ khi sinh ra, mỗi cá nhân đãđược yếu tố di truyền định sẵn cho một vạch xuất phát riêng để từ đó họ đi tới hạnh phúc.David Lykken, nhà di truyền học hành vi, Giáo sư tâm lý học của Đại học Minnesota,Minneapolis cho rằng 44 - 55% cảm giác hài lòng của con người thường được quyết địnhbởi "điểm chuẩn hạnh phúc" vốn có do đến di truyền chi phối Trong khi đó mức thunhập, tình trạng hôn nhân, lòng tin tôn giáo hay nền tảng giáo dục tức là những nhân tốngoài di truyền lại chỉ ảnh hưởng với một tỷ lệ không lớn so với những nhân tố di truyền.Nhưng Michael Cunningham, giáo sư Đại học Louisville, Kentucky đã chứng minh rằng,nhiều người có điểm chuẩn hạnh phúc thấp và rất thấp, nhưng trong hoạt động xã hội vẫn

có thể đạt tới một nấc thang hạnh phúc cao hơn

Các nghiên cứu kể trên đã góp phần không nhỏ vào công trình nghiên cứu về hạnh phúc –một khái niệm vô cùng trừu tượng Tuy nhiên, trong bản thân mỗi nghiên cứu lại tồn tạinhững luồng ý kiến trái ngược nhau, thiếu luận cứ, bằng chứng xác thực Các nghiên cứutrên đều mang tính chất phiến diện, chủ quan và chưa tổng quát vấn đề

1.2.3 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa trí tuệ và hạnh phúc

Trong nghiên cứu của Ectward Diener, ông kết luận: “Thông minh chẳng có ảnh hưởng

gì đến hạnh phúc cả.” Diener giải thích rằng, người thông minh thường tự tin, nuôi những

ước vọng cao và đặt cho bản thân những mục tiêu vô cùng lớn Bởi vậy, họ sẽ khó thỏamãn với những gì không phải thành quả cao nhất mà họ mong đợi Trong khi đó, ngườibình thường mơ ước thành đạt được như họ Nhưng với người thông minh, thành đạt nhưthế có thể vẫn là quá ít, và đó là nguyên nhân khiến họ ít thấy mình hạnh phúc

1.2.4 Nghiên cứu mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc

Nhà xã hội học Glenn Firebaugh, Đại học Harvard (Mỹ) đã bỏ công nghiên cứu vấn đề và

rút ra kết luận: “Tiền bạc có tạo ra hạnh phúc, tuy nhiên, với một điều kiện là người làm

ra tiền bạc phải cảm thấy họ kiếm được nhiều tiền hơn những người quanh họ.”

Nghiên cứu của Edward Diener, nhà tâm lý học Đại học lninois (Mỹ) cũng cho kết quả

tương tự: “Sẽ là không đúng nếu nói tiền bạc không liên quan tới hạnh phúc, mối quan hệ

giữa chúng rất phức tạp song tỉ lệ hài lòng với cuộc sống của người giàu thường cao hơn nhiều so với người nghèo”.

Chuyên gia kinh tế Andrew Oswald của Đại học Warwick (Anh) cũng đồng ý với EdwardDiener khi nghiên cứu một nhóm người trúng xổ số từ 2.000 đến 250.000 USD Kết quả chỉ

ra là mức độ hài lòng với cuộc sống của nhóm người này tăng so với hai năm trước khi

Trang 11

họ trúng số Đồng thời, mức độ hài lòng tăng tỷ lệ thuận với mức thưởng: trúng thưởngcàng lớn người trúng thưởng càng hài lòng hơn với cuộc sống.

Tuy nhiên, Daniel Kahneman, người nhận giải Nobel kinh tế năm 2002 lại thu được kếtquả khác khi nghiên cứu thu nhập của các hộ gia đình Nghiên cứu của xác nhận hạnhphúc ở những gia đình có thu nhập trên 90.000 USD cao gấp đôi những gia đình có thunhập dưới 20.000 USD Nhưng số liệu lại cho thấy hầu như không có sự khác biệt nào vềhạnh phúc giữa nhóm gia đình có thu nhập trên 90.000 USD với nhóm có thu nhập từ

50.000 đến 90.000 USD Ông kết luận: “Quan hệ giữa thu nhập và hạnh phúc rất mờ

nhạt và không phải ngẫu nhiên mà các tư tưởng gia thường khuyên con người không nên lấy tiền bạc làm thước đo hạnh phúc.”

1.3 Lỗ hổng nghiên cứu

Không chỉ đến bây giờ, bảng xếp hạng HPI của NEF mới xếp Việt Nam vào top các nướchạnh phúc nhất thế giới Năm 2012, tổ chức này đã xếp Việt Nam hạng thứ hai, chỉ sauCosta Rica trong danh sách 151 quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát Thứ hạng này

có được nhờ sự hài lòng của người dân với cuộc sống, tuổi thọ bình quân cao, tiêu thụ tàinguyên thiên nhiên ít gây tác động tới môi trường

Tuy nhiên, người Việt Nam có thực sự hạnh phúc như bảng xếp hạng HPI? TS NguyễnHồi Loan, ĐHQG Hà Nội, cho rằng nếu Việt Nam đứng thứ 5 trên thế giới về hạnh phúcthì đó đúng là giấc mơ nhưng thực tế thì không phải như vậy “Đối chiếu với một đấtnước mà nỗi lo lắng luôn lơ lửng khắp nơi thì tôi cho là bảng đánh giá ấy hoàn toàn khôngchính xác Ở đất nước mà ra đường luôn cảm thấy bất ổn, nghi kỵ lẫn nhau, cán bộ thìnhiều người lời nói không đi đôi với việc làm, ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông trànlan, tội phạm phức tạp… thì làm sao hạnh phúc được?” - TS Loan băn khoăn

Tháng 3-2016, Liên Hiệp Quốc cũng đã công bố một bảng xếp hạng chỉ số hạnh phúc,

trong đó Việt Nam đứng thứ 96 Đánh giá về 2 bảng xếp hạng được công bố cách nhau không lâu, TS Khuất Thu Hồng - Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) cho biết ngay cả ở hạng 96, bà vẫn thấy thứ hạng này được ưu ái “Có thể họ lấy các chỉ số khác bù vào, như một đất nước có hệ thống luật pháp khá hoàn chỉnh, có luật bình đẳng giới…; chứ xét về tiêu chí theo cuộc sống hằng ngày, những vấn đề dịch vụ xã

hội cơ bản, mức độ an toàn trong cuộc sống… thì theo tôi, chúng ta chưa đạt đến thứ hạngnày” - TS Hồng phân tích

Cùng chung quan điểm này, TS Nguyễn Hồi Loan bày tỏ sự nghi ngờ ngay cả khi ViệtNam xếp hạng 96 về hạnh phúc Theo ông, với mọi bảng xếp hạng, quan trọng là tiêu chíđánh giá như thế nào Với HPI, quá trình điều tra của NEF quá rộng, tiêu chí lại không cụthể, trong khi người Việt dân trí ở một chừng mực nhất định, cách hiểu cũng lại khác nhaunên cảm nhận ở mức độ nhất định, vì thế đưa ra kết quả như đã thấy

“Điều tra xã hội học thì bảng câu hỏi phải hết sức cụ thể chứ nếu chung chung thì khônggiải quyết được vấn đề Song hành với điều tra trên diện rộng thì người ta phải thảo luận

Trang 12

nhóm, phỏng vấn sâu ở các nhóm xã hội khác nhau: nông dân, lao động tự do, bốc vác,phụ nữ, nam giới, người giàu, người nghèo, già, trẻ… Tôi nghi ngờ những kết quả điều tratrên phạm vi rộng, đôi khi là người được thuê đi điều tra không trung thực, họ tự đánhgiá…” - TS Loan thẳng thắn.

Nhìn lại những vấn đề sát sườn nhất của người Việt Nam thì khó ai có thể nói rằng chúng

ta đang hạnh phúc nhất thế giới An toàn thực phẩm, môi trường xã hội, môi trường tựnhiên với những vấn đề như cá chết, thiên tai, hạn hán ở Tây Nguyên, nước biển xâmthực ở miền Tây, biến đổi khí hậu… khiến nhiều gia đình lo lắng Đó là chưa kể các dịch

vụ y tế, giáo dục…, những vấn đề sát sườn nhất của người dân đều đang ở tình trạng báođộng Chúng ta không bằng lòng với hạnh phúc như vậy

Có thể các kết quả xếp hạng hạnh phúc là không chính xác, phiến diện nhưng nó cần thiết

để chúng ta lấy đó soi rọi thực tiễn, để từ đó xây dựng chính sách, cải thiện môi trườngsống tốt hơn, bền vững hơn

1.4 Giả thiết nghiên cứu

Phương pháp được sử dụng trong đề tài là bình phương nhỏ nhất (OLS) Vì vậy, ta có các giả định:

(1) Quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập là tuyến tính

(2) Các sai số ngẫu nhiên có giá trị trung bình bằng 0: E(ui) = 0

(3) Các sai số ngẫu nhiên có phương sai không đổi: Var(ui) = σ2 = const

(4) Không có sự tương quan giữa các sai số: Cov(ui,uj) = 0, i ≠ j

(5) Không có sự tương quan giữa ui và Xi: Cov(ui, Xi) = 0

(6) Các sai số ui có phân phối chuẩn

Trang 13

CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG 2.1 Phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu đã thu thập thuộc dạng thông tin thứ cấp, dạng số liệu chéo, thể hiện thông tin vềmột hay nhiều yếu tố được thu thập tại cùng một thời điểm ở các quốc gia, vùng lãnh thổkhác nhau Số liệu được thu thập qua các trang thông tin trên mạng

2.1.2 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm Excel và R để xử lý sơ lược số liệu và tính ma trận tương quan giữacác biến

2.1.3 Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu

Chạy phần mềm R hồi quy mô hình bằng phương pháp bình phương tối thiểu thôngthường (OLS) để ước lượng ra tham số của các mô hình hồi quy đa biến

2.2 Xây dựng mô hình

a) Mô hình hồi quy tổng quát:

Mô hình hồi quy tổng thể mô tả mối quan hệ giữa biến phụ thuộc HPI vào các biến độc lập Lex, LS, EF, PPP, Pop có dạng:

=0+1× +2× +3× +4× +5× + b) Mô hình hồi quy mẫu:

PPP: Tổng sản phẩm quốc nội (theo sức mua tương đương) bình quân đầu

người – GDP (PPP) per capita

Pop: Dân số – Population

Với sai số ngẫu nhiên và phần dư ̂ thể hiện các yếu tố khác có ảnh hưởng tới Chỉ số hành tinh hạnh phúc nhưng không được thể hiện trong mô hình.

Trang 14

2.3 Mô tả các biến

a) Chỉ số hành tinh hạnh

phúc - Kí hiệu: HPI

- Ý nghĩa: Chỉ số hạnh phúc hành tinh nói lên mối quan hệ giữa tuổi thọ, cảm giác thoải

mái và các hành vi tác động đến môi trường Hạnh phúc của mỗi quốc gia/cộng đồng là sốnăm trong vốn tuổi thọ mà con người cảm thấy hài lòng với cuộc sống của mình nếu điềunày phù hợp với điều kiện tài nguyên tự nhiên được phép tiêu dung

- Cách đo: Thang HPI được thiết kế từ 0 - 100 Theo NEF, thang lý tưởng (Reasonable

Ideal) trong điều kiện hiện nay là 83,5; trong đó, chỉ số hài lòng với cuộc sống là 8,2; chỉ

số tuổi thọ là 82,0 và chỉ số môi sinh là 1,5

- Phương thức thu thập số liệu:

mỗi quốc gia.

mà chỉ một phần trong đó là những năm sống hạnh phúc (Happy life years)

trường - Con người tiêu dùng tài nguyên tự nhiên đến mức nào, có vượt quá mức

độ cho phép mà tự nhiên đã “ban” cho con người tại mỗi quốc gia hay không, cólàm tổn hại đến hệ sinh thái mà trong đó con người chỉ là một thực thể sinh họchay không)

b) Tuổi thọ trung

bình - Kí hiệu: Lex

- Ý nghĩa: Tuổi thọ trung bình hay kỳ vọng sống là số năm dự kiến còn lại của cuộc đời

ở một độ tuổi nhất định Đó là số trung bình các năm tiếp theo của cuộc đời cho một người

ở độ tuổi nào đó, tính theo một tỉ lệ tử cụ thể Tuổi thọ trung bình phụ thuộc vào các tiêuchuẩn được sử dụng để chọn các nhóm Tuổi thọ trung bình thường được tính riêng chonam và nữ

- Cách đo: E =

E là tuổi thọ trung bình tính năm x

T là tổng số năm sống sau độ tuổi x

L là số năm mà tổng số quần thể 100.000 trẻ em sống cho đến năm x

x là tuổi khởi đầu

Trang 15

- Phương thức thu thập số liệu:

Chỉ số này được công bố theo năm do Tổng cục Thống kê và Cục thống kê phụ trách

c) Chỉ số hài lòng cuộc

sống - Kí hiệu: LSI

- Ý nghĩa: Chỉ số hài lòng với cuộc sống được tạo ra bởi Adrian G White, một nhà tâm

lý học xã hội phân tích tại Đại học Leicester, sử dụng dữ liệu từ một di căn Đó là một nỗlực để thể hiện sự hài lòng cuộc sống ở các quốc gia khác nhau Chỉ số này không chỉ dựatrên việc hỏi trực tiếp "cảm giác của mọi người" mà còn dựa trên sự phát triển kinh tế và

xã hội của nó Nó sử dụng cùng với dữ liệu từ UNESCO về việc tiếp cận đến trường, từWHO về tuổi thọ và từ CIA về GDP bình quân đầu người để thực hiện phân tích mới với

dữ liệu này để đưa ra một kết quả mới và độc đáo

- Cách đo: Có hai cách cho điểm LSI:

Cách 1: Điểm số đồng ý/không đồng ý hai điểm được xếp hạng 0 cho một phản hồi cho

thấy sự không hài lòng và 1 cho sự hài lòng

Cách 2: Hệ thống tính điểm ba điểm, đánh giá phản hồi hài lòng là 2, phản hồi không

chắc chắn là 1 và phản hồi không thỏa mãn là 0 cho thấy rất ít lợi thế so với phương pháp

hai điểm

- Phương thức thu thập số liệu: Chỉ số hài lòng cuộc sống đã được sử dụng rộng rãi và

các thuộc tính tâm lý của nó cạnh tranh với các chỉ số tốt nhất trong số các chỉ số so sánh.Mặc dù những điểm mạnh này đã có những lời chỉ trích liên quan đến cấu trúc và giảithích của nó

d) Dấu chân sinh

thái - Kí hiệu: EF

- Ý nghĩa: Dấu chân sinh thái là một thước đo nhu cầu về các diện tích đất, nước có khả

năng cho năng suất sinh học cần thiết để cung cấp thực phẩm, gỗ cho con người, bề mặtxây dựng cơ sở hạ tầng, diện tích hấp thụ cacbon điôxít, khả năng chứa đựng và đồng hóachất thải “Dấu chân sinh thái” được sử dụng như một công cụ để so sánh Nhu cầu củacon người với Sức tải sinh học – khả năng tái tạo tài nguyên và hấp thu chất thải của Tráiđất, bằng cách chuyển đổi các diện tích có khả năng cung cấp năng suất sinh học sang đơn

vị chuẩn hecta toàn cầu (gha)

Trang 16

- Cách đo:= ×

L: Lượng tiêu thụ (tấn/năm)

S: Sản lượng trung bình toàn cầu (tấn/ha/năm)

mà cá nhân đó tiêu thụ

 Dấu chân diện tích đồng cỏ chăn nuôi, trồng trọt (Grazing land): diện tích đủ đểcung cấp thịt, các sản phẩm bơ sữa, da và lông, nhưng các vật nuôi này không tiêuthụ các sản phẩm nông nghiệp mà cư trú lâu dài trên các đồng cỏ

 Dấu chân diện tích rừng (Forest land): diện tích cần thiết để tạo ra các sản phẩm gỗ

mà người đó tiêu thụ Nó bao gồm gỗ củi, than củi, gỗ nguyên liệu (kể cả dạng gỗ

xẻ, gỗ ván, và vật liệu cách nhiệt), giấy và bìa các tông

 Dấu chân diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản (Fishing ground): diện tích cầnthiết để tạo ra được các sản phẩm cá và thủy hải sản khác mà người đó tiêu thụ.Diện tích này cung cấp toàn bộ lượng cá, giáp xác, thân mềm, cũng như các sảnphẩm thịt cá làm thức ăn cho động vật

 Dấu chân diện tích xây dựng (Built-up land): Dấu chân đất xây dựng tính cho một

cá nhân cụ thể là diện tích cần để cá nhân đó xây dựng nhà ở, khu vui chơi, côngsở… cần thiết phục vụ đời sống

e) Sức mua tương đương

- Cách đo: = 1

P1: Giá hàng hóa X ở nước thứ nhất

P2: Giá hàng hóa X ở nước thứ hai

Trang 17

- Phương thức thu thập số liệu: Một tỉ giá hối đoái ngang giá sức mua sẽ cân bằng sức

mua của hai loại tiền tệ khác nhau tại mỗi quốc gia với một giỏ hàng hoá nhất định Loại

tỉ giá hối đoái đặc biệt này thường được sử dụng để so sánh chất lượng cuộc sống củangười dân tại hai hay nhiều quốc gia khác nhau Điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa các đồngtiền sẽ cho kết quả khả quan hơn là chỉ đơn thuần so sánh tổng sản phẩm quốc nội (GDP)của các quốc gia sử dụng các đồng tiền đó Tuy nhiên việc điều chỉnh tỉ giá hối đoái cũnggây nhiều tranh cãi vì việc tạo một giỏ hàng hoá để so sánh sức mua tiền tệ giữa các quốcgia là vô cùng khó khăn

f) Dân số

- Kí hiệu: Pop

- Ý nghĩa: Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một

không gian nhất định, là nguồn lao động quý báu cho sự phát triển kinh tế – xã hội,thường được đo bằng cuộc điều tra dân số và biểu hiện bằng tháp dân số Chiến lược dân

số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước; một trong những vấn đềhàng đầu tác động trực tiếp đến nền kinh tế - xã hội; là yếu tố cơ bản để nâng cao chấtlượng cuộc sống của con người

- Cách đo: Dân số được thống kê theo từng năm bởi Tổng cục thống kê.

-Phương thức thu thập số liệu: Nhân khẩu học nghiên cứu về mật độ dân số 3 trọng tâm

chính của nó là phương thức sinh sản, sự tử vong và nhập cư, mặc dù các lĩnh vực như sựthay đổi của gia đình, (kết hôn và li dị), sức khỏe cộng đồng, việc làm và lực lượng lao độngcũng được nghiên cứu Có rất nhiều khía cạnh khác nhau trong hành vi của con người tronglĩnh vực dân số được nghiên cứu như trong xã hội học, kinh tế học và địa lý Các nghiên cứu

về dân số hầu hết thường theo những quy luật của xác suất, và sự kết luận của các nghiên cứunày do đó có thể không thể sử dụng cho một vài các cá thể riêng biệt

2.4 Mô tả dữ liệu của mô hình

2.4.1 Nguồn dữ liệu đã sử dụng

Nghiên cứu ảnh hưởng của các biến đến chỉ số hành tinh hạnh phúc của 140 nước vàvùng lãnh thổ trên thế giới trong bảng xếp hạng do NEF công bố trong năm 2016

Bảng dữ liệu được tổng hợp thuộc bảng Phụ lục Dữ liệu của nghiên cứu, tất cả gồm có 6

biến (1 biến phụ thuộc và 5 biến độc lập) được thu thập trên 140 quốc gia, vùng lãnh thổtại các địa chỉ sau:

 World Bank Group: Thu nhập bình quân đầu người PPP

 Happy Planet Index: Dấu chân sinh thái EF, Tuổi thọ trung bình Lex, Chỉ số hài lòng cuộc sống LSI và chỉ số hành tinh hạnh phúc HPI

 Population Reference Bureau PRB: Dân số Pop

Ngày đăng: 22/06/2020, 21:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w