1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế lượng các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tại 63 tỉnh thành việt nam năm 2017

32 195 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với các biến số kinh tế khả quan, xu hướng tích cực của dòng vốn FDI vào khuvực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời kì hiện nay đã trở thành động lực thôi thúc chú

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

-TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG I

ĐỀ TÀI: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP TỪ NƯỚC NGOÀI TẠI

63 TỈNH THÀNH Ở VIỆT NAM NĂM 2017

Sinh viên thực hiện: Hà Châu Anh 1714410008

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU ……… 1

NỘI DUNG ……… 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3

1.1 Định nghĩa, khái niệm và các lý thuyết kinh tế/ tài chính ngân hàng liên quan 3

1.1.1 Định nghĩa và các khái niệm 3

1.1.2 Các lý thuyết có liên quan 5

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 6

Chương 2 XÂY DỰNG MÔ HÌNH 9

2.1 Phương pháp luận của nghiên cứu 9

2.2 Xây dựng mô hình lý thuyết 9

2.2.1 Xác định dạng mô hình 9

2.2.2 Mô tả các biến 9

2.3 Thống kê mô tả và phân tích tương quan 12

2.3.1 Thống kê chung 12

2.3.2 Thống kê mô tả riêng 12

2.3.3 Thống kê tương quan 15

Chương 3 KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ SUY DIỄN THỐNG KÊ 17

3.1 Bảng kết quả thu được 17

3.2 Phân tích kết quả 18

3.2.1 Mô hình hồi quy mẫu 18

3.2.2 Ý nghĩa của các hệ số hồi quy 19

3.2.3 Phân tích các số liệu liên quan 20

3.2.4 Kiểm định giả thuyết 21

Chương 4 KẾT LUẬN MÔ HÌNH 24

4.1 Kết luận 24

4.2 Kiến nghị giải pháp 24

KẾT LUẬN ……… 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 26

PHỤ LỤC ……… 27

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Có thể nói, quá trình “Đổi Mới” bắt đầu từ năm 1986 là một bước ngoặt trong nềnkinh tế Việt Nam Nhận thức được những bất cập của nền kinh tế thời bao cấp, Đảng và nhànước đã chủ trương tiến hành các chính sách kinh tế để đưa nền kinh tế Việt Nam thoát khỏithời kì bao cấp, chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với hướng đi chủ đạo là mở cửa thịtrường cho các doanh nghiệp nước ngoài, mở rộng giao lưu kinh tế và hợp tác quốc tế Trongthời kì hội nhập và phát triển hiện nay, nền kinh tế Việt Nam vẫn kế thừa lộ trình hòa nhậpvào nền kinh tế thế giới để phát triển và trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăngtrưởng hàng đầu thế giới trong nhiều năm trở lại đây (năm 2017, tăng trưởng kinh tế đạt6,81%, vượt chỉ tiêu 6,7% do Quốc hội đề ra, và là mức tăng trưởng cao nhất trong 10 nămqua) Để có thể đạt được kết quả ấn tượng trên, chúng ta không thể không kể đến sự đónggóp không thể thay thế của dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đổ vào Việt Nam

từ năm 1988 đến nay Không chỉ là nhân tố trọng yếu cho tăng trưởng kinh tế, FDI còn tácđộng tích cực đến các yếu tố kinh tế khác như năng suất lao động, hoạt động xuất - nhậpkhẩu, công tác xóa đói giảm nghèo và tỉ lệ thất nghiệp

Cùng với các biến số kinh tế khả quan, xu hướng tích cực của dòng vốn FDI vào khuvực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời kì hiện nay đã trở thành động

lực thôi thúc chúng em thực hiện đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút

vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tại 63 tỉnh thành Việt Nam năm 2017 Nhận thức

được tầm quan trọng chiến lược của nguồn vốn này, chúng em muốn thông qua bài tiểuluận này để có cái nhìn toàn diện và khách quan hơn về FDI, cũng như tiềm năng pháttriển kinh tế của Việt Nam trong tương lai thông qua FDI, dựa vào các chỉ số hiện tại (cụthể là năm 2017) Từ đó, chúng em có thể đề xuất được một số giải pháp để khai thác tối

ưu các tiềm lực kinh tế sẵn có và có lợi thế tại mỗi tỉnh thành của Việt Nam nhằm huớngtới mục tiêu chung là nền kinh tế tăng trưởng bền vững

Để có thể trả lời cho câu hỏi “Đâu là các nhân tố ảnh hưởng đến FDI vào các tỉnh thành trên khắp cả nước?”, nhóm đã tiến hành thu thập dữ liệu liên quan đến 63 tỉnh thành

ở Việt Nam trong năm 2017 Kiểu dữ liệu mà nhóm sử dụng là dữ liệu chéo, với số quan

Trang 4

sát là 63 và các biến được đưa vào nghiên cứu là Thu nhập bình quân đầu người một năm(INC), Tỉ lệ tăng dân số từng tỉnh (PER), Dân số từng tỉnh (POP), Số lượng lao động đãqua đào tạo (LABOR), Khối lượng hàng hóa vận chuyển (M) và Chỉ số năng lực cạnhtranh giữa các tỉnh (PCI) Chi tiết mô tả các biến sẽ được liệt kê ở phần Nội dung Các sốliệu được tổng hợp từ Tổng cục Thống kê (GSO) và Trang web của chí số năng lực cạnhtranh cấp tỉnh (PCI).

Trong quá trình thực hiện tiểu luận, nhóm nghiên cứu đã gặp phải một số hạn chếnhất định, có thể kể đến sự giới hạn của nguồn dữ liệu hay khó khăn trong việc nghiêncứu các tài liệu tham khảo để chọn lọc các biến độc lập để đưa vào mô hình Các hạn chế

kể trên có thể ảnh hưởng đến tính chính xác tuyệt đối của kết quả nghiên cứu, do vậy,nhóm chúng em rất mong nhận được những ý kiến đánh giá, bổ sung của cô để nghiêncứu được hoàn thiện hơn

Bố cục tiểu luận gồm 4 phần

Phần 1: Lời mở đầu - Tổng quan về nghiên cứu

Phần 2 : Nội dung nghiên cứu, gồm 3 mục

1 Cơ sở lý luận về các nhân tố tác động lên FDI

2 Xây dựng mô hình kinh tế lượng dựa vào nguồn dữ liệu thu thập được

3 Kết quả ước lượng mô hình và các kiểm định liên quan

4 Đề xuất giải pháp

Phần 3: Kết luận

Phần 4: Tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 5

NỘI DUNG

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Định nghĩa, khái niệm và các lý thuyết kinh tế/ tài chính ngân hàng liên quan 1.1.1 Định nghĩa và các khái niệm

Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản

lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.”

Tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài là bước đi hiệu quả nhất cho các nước có xuất phátđiểm thấp và gặp nhiều hạn chế về nguồn lực như Việt Nam Trong đó, nguồn vốn FDIđóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, không chỉ nhằm bổsung nguồn vốn cho đầu tư phát triển, mà còn nhằm mục đích tiếp nhận, chuyển giaocông nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, kỹ năng kinh doanh quốc tế, mở rộng thịtrường, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động

Việt Nam bắt đầu quá trình thu hút FDI từ năm 1988 và đạt được những thành công bướcđầu trong vòng 22 năm đầu tiên Giai đoạn tiếp theo từ 2001 đến 2005, Việt Nam dườngnhư trở nên “kém hấp dẫn” hơn trong mắt các nhà đâu tư quốc tế, đồng nghĩa với việc thuhút FDI kém hiệu quả hơn hẳn so với thời kì đầu Nguyên nhân chủ yếu đến từ cả 2 phía:

về phía quốc tế, nền kinh tế của nước ta bị ảnh hưởng không nhỏ từ cuộc khủng hoảng tài

- tiền tệ Châu Á năm 1997, đồng thời Trung Quốc sau khi cải thiện môi trường đầu tư đã

trở thành đối thủ cạnh tranh đáng gờm Trong khi đó, về phía Việt Nam, tuy có được lợi thế

về ổn định kinh tế vĩ mô và chính trị nhưng môi trường đầu tư chưa thực sự thu hút, do đólượng vốn FDI chỉ ở mức duy trì trong khoảng thời gian này Sang giai đoạn 2006 – 2010,FDI có sự khởi sắc, đánh dấu bởi sự kiện Việt Nam gia nhập WTO Trải qua cuộc

Trang 6

khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008, FDI có sụt giảm mạnhnhưng hững năm trở lại đây, xu hướng của FDI vào Việt Nam đang cho thấy những dấuhiệu tích cực, cho thấy Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hấp dẫn các nhàđầu tư nhất trong khu vực với số vốn đăng kí không ngừng tăng Theo số liệu thống kêcủa Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến ngày 20/12/2016, cả nướcđang có 22.509 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt gần 293,25 tỷ USD Đếnnay, FDI đã có mặt khắp 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó tập trung chủ yếu tạicác địa bàn trọng điểm, có lợi thế.

 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI - Provincial Competitiveness Index)

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh

doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh PCI được xem là "tiếngnói" quan trọng của các doanh nghiệp dân doanh về môi trường kinh doanh địa phương,

là kênh thông tin tham khảo tin cậy về địa điểm đầu tư, là một động lực cải cách quantrọng đối với môi trường kinh doanh cấp tỉnh của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnhphân cấp từ Trung ương xuống cấp tỉnh tại Việt Nam diễn ra mạnh mẽ (theo Wikipedia).Quy trình xây dựng PCI bao gồm cả khảo sát khoảng gần 10000 doanh nghiệp tại các địaphương cùng với các thông tin được công bố của bộ, ngành có liên quan để đánh giá,xếp hạng chất lượng điều hành cấp tỉnh, dựa trên 10 chỉ số thành phần sau:

Tính năng động và tiên phong củalãnh đạo tỉnh

Cạnh tranh bình đẳngDịch vụ hỗ trợ doanh nghiệpĐào tạo lao động

Thiết chế pháp lý

Trang 7

1.1.2 Các lý thuyết có liên quan

 Lý thuyết về chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước

Helpman và Sibert, Richard S Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên(số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do dùng thêm một đơn vịcủa yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước Một nước thừa vốn thường có năng suất cậnbiên thấp hơn Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn Tình trạngnày sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóalợi nhuận, vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn

Lý thuyết này có thể được nhìn nhận như là động cơ của đầu tư trực tiếp nước ngoài

 Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia

Theo Stephen H Hymes (1960), John H Dunning (1981), Rugman A (1987) và một sốngười khác, các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơbản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàngđầu tư trực tiếp ra nước ngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽchọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợithế đặc thù nói trên Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và côngnghệ sẽ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thịtrường tiêu thụ tiềm năng

 Lý thuyết chiết trung về sản xuất quốc tế, hay mô hình OLI của John Dunning (1977)Hầu hết các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài xoay quanh lí thuyết chiết trung về sản xuất quốc tế hay mô hình OLI của JohnDunning (1977) Học thuyết này kế thừa rất nhiều những ưu điểm của các học thuyếtkhác về FDI

OLI là viết tắt của Ownership, Location, and Internalization, cũng là 3 nhân tố tác độnglên quyết định trở thành đa quốc gia của các tập đoàn, hay nói cách khác là động cơ tiếnhành đầu tư trực tiếp Các nhân tố đó chính là lợi thế về sở hữu, địa điểm và nội bộ hóa

Trang 8

o Lợi thế về sở hữu của một doanh nghiệp có thể là một sản phẩm hoặc một quitrình sản xuất mà có ưu thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp kháckhông thể tiếp cận Với lợi thế này, doanh nghiệp có thể đạt lợi nhuận bằng việc tối thiểuhóa chi phí sản xuất khi vận hành ở một quốc gia khác.

o Các lợi thế về địa điểm bao gồm không chỉ các yếu tố nguồn lực, mà còn có cả cácyếu tố kinh tế và xã hội, như dung lượng và cơ cấu thị trường, khả năng tăng trưởng củathị trường và trình độ phát triển, môi trường văn hóa, pháp luật chính trị và thể chế

o Lợi thế về nội bộ hóa sản xuất, được hiểu là việc một công ty thực hiện và kiểmsoát toàn bộ quá trình sản xuất một sản phẩm từ khâu nguyên liệu đầu vào cho đến việcbán sản phẩm

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về FDI thường xoay quanh nền tảng là mô hình OLI của John Dunning, tậptrung theo ba hướng nghiên cứu chính đó là: (1) “Tại sao”, đâu là động cơ để các tập đoànthực hiện FDI (Lợi thế về sở hữu của doanh nghiệp); (2) “Như thế nào”, việc đầu tư nênđược thực hiện ra sao để tối đa hóa lợi ích doanh nghiệp (Lợi thế về nội bộ hóa sản xuất); và(3)“Ở đâu”, đâu là địa điểm thuận lợi để tiến hành đầu tư (Lợi thế về địa điểm) Trong đó,địa điểm là vấn đề nhận được đặc biệt nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, bởi quyếtđịnh của nhà đầu tư có thể bị ảnh hưởng mạnh khi họ cân nhắc tính khả thi bằng việc trả lờicác câu hỏi: Quốc gia, địa phương nào sẽ là nơi tốt nhất để xây dựng nhà máy, đâu sẽ là nơiđáp ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư và có tiềm năng hứa hẹn để đem lại lợi nhuận vềlâu dài Từ nhận định này, hàng loạt các nghiên cứu trước đó đã được tiến hành và tập trung

vào các yếu tố lợi thế về địa điểm: Tiềm năng thị trường, Lao

động, Cơ sở hạ tầng, Chính sách chính phủ và Tác động tích lũy.

 Về tiềm năng thị trường, các biến thường được sử dụng phổ biến là Dân số, Tốc độ

tăng dân số, GDP, GDP đầu người hay Tốc độ tăng GDP Vào tháng 1/ 2012, nghiên cứu của Bulent Esiyok và Mehmet Ugur về các nhân tố liên quan đến lợi thế địa

điểm quyết định lên lượng vốn FDI tới 62 tỉnh thành ở Việt Nam từ năm 2006-2009chỉ ra rằng GDP trên đầu người của một địa phương càng cao thì số vốn FDI đăng kí

Trang 9

càng lớn, hay tác động của GDP lên FDI là tác động dương Tương tự như vậy, trong

nghiên cứu của Sajid Anwar về FDI và tăng trưởng kinh tế của 62 tỉnh thành nước ta

giai đoạn 1996-2005, quy mô thị trường được đo bằng GDP đầu người đã được chứngminh là có tác động dương và ảnh hưởng rất lớn đến lượng FDI vào địa phương

đã qua đào tạo trên tổng số lao động sẵn có của từng địa phương Đúng với kỳ vọng, số

lượng lao động có kỹ năng có tác động dương lên FDI trong nghiên cứu của

Hans-Rimbert Hemmer và Nguyễn Thị Phương Hoa vào năm 2002, về Đóng góp của FDI

trong công cuộc giảm đói nghèo ở Việt Nam những năm 1990 Mặt khác, sự sẵn có của

thị trường lao động giá rẻ cũng là một biến số có ảnh hưởng lớn trong nghiên cứu của

Moore (1993) và Lucas (1993), và ảnh hưởng của biến số này lên FDI là tác động âm

khi giá cả của lao động càng cao thì lượng vốn FDI lại càng thấp Ở một vài nghiên cứu

khác như của Bulent Esiyok và Mehmet Ugur, số lượng học sinh có trình độc học vấn

trên cấp trung học cơ sở ở mỗi địa phương càng cao thì địa phương ấy có xu hướng nhậnđược nhiều FDI hơn Điều này nhấn mạnh về chất lượng đào tạo của lao

động trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài

lượng điện thoại, nguồn cung điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh, số bến cảng, độdài đường nhựa, số khu công nghiệp, số lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển,

… Tuy được dự đoán sẽ đem lại tác động tích cực đến FDI nhưng trên thực tế, nhiềunghiên cứu đã chỉ ra rằng trong nhiều trường hợp, biến số không hề có tác động đến

FDI Có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Thị Tường Anh và Nguyễn Hữu Tâm

(2013), biến đại diện cho chất lượng cơ sở hạ tầng là khoảng cách đến sân bay gần nhất

không có ý nghĩa trong cả 2 mô hình năm 2001-2007 và năm 2008-2010 Còn ở

nghiên cứu của Hans-Rimbert Hemmer và Nguyễn Thị Phương Hoa, nguồn điện được cung cho hoạt động sản xuất có tác động dương tới FDI.

lực cạnh tranh cấp tỉnh Tuy nhiên các nghiên cứu sử dụng chỉ số này cho thấy nhiềukhác biệt Ảnh hưởng của biến độc lập lên biến phụ thuộc là dương trong nghiên cứu

Trang 10

của Bulent Esiyok và Mehmet Ugur, trong khi Edmund J Malesky trong nghiên

cứu của mình là Điều hành địa phương và FDI ở Việt Nam – 20 năm đầu tư nướcngoài: nhìn lại và định hướng tương lai (1987-2007) được xuất bản năm 2007 đãphân tích 10 chỉ số thành phần của PCI và chỉ nhận thấy ảnh hưởng mạnh ở một sốchỉ số như chính sách phát triển khu vực tư nhân, minh bạch và tiếp cận đất đai.Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Tường Anh và Nguyễn Hữu Tâm, biến đại diệncho chính sách chính phủ là vùng kinh tế trọng điểm, nhưng ở cả hai giai đoạn 2001-

2007 và 2008-2010, yếu tố này không có ý nghĩa thống kê

 Về tác động tích lũy, biến số thường được sử dụng là FDI của thời kì trước nghiêncứu Malesky cho rằng tác động tích lũy, hay sự xuất hiện của các nhà đầu tư thời kìtrước nghiên cứu không quan trọng bằng các chính sách và cách điều hành của chínhphủ địa phương (phạm vi nghiên cứu là tổng lượng vốn 2005 và vốn bổ sung năm

2006 của 63 tỉnh thành) Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Tường Anh và NguyễnHữu Tâm, nhóm tác giả sử dụng các biến số liên quan đến doanh nghiệp như sốlượng doanh nghiệp trên 1000 dân, quy mô bình quân của doanh nghiệp về vốn vàlao động hay doanh thu bình quân của doanh nghiệp trên địa bàn Kết quả nghiên cứucho thấy nhân tố tích lũy mang tới ảnh hưởng dương và có vai trò quan trọng, hay nóicách khác: “các nhà đầu tư không hề có sự thay đổi tâm lý khi cân nhắc quyết địnhđầu tư trên khía cạnh xem xét sự hoạt động của các doanh nghiệp trước đó”(trích từnghiên cứu của Nguyễn Thị Tường Anh và Nguyễn Hữu Tâm)

Trang 11

Chương 2 XÂY DỰNG MÔ HÌNH

2.1 Phương pháp luận của nghiên cứu

Trong quá trình thu thập số liệu, nhóm sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để thu thập các con số liên quan đến các yếu tố tác động và dòng vốn đầu tư FDI

Nhóm sử dụng phương pháp ước lượng OLS để xác định sự ảnh hưởng của các biếnđại diện cho các yếu tố tác động tới biến FDI

2.2 Xây dựng mô hình lý thuyết

2.2.1 Xác định dạng mô hình

Từ việc tham khảo các mô hình và lý thuyết nêu trên, nhóm quyết định sử dụng hàm hồi quy tuyến tính để thực hiện mục đích nghiên cứu Hàm hồi quy tuyến tính tổng quát có

6 biến độc lập Dạng hàm như sau:

FDI = 0 + 1 Inc + 2 Per + 3Pop + 4L + 5M + 6PCI + ui

Trong đó: 0: Hệsốtựdo

i: Hệsốhồi quy

ui: Sai số ngẫu nhiên

2.2.2 Mô tả các biến

Thu nhập bình quân Biến đại diện cho thu Mang dấu dương Tổng cụcInc đầu người (Income) nhập bình quân đầu (+) trong hàm

thống kê

Tỷ lệ phần trăm sự Biến đại diện cho tỷ lệ Mang dấu dương

(Đơn vị: %)

9

Trang 12

Dân số của từng tỉnh Mang dấu dương

hồi quy

người)

Tỷ lệ lao động từ 15 Biến đại diện cho tỷ lệ

lao động từ 15 tuổi trở Mang dấu dương

nền kinh tế đã qua đào hồi quy

(Đơn vị: %)

tạo ở một địa phương

Khối lượng hàng hóa Biến đại diện cho khối Mang dấu dương Tổng cục

M vận chuyển (Mass) lượng hàng hóa vận (+) trong hàm

thống kê

(Đơn vị: Nghìn tấn) chuyển của một tỉnh hồi quy

Chỉ số năng lực cạnh

tranh giữa các tỉnh

(Provincial Biến đại diện cho chỉ Mang dấu dương PCI

PCI Competitiveness số năng lực cạnh tranh (+) trong hàm

(Tính trên thang

điểm 100)

Nhóm kỳ vọng tất cả dấu của các biến độc lập trong hàm hồi quy mang dấu dương

vì những lý do sau đây:

Về biến thu nhập bình quân đầu người Inc, thu nhập bình quân đầu người tăng, nhu

cầu về mọi mặt của người dân cũng tăng, đồng nghĩa với việc học sẵn sàng bỏ nhiều tiềnhơn để thỏa mãn nhu cầu của mình Để thỏa mãn nhu cầu của người dân, thị trường cũngphải phát triển với mức độ tương xứng Do vậy khi thu nhập bình quân đầu người tăng thìlượng vốn FDI tăng

Trang 13

Về biến tỷ lệ gia tăng dân số Per, tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm cao, chứng tỏ rằng

số dân gia tăng hàng năm cũng cao, dẫn đến việc tỉnh này sẽ có nhiều lao động trongtương lai Do vậy, khi tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm tăng thì lượng vốn FDI tăng

Về biến dân số của một tỉnh Pop, số lượng dân cư của một tỉnh càng cao thì lượng

người trong độ tuổi lao động càng lớn, càng có lợi cho nền kinh tế Lượng nhân công dồidào là điều đáng lưu ý với các nhà đầu tư Do vậy, khi dân số của một tỉnh tăng thì lượngvốn FDI tăng

Về biến tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo

Labor, giá trị này càng cao thể hiện lượng lao động đã qua đào tạo càng lớn Do đó, những

người sử dụng lao động không cần mất nhiều chi phí để đào tạo lại lao động nữa hoặc mất ítchi phí để đào tạo thêm cho nhân công của mình Do vậy, khi tỷ lệ lao động từ

15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo tăng, lượng vốn FDI tăng

Về biến khối lượng hàng hóa vận chuyển M, khối lượng hàng hóa vận chuyển của

một tỉnh có thể đại diện cho trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, cụ thể là hạ tầng giaothông Hệ thống giao thông vận tải càng tốt thì lượng hàng hóa vận chuyển càng nhiều

Hệ thống giao thông vận tải cũng là một yếu tố quyết định khi nhà đầu tư cân nhắc có nên

bỏ tiển đầu tư vào địa phương này hay không Do vậy, khi khối lượng hàng hóa vậnchuyển tăng, lượng vốn FDI tăng

Về biến chỉ số năng lực cạnh tranh giữa các tỉnh PCI, đây là chỉ số đánh giá xếp

hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam về chất lượng điều hành kinh tế và xâydựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh Nhàđầu tư có thể cân nhắc việc đầu tư thông qua chỉ số này Do vậy, chỉ số PCI cao, lượngvốn FDI tăng

Trang 14

2.3 Thống kê mô tả và phân tích tương quan

2.3.1 Thống kê chung

Về số lượng các quan sát, nhóm tiến hành thu thập số liệu trên tất cả các tỉnh, thànhphố của Việt Nam và thu về 63 quan sát hợp lệ Dưới đây là bẳng mô tả chung cho cácbiến thành phần:

2.3.2.Thống kê mô tả riêng

Ở phần này, nhóm nhiên cứu sử dụng bảng tần suất để mô tả các biến số đáng chú ýcủa các yếu tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI

Ta có các bảng tần suất như sau:

Trang 15

59.5 - 62.4 (Trung bình) 23 36.51%

Đối với biến PCI, hầu hết các tỉnh có chỉ số PCI nằm trong khoảng từ 56.5 đến 65.4,

chiếm 87.3% tổng số địa phương trên cả nước, mà theo báo cáo của PCI, các chỉ số nằmtrong khoảng này có ý nghĩa năng lực cạnh tranh từ tương đối thấp cho đến trung bìnhkhá Chỉ có 1 tỉnh có có chỉ số năng lực cạnh tranh thấp Trên cả nước có 7 tỉnh (thànhphố) có chỉ số năng lực cạnh tranh đạt mức từ tốt trở lên

Đối với biến Pop, đa số các tỉnh (thành phố) trên lãnh thổ Việt Nam có lượng dân

cư dưới 2 triệu người, chiếm 88.89% số tỉnh Chỉ có một số ít các tỉnh có số dân trên 2triệu người, trong đó chỉ có 2 tỉnh (thành phố) có số dân từ 6 triệu người trở lên, đó là HàNội và TP Hồ Chí Minh

Trang 16

1.5 - 2.0 5 7.94%

Đối với biến Per, hầu hết tỷ lệ gia tăng dân số của các tỉnh trên cả nước chỉ đạt từ

1.5% trở xuống, chiếm 82.54% số tỉnh Giá trị tỷ lệ gia tăng dân số càng cao thì càng có

ít địa phương đạt được Có khoảng 9.52% số tỉnh có tỷ lệ gia tăng dân số từ 2% trở lên,

cá biệt chỉ có 3.17% số tỉnh có tỷ lệ gia tăng dân số trên 3%

Đối với biến Labor, đa số các tỉnh có tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc

trong nền kinh tế đã qua đào tạo đạt từ 10 - 30% trên tổng số dân, chiếm 85.74% số tỉnh.Ngoài ra, có 4 tỉnh có tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đãqua đào tạo đạt dưới 10%, chỉ có 5 tỉnh đạt trên 30%

14

Ngày đăng: 22/06/2020, 21:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dunning, J. H. (1977). Trade, location of economic activity and the MNE: a search for an eclectic approach. In: Ohlin B., Hesselborn PO., Wijkman P.M. (eds) The International Allocation of Economic Activity. Palgrave Macmillan, London Khác
2. Hans-Rimbert Hemmer, Nguyen Thi Phuong Hoa (2002): Contribution of Foreign Direct Invesment to Poverty Reduction: The case of Vietnam in the 1990s, University Giessen Khác
3. J. Peter Neary: World Economy FDI: The OLI framework , University of Oxford and CERF Khác
4. Malesky, E. (2007), ‘Provincial Governance and Foreign Direct Investment in Vietnam’, 20 Years of Foreign Investment: Reviewing and Looking Forward (1987– Khác
5. Sajid Anwar (2010): Foreign direct investment and economic growth in Vietnam, University of the Sunshine Coast Khác
6. Bulent Esiyok và Mehmet Ugur (2015): A SPATIAL REGRESSION APPROACH TO FDI IN VIETNAM, University of Greenwich Khác
7. Nguyễn Thị Tường Anh, Nguyễn Hữu Tâm (2013): Nghiên cứu định lượng về các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các tỉnh thành của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Trường Đại học Ngoại Thương Khác
8. Đầu tư trực tiếp nước ngoài – Wikipedia Việt Nam Số liệu được tổng hợp từ Khác
1. Tổng cục Thống kê quốc gia (GSO) 2. Trang web VCCI.com.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w