1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số giải pháp tích cực giúp học sinh học tập tốt môn tiếng việt 1 công nghệ giáo dục

20 101 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 524,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN TIẾNG VIỆT 1 - CÔNG NG

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN

TIẾNG VIỆT 1 - CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Quảng Bình, tháng 4 năm 2020

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN TIẾNG VIỆT 1 - CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Họ tên: Võ Thị Loan Chức vụ: Giáo viên Đơn vị: Trường Tiểu học số 2 An Thủy

Quảng Bình, tháng 4 năm 2020

Trang 3

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài:

Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước rất cần những người công dân có kiến thức trong xã hội Để đáp ứng được nhu cầu cần thiết của

xã hội, mỗi chúng ta những người làm công tác giáo dục đều phải suy nghĩ là làm sao để nâng cao được chất lượng dạy học nhằm đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu giáo dục của thời đại Trong các môn học thì môn Tiếng việt lớp 1 chiếm một vị trí

vô cùng quan trọng trong bậc tiểu học Tiếng Việt dạy cho các em những kiến thức

cơ bản về tự nhiên, xã hội…Tiếng Việt còn là phương tiện giao tiếp giúp cho học sinh nắm vững tiếng mẹ đẻ và tiến đến để học tốt các môn học khác Chúng ta đều biết, lớp 1 là lớp đầu cấp nên việc dạy đọc cho HS vô cùng quan trọng trong việc tạo nền tảng, tiền đề để các em tìm tòi, phát hiện kiến thức trước mắt cũng như trong tương lai Đặc biệt khi chúng ta đang thực hiện dạy học Tiếng Việt theo chương trình Tiếng Việt CNGD 1 là chương trình phù hợp với xu thế phát triển giáo dục Chương trình này góp phần nâng cao vai trò, vị trí của người dạy Việc tổ chức dạy học Tiếng Việt CNGD không mang tính áp đặt, phát huy được tính tích cực, chủ động của các em, phát huy tối đa phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm Tiến trình giờ dạy nhẹ nhàng, tự nhiên Học sinh nắm chắc được cấu tạo ngữ âm, phân tích ngữ âm đúng, có kĩ năng ghi mô hình nhanh, chính xác Chiếm lĩnh được ngôn ngữ, các em mới có thể hoàn thiện chương trình học ở các lớp trên Giáo viên ít nói, việc dạy chủ yếu dùng kí hiệu, sách thiết kế rõ ràng cụ thể Nó như một cẩm nang dành cho đội ngũ giáo viên giảng dạy và cán bộ quản lí dùng chỉ đạo trong công tác chuyên môn

Để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn Tiếng Việt CNGD1, giúp học sinh thực sự: “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, tập cho các em tính mạnh dạn trong học tập và khả năng sáng tạo và học tốt môn CNGD 1 tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Một số giải pháp tích cực giúp học sinh học tập tốt môn Tiếng Việt 1 - Công nghệ giáo dục ”.

Trang 4

1.2: Điểm mới của đề tài:

Ở trường tiểu học thì lớp 1 chiếm vai trò, vị trí rất quan trọng trong cả cấp học Ngoài việc làm quen với môi trường học tập, các em được học những bài học đầu tiên trong hành trình chinh phục tiếng mẹ đẻ

Đối tượng của Tiếng việt 1 - CNGD chính là cấu trúc ngữ âm, quy trình dạy, phần vần, công đoạn dùng mẫu và lập mẫu Học sinh nắm chắc ngữ âm, luật chính

tả, phân biệt rõ đâu là nguyên âm, phụ âm, âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối Người giáo viên cần nắm được kiến thức, các biện pháp dạy học tích cực, từ

đó đưa ra những biện pháp cụ thể để học tập, phát triển toàn điện Trong quá trình giảng dạy học sinh lớp 1, tôi đã dựa vào những biện pháp chủ yếu sau:

- Xây dựng chương trình dạy học cụ thể.

- Tích hợp các biện pháp dạy học tích cực trong giảng dạy

- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh

- Xây dựng các biện pháp học tập, rèn luyện cho học sinh còn chậm

- Phối kết hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh để rèn luyện, giám sát kĩ việc học ở trường cũng như ở nhà

Đồng thời, so với những tài liệu có liên quan thì sáng kiến của bản thân lại đưa ra những giải pháp sát thực, phù hợp với việc dạy học Tiếng Việt 1 - Công nghệ giáo dục hiện nay Đó cũng chính là điểm mới của đề tài

1.3 Phạm vi áp dụng của đề tài.

Học sinh khối 1 ở các trường Tiểu học

Trang 5

2 PHẦN NỘI DUNG

2.1 Thực trạng dạy học môn Tiếng việt 1 - CNGD ở trường Tiểu học nơi công tác.

Lần đầu tiên các em tiếp xúc với các môn học, đặc biệt là môn Tiếng việt 1 -CNGD Ngay đầu năm học yêu cầu học sinh phải nắm chắc phần âm, vần, vẽ mô hình, phân tích tiếng, luật chính tả, nhận xét luồng hơi phát ra để phân biệt nguyên

âm, phụ âm Vì vậy, học sinh chỉ ghi nhớ một cách máy móc bước đầu học đọc, học viết, học cách phân biệt nguyên âm, phụ âm, cách dùng mẫu, lập mẫu, luật chính tả, các em còn nhiều bỡ ngỡ và tiếp thu kiến thức thật khó khăn, một số em chỉ đọc vẹt chưa thuộc hết bảng chữ cái

Chương trình CNGD đòi hỏi đội ngũ giáo viên lớp 1 phải linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức lớp học một cách cụ thể, buộc học sinh phải tham gia vào quá trình học tập, qua đó bộc lộ và phát huy được tính tích cực, hình thành kĩ năng tự học cho học sinh

Khi dạy môn Tiếng Việt 1 - CNGD tôi thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:

a Thuận lợi

*Đối với giáo viên:

- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương và các cấp Đảng uỷ đã tạo điều kiện tốt cho công tác giáo dục của trường học Chi bộ và BGH nhà trường luôn chỉ đạo sát sao tới công tác dạy và học

- Cơ sở vật chất nhà trường có đủ phòng học 2buổi/ ngày

- Khối 1 có 3 giáo viên đều là những người nhiệt tình trong công việc, tham gia đầy đủ các lớp tập huấn chuyên môn do phòng đề ra

- Giáo viên có ý thức tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề và luôn trăn trở về phương pháp dạy học Tiếng Việt 1 -CNGD

- Giáo viên có ý thức trách nhiệm với học sinh, giảng dạy nhiệt tình, chữa bài nghiêm túc, khách quan, tỉ mỉ

Trang 6

- Giáo viên luôn có ý thức vận dụng đổi mới phương pháp dạy học.

* Đối với học sinh

- Học sinh có cùng độ tuổi, tập trung ở gần trường thuận tiện cho việc đi học

- Chương trình đã phát huy được khả năng tư duy của học sinh, giúp các

em nắm chắc được cấu tạo ngữ âm của tiếng nên đều đọc được và đọc tốt

- Hình thức: Học mà chơi , chơi mà học từ đó các em cảm thấy tự tin, mạnh dạn hơn khi tham gia học tập

b Khó khăn:

* Đối với Giáo viên

- Một số giáo viên còn lẫn chương trình cũ với chương trình Tiếng Việt 1 – CNGD

- Một số đồng chí giáo viên còn lúng túng chưa sáng tạo trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học trong đó có dạy Tiếng Việt 1 - CNGD

- Một số giáo viên trẻ chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy

* Đối với học sinh

- Các em từ trường mầm non lên chưa bắt kịp được môi trường học tập mới còn rụt rè, chậm chạp Trong quá trình học còn mải chơi chưa chú ý học bài, học trước quên sau, nhanh chán

- Khối 1 có số lượng học sinh khá đông 79 em, một số em chưa nói thông thạo

- Một số em do hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn, gia đình chưa quan tâm đến việc học của các em, còn khoán trắng cho giáo viên và nhà trường

Qua quá trình theo dõi học tập của học sinh lớp tôi từ đầu năm học 2019

-2020, kết quả đạt được như sau:

Bảng 1a:

27

HS hoàn thành tốt HS hoàn thành HS chưa hoàn thành

Trang 7

Bảng 1b:

Kĩ năng

Mức

c Nguyên nhân:

- Giáo viên chưa được tiếp cận chương trình Tiếng Việt 1 - CNGD, thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy

- Do đổi mới chương trình mới nên giáo viên cũng gặp khó khăn trong việc

nghiên cứu nội dung bài dạy Nhiều năm dạy theo chương trình hiện hành nên quen với phương pháp đó nên khi dạy còn nhầm lẫn giữa chương trình hiện hành với chương trình công nghệ giáo dục Giáo viên mới còn nhiều lúng túng trong cách phát âm giữa mới và cũ, đôi khi còn hay nhầm lẫn Vẫn còn một số giáo viên nhầm lẫn việc phân tích tiếng và đánh vần tiếng

- Việc dạy học sinh đánh vần gặp nhiều khó khăn, bởi ở lớp cô dạy thế này nhưng về nhà bố mẹ dạy thế khác

- Thời lượng dạy học trên lớp không nhiều về nhà phụ huynh học sinh không biết kèm thêm để học sinh học bài ở nhà, học sinh chỉ học được ở trên lớp là chính

- Kiến thức bài dài và khó nên chưa có nhiều thời gian cho học sinh rèn kỹ năng luyện nói, luyện đọc

- Quy trình của bài dạy dài, thay đổi thường xuyên nên đôi khi GV chưa thuộc hết mà theo quy định phải dạy đúng theo sách thiết kế

- Các em từ trường mầm non lên chưa bắt kịp được môi trường học tập mới còn rụt rè, chậm chạp Trong quá trình học còn mải chơi chưa chú ý học bài, học trước quên sau, nhanh chán

- Trong quá trình viết các em chưa tự viết được bài, độ cao con chữ chưa chuẩn Chưa tự nghe viết được, chủ yếu là tập chép

Trang 8

- Có học sinh bố mẹ chưa quan tâm đến việc học của các em, còn khoán trắng cho giáo viên và nhà trường

2.2 Một số giải pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt 1 - CNGD:

2.2.1 Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh ngữ âm.

Để chiếm lĩnh được ngữ âm thì hướng dẫn cách phát âm là phương pháp quan trọng hàng đầu, đòi hỏi người giáo viên phải

có những hiểu biết, kinh nghiệm và cả kĩ năng hướng dẫn tốt Khi hướng dẫn học sinh phát âm, cần dùng lời nói mạch lạc, đơn giản

để học sinh dễ hiểu và có thể tự mình phát âm đúng Đối với những âm, vần, tiếng dễ nhầm lẫn, giáo viên cần phải so sánh, phân tích cụ thể cách phát âm (môi – răng – lưỡi, đường dẫn hơi, điểm thoát hơi…)

VD: Khi học sinh sai lẫn âm l / n giáo viên cần hướng dẫn:

+ Âm l: lưỡi uốn cong, bật đầu lưỡi cho hơi thoát ra mạnh, dứt khoát

+ Âm n: Lưỡi ép sát lợi trên, cho hơi thoát ra đường mũi, sau đó mở miệng cho hơi thoát ra trên mặt lưỡi, luồng hơi có thể kéo dài Với những học sinh vẫn chưa phát

âm được, giáo viên có thể yêu cầu các em dùng hai ngón tay, bóp mũi lại để đọc

âm l (đối với âm n, khi bóp mũi lại sẽ không thể đọc được)

VD: HS sai lẫn ở những âm đầu vần và cuối vần “ac” đọc thành “at”:, giáo viên cần hướng dẫn:

+ ac: mở miệng rộng, hơi thoát ra gần trong chân lưỡi

+ at: môi mở hơi rộng, đưa lưỡi chạm vào lợi trên, hơi ra trên mặt lưỡi

VD: HS sai lẫn dấu thanh (gặp ở những học sinh có hệ thống bộ máy phát

âm chưa hoàn chỉnh) giáo viên cần hướng dẫn:

- Những tiếng có thanh hỏi / thanh nặng: đi ngủ - đi ngụ, cử tạ - cự tạ, củ sả - cụ sạ…)

+ Tiếng có thanh hỏi: giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh phát âm trầm, hơi luyến giọng, lên cao, kéo dài hơi Có thể kèm theo động tác ngửa cổ hướng mắt lên trên

Trang 9

+ Tiếng có thanh nặng: phát âm thấp giọng và nặng, dứt khoát (không kéo dài) Khi phát âm có thể làm động tác gật đầu

- Những tiếng có thanh sắc - thanh ngã (em bé ngã - em bé ngá, lọ mỡ - lọ mớ, ghế

gỗ - ghế gố…)

+ Những tiếng có thanh ngã đọc nhấn mạnh, hơi kéo dài, luyến giọng, lên cao giọng

+ Những tiếng có thanh sắc: Đọc nhẹ nhàng hơn tiếng có thanh ngã, hơi ngăn, đọc nhanh, không kéo dài Bằng cách hướng dẫn (như một vài ví dụ nêu trên) học sinh

có thể dễ dàng phát âm và đạt hiệu quả cao

Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, các em luôn coi thầy, cô giáo của mình là thần tượng, là chuẩn mực Đặc điểm tâm lí của học sinh ở lứa tuổi này là hay bắt chước, hay làm theo Các em thích mình giống như thầy cô và người lớn Các em thường

“bắt chước” cô từ cách ăn mặc, đi đứng, cho đến lời nói, cử chỉ, chữ viết… Học sinh lớp 1 hằng ngày đến lớp chủ yếu được nghe giọng của giáo viên Vì vậy giáo viên cố gắng cho học sinh nghe đúng, nghe hay thì việc học sinh đọc sai, viết sai từng bước được khắc phục Muốn học sinh phát âm tốt thì giáo viên phải phát âm chuẩn xác

Tuy vậy, nếu sử dụng phương pháp làm mẫu không khéo léo, sẽ dẫn đến tình trạng “lạm dụng”, tiết học sẽ trở nên nhàm chán và không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh Vì thế, giáo viên chỉ nên sử dụng phương pháp này khi thấy thật cần thiết, đó là khi các em học sinh dù qua hướng dẫn, không thể

tự mình phát âm đúng Khi vận dụng phương pháp đọc mẫu cho học sinh, giáo viên cần rèn luyện cho các em biết kết hợp cả kĩ năng nghe và nhìn( nghe tiếng phát âm và quan sát môi, miệng, lưỡi của cô) Như thế học sinh sẽ phát âm đúng và

dễ dàng hơn Người giáo viên khi đọc mẫu, không đơn giản chỉ là phát ra âm tiết

mà cần biết phối hợp với thuật “hình môi” nhằm hướng dẫn các em phát âm chuẩn xác hơn Học sinh nếu chỉ nghe mà không nhìn miệng cô đọc thì việc phát âm sẽ không đạt hiệu quả cao, vì trong môn Tiếng Việt 1- CNGD việc quan sát môi cô khi phát âm âm mới là rất quan trọng

Trang 10

Hoạt động dạy - học luôn luôn được thực hiện trong mối quan hệ tương tác: giáo viên với học sinh, học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh Một tiết học diễn ra nếu thiếu sự tương tác giữa học sinh với học sinh thì tiết học sẽ trở nên đơn điệu, không phát huy được tích cực, chủ động của học sinh, đồng thời bầu không khí lớp học sẽ thiếu sự nhẹ nhàng, tự nhiên; người giáo viên cũng không thể hiện

rõ được vai trò là người chỉ dẫn để giúp các em tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thức mà trong môn Tiếng Việt 1 – CNGD thì phương châm là “ thầy thiết kế - trò thi công” Trong quá trình rèn kĩ năng phát âm cho học sinh, giáo viên luôn đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ tương tác giữa học sinh với học sinh Giáo viên cần chú trọng việc rèn cho các em có kĩ năng nghe - nhận xét - sửa sai giúp bạn và tự sửa sai cho mình Các em sử dụng các kĩ năng ấy thường xuyên trong các tiết học trở thành một thói quen, tạo nề nếp học tập tốt Qua quá trình nghe để nhận xét, sửa sai giúp bạn, sẽ giúp học sinh tự điều chỉnh, sửa sai cho mình Đồng thời còn rèn luyện cho các em tác phong mạnh dạn, tự tin trong góp ý, trao đổi, trình bày ý kiến, góp phần hình thành nhân cách Thực hiện thường xuyên như thế sẽ tạo được bầu không khí học tập nhẹ nhàng, thân thiện, đảm bảo được mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực

Đồng thời, rèn cho học sinh có tính kiên trì là nhiệm vụ quan trọng Bản thân người giáo viên cũng phải rất kiên trì để hình thành tính cách ấy cho học sinh Khi có được lòng kiên trì, học sinh sẽ vượt qua những khó khăn để đạt tới cái đích cao nhất Trong dạy phát âm cho học sinh, khi các em phát âm chưa đúng, phải điều chỉnh nhiều lần mà vẫn chưa đạt yêu cầu, các em sẽ dễ chán nản, không muốn luyện tập Khi ấy, giáo viên cần kiên trì hướng dẫn, làm mẫu, yêu cầu học sinh phát âm nhiều lần, thường xuyên động viên khích lệ học sinh bằng những lời khen

“Em đã đọc tốt hơn rồi, em cố gắng thêm tí nữa nhé”, “em đã đọc được rồi đấy, em

cố gắng lên nhé”… được động viên như vậy, học sinh sẽ không nản lòng vì nghĩ rằng mình sẽ làm được, sắp làm được, bạn làm được thì mình cũng sẽ làm được…

từ đó học sinh sẽ quyết tâm hơn Trong số những học sinh phát âm sai, có một phần nhỏ học sinh do lười biếng, không muốn rèn luyện mình nên chỉ phát âm một cách nhanh chóng, đại khái cho xong, dần dần thành quen nên phát âm không

Trang 11

chuẩn xác Với những đối tượng này, giáo viên phải thật nghiêm khắc, khen - chê đúng mực để các em thấy rằng mình có khả năng học tập rất tốt, mình cần phải thể hiện hết khả năng của mình

Để giúp học sinh phát âm chuẩn, giáo viên không chỉ hướng dẫn, sửa sai cho các em trong giờ học môn Tiếng Việt mà cần luôn theo dõi, uốn nắn cho các em cả trong các tiết học khác, trong giờ chơi, trong hoạt động tập thể… Bởi vì những lúc vui chơi là lúc các em sử dụng lời nói một cách tự nhiên nhất Người giáo viên cần chú ý quan sát để phát hiện những lỗi phát âm của các em và kịp thời sửa chữa, đồng thời tạo cho học sinh thói quen phát âm chuẩn dù ở bất cứ nơi đâu

Bên cạnh đó giáo viên có thể cùng bàn bạc và thảo luận với phụ huynh nêu

ra cách đọc một số chữ khó để phụ huynh nắm bắt được, từ đó tạo điều kiện rèn luyện phát âm cho các em khi ở nhà Với một số em cá biệt về phát âm, giáo viên

có thể gặp trực tiếp phụ huynh trao đổi và động viên họ nên chọn mua những quyển truyện tranh trong đó có lời đối thoại nhiều phụ âm mà học sinh hay nhầm lẫn và dành thời gian đọc, kể cho các em nghe, dạy em kể lại chuyện Ngoài ra cần nhắc nhở phụ huynh thường xuyên chú ý tới lời nói, cách phát âm của mọi người trong gia đình, giải thích cho phụ huynh hiểu chính lời nói của người thân trong gia đình là môi trường giáo dục cho các em khi ở nhà Như vậy việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường đều tạo môi trường phát âm chuẩn mực giúp các em ngấm dần một cách tự nhiên khi đọc phát âm đúng Một số trường hợp, học sinh phát âm sai không phải do hệ thống phát âm của các em chưa hoàn chỉnh, cũng không phải do các em chưa hiểu cách phát âm mà là do thói quen sử dụng từ ngữ địa phương (rượu - riệu) Đối với những trường hợp này, trong mỗi bài dạy, khi có từ ngữ hoặc chủ đề liên quan, giáo viên cần quan tâm tới các em thường nói sai, giải thích cho các em hiểu đúng nghĩa của từ cũng như cách dùng từ đúng, từ đó giúp các em tránh phát âm sai theo cách nói của địa phương Ngoài ra, người giáo viên hoàn toàn có thể thông qua họp phụ huynh học sinh, qua phiếu phối hợp giáo dục giữa giáo viên và gia đình để hướng cho phụ huynh học sinh có cách dùng từ đúng để sửa đổi

2.2.2 Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh viết âm, vần, tiếng, từ:

Ngày đăng: 22/06/2020, 19:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w