1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế lượng các nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia

23 524 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 415 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Trên thế giới, có rất nhiều tiêu chí có thể chọn để đánh giá sự phát triển của một khuvực hoặc một quốc gia ví dụ như sự ổn định, tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

-*** -TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG

Đề tài: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỐC ĐỘ

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ MỘT QUỐC GIA

Nhóm 16 – Lớp KTE201(19-20).2 Giảng viên hướng dẫn: TS.Chu Thị Mai Phương

Nhóm sinh viên thực hiện Họ và tên

1. Trần Thị Phương Anh

2. Trần Thu Doan

3. Nguyễn Thị Hương Giang

4. Nguyễn Văn Khiêm

5. Nguyễn Hạnh Lê

6. Hoàng Thị Hiền Trang

Mã sinh viên

1811120011 1811120028 1811120041 1811120076 1813320041 1813320066

Hà Nội, tháng 3 năm 2020

Trang 2

MỤC LỤC

Phần I Lời mở đầu 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

Phần II Cơ sở lý thuyết 4

1 Lý thuyết kinh tế 4

2 Các nghiên cứu thực nghiệm 9

Phần III Mô hình nghiên cứu 12

Phần IV Kết quả nghiên cứu 13

1 Mô tả thống kê và tương quan các biến 13

2 Ước lượng mô hình 16

3 Kết quả kiểm định mô hình 17

a Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 17

b Kiểm định bỏ sót biến 18

c Kiểm định đa cộng tuyến 19

d Kiểm định phương sai sai số thay đổi 19

e Kiểm định nhiều phân phối chuẩn 20

f Kiểm định tự tương quan 20

4 Thảo luận và nhận xét kết quả kiểm định 20

Phần V Kết luận và hàm ý chính sách 22

Phần VI Danh mục tài liệu tham khảo 23

Trang 3

Phần I Lời mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trên thế giới, có rất nhiều tiêu chí có thể chọn để đánh giá sự phát triển của một khuvực hoặc một quốc gia ví dụ như sự ổn định, tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội,…Trong đó, tăng trưởng kinh tế là tiêu chí được coi là quan trọng hơn cả vì tăng trưởngkinh tế là tiền đề để phát triển các mặt khác của xã hội, có liên quan đến nhiều lĩnh vực,nhiều khía cạnh

Tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hoá, dịch

vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật chất để giảm bớttình trạng đói nghèo Muốn khắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng của mọiquốc gia thì cần thiết phải có được sự tăng trưởng nhanh trong kinh tế Đồng thời, sự tăngtrưởng cũng tạo điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp,nâng cao chất lương cuộc sống của người dân, phúc lợi xã hội được đảm bảo, củng cố anninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia

Như vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu thường xuyên của các quốc gia,nhưng sẽ là không đúng nếu bất chấp mọi giá để theo đuổi nó Thực tế cho thấy, khôngphải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội như mong muốn, đôi khiquá trình tăng trưởng mang tính hai mặt Chẳng hạn, tăng trưởng kinh tế quá mức có thểdẫn đến tình trạng “tăng trưởng nóng”, gây ra lạm phát hoặc tăng trưởng kinh tế cao làmcho người dân giàu lên nhanh chóng, nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hoágiàu nghèo trong xã hội ngày càng rõ rệt Vì vậy, đòi hỏi mỗi quốc gia trong từng thời kỳphải tìm ra những biện pháp tích cực để đạt được sự tăng trưởng hợp lý, bền vững

Người ta thường đánh giá tổng sản phẩm quốc nội của một nước (viết tắt là GDP)trong một năm hoặc một thời kỳ, chính xác hơn là GDP thực tế để đánh giá sự tăngtrưởng kinh tế của nước đó Nếu GDP thực tế của năm sau cao hơn năm trước, chứng tỏnền kinh tế có sự tăng trưởng, phát triển Ngược lại nếu GDP thực tế năm sau thấp hơnnăm trước thì chứng tỏ nền kinh tế của nước đó không có sự tăng trưởng phát triển Vậy

có thể nói tổng sản phẩm quốc dân là thước đo cơ bản hoạt động của nền kinh tế

Bất cứ một gia quốc gia nào cũng bắt buộc đạt được và duy trì mức độ tăng trưởngnhất định mới đảm bảo cho nền kinh tế phát triển Để tăng trưởng kinh tế diễn ra liên tục

và hiệu quả, có rất nhiều yếu tố trong nền kinh tế ảnh hưởng đến một cách trực tiếp hoặcgián tiếp Nhận thức chính xác về tầm quan trọng của mối tương quan mật thiết này vàmức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến sự tăng trưởng kinh tế giúp Chính phủ có thểthay đổi các chính sách để đạt được những mục tiêu đề ra nhằm thúc đẩy tăng trưởng

Trang 4

kinh tế Đây là vấn đề vĩ mô mà những ai hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đều quan tâm.

Đó là lí do nhóm chúng em quyết định lựa chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến tốc

độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của bài tiểu luận chính là đánh giá các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh

tế của một quốc gia và từ đó đưa ra một số ý tưởng cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

ở Việt Nam Chúng em dựa vào các lý thuyết kinh tế học xoay quanh tăng trưởng kinh tế.Chúng em cũng sử dụng phương pháp mô hình kinh tế lượng, phương pháp bình phươngtối thiểu thông thường OLS (Ordinary Least Square) để hồi quy, ước lượng và phân tích

mô hình, đối tượng

Để hoàn thành bài tiểu luận, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Chu ThịMai Phương– giảng viên bộ môn Kinh tế lượng đã luôn nhiệt tình hướng dẫn, cung cấpcác kiến thức chuyên môn, định hướng cho nhóm cách triển khai cấu trúc của một bàinghiên cứu khoa học

Trong quá trình làm bài tiểu luận và chạy mô hình, chúng em đã nhận thấy sự phátsinh ra khá nhiều khuyết tật mắc phải khó khăn để tìm cách khắc phục Đồng thời, trongquá trình tìm hiểu, do thời gian nghiên cứu vấn đề còn chưa nhiều cũng như kiến thứccòn hạn hẹp và thiếu kinh nghiệm nên bài tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót.Chúng em rất mong nhận được thêm những đóng góp ý kiến của cô để tiểu luận đượchoàn thiện hơn

Phần II Cơ sở lý thuyết

1. Lý thuyết kinh tế

Các khái niệm:

Theo các nhà kinh tế học hiện đại quy mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI) Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản phẩm trong

nước là giá trị thị trường của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ratrong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định(thường là một năm)

Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của

tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước làm ra ở cả

4

Trang 5

trong và ngoài nước trong đơn vị một năm tài chính Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổngsản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng.

Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số.

Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân số

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản

lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người(PCI) trong một thời gian nhất định1

Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:

Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế:

Các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đã sử dụng nhiều mô hình để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

1Theo Wikipedia

5

Trang 6

Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sản xuất

nông nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Nhưng thực tếmức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này không giải thích đượcnguồn gốc của tăng trưởng

Mô hình hai khu vực tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai khu vực

nông nghiệp và công nghiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (L labor),yếu tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực kinh

tế Tiêu biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis, Tân cổ điển và Harry T.Oshima

Mô hình Harrod-Domar nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố

K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên

Mô hình Robert Solow (1956) với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sản xuất chỉ

ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dàihạn, tăng trưởng sẽ đạt trạng thái dừng Một nền kinh tế có mức tiết kiệm cao hơn

sẽ có mức sản lượng cao hơn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dàihạn (tăng trưởng kinh tế bằng không (0))

Mô hình Kaldor tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình độ

công nghệ

Mô hình Sung Sang Park nguồn gốc tăng trưởng là tăng cường vốn đầu tư quốc

gia cho đầu tư con người

Mô hình Tân cổ điển nguồn gốc của tăng trưởng tùy thuộc vào cách thức kết hợp

hai yếu tố đầu vào vốn(K) và lao động (L)

Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các nước đang

được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trưởng kinh tế là nguồn nhânlực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia

và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương ứng

Xuất phát của nghiên cứu được bắt đầu bằng hàm sản xuất tổng quát:

Y=F(Xi)

Trong đó:

Y là giá trị đầu ra (phụ thuộc vào tổng cầu của nền kinh tế)

Trang 7

Xi là giá trị các biến số đầu vào (liên quan trực tiếp đến tổng cung).

Từ đó ta xét cụ thể hai nhóm nhân tố tác động:

- Các nhân tố tác động trực tiếp đến tổng cung

Nói đến các yếu tố tổng cung tác động đến tăng trưởng kinh tế là nói đến 4 yếu tố nguồnlực chủ yếu, đó là: Vốn (K), Lao động (L), Tài nguyên, đất đai (R), Công nghệ kỹ thuật(T)

✓ Vốn (K)

Đứng trên góc độ vĩ mô, vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế đượcđặt ra ở khía cạnh vốn vật chất chứ không phải dưới dạng tiền (giá trị), nó là toàn bộ tưliệu vật chất được tích luỹ lại của nền kinh tế và bao gồm: Vốn cố định (nhà máy, côngxưởng, trụ sở cơ quan, trang thiết bị văn phòng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, cơ

sở hạ tầng) và vốn lưu động (tồn kho của tất cả các loại hàng hóa)

Mặt khác, để duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất phải có một khoản chi phí gọi là vốnđầu tư sản xuất

✓ Lao động (L)

Lao động là một nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu được trong các hoạt độngkinh tế Chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũlao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khác như

tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồnnhân lực thì khó có thể làm điều tương tự Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vậtliệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động

có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt Hiện nay tăng trưởng kinh tế củacác nước đang phát triển được đóng góp nhiều bởi quy mô, số lượng lao động, yếu tố vốnnhân lực còn có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng lao động ở các nước này cònthấp

✓ Tài nguyên, đất đai (R)

Tài nguyên, đất đai là một yếu tố sản xuất cổ điển Đất đai là yếu tố quan trọng trong sảnxuất nông nghiệp và là yếu tố không thể thiếu được trong việc thực hiện bố trí các cơ sởkinh tế Các nguồn tài nguyên dồi dào phong phú được khai thác tạo điều kiện tăng sảnlượng đầu ra một cách nhanh chóng, nhất là với các nước đang phát triển

✓ Công nghệ kỹ thuật (T)

7

Trang 8

Yếu tố công nghệ kỹ thuật cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng:

Thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứuđưa ra những nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay thiết

- Các nhân tố tác động đến tổng cầu

Các yếu tố: khả năng chi tiêu, sức mua và năng lực thanh toán (tổng cầu AD) là các yếu

tố liên quan trực tiếp đến đầu ra của nền kinh tế

Kinh tế học vĩ mô đã cho thấy có 4 yếu tố trực tiếp cấu thành tổng cầu, bao gồm:

✓ Chi cho tiêu dùng cá nhân (C): bao gồm các khoản chi cố định, chi thường xuyên

và các khoản chi tiêu khác ngoài dự kiến phát sinh

✓ Chi tiêu của Chính phủ (G): Bao gồm các khoản mục chi mua hàng hoá và dịch vụcủa Chính phủ

✓ Chi cho đầu tư (I): Là các khoản chi tiêu cho các nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp và các đơn vị kinh tế, bao gồm đầu tư vốn cố định và đầu tư vốn lưu động

✓ Chi qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX=X-M): Thực tế, giá trị hàng hoá xuất khẩu

là các khoản phải chi cho các yếu tố nguồn lực trong nước, còn giá trị nhập khẩu

là giá trị của các loại hàng hóa sử dụng trong nước nhưng lại không phải bỏ ra cáckhoản chi phí cho các yếu tố yếu tố nguồn lực trong nước

Như chúng ta đã biết, tăng trưởng có thể được đo bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội(GDP) và GDP=C+I+G+NX Do đó, sự thay đổi của một trong 4 nhân tố cũng đều có thểlàm cho GDP thay đổi, sự thay đổi đó thể hiện sự biến động trong tăng trưởng kinh tế

Từ những nhân tố trên ta có thể rút ra các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế+ Về phía cung: Y= F(K,L,R,T)

8

Trang 9

+ Về phía cầu: Y= F(C,I,G,NX)

2 Các nghiên cứu thực nghiệm

Solow (1956) và Romer (1986) đã quan tâm đến các yếu tố quyết định của tăngtrưởng kinh tế Solow (1956) là người tiên phong của mô hình tăng trưởng tân cổ điển(cũng được gọi là mô hình tăng trưởng Solow-Swan) Một phân tích thực tế về mô hìnhSolow-Swan của tăng trưởng kinh tế dường như đưa ra giả thuyết về ích lợi sản xuấtkhông bị gián đoạn kết nối năng suất cho các yếu tố đầu vào của vốn và lao động, tạo ra

sự ổn định trạng thái ổn định của nền kinh tế Tuy nhiên, sự tăng trưởng ổn định phụthuộc vào sự tiến bộ công nghệ và tăng trưởng dân số, cả hai đều là biến ngoại sinh trong

mô hình và sẽ là không thực tế khi không tồn tại tiến bộ công nghệ, sự tăng trưởng củanăng suất bình quân đầu người trong mô hình (Ghura & Hadji Michael, 1996) Ngoài ra,Ghura và Hadji Michael (1996) đã phỏng đoán giả định quan trọng trong sự tăng trưởngtân cổ điển là giai đoạn đầu ra của các quốc gia với các công nghệ tương đương phải hội

tụ đến một giai đoạn được thống nhất ở trạng thái ổn định, nhưng nghiên cứu hiện tạikhông thường xuyên tiếp xúc với giả định hội tụ không hạn chế

Bởi vì sự không phù hợp của lý thuyết tân cổ điển, dựa trên ngoại sinh tiến bộcông nghệ, Romer (1986) đã phát triển lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh, trong nỗlực tạo ra một kết nối dài hạn giữa tăng trưởng và chính sách công Các mô hình tăngtrưởng nội sinh nhấn mạnh phát triển kỹ thuật là kết quả của mức độ đầu cơ, phạm vi tíchlũy vốn và tích lũy của con người tài nguyên Có một số mô hình tăng trưởng kinh tếđược đề xuất khác sau Romeriên (1986) mô hình nội sinh, bao gồm cả giả thuyết lờinguyền tài nguyên, nhưng hầu như không có sự đồng nhất toàn diện giữa các mô hìnhtăng trưởng khác biệt về các yếu tố quyết định thực sự tăng trưởng kinh tế trong một quốcgia Điều này là do các quốc gia có sự tổ chức bộ máy khác nhau và biến số xác định tăngtrưởng kinh tế của một quốc gia này sẽ không hiệu quả khi xác định tăng trưởng kinh tếtại quốc gia khác Như vậy có một số yếu tố, bao gồm tích lũy tài sản cố định (GrossCaptital Formation), vốn nhân lực, lạm phát, lãi suất, FDI được sử dụng khi trong môhình xác định những yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

• Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Lo et al (2013) thừa nhận một phần của FDI là yếu tố quyết định quan trọng củatăng trưởng kinh tế Các tác giả cho rằng FDI là một dẫn xuất của mô hình lý thuyết tăngtrưởng tân cổ điển Nhờ có khả năng lan tỏa, FDI phải tạo ra ảnh hưởng tích cực đến tăngtrưởng, bao gồm cả việc tăng cường môi trường kinh tế của quốc gia sở tại (Lo et al,2013) Li và Ng (2013) và Babatunde (2011) cũng thừa nhận vai trò của FDI là yếu tốquyết định quan trọng của tăng trưởng kinh tế Trong nghiên cứu về mở cửa thương mại,

Trang 10

FDI và tăng trưởng ở các nước châu Phi cận Sahara, Babatunde (2011) nhận ra rằng FDI

có ý nghĩa tích cực và có ý nghĩa thống kê trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở cácquốc gia được chọn

Tích lũy tài sản cố định gộp (Gross Capital Formation)

Tích lũy tài sản cố định đã trở thành một yếu tố kinh tế vĩ mô đáng chú ý yếu tốđược áp dụng trong việc xác định sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia và có mặtnghiên cứu hiện tại (Adeleke, 2014; Akram, Manzoor, Hassan, Farhan, & Alam, 2011;Freckleton, Wright, & Craigwell, 2012; Havi, Enu, Osei-Gyimah, Attah-Obeng, &Opoku, 2013; Javed, Nawaz, & Gondal, 2014) Eregha (2015) nhấn mạnh tầm quan trọngcủa tích lũy tài sản cố định là một yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế trong nghiên cứucủa ông về dòng vốn FDI, sự biến động và đầu tư nội địa vào Tây Phi Áp dụng mô hình

dữ liệu bảng trên Ủy ban Kinh tế của Các quốc gia Tây Phi (ECOWAS), Eregha nhận ratốc độ tăng trưởng thực sự đáng kể và ảnh hưởng tích cực đến sự gia tăng của đầu tưtrong nước (tích lũy tài sản cố định gộp) trong khu vực ECOWAS Tương tự, Javed et al.(2014) nghiên cứu về tác động biến động của các biến số kinh tế vĩ mô đến tăng trưởngkinh tế, thấy rằng tích lũy tài sản cố định gộp có ảnh hưởng tích cực với GDP, với hệ số

có ý nghĩa thống kê là 0.084115

• Vốn nhân lực (Human captital)

Vốn nhân lực trong việc xác định tăng trưởng kinh tế của một quốc gia có vai tròđáng chú ý, ngay cả khi tồn tại sự khác biệt trong loại vốn nhân lực được áp dụng trongyếu tố quyết định tăng trưởng (Adeleke, 2014; Alemu & Lee, 2015; Ali, Ali, & Amin,2013; Dao, 2012; Guga, Alikaj, & Zeneli, 2015; Sethy & Sahoo, 2015; Tchereni &Sekhampu, 2013; Thuku, Paul, & Almadi, 2013; Wako, 2012) Alemu và Lee (2015) lưu

ý rằng lý thuyết nội sinh được xem xét vốn con người là yếu tố chính quyết định tăngtrưởng kinh tế Các tác giả cho rằng, trước nửa cuối thập niên 1990, hiệu suất của nguồnnhân lực có mối quan hệ với giáo dục, mặc dù một số học giả đã nhận ra tầm quan trọngcủa yếu tố bổ sung như sức khỏe Freckleton et al (2012) sử dụng trình độ trung học cơ

sở làm đại diện cho nguồn nhân lực trong nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế, FDI và thamnhũng ở các nước phát triển và đang phát triển Tchereni và Sekhampu (2013), thay vào

đó, coi vốn nhân lực của dân số đại diện bởi tốc độ tăng trưởng dân số là một yếu tốquyết định hiệu quả của tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng dân số vượt trội tương đươngvới thị trường tiêu thụ tăng, có thể thúc đẩy sản xuất Tương tự, Guga et al (2015) đã longại về vốn nhân lực của tổng tốc độ tăng dân số và ảnh hưởng của nó đối với tăngtrưởng kinh tế của Albania Các tác giả cho rằng tiến bộ vốn nhân lực và tăng trưởng kinh

tế có liên quan, tăng trưởng kinh tế đó hình thành hoàn cảnh phát triển của con người và

Trang 11

sự phát triển của con người đã tạo ra những cơ hội cho kinh tế sự phát triển Do đó, ápdụng mô hình hồi quy log-log trên dữ liệu chuỗi thời gian cho giai đoạn 1990 đến 2014,Guga et al (2015) cho thấy tổng tỷ lệ tăng dân số, trong số những người khác, đã có mộttác động tích cực và đáng kể đến sự tăng trưởng kinh tế của Albania Kết luận, ý nghĩacủa dân số là một đại diện của vốn nhân lực trong việc xác định sự phát triển kinh tế củamột quốc gia.

về tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến tổng doanh thu sản phẩm nội địa của Ghanacho thấy lạm phát và GDP có liên quan tích cực, mặc dù điều này là không đáng kể Đánh giá dường như thừa nhận việc thực hiện rằng, ảnh hưởng của lạm phát đến tăngtrưởng kinh tế xuất hiện khác nhau trong các tài liệu hiện tại

• Lãi suất (Interest Rate)

Trong khi đó, việc sử dụng lãi suất trong các nghiên cứu thực nghiệm, để xác định

sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia có mặt khắp trong tài liệu hiện tại (Agalega &Antwi, 2013; Akiri & Adofu, 2007; Balassa 1989; Ghatak, 1997; Imoisi, Chika, &Moses, 2012; Koka, Bozdo, & Çuçi; 2013; Mashamba, Magweva, & Gumbo, 2014;Obamuyi, 2009; Ristanović, 2010; Saymey & Orabi, 2013; Waty, 2014) Imoisi et al.(2012) đã lập luận rằng lãi suất thực là yếu tố quyết định đáng kể của khoản tiết kiệm vàđầu cơ của đơn vị gia đình và doanh nghiệp và, do đó, có ý nghĩa chiến lược đối với thayđổi theo chu kỳ và phát triển kinh tế dài hạn Áp dụng mô hình hồi quy tuyến tính OLS,Agalega và Antwi (2013) nhận thấy rằng lãi suất có tác động tiêu cực đến GDP của

Ngày đăng: 22/06/2020, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w