Muốn làm được điều đó, giáo dục phải không ngừng đổi mới mà cốt lõi chính là đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới cách dạy và cách học trong đó lấy học sinh làm trung tâm, học si
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Để đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu kém phát triển, Đảng ta đã thực hiện đường lối: “Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa”, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã chỉ rõ: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Đó chính là chìa khóa để đưa giáo dục Việt Nam tiến kịp với nền giáo dục các nước tiên tiến trên toàn cầu
Thật vậy, muốn phát triển kinh tế trước hết phải coi trọng giáo dục để đào tạo Chỉ có giáo dục mới tạo ra được các thế hệ con người mới vừa có kiến thức, vừa năng động sáng tạo trong công việc, dám nghĩ, dám làm đáp ứng với yêu cầu xây dựng đất nước trong thời đại mới Muốn làm được điều đó, giáo dục phải không ngừng đổi mới
mà cốt lõi chính là đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới cách dạy và cách học trong đó lấy học sinh làm trung tâm, học sinh là chủ thể của giáo dục, giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn chủ thể hoạt động
Tuy nhiên ở các vùng miền khác nhau thì trình độ dân trí cũng khác nhau và đối tượng học sinh cũng có sự chênh lệch nhau về nhận thức và trình độ Đối với học sinh miền núi, tư duy, nhận thức cũng như kĩ năng sống của các em còn thấp hơn nhiều so với học sinh miền xuôi Làm thế nào để các em có thể chủ động chiếm lĩnh kiến thức một cách chắc chắn và hiệu quả đó là cả một vấn đề Là một giáo viên đang công tác tại một đơn vị miền núi, đối tượng học sinh củ tôi là học sinh người Bru Vân Kiều, tư duy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế Làm thế nào để học sinh sớm tiến bộ, để
có ý thức học tập cao hơn ? Làm thế nào để giúp các em cải thiện kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp ? Nhưng câu hỏi đó làm tôi luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi và thử nghiệm giải pháp trong quá trình dạy học
Qua 3 năm trực tiếp giảng dạy môn Sinh học lớp 6 tại đơn vị, tôi hiểu rằng để học sinh hiểu hết nội dung bài học, chủ động chiếm lĩnh kiến thức, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo đặc biệt là đối với học sinh con em dân tộc (Bru – Vân Kiều) thì đòi hỏi mỗi một giáo viên đứng lớp phải làm việc thật nghiêm túc, luôn tìm hiểu đặc điểm của đối tượng mình tác động để có phương pháp dạy học phù hợp
Khác với học sinh vùng xuôi, con đường tìm đến con chữ của học sinh miền núi, vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn vất vả Học sinh dân tộc miền núi, vùng
Trang 2sâu, vùng xa có bản tính nhút nhát, thật thà, nhưng lòng tự trọng, tự ái thì rất cao Nếu các em có gì không vừa ý thường tỏ thái độ ngay Đặc điểm nhút nhát, thật thà cộng với khả năng diễn đạt bằng tiếng phổ thông còn nhiều hạn chế, có những lúc làm cho giáo viên “nóng mặt” Nếu như giáo viên thiếu am hiểu tường tận và không có phương pháp dạy học phù hợp thì rất khó thành công
Thực tiễn có tác dụng thuyết phục rất lớn đối với các em Các em sống rất thực
tế Những điển hình gần gũi đều có tác dụng thuyết phục rất lớn Kiến thức môn Sinh học lớp 6 rất gần với đời sống thực tiễn Vì vậy nếu trong quá trình giảng dạy giáo viên không khéo léo thì học sinh không nắm vững và hiểu được bản chất của kiến thức trọng tâm và đặc biệt sẽ không giải thích được một số hiện tượng sinh học trong đời sống thường ngày
Xuất phát từ thực tế khách quan và những lý do trên tôi mạnh dạn đưa ra “Một số
giải pháp giúp học sinh Bru – Vân Kiều học tốt môn sinh học 6”.
2 Điểm mới của đề tài :
Tuy đề tài có thể trước đây được nhiều người nghiên cứu nhưng điểm mới và khác biệt ở đề tài này là : Đã đưa ra một số giải pháp giúp học sinh Bru-Vân Kiều học tốt môn sinh học 6 Đối tượng trong đề tài tôi đề cập là đối tượng học sinh dân tộc, các
em học tập còn rất thụ động ; khả năng tự học, khả năng quan sát kênh hình tìm kiến thức ; khả năng tư duy logic, tính sáng tạo ; khả năng diễn đạt bằng tiếng phổ thông còn nhiều hạn chế
3 Phạm vi của đề tài:
+ Phạm vi: Chỉ đề cập một số giải pháp giúp học sinh Bru- Vân Kiều nơi tôi đang công tác học tốt môn sinh học 6
+ Đối tượng : Giáo viên dạy bộ môn sinh học 6 và học sinh Bru- Vân Kiều lớp 6 tại đơn vị tôi công tác
Trang 3II NỘI DUNG
1 Thực trạng
1.1 Thuận lợi
a Về phía giáo viên:
- Bộ môn được phân công giảng dạy phù hợp với chuyên môn
- Được tập huấn đầy đủ về phương pháp dạy học mới
- Đã giảng dạy bộ môn sinh học 6 nhiều năm
- Đã tiếp cận với học sinh con em dân tộc Bru- Vân Kiều 7 năm
- Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên tạo điều kiện giúp đỡ về thời gian biểu
và về lớp dạy tương đối phù hợp
- Giáo viên được đào tạo đạt chuẩn
- Giáo viên đã nắm được hệ thống các phương pháp dạy học, biết phối hợp một cách nhuần nhuyễn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tạo nên nhiều tiết học sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn được học sinh tham gia khám phá, tìm tòi kiến thức
- Được học hỏi nhiều đồng nghiệp trong trường có chuyên môn nghiệp vụ tốt
- Luôn có ý thức học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
- Giáo viên, học sinh thường tập trung sống ở nội trú nhà trường ( Từ thứ 2-> thứ 6) nên dễ nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, nắm bắt được tình hình học tập và sở thích của các em để từ đó đề ra các biện pháp nhằm giúp các em học tốt và hiệu quả
- Học sinh luôn có niềm tin sâu sắc vào giáo viên Các em thường dễ dàng nghe theo những người mình đã tin cậy, đặc biệt là giáo viên Khi các em đã tin giáo viên, các em thường quyết tâm thực hiện cho được những công việc mà giáo viên giao, nhiều khi các em còn bắt chước tác phong, cử chỉ, ngôn ngữ, điệu bộ của giáo viên
Vì vậy đây chính là một điểm thuận lợi để giáo viên cố gắng trong giảng dạy để không phụ sự tin yêu của các em đã dành cho thầy cô, từ đó phát huy tính tích cực học tập của học sinh
- Trong những năm gần đây được sự quan tâm của phụ huynh và địa phương, phần nào đó đó tạo động lực cho giáo viên trong quá trình giảng dạy
b Về phía học sinh:
- Kiến thức sinh học 6 rất gần gũi với cuộc sống của các em
Trang 4- Các em chăm ngoan, biết nghe lời.
- Các kiến thức mới được hình thành gắn chặt với các tình huống thực tiễn
1.2 Khó khăn:
a Về phía giáo viên:
- Là trường vùng cao nên còn nhiều khó khăn, thiết bị dạy học số lượng cơ bản đầy đủ nhưng chất lượng chưa cao
- Đội ngũ giáo viên còn trẻ, thiếu ổn định
- Hơn nữa do trình độ nhận thức của các em và phụ huynh còn nhiều hạn chế, trước đây trong suy nghĩ của phụ huynh và các em là đi học cho thầy, cô chứ không phải đi học cho bản thân nên các em còn chây lười, nghỉ học tùy tiện, giáo viên đến vận động thì đi, không đến thì ở nhà, phụ huynh còn mang nặng tư tưởng khoán trắng cho nhà trường Xuất phát từ động cơ học tập trên nên gây không ít khó khăn cho giáo viên
- Học sinh dân tộc Bru – Vân Kiều là đối tượng rất thụ động, nhút nhát ít có hứng thú học tập với bộ môn
- Phương pháp dạy học mới hiện nay đòi hỏi giáo viên phải tạo điều kiện cho học sinh tự tìm hiểu để tiếp cận với kiến thức mới tuy nhiên học sinh ở đây còn rất thụ động, tính tình thì nhút nhát, ngại tiếp xúc, ít tìm hiểu
b Về phía học sinh:
- Học sinh lớp 6 mới được làm quen với phướng pháp mới ở trường THCS, mỗi môn mỗi thầy, mỗi thầy mỗi phương pháp dạy học nên các em còn nhiều bỡ ngỡ
- Đối tượng học sinh là người dân tộc Các em học tập hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào thầy cô Vì vậy thời gian trên lớp không đủ để giúp đối tượng học sinh dân tộc thành thạo, do vậy giáo viên phải tăng cường thêm các tiết ôn tập phụ đạo cho các em
- Địa phương còn nhiều khó khăn, cuộc sống chủ yếu dựa vào làm rẫy và sự hỗ trợ của nhà nước, điều kiện sinh hoạt của đa số đồng bào dân tộc Bru – Vân Kiều còn
ở mức thấp, do đó học sinh ngoài giờ học trên lớp còn phải phụ giúp gia đình làm kinh
tế, vì vậy thời lượng học ở nhà của các em còn hạn chế
- Kết quả cuối năm học 2013-2014:
THỐNG KÊ ĐIỂM TRUNG BÌNH MÔN KHỐI 6 MÔN SINH
Trang 5NĂM HỌC: 2013 – 2014
TT Lớp Tổng
HS
lên
8 21 65,6 4
12,
- Từ thực tế học sinh như trên, tôi đã suy nghĩ làm thế nào để giúp các em tiến bộ
hơn trong học tập, đưa chất lượng bộ môn sớm tiệm cận với miền xuôi, tôi đã mạnh dạn thử nghiệm và rút ra được các giải pháp như sau:
2 Giải pháp:
2.1 Trang bị sách giáo khoa và đồ dùng học tập cho học sinh đầy đủ.
Như chúng ta đã biết sách giáo khoa là một tài liệu không thể thiếu trong việc học tập của học sinh Đặc biệt là đối với học sinh con em dân tộc khi mà điều kiện sống, cơ sở vật chất, công nghệ thông tin đối với các em còn thiếu thốn Không có sách giáo khoa thì các em không có tài liệu để tham khảo Trong chương trình Sinh học 6, học sinh được làm quen với thế giới sinh vật, trước hết là thực vật Sách giáo khoa sinh học 6 giúp các em tìm hiểu cấu tạo cơ thể một cây xanh từ cơ quan sinh dưỡng (rễ, thân, lá) đến cơ quan sinh sản ( hoa, quả, hạt) cùng chức năng của chúng phù hợp với điều kiện sống Sách còn giúp các em hiểu được thực vật phong phú, đa dạng như thế nào qua các nhóm cây khác nhau, chúng đã biến đổi phát triển ra sao từ dạng đơn giản nhất đến phức tạp nhất Ngoài ra, sách còn giúp các em biết được mối quan hệ giữa thực vật với môi trường sống cũng như vai trò của chúng đối với đời sống con người Như vậy ta thấy rằng sách có một vai trò rất quan trọng trong việc học tập của các em Cách đây 7 năm khi mới lên công tác thì tôi nhận thấy tình trạng học sinh thiếu sách giáo khoa và các tài liệu phục vụ học tập còn chiếm tỷ lệ cao với các nguyên nhân khác nhau như: Gia đình khó khăn không có tiền mua sách, phụ huynh không quan tâm khoán trắng cho nhà trường, ý thức giữ gìn sách vở trong học sinh còn nhiều hạn chế, thư viện trường chưa được trang cấp đầy đủ để phục vụ cho việc mượn của học sinh… Tuy nhiên trong những năm gần đây nhờ sự vận động phụ huynh mua sách giáo khoa, giáo viên xin sách cũ của học sinh vùng thuận lợi, nhà trường kêu gọi các đoàn thiện nguyện hỗ trợ sách giáo khoa…giờ đây cơ bản học sinh
có đầy đủ sách và dụng cụ học tập do đó mà chất lượng học tập của học sinh nơi đây ngày một nâng cao
Trang 62.2 Nắm rõ đặc điểm tâm sinh lý học sinh Bru- Vân Kiều để có phương pháp tác động cho phù hợp.
Ngày nay, với quan điểm dạy học hướng vào người học, thì việc phải hiểu đối tượng mà người thầy đang tác động là điều vô cùng cần thiết Qua nghiên cứu người
ta thấy rằng đây là lứa tuổi thích “nổi loạn” Lứa tuổi này đang ở thời điểm dậy thì nên thoắt vui, thoắt buồn, ương bướng Do vậy, chúng ta nên dạy theo phương pháp “lạt mềm buộc chặt” Sự thay đổi về nội dung học: các em được tiếp xúc với nhiều môn học khác nhau, nội dung trừu tượng, phong phú sâu sắc hơn, đòi hỏi có sự thay đổi về phương pháp học Sự thay đổi về phương pháp dạy học và hình thức học tập: ở mỗi môn học có một giáo viên giảng dạy, các em được học với nhiều thầy cô Mỗi thầy, cô
có cách trình bày, phương pháp dạy học khác nhau nên cách dạy và nhân cách của người thầy sẽ tác động vào việc hình thành và phát triển trí tuệ, cách lập luận, nhân cách của học sinh Hay nói cách khác đây là lứa tuổi thay đổi mạnh mẽ về thể chất, sức khỏe và tâm sinh lý Với ý thức muốn làm người lớn, muốn khẳng định mình trong gia đình lẫn ngoài xã hội Vì vậy, chúng ta cần động viên, dìu dắt quan tâm giúp
đỡ các em Đối với học sinh Bru- Vân Kiều, những hiểu biết về kiến thức xã hội còn ít (hầu như không có), hầu như ở lứa tuổi này các em chưa hề đi ra khỏi bản làng, vốn kiến thức còn nghèo nàn, các em còn nhút nhát, ngại nói, ngại tiếp xúc, tiếp thu bài vở một cách thụ động, phụ thuộc hoàn toàn vào giáo viên nhưng “lòng tự ái, tự trọng của các em thì rất cao” Vậy chúng ta cần làm gì để các em có thể chủ động chiếm lĩnh kiến thức Đặc biệt là kiến thức sinh học 6, khi mà kiến thức nó gắn liền với hiện tượng thực tiễn, nó gắn liền với đời sống các em, nó ở xung quanh các em nhưng các
em chưa lí giải được Do vậy chúng ta cần nghiên cứu kĩ đặc điểm đối tượng để có cách thức tác động một cách phù hợp giúp các em chủ động chiếm lĩnh kiến thức
Ví dụ 1: Em A là một học sinh ngoan, học tốt của lớp, nhung dạo gần đây thấy
em hay lơ đãng trong việc học tập, đặc biệt trong tiết ôn tập hôm ấy em không viết bài, tôi gọi lên bảng thì không thuộc, tôi hỏi lí do thì em không trả lời, do quá nóng nảy tôi đã trách phạt em, thế là em lẳng lặng ra khỏi lớp, hai ba hôm sau em vẫn không tới trường Qua thông tin mấy bạn cùng lớp thì em bảo không đi học nữa Cuối cùng tôi đã tới nhà, trao đổi với phụ huynh Qua tâm sự, tôi biết hoàn cảnh gia đình
em khó khăn, bố ốm nặng, không có tiền chữa bệnh, trong nhà còn có 3 em nhỏ đang
đi học Có lẽ em không thể theo học được mà phải ở nhà giúp đỡ mẹ cáng đáng công việc gia đình Thông cảm với hoàn cảnh của em, tôi đã chia sẻ với gia đình và hứa sẽ tham mưu với nhà trường, hội phụ huynh, hội khuyến học, đề nghị các đoàn thể địa phương giúp đỡ gia đình em vượt qua khó khăn của hoàn cảnh hiện tại Đồng thời tôi
Trang 7cũng phân tích thái độ của em trong ngày hôm ấy là không được Em đã khóc và xin lỗi tôi Tôi động viên em cố gắng vượt qua hoàn cảnh để tiếp tục học tập tốt Với sự giúp đỡ của mọi người, em đã cố gắng hơn trong học tập và đã tiến bộ vượt bậc và trở thành tấm gương học sinh nghèo vượt khó tiêu biểu nhất của trường tôi
Ví dụ 2: Trong tiết kiểm tra học kì I môn Lịch sử, em B sử dụng tài liệu, tôi đã
tịch thu tài liệu của em Em B bảo: Cô thu tài liệu của em đến khi kiểm tra môn cô em không làm Lúc đó tôi vẫn bình tĩnh đáp: em cứ làm tốt bài thi này đi rồi tôi quay sang hướng khác Ngày mai, đến giờ kiểm tra môn sinh, sau khi chấm bài, ráp phách, quả thật em để nguyên tờ giấy trắng Sau khi thi học kỳ xong tôi gọi em lên văn phòng để trao đổi Tôi đã phân tích vấn đề về sự nguy hiểm của phao tài liệu đối với học sinh trong thi cử và ý thức thái độ của em như vậy là không được Sau khi nghe tôi phân tích vấn đề em đã xin lỗi tôi và em hứa sẽ cố gắng học tốt trong học kỳ II này
2.3 Hướng dẫn học sinh học bài trên lớp và chuẩn bị bài ở nhà một cách kĩ càng và chu đáo hơn.
Để các em chủ động chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động chúng ta cần hướng dẫn các em học tập một cách kĩ càng Việc hướng dẫn ở đây không có nghĩa là giáo viên làm thay, làm thế các em mà giáo viên cần hướng dẫn một cách tường minh hơn như: Đưa ra những câu hỏi gợi mở, hướng dẫn các em quan sát cái gì, tìm cái gì, rút ra cái gì từ bức tranh hay mô hình Có thể cùng một bài dạy, cùng một bức tranh nhưng khi dạy học sinh vùng thuận lợi chúng ta chỉ cần hướng dẫn qua là các em đã tìm ra kiến thức nhưng đối với học sinh dân tộc Bru- Vân Kiều có lẽ là rất khó
Ví dụ: Khi tìm hiểu khái niệm hoa tự thụ phấn – sinh học 6.
Đối với học sinh vùng thuận lợi: Sau khi chiếu hình 30.1 Hoa tự thụ phấn
Trang 8Gv: Qua quan sát hình ảnh, em hãy cho biết thế nào là hoa tự thụ phấn? Học sinh
có thể trả lời khái niệm một cách dễ dàng Nhưng đối với học sinh dân tộc Bru-Vân Kiều, nếu giáo viên chỉ dừng lại với cách hướng dẫn như vậy thì chắc chắn học sinh sẽ không rút ra được kiến thức Do vậy để học sinh rút ra được kiến thức, giáo viên cần hướng dẫn kĩ hơn Ví dụ đối với hình 30.1 hoa tự thụ phấn giáo viên có thể làm theo kiểu hiệu ứng động
Gv: Qua quan sát hình ảnh em hãy cho biết hiện tượng gì đang xảy ra?
HS: Hạt phấn tiếp xúc với đầu nhụy.
GV: Hạt phấn tiếp xúc với đầu ngụy của cùng một cây hay nhiều cây khác nhau Hs: Cùng một cây
GV: Hiện tượng chúng ta vừa thấy chính là hiện tượng hoa tự thụ phấn Vậy
theo em: Thế nào là hoa tự thụ phấn?
Với cách hướng dẫn như vậy chắc chắn học sinh dân tộc sẽ nắm được kiến thức một cách chắc chắn
Song song với việc hướng dẫn kĩ học sinh học trên lớp chúng ta cũng cần hướng dẫn kĩ cho các em chuẩn bị bài ở nhà Khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài cho tiết học sau, giáo viên phải có sự hướng dẫn các em một cách cụ thể, tránh trường hợp ra một câu lệnh dưới dạng dặn dò: “Hôm sau chúng ta học bài các em về nhà đọc trước bài”, thì sẽ không có tác dụng là bao, mà giáo viên phải dặn kĩ hơn như quan sát hình số mấy, kết hợp đọc sách trả lời vào giấy nháp câu lệnh gì? Đối với những bài
có thí nghiệm thì phải hướng dẫn các em cách làm, cách quan sát, ghi chép lại sự quan sát của mình Đối với những bài có liên quan đến mẫu vật thật thì hướng dẫn các em cách tìm, cách thu thập, cách bảo quản mẫu vật Đôi khi giáo viên cùng học sinh đi chuẩn bị mẫu vật
Học sinh người dân tộc ở đây có đặc điểm học khó nhớ nhưng nhanh quên, chỉ học trên lớp mà không có thói quen học ở nhà Phụ huynh thì lơ là, ít quan tâm Trên lớp chỉ 45 phút không thể truyền tải một cách trọn vẹn đầy đủ về kiến thức trọng tâm lẫn kiến thức vận dụng, liên hệ thực tế Do vậy chỉ học trên lớp thôi chưa đủ mà cần phải có ý thức học ở nhà Để làm được điều đó đòi hỏi mỗi một giáo viên phải thường xuyên nhắc nhở các em, quan tâm, động viên các em, giáo viên cùng học với các em (Buổi tối giáo viên có thể tranh thủ thời gian trực nội trú hay thời gian rãnh qua các phòng nội trú nhắc nhở các em học bài, hay cùng các em lên học trên các phòng học, các em học bài, giáo viên soạn bài, thỉnh thoảng giáo viên cũng đến thăm hỏi việc học
Trang 9tập của các em ở ngoài nội trú…) Nếu làm được như vậy chắc chắn chất lượng học tập của học sinh sẽ ngày một nâng cao tiệm cận với học sinh vùng thuận lợi
2.4 Tăng cường sử dụng TBDH đặc biệt là mẫu vật sẵn có tại địa phương.
Phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn sinh học nói chung và bộ môn sinh học 6 nói riêng là phương pháp trực quan, thí nghiệm thực hành Mặt khác với yêu cầu đổi mới của phương pháp dạy học thì thiết bị dạy học chính là những thông tin để học sinh tìm hiểu và khai thác Từ đó hình thành kiến thức bài học Do vậy thiết bị dạy học không thể thiếu trong các tiết sinh học Đặc biệt là đối với học sinh dân tộc khi mà mọi thứ đối với các em đều là mới mẻ, khả năng tư duy trừu tượng còn hạn chế do vậy đòi hỏi mỗi một giáo viên đứng lớp cần chuẩn bị tốt thiết bị dạy học đặc biệt là các mẫu vật sẵn có tại địa phương
Để chuẩn bị tốt thiết bị dạy học hoặc mẫu vật sẵn có tại địa phương cho mỗi tiết lên lớp chúng ta cần phải :
+ Phải nghiên cứu trước các nội dung thông tin có ở tranh ảnh, hình vẽ, mẫu vật để có thể định hướng, hướng dẫn học sinh tìm hiểu tránh chủ quan
+ Nếu là thí nghiệm biểu diễn, thực hành thì giáo viên phải thực hiện trước để lường hết các tình huống nhằm đảm bảo sự thành công của thí nghiệm
+ Tranh ảnh, đồ dùng trực quan phải đảm bảo tính chính xác khoa học
+ Phải tập biểu diễn thành thạo các thao tác khi sử dụng thiết bị để tránh lảng phí thời gian, đồng thời đảm bảo tính mô phạm trước học sinh, tuyệt đối không được tùy tiện
+ Sử dụng hợp lý thiết bị dạy học, đúng thời điểm thì mới có hiệu quả (Khi sử dụng tranh giáo viên cần chú ý đến thời điểm xuất hiện của bức tranh và thời gian lưu trên bảng của bức tranh: sau khi quan sát xong, học sinh đã trả lời được nội dung bức tranh cần truyền tải => Giáo viên phải lấy tranh và cất ngay, tránh tình trạng lưu tranh thời gian lâu học sinh sẽ bị phân tán ở các hoạt động khác )
Kết hợp tốt giữa thiết bị dạy học với phương tiện dạy học hiện đại (như xem băng hình, đèn chiếu, máy chiếu ) nhằm tạo hứng thú trong học tập của học sinh
Ví dụ: Khi so sánh cấu tạo trong thân cây trưởng thành và thân cây non – Sinh học 6.
Nếu giáo viên chỉ dùng lời nói thì học sinh sẽ nhớ kiến thức một cách máy móc
và rất nhanh quên Nhưng nếu giáo viên sử dụng 2 sơ đồ minh họa sau kèm theo
Trang 10những lời gợi ý thì chắc chắn học sinh sẽ tự rút ra được kiến thức và các em sẽ nhớ kiến thức lâu hơn.
Hình 1: Sơ đồ cấu tạo trong thân non
Hình 2: Sơ đồ cấu tạo trong của thân cây trưởng thành
(1-Biểu bì ; 2-Thịt vỏ; 3-Mạch rây; 4-Mạch gỗ; 5-Ruột; I-Tầng sinh vỏ; II-Tầng sinh trụ)
GV: Yêu cầu HS quan sát kĩ sơ đồ hình 1 và sơ đồ hình 2 Các em chú ý các chú thích ở vị trí số 1,2,3,4,5, I, II trong 2 sơ đồ Sau đó lần lượt trả lời các câu hỏi sau:
? Trong sơ đồ cấu tạo trong thân non có những phần nào giống với sơ đồ cấu tạo trong của thân cây trưởng thành
? Những thành phần nào ở thân cây trưởng thành có mà thân non không có
=> Từ đó giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thành bài tập so sánh về cấu tạo trong thân non và thân cây trưởng thành