1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 giải toán về chuyển động đều

26 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 606,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa các bàiToán về chuyển động đều là một dạng toán hay, tổng hợp và phức tạp trong quá trìnhhọc của học sinh.. Dạy - học về “ chuyển đổi đơn vị đo thời gian” và “ giải toán vềchuyển

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Sáng kiến

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 5 GIẢI TOÁN VỀ

Trang 2

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chương trình môn toán lớp 5 là một bộ phận của chương trình môn học ở bậc tiểu

học Chương trình tiếp tục thực hiện những yêu cầu đổi mới về giáo dục toán học “giai

đoạn học tập sâu” (so với giai đoạn trước), góp phần đổi mới giáo dục phổ thông, nhằm

đáp ứng những yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiệnđại hoá

Một trong năm nội dung chương trình cơ bản của toán 5 thì nội dung về Giải toán có lời văn chiếm một thời lượng lớn Trong đó, mảng kiến thức giải toán về chuyển động đều là một dạng toán khó, trừu tượng, đa dạng Thế nhưng thời lượng dành cho phần

này lại quá ít, chỉ 9 tiết vừa hình thành kiến thức mới vừa luyện tập Hơn nữa các bàiToán về chuyển động đều là một dạng toán hay, tổng hợp và phức tạp trong quá trìnhhọc của học sinh Dạy - học về “ chuyển đổi đơn vị đo thời gian” và “ giải toán vềchuyển động đều” không chỉ củng cố các kiến thức toán học có liên quan mà còn giúphọc sinh gắn học với hành, gắn nhà trường với thực tế cuộc sống lao động và sản xuấtcủa xã hội như: Tính vận tốc, quãng đường, thời gian, v v…Đồng thời rèn nhữngphẩm chất không thể thiếu của người lao động đối với học sinh Tiểu học

Nhưng tình trạng học sinh vận dụng sai quy tắc tìm quãng đường khi bài cho thời giankhởi hành và thời gian về đích trong cách làm học sinh chưa biết tính thời gian thực đi.Các em còn nhầm lẫn trong việc lựa chọn phương pháp giải của hai dạng toán chuyển

động : Hai động tử chuyển động ngược chiều và hai động tử chuyển động cùng chiều trên đường bộ cũng như chuyển động trên sông Các kĩ năng phân tích, thiết

lập mối quan hệ giữa các dữ kiện có trong bài toán chuyển động đều còn hạn chế Quathực tế giảng dạy toán lớp 5, khi dạy học yếu tố giải toán về chuyển động đều, tôi nhậnthấy những hạn chế của học sinh thường gặp là:

- HS chưa kịp làm quen một số thao tác tư duy như : so sánh, phân tích, suy luận …Khả năng khái quát thấp, nếu có thì chỉ có thể dựa vào dấu hiệu bên ngoài Đối với bàitoán chuyển động đều, nó đòi hỏi ở học sinh sự linh hoạt và khả năng suy luận, diễndịch tốt Loại toán này không giải bằng công thức đã có sẵn mà các em còn phải biếtphân tích, suy luận, diễn giải từ những dữ kiện của bài toán, để từ đó vận dụng nhữngkiến thức đã có sẵn, tháo gỡ mâu thuẩn và các tình huống đặt ra trong bài toán

- HS chưa nhận được dạng bài tập, thuộc dạng nào mình đã học Vì không nắm vững

ý nghĩa của chuyển động đều, không phân tích rõ được bản chất bài toán, chưa nắm rõmối quan hệ giữa năm dạng toán cơ bản về chuyển động đều nên hiểu một cách mơ hồ

Về phía giáo viên, nhìn chung mọi giáo viên đều quan tâm về nội dung này, có đầu tư,nghiên cứu cho mỗi tiết dạy Tuy nhiên, đôi khi còn lệ thuộc vào sách giáo khoa nên rập

Trang 3

khuôn, chưa khắc sâu được bài học, nên học sinh xác định còn lẫn lộn giữa các dạngtoán Qua đó đã góp phần làm giảm chất lượng dạy – học môn Toán trong nhà trường.Trong nhiều năm qua ở các bài kiểm tra định kỳ khi gặp những bài toán về chuyển độngđều các em làm bài còn sai nhiều

Từ việc xác định vị trí, vai trò của nội dung toán về chuyển động đều cũng nhưnhững băn khoăn về cách dạy và học kiến thức này Bản thân tôi là một giáo viên nhiềunăm dạy lớp 5, tôi nghĩ cần phải có một giải pháp cụ thể giúp học sinh nắm – hiểu vàgiải được các bài toán về chuyển động đều một cách chắc chắn hơn Tôi chọn nội dung:

“Một số giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 giải toán về chuyển động đều” để

nghiên cứu, thực nghiệm, nhằm góp phần tìm ra biện pháp khắc phục khó khăn cho bảnthân, cho đồng nghiệp cũng như giúp các em học sinh lớp 5 nắm chắc kiến thức khi học

đến nội dung này

2 Điểm mới của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp giúp cho học sinh hiểu, nắm được mốitương quan, điểm khác biệt của 5 dạng toán về chuyển động đều Từ đó vận dụng giảiđược các dạng toán về chuyển đều ở lớp 5

II PHẦN NỘI DUNG

1 Thực trạng của vấn đề cần nghiên cứu

Qua nhiều năm công tác, bản thân tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm vàgiảng dạy toán lớp 5, khi dạy học yếu tố giải toán về chuyển động đều, tôi nhận thấynhững thuận lợi và khó khăn thường gặp như sau:

1.1 Thuận lợi:

Giáo viên nhiệt tình giảng dạy, có ý thức tinh thần trách nhiệm cao, thường xuyênchăm lo học hỏi đồng chí đồng nghiệp, qua sách báo tài liệu, đặc biệt nhanh nhạy trongviệc tiếp cận với xu thế của việc dạy học mới hiện nay

Được chi bộ, ban giám hiệu nhà trường, lãnh đạo địa phương, phụ huynh học sinh quan tâm giúp đỡ khích lệ

Học sinh xác định được động cơ và thái độ học tập đúng đắn Các em chăm chỉ họctập, thích tìm hiểu và khám phá, thích được thầy cô giáo khen

Cơ sở vật chất của nhà trường đảm bảo, đáp ứng đầy đủ các phương tiện phục vụ dạyhọc

1.2 Khó khăn:

* Về giáo viên: Việc chuẩn bị lên lớp chưa thật chu đáo, đồ dùng dạy học chưa chuẩn

bị đôi lúc còn dạy chay, chưa hoạch định kế hoạch lên lớp nhất là hoạt động của thầy,

Trang 4

của trò Giáo viên còn nói nhiều, làm thay, giao việc cho học sinh chưa cụ thể Việckiểm soát học sinh trong quá trình làm bài thiếu chặt chẽ.

* Về học sinh: Một số học sinh sức học còn non, nên khó khăn trong việc tiếp thu kiếnthức cũng như vận dụng làm bài, các em chưa chịu học tập, việc học tập còn lơ là nhất làviệc vận dụng làm bài tập các em còn làm chiếu lệ qua loa để đối phó.Vận dụng quy tắccông thức còn lẫn lộn, việc tóm tắt đề toán, cũng như cách trình bày chưa lôgic, các emcòn lúng túng trong việc phân tích tổng hợp đặt lời giải cho từng phép tính Các em chỉbiết tính chứ chưa biết chuyển hình thức câu hỏi sang câu trả lời mang tính khẳng định,chỉ biết giải chứ chưa biết thử lại kết quả Hay tự bằng lòng với kết quả làm được, chưachịu khó tìm cách giải hay và gọn hơn

1.3 Kết quả điều tra: Cụ thể tôi khảo sát chất lượng HS, như sau:

Trang 5

Tuy nhiên, học sinh lớp 5 đã biết phối hợp sử dụng tất cả các giác quan để ghi nhớmột cách tổng hợp Bước đầu có nhiều biện pháp ghi nhớ tốt hơn các tài liệu hoặc kiếnthức đã học Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng còn rất bỡ ngỡtrước một số thao tác tư duy như : so sánh, phân tích, suy luận … Khả năng khái quátthấp, nếu có thì chỉ có thể dựa vào dấu hiệu bên ngoài.

Đối với bài toán chuyển động đều, nó đòi hỏi ở học sinh sự linh hoạt và khả năngsuy luận, diễn dịch tốt Loại toán này không giải bằng công thức đã có sẵn mà các emcòn phải biết phân tích, suy luận, diễn giải từ những dữ kiện của bài toán, để từ đó vậndụng những kiến thức đã có sẵn, tháo gỡ mâu thuẩn và các tình huống đặt ra trong bàitoán

Nhiều em chưa xác định được dạng toán nhưng lại vận dụng một cách rập khuôn,máy móc các bài toán mẫu mà không hiểu được thực chất của vấn đề cần giải quyết nênkhi làm bài thì các em lại lúng túng

Bản thân tôi là một giáo viên nhiều năm dạy lớp 5, tôi nghĩ cần phải có một biện pháp

cụ thể giúp học sinh nắm – hiểu và giải được các bài toán chuyển động đều một cáchchắc chắn hơn

2 Một số biện pháp hướng dẫn học sinh giải toán về chuy ở lớp 5

Để cho học sinh hiểu và giải được các dạng toán về chuyển động đều, giáo viên cầncho học sinh hiểu “mối quan hệ giữa quãng đường, vận tốc, thời gian” và “thế nào làchuyển động có 2 đến 3 động tử tham gia , chuyển động có chiều dài đáng kể ?; haiđộng tử chuyển động cùng chiều và hai động tử chuyển động ngược chiều” khác nhaunhư thế nào? Hơn nữa việc vận dụng các kiến thức cơ bản vào thực hành còn gặp nhiềuhạn chế, các em hay bắt chước các bài thầy giáo hướng dẫn mẫu để thực hiện yêu cầucủa bài toán, cho nên dẫn đến nhiều sai lầm cơ bản Để giải quyết tình trạng học sinhcòn sai những lỗi này trước hết giáo viên phải củng cố và khắc sâu các dạng toán cơ bản

và các công thức cần nắm để vận dụng

Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh phân biệt 5 dạng toán cơ bản của chuyển động đều.

PHẦN 1: NHỮNG KIẾN THỨC CẦN NHỚ

I. Các đại lượng trong toán chuyển động

- Quãng đường: kí hiệu là s - Thời gian: kí hiệu là t - Vận tốc: kí hiệu là

Trang 6

1.- Nếu quãng đường là km, thời gian là giờ thì vận tốc là km/giờ.

- Nếu quãng đường là m, thời gian là phút thì vận tốc là m/phút

2.Với cùng một vận tốc thì quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian

3.Trong cùng một thời gian thì quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc

4.Trên cùng một quãng đường thì vận tốc và thời gian là hai đại lượng tỉ lệ nghịch

PHẦN 2 : CÁC DẠNG TOÁN CƠ BẢN VÀ KIẾN THỨC CẦN

NHỚ

Dạng 1 : Các bài toán có một chuyển động tham gia.

I. Kiến thức cần nhớ:

-Thời gian đi = quãng đường : vận tốc (t = s : v)

= giờ đến – giờ khởi hành – giờ nghỉ (nếu có)

-Giờ khởi hành = giờ đến nơi – thời gian đi – giờ nghỉ (nếu có)

-Giờ đến nơi = giờ khởi hành + thời gian đi + thời gian nghỉ (nếu

có)

-Vận tốc = quãng đường : thời gian (v = s : t)

-Quãng đường = vận tốc  thời gian (s = v  t)

II. Các loại bài:

Loại 1: Tính quãng đường khi biết vân tốc và phải giải bài toán phụ để tìm thời gian Loại 2: Tính quãng đường khi biết thời gian và phải giải bài toán phụ để tìm vận tốc Loại 3: Vật chuyển động trên một quãng đường nhưng vận tốc thay đổi giữa đoạn lên

dốc, xuống dốc và đường bằng

Loại 4: Tính vận tốc trung bình trên cả đoạn đường cả đi lẫn về.

Dạng 2: Các bài toán có 2 hoặc 3 chuyển động cùng chiều.

t = v2  t0 : (v1 – v2)(Với v2  t0 là quãng đường vật thứ hai xuất phát trước vật thứ nhất trong thời gian t0.)

II. Các loại bài:

1 Hai vật cùng xuất phát một lúc nhưng ở cách nhau một quãng đường s

2 Hai vật cùng xuất phát ở một địa điểm nhưng một vật xuất phát trước một thời gian

Trang 7

t0 nào đó.

3 Dạng toán có ba chuyển động cùng chiều tham gia

Dạng 3 : Các bài toán có 2 chuyển động ngược chiều

I Kiến thức cần ghi nhớ:

- Vận tốc vật thứ nhất kí hiệu là v1

- Vân tốc vật thứ hai kí hiệu là v2

- Quãng đường hai vật cách nhau trong cùng thời điểm xuất phá là s

- Thời gian để hai vật gặp nhau là t, thì : t = s : (v1 + v2)

Chú ý: s là quãng đường hai vật cách nhau trong cùng thời điểm xuất phát Nếu vật nào xuất phát trước thì phải trừ quãng đường xuất phát trước đó

II Các loại bài:

- Loại 1: Hai vật chuyển động ngược chiều nhau trên cùng một đoạn đường và gặp

nhau một lần

- Loại 2: Hai vật chuyển động ngược chiều nhau và gặp nhau hai lần.

- Loại 3: Hai vật chuyển động ngược chiều và gặp nhau 3 lần trên

một đường tròn

Dạng 4 : Vật chuyển động trên dòng nước

I. Kiến thứ cần ghi nhớ:

-Nếu vật chuyển động ngược dòng thì có lực cản của dòng nước

-Nếu vật chuyển động xuôi dòng thì có thêm vận tốc dòng nước

Dạng 5 : Vật chuyển động có chiều dài đáng kể

Các loại bài và kiến thức cần ghi nhớ:

- Loại 1: Đoàn tàu chạy qua cột điện: Cột điện coi như là một điểm, đoàn tàu vượt

qua hết cột điện có nghĩa là từ lúc đầu tàu đến cột điện cho đến khi toa cuối cùng qua khỏi cột điện

+ Kí hiệu l là chiều dài của tàu; t là thời gian tàu chạy qua cột điện; v là vận tốc tàu

Ta có: t = l : v

- Loại 2: Đoàn tàu chạy qua một cái cầu có chiều dài d: Thời gian tàu chạy qua hết

cầu có nghĩa là từ lúc đầu tàu bắt đầu đến cầu cho đến lúc toa cuối cùng của tàu ra

khỏi cầu hay Quãng đường = chiều dài tàu + chiều dài cầu

t = (l + d) : v

Trang 8

- Loại 3: Đoàn tàu chạy qua một ô tô đang chạy ngược chiều (chiều dài ô tô không

đáng kể)

Trường hợp này xem như bài toán chuyển động ngược chiều nhau xuất phát từ hai

vị trí: A (đuôi tàu) và B (ô tô) Trong đó: Quãng đường cách nhau của hai vật =

quãng đường hai vật cách nhau + chiều dài của đoàn tàu

Thời gian để tàu vượt qua ô tô là: t = (l + d) : (Vôtô + Vtàu)

- Loại 4: Đoàn tàu vượt qua một ô tô đang chạy cùng chiều: Trường hợp này xem

như bài toán về chuyển động cùng chiều xuất phát từ hai vị trí là đuôi tàu và ô tô

t = (l + d) : (Vtàu – Vôtô)

- Loại 5: Phối hợp các loại trên

Biện pháp 2: Hướng dẫn giải các dạng toán về chuyển động đều cụ thể

Dạng 1- Loại 1: Một ô tô dự kiến đi từ A đến B với vận tốc 45km/giờ thì đến B

lúc 12 giờ trưa Nhưng do trời trở gió mỗi giờ xe chỉ đi được 35km/giờ và đến B

chậm 40 phút so với dự kiến Tính quãng đường từ A đến B

Thời gian thực đi:

Thời gian đi hết quãng đường AB là:

40 : ( 9 - 7)  9 = 180 (phút)

180 phút = 3 giờQuãng đường AB dài là: 3  35 = 105 (km)

Đáp số: 105 km

Dạng 1- Loại 2: Một người đi xe máy từ A đến B mất 3 giờ Lúc trở về do ngược gió

mỗi giờ người ấy đi chậm hơn 10km so với lúc đi nên thời gian lúc về lâu hơn 1 giờ Tính quãng đường AB?

Gi ả i:

Trang 9

Thời gian lúc người âý đi về hết: 3 + 1 = 4 (giờ).

Trên cùng quãng, đường thời gian và vân tốc là hai đại lượng tỉ lệ nghịch với nhau Tỉ

số thời gian giữa lúc đi và lúc về là: 3 : 4 = 43 Vậy tỉ số vận tốc giữa lúc đi và lúc về là: 34

Ta coi vận tốc lúc đi là 4 phần thì vân tốc lúc về là 3 phần Ta có sơ đồ:

Vận tốc lúc đi:

Vận tốc lúc về:

Vận tốc lúc đi là: 10 : ( 4 – 3)  4 = 40 (km/giờ) Quãng đường AB là: 40  3 = 120 (km)

Đáp số: 120 km

Dạng 1- Loại 3: Một người đi bộ từ A đến B, rồi lại trở về A mất 4giờ 40 phút.

Đường từ A đến B lúc đầu là xuống dốc tiếp đó là đường bằng rồi lại lên dốc Khixuống dốc người đó đi với vận tốc 5km/giờ, trên đường bằng với vận tốc 4km/giờ vàkhi lên dốc với vận tốc 3km/giờ Hỏi quãng đường bằng dài bao nhiên biết quãngđường AB dài 9km

Giải:

Ta biểu thị bằng sơ đồ sau:

Đổi 1giờ = 60 phút

Cứ đi 1km đường xuống dốc hết: 60 : 5 = 12 (phút)

Cứ đi 1km đường lên dốc hết: 60 : 3 = 20 (phút)

Cứ đi 1km đường bằng hết: 60 : 4 = 15 (phút)

Cứ 1km đường dốc cả đi lẫn về hết: 12 + 20 = 32 (phút)

Cứ 1km đường bằng cả đi lẫn về hết: 15  2 = 30 (phút)

Nếu 9 km đều là đường dốc thì hết: 9  32 = 288 (phút)

Thời gian thực đi là: 4giờ 40phút = 280 phút

Thời gian chênh lệch nhau là: 288 – 280 = 8 (phút)

Trang 10

Thời gian đi 1km đường dốc hơn đường bằng: 32 - 30 = 2 (phút)

Đoạn đường bằng dài là: 8 : 2 = 4 ( km)

Đáp số: 4km

* Dạng 1- Loại 4: Một người đi bộ từ A đến B rồi lại quay trở về A Lúc đi với vận tốc

6km/giờ nhưng lúc về đi ngược gió nên chỉ đi với vận tốc 4km/giờ Hãy tính vận tốc trung bình cả đi lẫn về của người âý

Giải

Đổi 1 giờ = 60 phút 1km đường lúc đi hết: 60 : 6 = 10 (phút)

* Dạng 2- Loại 1: Lúc 12giờ trưa, một ô tô xuất phát từ điểm A với vận tốc 60 km/giờ

và dự định đến B lúc 3giờ 30 phút chiều Cùng lúc đó, từ điểm C trên đường từ Ađến B và cách A 40 km, một người đi xe máy với vận tốc 45 km/giờ về B Hỏi lúcmấy giờ ô tô đuổi kịp người đi xe máy và dịa điểm gặp nhau cách A bao nhiêu?

12 giờ + 2 giờ 40 phút = 14 giờ 40 phút

Địa điểm gặp nhau cách A là:

40 k m

Trang 11

60  232 = 160 (km)

Đáp số: 160 km

* Dạng 2- Loại 2: Nhân dịp nghỉ hè lớp 5A tổ chức đi cắm trại ở một địa điểm cách

trường 8 km Các bạn chia làm hai tốp Tốp thứ nhất đi bộ khởi hành từ 6giờ sáng với vận tốc 4km/giờ, tốp thứ hai đi xe đạp trở dụng cụ với vận tốc 10km/giờ Hỏi tốp xe đạp khởi hành lúc mấy giờ để tới nơi cùng một lúc với tốp đi bộ?

8 : 4 = 2 (giờ)Khi tốp đi xe đạp xuất phát thì tốp đi bộ đã đi được

2 – 0,8 = 1,2 (giờ)Thời gian tốp xe đạp phải xuất phát là:

6 + 1,2 = 7,2 (giờ)Hay 7 giờ 12 phút

Đáp số: 7 giờ 12 phút

* Dạng 2- Loại 3: Một người đi xe đạp với vận tốc 12 km/giờ và một ô tô đi với vận

tốc 28 km/giờ cùng khởi hành lúc 8 giờ từ địa điểm A tới B Sau đó nửa giờ một xemáy đi với vận tốc 24 km/giờ cũng xuất phát từ A để đi đến B Hỏi trên đường từ Ađến B vào lúc mấy giờ xe máy ở đúng điểm chính giữa xe đạp và ô tô

Lưu ý : Muốn tìm thời điểm 1 vật nào đó nằm giữa khoảng cách 2 xe ta thêm một vật

chuyển động với vận tốc bằng TBC của hai vật đã cho

Giải:

Ta có sơ đồ:

A C D E B

Trong sơ đồ trên thời điểm phải tìm xe đạp đi đến điểm C, xe máy đi đến điểm D và

ô tô đi đến điểm E (CD = DE)

Giả sử có một vật thứ tư là xe X nào đó cũng xuất phát từ A lúc 6 giờ và có vận

Trang 12

tốc = vận tốc trung bình của xe đạp và ô tô thì xe X luôn nằm ở điểm chính giữa

khoảng cách xe đạp và ô tô

Vậy khi xe máy đuổi kịp xe X có nghĩa là lúc đó xe máy nằm vào khoảng cách chính giữa xe đạp và ôtô

Vận tốc của xe X là: (12 + 28 ) : 2 = 20 (km/giờ)

Sau nửa giờ xe X đi trước xe máy là: 20  0,5 = 10 (km)

Để đuổi kịp xe X, xe máy phải đi trong thời gian là:

* Dạng 3 - Loại 1: Hai thành phố A và B cách nhau 186 km Lúc 6 giờ sáng một

người đi xe máy từ A với vận tốc 30 km/giờ về B Lúc 7 giờ một người khác đi xemáy từ B về A với vận tốc 35km/giờ Hỏi lúc mấy giờ thì hai người gặp nhau và chỗgặp nhau cách A bao xa?

Giải:

Thời gian người thứ nhất xuất phát trước người thứ hai là:

7 giờ – 6 giờ = 1 giờ

Khi người thứ hai xuất phát thì người thứ nhất đã đi được quãng đường là:

30  1 = 30 (km)Khi người thứ hai bắt đầu xuất phát thì khoảng cách giữa hai người là:

186 – 30 = 156 (km)Thời gian để hai ngườigặp nhau là:

156 : (30 + 35 ) = 252 (giờ) = 2 giờ 24 phút

Vậy hai người gặp nhau lúc:

7giờ + 2giờ 24 phút = 9 giờ 24 phútChỗ gặp nhau cách điểm A:

30 + 2 52  30 = 102 (km)

Đáp số: 102 km

Trang 13

* Dạng 3- Loại 2: Hai người đi xe đạp ngược chiều nhau cùng khởi hành một lúc.

Người thứ nhất đi từ A, người thứ hai đi từ B và đi nhanh hơn người thứ nhất Họgặp nhau cách A 6km và tiếp tục đi không nghỉ Sau khi gặp nhau người thứ nhất đitới B thì quay trở lại và người thứ hai đi tới A cũng quay trở lại Họ gặp nhau lần thứhai cách B 4km Tính quãng đường AB

4km nữa Vậy quãng đường AB dài là:

18 – 4 = 14 (km)

Đáp số: 14km

* Dạng 3- Loại 3: Hai anh em xuất phát cùng nhau ở vạch đích và chạy ngược chiều

nhau trên một đường đua vòng tròn quanh sân vận động Anh chạy nhanh hơn và khichạy được 900m thì gặp em lần thứ nhất Họ tiếp tục chạy như vậy và gặp nhau lầnthứ 2, lần thứ 3 Đúng lần gặp nhau lần thứ 3 thì họ dừng lại ở đúng vạch xuất phátban đầu Tìm vận tốc mỗi người, biết người em đã chạy tất cả mất 9 phút

Giải:

Sau mỗi lần gặp nhau thì cả hai người đã chạy được một quãng đường đúng bằng một vòng đua Vậy 3 lần gặp nhau thì cả hai người chạy được 3 vòng đua Mà hai ngườixuất phát cùng một lúc tại cùng một điểm rồi lại dừng lại tại đúng điểm xuất phát nên mỗi người chạy được một số nguyên vòng đua

Mà 3 = 1 + 2 và anh chạy nhanh hơn em nên anh chạy được 2 vòng đua và em chạy được 2 vòng đua Vậy sau 3 lần gặp nhau anh chạy được quãng đường là:

900  3 = 2700 (m)

A

C

B

Ngày đăng: 22/06/2020, 19:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w