Để đưa công ty của mình phát triển, các nhà quản trị cần tạo động lực cho nhân viên, mà vấn đề quan trọng nhất để thúc đẩy động lực chính là thù lao cho người lao động.Người lao động đượ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ LƯỢNG
ĐỀ TÀI: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG NĂM 2015
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thu Giang
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 18
Trang 2MỤC LỤC
1 LỜI MỞ ĐẦU 3
2 Cơ sở lý thuyết về tiền lương 3
2.1 Khái niệm 4
2.2 Chức năng 4
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương 6
2.4 Một số học thuyết lý luận về tiền lương 9
3 Mô hình kinh tế lượng 10
3.1 Xây dựng mô hình kinh tế lượng 10
3.2 Mô tả các biến 10
3.3 Kết quả ước lượng 11
3.4 Suy diễn thống kê 16
4 KẾT LUẬN 22
5 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23 PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
Trang 31 LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình hình thành và phát triển xã hội đã chứng minh một định lý rằng, con người làyếu tố đóng vai trò quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất Đặc biệt, với sự thayđổi của nền kinh tế và mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, nguồn nhânlực càng trở nên quan trọng Do đó, các công ty cần nhận thức và sử dụng đúng đắnnguồn lực của mình nếu không muốn bị “hụt hơi” hay bị “loại khỏi vòng chiến”
Để đưa công ty của mình phát triển, các nhà quản trị cần tạo động lực cho nhân viên,
mà vấn đề quan trọng nhất để thúc đẩy động lực chính là thù lao cho người lao động.Người lao động được coi là những người làm thuê, đóng góp một phần không nhỏ trongviệc điều hành, giải quyết bao quát các vấn đề trong và bên ngoài công ty Để người laođộng có thể tận tâm cống hiến và phát triển công ty một cách hiệu quả nhất thì mức lươngcủa họ phải xứng đáng với năng lực cũng như công sức mà họ bỏ ra Vậy như thế nào làmức lương hợp lý cho người lao động? Vấn đề này đã và đang thu hút sự quan tâm của cảtruyền thông và giới nghiên cứu Các nhà nghiên cứu cho rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởngđến tiền lương của người lao động Và để phù hợp với khái niệm mới về bản chất của tiềnlương trong nền kinh tế thị trường, chúng ta phải đánh giá đúng các nhân tố tác động đểtrả công xứng đáng cho họ
Nhận thức được tầm quan trọng của những nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương, cũng như
mong muốn được tìm hiểu sâu về vấn đề này, nhóm chúng em xin chọn đề tài “Các nhân
tố ảnh hưởng đến mức lương của người lao động năm 2015” để nghiên cứu.
Trang 42 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TIỀN LƯƠNG
2.1 Khái niệm
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tiền lương là một phần thu nhập quốc dânbiểu hiện bằng tiền mà người lao động nhận được để bù đắp cho lao động đã bỏ ra tuỳtheo số lượng và chất lượng của người lao động đó Như vậy, tiền lương là một phần giátrị mới sáng tạo ra được phân phối cho người lao động để tái sản xuất sức lao động củamình Vì người lao động trong quá trình tham gia sản xuất phải hao phí một lương sứclao động nhất định và sau đó phải được bù đắp bằng việc sử dụng tư liệu tiêu dùng
Tiền lương dưới CNXH là một bộ phận của thu nhập quốc dân được Nhà nước phânphối cho người lao động Vì thế, nó chịu ảnh hưởng của một loạt nhân tố: Trình độ pháttriển sản xuất, quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng trong từng thời kỳ và chính sách củaNhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế chính trị trong thời kỳ đó Như vậy, tiền lươngcủa người lao động còn phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội của đất nước Một nềnkinh tế còn nghèo nàn lạc hậu, các phương tiện sản xuất chưa tiên tiến, trình độ lao độngchưa cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp thì tiền lương chưa thể cao được Mặtkhác, lúc đó thu nhập quốc dân chưa đủ để đáp nhu cầu cao về tiền lương của toàn xã hội.Như ta biết thu nhập quốc dân phụ thuộc vào hai yếu tố đó là: Số lượng lao động trongkhu vực sản xuất vật chất và năng suất lao động bình quân của khối sản xuất vật chất Vìvậy, tiền lương chỉ được tăng lên trên cơ sở tăng số lượng lao động trong khu vực sảnxuất và tăng năng xuất lao động của khối này
2.2 Chức năng
Các chức năng cơ bản của tiền lương:
2.2.1 Chức năng thước đo giá trị:
Tiền lương là sự thể hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, được biểu hiện ra bên ngoàinhư là giá cả của sức lao động Vì vậy, tiền lương chính là thước đo giá trị sức lao động,được biểu hiện như giá trị lao động cụ thể của việc làm được trả công Nói cách khác, giá
Trang 5trị của việc làm được phản ánh thông qua tiền lương Nếu việc làm có giá trị càng cao thìmức lương càng lớn.
2.2.2 Duy trì và phát triển sức lao động:
Tiền lương là biểu hiện giá trị sức lao động, đó là giá trị của những tư liệu sinh hoạt cầnthiết để duy trì cuộc sống của người có sức lao động, theo điều kiện kinh tế, xã hội vàtrình độ văn minh của mỗi nước Giá trị sức lao động bao hàm cả yếu tố lịch sử, vật chất
và tinh thần Ngoài ra, để duy trì và phát triển sức lao động thì người lao động còn phảisinh con (như sức lao động tiềm tàng), phải nuôi dưỡng con, cho nên những tư liệu sinhhoạt cần thiết để sản xuất ra sức lao động phải gồm có cả những tư liệu sinh hoạt cho concái học Theo họ, chức năng cơ bản của tiền lương còn là nhằm duy trì và phát triển đượcsức lao động
Giá trị sức lao động là điểm xuất phát trong mọi bài tính của sản xuất xã hội nói chung
và của người sử dụng lao động nói riêng Giá trị sức lao động mang tính khách quan,được quy định và điều tiết không theo ý muốn của một cá nhân nào, dù là người làm cônghay người sử dụng lao động Nó là kết quả của sự mặc cả trên thị trường lao động giữangười có sức lao động “bán” và người sử dụng sức lao động “mua
2.2.3 Kích thích lao động và phát triển nguồn nhân lực
Tiền lương là bộ phận thu nhập chính đáng của người lao động nhằm thoả mãn phầnlớn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của người lao động Do vậy, các mức tiền lương
là các đòn bẩy kinh tế rất quan trọng để định hướng sự quan tâm và động cơ trong laođộng của người lao động Khi độ lớn của tiền lương phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất củacông ty nói chung và cá nhân người lao động nói riêng thì họ sẽ quan tâm đến việc khôngngừng nâng cao năng suất và chất lượng công việc
2.2.4 Thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển
Nâng cao hiệu quả lao động, năng suất lao động suy cho cùng là nguồn gốc để tăng thu
nhập, tăng khả năng thoả mãn các nhu cầu của người lao động
Khác với thị trường hàng hoá bình thường, cầu về lao động không phải là cầu cho bảnthân nó, mà là cầu dẫn xuất, tức là phụ thuộc vào khả năng tiêu thụ của sản phẩm do lao
Trang 6động tạo ra và mức giá cả của hàng hoá này Tổng mức tiền lương quyết định tổng cầu vềhàng hoá và dịch vụ cần thiết phải sản xuất cũng như giá cả của nó Do vậy, tiền lươngphải dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động Việc tăng năng suất lao động luôn luôn dẫnđến sự tái phân bố lao động Theo quy luật thị trường, lao động sẽ tái phân bố vào cáckhu vực có năng suất cao hơn để nhận được các mức lương cao hơn.
2.2.5 Chức năng xã hội của tiền lương
Cùng với việc kích thích không ngừng nâng cao năng suất lao động, tiền lương còn làyếu tố kích thích việc hoàn thiện các mối quan hệ lao động Thực tế cho thấy, việc duy trìcác mức tiền lương cao và tăng không ngừng chỉ được thực hiện trên cơ sở hài hoà cácmối quan hệ lao động trong các doanh nghiệp Việc gắn tiền lương với hiệu quả củangười lao động và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau,nâng cao hiệu quả cạnh tranh của công ty Bên cạnh đó, tạo tiền đề cho sự phát triển toàndiện của con người và thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng dân chủ và văn minh
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương
2.3.1 Nhóm các yếu tố thuộc về bản thân công việc:
Sự phức tạp của công việc: Các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ và kỹ năng cao mới
có khả năng giải quyết được sẽ buộc phải trả lương cao Thông thường các công việcphức tạp gắn liền với những yêu cầu về đào tạo, kinh nghiệm và như vậy sẽ ảnh hưởngđến mức lương Sự phức tạp của công việc phản ánh mức độ khó khăn và những yêu cầucần thiết để thực hiện công việc Sự phức tạp của công việc được phản ánh qua các khíacạnh sau đây:
Yêu cầu về trình độ học vấn và đào tạo
Yêu cầu các kỹ năng cần thiết để hoàn thành công việc
Các phẩm chất cá nhân cần có
Trách nhiệm đối với công việc
Tầm quan trọng của công việc: Phản ánh giá trị của công việc Các công việc có tầm
quan trọng cao sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động của tổ chức
Trang 7Điều kiện để thực hiện công việc: Các điều kiện khó khăn nguy hiểm đương nhiên sẽ
được hưởng mức lương cao hơn so với điều kiện bình thường Sự phân biệt đó để bù đắpnhững tốn hao sức lực và tinh thần cho người lao động cũng như động viên họ bền vữngvới công việc
2.3.2 Nhóm các yếu tố thuộc về bản thân nhân viên:
Trình độ lành nghề của người lao động
Kinh nghiệm của bản thân người lao động
Kinh nghiệm được coi như một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lươngbổng của cá nhân Hầu hết các cơ quan tổ chức trên thế giới đều dựa vào yếu tố này đểtuyển chọn và trả lương
Mức độ hoàn thành công việc
Thu nhập tiền lương của mỗi người còn phụ thuộc vào mức độ hoàn thành công việc của
họ Cho dù năng lực là như nhau nhưng nếu mức độ hoàn thành công việc là khác nhauthì tiền lương phải khác nhau Đó cũng là sự phản ánh tất yếu của tính công bằng trongchính sách tiền lương
Thâm niên công tác
Ngày nay trong nhiều tổ chức yếu tố thâm niên có thể không phải là một yếu tố quyếtđịnh cho việc tăng lương Thâm niên chỉ là một trong những yếu tố giúp cho đề bạt, thăngthưởng nhân viên
Sự trung thành
Những người trung thành với tổ chức là những người gắn bó làm việc lâu dài với tố chức.Trả lương cho sự trung thành sẽ khuyến khích nhân viên lòng tận tụy tận tâm vì sự pháttriển của tổ chức Sự trung thành và thâm niên có mối quan hệ với nhau nhưng có thểphản ánh những giá trị khác nhau Các tổ chức của người Hoa đề cao các giá trị trungthành, còn người Nhật đề cao giá trị thâm niên trong trả lương
Tiềm năng của nhân viên
Trang 8Những người có tiềm năng là những người chưa có khả năng thực hiện những công việckhó ngay, nhưng trong tương lai họ có tiềm năng thực hiện được những việc đó Trảlương cho những tiềm năng được coi như đầu tư cho tương lai giúp cho việc giữ chân vàphát triển tài năng cho tiềm năng của tương lai Có thể có những người trẻ tuổi được trảlương cao bởi vì họ có tiềm năng trở thành những nhà quản trị cấp cao trong tương lai.
2.3.3 Nhóm các yếu tố thuộc về Môi trường công ty
Chính sách tiền lương của Công ty
Khả năng tài chính của Công ty
Năng suất lao động
2.3.4 Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường xã hội
Tình hình cung cấp sức lao động trên thị trường;
Mức sống trung bình của dân cư;
Tình hình giá cả sinh hoạt;
Sức mua của công chúng;
Công đoàn, xã hội;
Nền kinh tế;
Luật pháp
Trong phạm vi bài tiểu luận này, nhóm chúng tôi nghiên cứu tác động của các nhân tố:
độ tuổi; trình độ học vấn, lợi nhuận của công ty
Độ tuổi: Những người trong các độ tuổi khác nhau sẽ có điều kiện sức khỏe và tâm lý
khác nhau, do vậy sự đóng góp của họ đối với công ty sẽ khác nhau, đồng nghĩa với việctiền lương của những người này cũng sẽ khác nhau
Trình độ học vấn: Những người có sự giáo dục càng cao, kiến thức chuyên môn càng
thâm sâu, kỹ năng làm việc càng chuyên nghiệp thì họ cũng sẽ được hưởng mức lươngphù hợp với trình độ của mình
Lợi nhuận: Tình hình tài chính của công ty là một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh
nhất tới khả năng chi trả tiền lương cho người lao động Nếu mức doanh thu và lợi nhuận
Trang 9cao thì việc chi trả sẽ diễn ra rất thuận lợi và dễ dàng Ngược lại, nếu khả năng tài chínhkhông vững thì tiền lương của người lao động sẽ rất bấp bênh.
2.4 Một số học thuyết lý luận về tiền lương
Bản chất tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản: Công nhân làm việc cho nhà tư bản một thờigian nào đó thì nhận được số tiền trả công nhất định Tiền trả công đó gọi là tiền lương
Số lượng tiền lương nhiều hay ít được xác định theo thời gian lao động hoặc lượng sảnphẩm sản xuất ra Hiện tượng đó làm cho người ta lầm tưởng rằng, tiền lương là giá cảlao động Sự thật thì tiền lương không phải là giá trị hay giá cả của lao động Vì lao độngkhông phải là hàng hoá và không thể là đối tượng mua bán Sở dĩ như vậy là vì:
Thứ nhất: nếu lao động là hàng hoá thì nó phải có trước, phải được vật hoá trong một
hình thức cụ thể nào đó Tiền để cho lao động có thể “vật hoá” được là phải có tư liệu sảnxuất Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất thì họ sẽ bán hàng hoá do mình sảnxuất, chứ không bán “lao động” Người công nhân không thể bán cái mình không có
Thứ hai: việc thừa nhận lao động là hàng hoá dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lý
luận sau đây: Nếu lao động là hàng hoá và được trao đổi ngang giá, thì nhà tư bản khôngthu được giá trị thặng dư- điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế của quy luật giá trị thặng
dư trong chủ nghĩa tư bản Còn nếu hàng hoá được trao đổi không ngang giá để có giá trịthặng dư cho nhà tư bản, thì sẽ phủ nhận quy luật giá trị
Thứ ba: nếu lao động là hàng hoá thì hàng hoá đó cũng phải có giá trị Nhưng thước đo
nội tại của giá trị là lao động Như vậy, giá trị của lao động đo bằng lao động Đó là mộtđiều luẩn quẩn vô nghĩa Vì thế, lao động không phải là hàng hoá, cái mà công nhân bán
và nhà tư bản mua không phải là lao động mà chính là sức lao động Do đó, tiền lương
mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động Vậy bản chất của tiền lươngdưới chủ nghĩa tư bản là biểu hiện ra bề ngoài như là giá trị hay giá cả của lao động Sở
dĩ biểu hiện bề ngoài của tiền lương đã che dấu bản chất của nó là do những nguyên nhânsau:
Một là, việc mua bán sức lao động là mua bán chịu Hơn nữa, đặc điểm của hàng hoá
-sức lao động không bao giời tách khỏi người bán, nó chỉ nhận được giá cả khi đã cung
Trang 10cấp giá trị sử dụng cho người mua, tức là lao động cho nhà tư bản, do đó nhìn bề ngoàichỉ thấy nhà tư bản trả giá trị cho lao động
Hai là, đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện để có tiền sinh
sống, do đó, bản thân công nhân cũng tưởng rằng mình bán lao động Còn đối với nhà tưbản việc bỏ tiền ra để có lao động, nên cũng nghĩ rằng cái mà họ mua là lao động
Ba là, do cách thức trả lương Số lượng của tiền lương phụ thuộc vào thời gian lao động
hoặc sản phẩm sản xuất ra, điều đó khiến người ta lầm tưởng rằng tiền lương là giá cả laođộng Tiền lương che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian laođộng tất yếu và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao độngkhông được trả công, do đó tiền lương che đậy bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản
3 MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG
.1 Xây dựng mô hình kinh tế lượng
Từ các nghiên cứu trước đó về các yếu tố ảnh hưởng tới tiền lương, ta xây dựng mô hìnhhồi quy tổng thể ngẫu nhiên với một biến độc lập và năm biến phụ thuộc như sau:
wage = β0 + β1.hour + β2.exp + β3.jp + β4.gender + β5.edu + u
Trong đó:
β0 là hệ số chặn
β1, β2, β3, β4, β5 là các hệ số góc.
Wage là biến phụ thuộc
hour, exp, jposition, gender, edu là các biến độc lập
u là thành phần sai số ngẫu nhiên trong mô hình
.2 Mô tả các biến
Nguồn dữ liệu
Dữ liệu được trích xuất từ bản thống kê kết quả của bài điều tra SURVEY OF SMALLAND MEDIUM SCALE MANUFACTURING ENTERPRISES (SME) IN VIETNAM2015
Mô tả các biến
Ký
Kỳvọng
Trang 11Wage Tiền lương
Biến thể hiện số tiền lương màngười lao động thu được theo
tháng
NghìnVND/thángHour Số giờ làm việc Biến thể hiện số thời gian làm
việc trên công ty của nhân viên giờ +Exp Số năm kinh nghiệm
Biến đại diện cho số năm mà đốitượng đã tham gia thị trường lao
động
Jp Chức vụ công việc Biến đại diện cho vị trí trong công
Gender Giới tính
Biến đại diện cho yếu tố giới tínhcủa người lao động, để xem sựkhác biệt giữa nam nhân viên so
với nữ nhân viên
-Edu Trình độ giáo dục
Biến thể hiện trình độ tri thức củangười lao động, Số năm đi họccàng nhiều, thể hiện trình độ trithức của người đó càng cao
+
.3 Kết quả ước lượng
Bảng 1 Thống kê mô tả mức lương theo các biến định lượng
Luong 1,135 4,521.18 2,009.39 600 3,500 5,000 35,000
Về thang đo tiền lương với 1,135 quan sát, trung bình tiền lương là 4,521.18 nghìnVND Mức lương cao nhất là 35,000 nghìn VND, thấp nhất là 600 nghìn VND với độlệch chuẩn là 2,009.39 nghìn VND
Đối với các biến độc lập:
Biến số giờ làm việc: trong một tháng, một người lao động làm nhiều nhất là 336 tiếng,gấp 21 lần so với người làm ít nhất là 16 tiếng với độ lệch chuẩn là 27.18 tiếng
Biến số năm kinh nghiệm: số năm tham gia thị trường lao động nhiều nhất của mộtngười đã đủ tuổi lao động là 36 năm và số năm tham gia thị trường lao động ít nhất củamột người tương tự là 0 năm, độ lệch chuẩn là 5.29 năm
Trang 12Bảng 2 Thống kê mô tả mức lương theo các biến định tính
Job: Production Worker (N = 718) 4177.792 12000 600 1202.577Job: Manager (N = 78) 6744.487 30000 3000 4209.915Job: Professional Worker (N = 105) 4746.124 8700 720 1567.801Job: Office Worker (N = 118) 4670.814 11182 2500 1545.350Job: Sales Worker (N = 79) 5105.316 35000 1970 3738.557Job: Service Worker (N = 37) 4135.135 8000 3000 1069.584Gender: Female (N = 456) 4194.195 11182 600 1422.847Gender: Male (N = 679) 4740.782 35000 680 2296.606Edu: Unfinisfed THPT (N = 251) 4038.251 8400 1000 1171.112Edu: THPT and higher (N = 884) 4658.307 35000 600 2170.702 Nghề quản lý có mức lương trung bình cao nhất là 6744.487 nghìn VND/tháng, trongkhi đó nghề nhân viên phục vụ có mức lương trung bình thấp nhất là 4135.135 nghìnVND/tháng
Trong tổng số quan sát, nam là 679 người, nữ là 456 người Mức lương trung bình củanam là 4740.782 nghìn VND/tháng cao hơn mức lương trung bình của nữ là 4194.195nghìn VND/tháng
Số người lao động đã hoàn thành bậc THPT và cao hơn trong tổng số quan sát là 884người, số người lao động chưa hoàn thành bậc THPT là 251 người Mức lương trung bìnhcủa người lao động đã hoàn thành bậc THPT và cao hơn là 4658.307 nghìn VND/tháng,cao hơn người lao động chưa hoàn thành bậc THPT là 4038.251 nghìn VND/tháng Tuynhiên, độ lệch chuẩn của người lao động chưa hoàn thành bậc THPT chỉ là 1171.112nghìn VND/tháng, thấp hơn người lao động đã hoàn thành bậc THPT và cao hơn là2170.702 nghìn VND/tháng
Bảng kết quả và diễn giải kết quả ước lượng
Trước khi tiến hành diễn giải kết quả hồi quy trong phần này, một việc quan trọngcần thực hiện đó là biểu diễn các phạm trù của biến định tính job bằng các biến giả Điềunày ở các phần trước rõ ràng là chưa thực sự cần thiết nhưng đến đây, nó sẽ giúp ích rấtnhiều cho công việc của chúng ta Biến job sẽ được biểu diễn bởi các biến giả như sau:+ manager: bằng 1 nếu người lao động là manager và bằng 0 nếu không phảimanager
+ professional: bằng 1 nếu người lao động là professional worker và bằng 0 nếukhông phải professional worker