1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế lượng literature review mức độ dễ dàng chuyển giao công nghệ lợi trần tiến

14 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 28,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp

Trang 1

Mức độ dễ dàng chuyển giao công nghệ

Tóm tắt

Trong bối cảnh thời kì công nghệ 4.0 ngày nay khi các nước đang đua nhau phát triển trên mọi lĩnh vực đặc biệt là công nghệ, việc chuyển giao công nghệ thực sự khá dễ dàng khi mà cung cầu

về các mặt hàng khoa học công nghệ ngày càng tăng Quan tâm đến việc khai thác có lợi nhuận của một tài sản công nghệ thực sự rất cần thiết cho sự phát triển của một doanh nghiệp, một quốc

gia Chuyển giao công nghệ tại Việt Nam còn “hẹp”, chưa đa dạng, chuyển giao công nghệ nước

ngoài vào Việt Nam cũng ở mức “khiêm tốn”, chủ yếu là sự chuyển giao của công nghệ của công

ty mẹ ở nước ngoài Trong xu thế hội nhập, vai trò và ảnh hưởng mạnh mẽ của khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ đến tập quán sản xuất của mỗi quốc gia và các doanh nghiệp buộc phải cập nhật và thay đổi công nghệ cho phù hợp để tồn tại và phát triển Việt Nam cũng không

“ngoại lệ” nhưng quá trình đổi mới và chuyển giao công nghệ tại nước ta đang diễn ra “chậm”, mặc dù Luật Chuyển giao công nghệ Việt Nam được ban hành từ năm 2006 Bài viết nhằm đánh giá mức độ dễ dàng khi chuyển giao công nghệ và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao công nghệ tại Việt Nam

1.Các khái niệm

1.1 Công nghệ

Thuật ngữ “công nghệ” xuất phát từ chữ hy lạp “techne” có nghĩa là một nghệ thuật hay một kỹ năng, và “logia” có nghĩa là một khoa học hay một nghiên cứu

Ở Việt Nam, trước đây thường có quan niệm cho rằng “công nghệ là kiến thức, kết quả của khoa học ứng dụng nhằm biến đổi các nguồn lực thành các mục tiêu sinh lời”

Trang 2

Tuy nhiên, cách phổ biến nhất hiện nay, phù hợp với các quan điểm, chính sách phát triển và quản lý công nghệ, đó là khái niệm về công nghệ đã được quy định tại Luật Khoa học và Công nghệ Đó là:

Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng

để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm

1.2 Chuyển giao công nghệ

Chuyển giao công nghệ: là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn

bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ

Trong đó:

- Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ: là việc chủ sở hữu công nghệ chuyển giao toàn bộ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt công nghệ cho tổ chức, cá nhân khác Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ

- Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ: tổ chức, cá nhân cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng công nghệ của mình

Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận bao gồm:

+ Độc quyền hoặc không độc quyền sử dụng công nghệ;

+ Được chuyển giao lại hoặc không được chuyển giao lại quyền sử dụng công nghệ cho bên thứ ba;

+ Lĩnh vực sử dụng công nghệ;

+ Quyền được cải tiến công nghệ, quyền được nhận thông tin cải tiến công nghệ;

Trang 3

+ Độc quyền hoặc không độc quyền phân phối, bán sản phẩm do công nghệ được chuyển giao tạo ra;

+ Phạm vi lãnh thổ được bán sản phẩm do công nghệ được chuyển giao tạo ra;

+ Các quyền khác liên quan đến công nghệ được chuyển giao

Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ

2 Các phương thức chuyển giao công nghệ

- Chuyển giao tài liệu về công nghệ

- Đào tạo cho bên nhận công nghệ nắm vững và làm chủ công nghệ trong thời hạn thỏa thuận

- Cử chuyên gia tư vấn kỹ thuật cho bên nhận công nghệ đưa công nghệ vào ứng dụng, vận hành

để đạt được các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm, tiến độ theo thỏa thuận

- Chuyển giao máy móc, thiết bị kèm theo một trong các công nghệ sau đây:

+ Bí quyết kỹ thuật, bí quyết công nghệ;

+ Phương án, quy trình công nghệ; giải pháp, thông số, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật; công thức, phần mềm máy tính, thông tin dữ liệu;

+ Giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ;

3 Thực trạng chuyển giao công nghệ ở Việt Nam

Trong điều kiện Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập kinh tế thế giới, ảnh hưởng của khoa học và công nghệ trong phát triển có vai trò quan trọng

Trang 4

Bên cạnh đó, toàn cầu hóa cũng đang tác động mạnh mẽ đến sản xuất, chất lượng sản phẩm của mỗi quốc gia nên buộc các doanh nghiệp phải thay đổi, cải tiến, thúc đẩy chuyển giao công nghệ

để tồn tại và phát triển

Nhưng thực trạng chuyển giao công nghệ ở Việt Nam đang “chậm” và “èo uột”

Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, giai đoạn 2006-2016, kết quả điều tra thực trạng chuyển giao công nghệ tại Việt Nam đã diễn ra nhưng vẫn còn ở mức “chậm”, chưa được như kỳ vọng để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong cả nước

Hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam chưa đạt được kết quả như mong muốn, điều này thể hiện ở tỉ lệ "hạn chế" các kết quả nghiên cứu đưa vào ứng dụng trong thực tiễn, số lượng và giá trị các hợp đồng chuyển giao công nghệ còn ít, chưa có nhiều doanh nghiệp quan tâm, đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ

Do vậy, hoạt động chuyển giao công nghệ chưa mang lại hiệu quả rõ nét trong việc nâng cao năng lực công nghệ cho các doanh nghiệp Việt Nam Ông Michael Braun, Chuyên gia khoa học và đổi mới công nghệ Đức hiện công tác tại Việt Nam, người từng có nhiều năm kinh nghiệm tư vấn chuyển giao công nghệ cho Đức và Châu Âu cho rằng, các dòng chuyển giao công nghệ tại Việt Nam còn “hẹp”, chưa đa dạng, chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam cũng ở mức “khiêm tốn”, chủ yếu là sự chuyển giao của công nghệ giữa công ty mẹ ở nước ngoài và các chi nhánh tại Việt Nam thông qua các dự án FDI

Các doanh nghiệp trong nước chưa chú trọng đến trình độ, nguồn công nghệ cũng như cơ hội kinh doanh tại nước ngoài nên hoạt động chuyển giao công nghệ “èo uột”

Trang 5

Bên cạnh đó, hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam về đổi mới, nghiên cứu và triển khai (R&D) ở mức thấp, khi chỉ khoảng hơn 5% doanh nghiệp có cơ sở R&D riêng, gần 7% doanh nghiệp đang triển khai các hoạt động nghiên cứu và tiếp nhận công nghệ, nhiều doanh nghiệp tiếp nhận công nghệ nhưng không có cơ sở R&D

Điều này cho thấy gần 80% các doanh nghiệp Việt Nam không có R&D hoặc không có các chiến lược tiếp cận công nghệ nên hoạt động chuyển giao công nghệ của Việt Nam diễn ra “chậm” Theo số liệu thống kê của Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ năm 2016, các tổ chức dịch vụ chuyển giao khoa học và công nghệ chủ yếu tập trung ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, còn các khu vực miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng có “rất ít” các tổ

Cũng theo ông Michael Braun, công nghệ là động lực phát triển, Việt Nam là nước đi sau nhiều nước trong hoạt động chuyển giao công nghệ vì vậy cần có chiến lược để bắt nhịp với công nghệ trên thế giới, tránh bị tụt hậu về công nghệ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Ông Tạ Việt Dũng, Cục trưởng Cục Ứng dụng và phát triển công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ khẳng định: Những năm gần đây, hoạt động chuyển giao công nghệ đã có bước phát triển mạnh mẽ hơn

Theo kết quả điều tra thực tế, nhiều doanh nghiệp đã “ý thức” hoạt động chuyển giao công nghệ

và nhu cầu chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp đã tăng nhưng nguồn đầu tư tài chính cho đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm còn “hạn hẹp” nên khó khăn trong việc thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ

Đáng chú ý, những năm gần đây, thông qua hội chợ công nghệ, kết nối cung – cầu, hoạt động chuyển giao công nghệ có sự “khởi sắc”

Trang 6

4 Thúc đẩy chuyển giao công nghệ dễ dàng hơn ở Việt Nam

4.1 Hoạt động thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ để hỗ trợ doanh nghiệp hiện nay tại Việt Nam

Ông Tạ Việt Dũng, Cục trưởng Cục Ứng dụng và phát triển công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết: Dịch vụ chuyển giao công nghệ nhằm hỗ trợ quá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ với cách loại hình như: Môi giới chuyển giao công nghệ,

tư vấn chuyển giao công nghệ, đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ,

Hiện nay, các tổ chức cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ gồm các đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị ngoài nhà nước có chức năng chủ yếu là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho hoạt động nghiên cứu và phát triển

Cùng với đó là hoạt động liên quan đến sở hữu công nghiệp, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, đánh giá, định giá, giám định công nghệ; dịch vụ về thông tin, thống kê khoa học và công nghệ, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội

Giai đoạn 2003-2016, các đơn vị trung gian chuyển giao công nghệ có thể cung ứng nhiều dịch

vụ cùng lúc cho khách hàng, doanh nghiệp như: Tư vấn, môi giới và xúc tiến chuyển giao công nghệ, đánh giá và định giá công nghệ

Trong đó, dịch vụ chuyển giao công nghệ do các đơn vị trung gian cung cấp thì môi giới chuyển giao công nghệ chiếm tới gần 80%, dịch vụ tư vấn chuyển giao công nghệ hơn 70%; dịch vụ xúc tiến chuyển giao công nghệ hơn 60%, còn các dịch vụ giám định, định giá công nghệ ở mức khiêm tốn chưa đến 30%

Trang 7

Các tổ chức thực hiện dịch vụ chuyển giao công nghệ chính là cầu nối để đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế

4.2 Các kênh chuyển giao công nghệ thực tế tại doanh nghiệp

Đối với các nước đang phát triển, chuyển giao công nghệ được coi là một giải pháp quan trọng

để doanh nghiệp có thể cải tiến công nghệ và tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn, nhờ đó nâng cao năng lực cạnh tranh Theo đó, chuyển giao công nghệ có thể thu được dưới nhiều hình thức: thông qua chuyển giao kiến thức về quy trình sản xuất tốt hơn hay thông qua mua sắm máy móc, thiết bị tiên tiến hơn Công nghệ có thể được chuyển giao qua nhiều kênh: trực tiếp qua mua máy móc, thiết bị để được chuyển giao quy trình sản xuất hay gián tiếp qua liên kết ngang, liên kết xuôi, liên kết ngược và qua lan tỏa kỹ năng nhờ di chuyển lao động giữa các doanh nghiệp chuyển giao công nghệ gián tiếp thường được kỳ vọng đến từ sự tương tác với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài hay khách hàng quốc tế, qua đó khuyến khích chuyển giao công nghệ tới các doanh nghiệp trong nước chuyển giao công nghệ gián tiếp còn được gọi là lan tỏa công nghệ

Chuyển giao công nghệ thông qua liên kết xuôi thường đến từ sự tương tác giữa doanh nghiệp ở trong nước với các nhà cung cấp đầu vào, hàng hóa trung gian nước ngoài Bằng việc mua đầu vào từ doanh nghiệp nước ngoài có trình độ công nghệ cao hơn và kèm theo dịch vụ hoặc các hình thức hỗ trợ khác, các doanh nghiệp trong nước sẽ được chuyển giao kiến thức, quy trình và công nghệ

Chuyển giao công nghệ thông qua liên kết ngược luôn được các nước đang phát triển rất quan tâm và là một mục tiêu quan trọng của chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mà Việt Nam không phải là ngoại lệ Qua liên kết ngược, doanh nghiệp trong nước kỳ vọng sẽ được

Trang 8

chuyển giao kiến thức, quy trình và công nghệ mới để nâng cao tiêu chuẩn chất lượng đầu vào, hàng hóa trung gian cung cấp cho khách hàng

Chuyển giao công nghệ theo liên kết ngang về bản chất là sự học hỏi kiến thức, quy trình, công nghệ từ đối thủ cạnh tranh đến từ trong và ngoài nước, phần lớn đối với doanh nghiệp trong nước cùng ngành Trước áp lực cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước phải cải tiến công nghệ qua học hỏi từ đối thủ và đổi mới công nghệ

5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao công nghệ

5.1 Nhu cầu của thị trường với dịch vụ chuyển giao công nghệ

Xuất phát từ nhu cầu chuyển giao công nghệ và nhận thức ngày càng cao của bên giao và bên nhận công nghệ về vai trò của các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ, những năm gần đây, nhu cầu của thị trường đối với các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ đã hình thành tương đối rõ nét Theo kết quả khảo sát, trong số 200 đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp có hoạt động chuyển giao công nghệ, có 87,5% cho biết có nhu cầu đối với ít nhất một (hoặc nhiều) dịch

vụ chuyển giao công nghệ (tư vấn, môi giới, xúc tiến chuyển giao công nghệ; đánh giá, định giá, giám định công nghệ) Kết quả khảo sát với các đối tượng là chủ sở hữu, tác giả công nghệ cũng cho thấy, có đến 89,0% đối tượng được hỏi cần hỗ trợ của các đơn vị cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ Như vậy, có thể thấy các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ có tiềm năng phát triển rất lớn

5.2 Chất lượng các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ

Nhìn chung, dịch vụ chuyển giao công nghệ ở nước ta cũng đang gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình hình thành và phát triển Quy mô các đơn vị cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ còn nhỏ, thiếu các trung tâm dịch vụ chuyển giao công nghệ lớn và uy tín; điều kiện về cơ

Trang 9

sở vật chất, tài chính phục vụ các hoạt động nghiệp vụ chưa đảm bảo; hiệu quả sử dụng các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và kết quả hoạt động của các khu công nghệ cao còn thấp Đặc biệt, vẫn thiếu các hình thức liên kết thành những mạng lưới Chính sự thiếu liên kết này đã gây ra những lãng phí đáng tiếc, ví dụ như lãng phí cơ sở dữ liệu thông tin từ các kho thông tin KH&CN trên toàn quốc Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ làm công tác tư vấn, môi giới, đánh giá, định giá, giám định công nghệ, dặc biệt là các chuyên gia đầu ngành còn thiếu và yếu Việc nâng cao số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cho dịch vụ chuyển giao công nghệ không thể thực hiện trong thời gian ngắn mà đòi hỏi nhiều thời gian và tâm sức cũng là những thách thức không nhỏ cho việc phát triển nền KH&CN nước nhà Ngoài ra, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài còn nhiều hạn chế

5.3 Cơ chế, pháp luật

Khảo sát đối tượng là cán bộ quản lý công nghệ tại các địa phương cũng cho thấy, khó khăn trong phát triển dịch vụ chuyển giao công nghệ hiện nay chủ yếu xuất phát từ quy mô thị trường công nghệ nước ta còn nhỏ; chi phí cho các dịch vụ chuyển giao công nghệ cao so với năng lực tài chính của doanh nghiệp tiếp nhận; chưa có những hỗ trợ cần thiết cho đơn vị cung cấp dịch

vụ chuyển giao công nghệ; các đơn vị cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ chưa chủ động tiếp cận cơ quan quản lý trong quá trình hoạt động và tiếp cận thị trường; khung pháp lý về phát triển dịch vụ chuyển giao công nghệ chưa đầy đủ, đồng bộ

Trong công tác quản lý nhà nước về dịch vụ chuyển giao công nghệ hiện cũng gặp phải rất nhiều khó khăn Trong đó điển hình là những khó khăn trong việc quản lý kiểm định, giám định, định giá công nghệ; thiếu các hoạt động hỗ trợ về đánh giá, cảnh báo công nghệ; tính liên kết giữa các đơn vị cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ với nhau và với cơ quan quản lý chưa cao; thiếu

Trang 10

nguồn nhân lực quản lý và phát triển dịch vụ chuyển giao công nghệ; chưa có chế tài phù hợp đối với những vi phạm trong các dịch vụ chuyển giao công nghệ; chưa đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền Bên cạnh đó, việc quản lý đối với các dịch vụ chuyển giao công nghệ còn nhiều rào cản pháp lý như: Thiếu các văn bản dưới luật điều chỉnh về các dịch vụ chuyển giao công nghệ; Luật chuyển giao công nghệ 2006 đã xuất hiện nhiều bất cập trong quá trình thực hiện; chưa có các kênh giải quyết hiệu quả các tranh chấp liên quan đến dịch vụ chuyển giao công nghệ; chưa có các bảo đảm pháp lý cho các chủ thể tham gia dịch vụ chuyển giao công nghệ; Luật Sở hữu trí tuệ liên quan đến chuyển giao công nghệ chưa phù hợp, chưa đi vào cuộc sống

5.4 Chính sách hỗ trợ của chính phủ

Theo Nghị định 76/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp có dự án thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư nhận chuyển giao công nghệ từ tổ chức khoa học và công nghệ

Cụ thể, để được hỗ trợ doanh nghiệp phải đáp ứng 3 điều kiện: 1- Có dự án thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của luật đầu tư; 2- Có hợp đồng chuyển giao công nghệ hoặc Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ (nếu thuộc đối tượng phải đăng ký chuyển giao công nghệ); 3- Công nghệ được chuyển giao thuộc dự án quy định tại (1) nêu trên

Hình thức hỗ trợ là cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay để thực hiện chuyển giao công nghệ; hỗ trợ kinh phí thông qua thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ hoặc hỗ trợ trực tiếp

Nội dung hỗ trợ đối với hỗ trợ kinh phí thông qua thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ hoặc hỗ trợ trực tiếp để phục vụ hoạt động cải tiến, đổi mới công nghệ, sử dụng tối đa hiệu suất;

Ngày đăng: 22/06/2020, 21:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w