1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số biện pháp quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường mầm non

21 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 157,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: “Một số biện pháp quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường mầm non” Chất lượng dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm liên q

Trang 1

Đề tài: “Một số biện pháp quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo

dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường mầm non”

Chất lượng dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan đến cả quátrình từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng nên công tác này đòi hỏi tính liên ngànhcao và là nhiệm vụ của toàn dân Cùng với lương thực, thực phẩm là nguồn dinhdưỡng thiết yếu nuôi sống cơ thể Vệ sinh an toàn thực phẩm đóng một vai tròquan trọng trong chiến lược bảo vệ sức khỏe con người Sử dụng thực phẩm không

an toàn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống người tiêu dùng,

và xa hơn là ảnh hưởng đến sự phát triển của giống nòi, hạn chế sự phát triển kinh

tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hơn 1/3 dân số các nướcphát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm Các vụ ngộđộc thực phẩm có xu hướng ngày càng tăng Tại các nước đang phát triển, tìnhtrạng lại càng trầm trọng hơn nhiều, hơn 2,2 triệu người tử vong hàng năm do bịnhiểm độc thực phẩm (tiêu chảy), trong đó phần lớn là trẻ em Theo ước tính của

Trang 2

WHO, ở một số nước đang phát triển, tỷ lệ tử vong do ngộ độc thực phẩm chiếm1/3 đến ½ tổng số trường hợp tử vong.

Thống kê của Bộ Y tế cũng chỉ ra rằng, mỗi năm Việt Nam có khoảng150.000 ca mới mắc và trên 75.000 trường hợp tử vong do ung thư, trong đó cónguyên nhân từ việc sử dụng thực phẩm “bẩn” (thực phẩm có sử dụng chất kíchthích, chất tăng trọng, thuốc bảo vệ thực vật quá dư lượng) Thêm vào đó, gần đây,một số vấn đề liên quan đến quản lý VSATTP, sự khác biệt giữa các kết quả phântích kiểm tra chất lượng sản phẩm gây không ít khó khăn cho người sản xuất, tạo

ra sự lo lắng cho người tiêu dùng

Theo báo cáo tổng kết chương trình mục têu quốc gia về vệ sinh an toànthực phẩm năm 2016 toàn quốc đã xảy ra 142 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.600người mắc, 3653 người nhập viện và có 26 trường hợp tử vong Ngộ độc thựcphẩm xảy ra tập trung tại gia đình là 54,1% (78 vụ), bếp ăn tập thể là 19.6 % (27vụ) Nguyên nhân do độc tố tự nhiên chiếm 38 vụ (27,0% số vụ), 15 vụ ngộ độcthực phẩm do hóa chất (10,8% số vụ), 42 vụ do vi sinh vật (27,7% số vụ) và 49 vụ(34,5% số vụ) chưa xác định rõ căn nguyên nhân bằng chẩn đoán lâm sàng và xétnghiệm Ngộ độc thực phẩm xảy ra tại 43/63 tỉnh/ thành (68,2%)

Từ năm 2011 đến 31/12/2016, trên toàn tỉnh xảy ra 20 vụ ngộ độc thựcphẩm làm 585 người mắc, 01 trường hợp tử vong (năm 2011) Trong đó 16 vụ cónguyên nhân ngộ độc thực phẩm do vi sinh vật, bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm(chiếm tỷ lệ 80%), 04 vụ có nguyên nhân do độc tố tự nhiên, hóa chất (chiếm tỷ lệ20%) Trong đó có 01 người tử vong do chế biến và bảo quản thực phẩm khôngđúng quy định Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh có nhiềuchuyển biến song quy trình chế biến thủ công không đảm bảo, việc sử dụng phụ

Trang 3

gia, phẩm màu và các chất bảo quản ngoài danh mục Bộ y tế cho phép trong quátrình chế biến, bảo quản thực phẩm ngày càng tăng Từ những số liệu trên chothấy, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm là hết sức cấp thiết đối với toàn dân nóichung và trẻ em nói riêng.

Để khắc phục tình trạng đó Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa nội dung giáodục dinh dưỡng sức khỏe vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ ở trong trườngmầm non Việc đưa các nội dung giáo dục dinh dưỡng sức khỏe vào giảng dạy chotrẻ là một việc rất cần thiết, như vậy sẽ tạo ra sự liên thông về giáo dục dinh dưỡngliên tục từ tuổi mầm non đến tuổi học đường Mặt khác ở lứa tuổi mầm non trẻ rất

dễ nhạy cảm và mau chóng tiếp thu những điều được dạy bảo Tiến hành giáo dụcdinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ mầm non góp phần quan trọngtrong chiến lược con người, tạo ra một lớp người mới có sự hiểu biết đầy đủ vềvấn đề dinh dưỡng, sức khỏe, biết lựa chọn một cách thông minh và tự giác cáccách ăn uống để đảm bảo cho sức khỏe của mình Công tác này cũng cần đượctriển khai rộng tới các bậc phụ huynh và các ban ngành có liên quan; tuyên truyềncho họ các nội dung về giáo dục dinh dưỡng sức khỏe Qua đó họ sẽ tự nguyệnphối kết hợp cùng nhà trường trong việc chăm sóc và nuôi dạy trẻ

Trường mầm non là nơi tập trung đông trẻ, bản thân trẻ còn yếu ớt sức đềkháng chưa cao, chưa chủ động ý thức được đầy đủ về dinh dưỡng và vệ sinh antoàn thực phẩm Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, đề phòng ngộđộc thực phẩm là một vấn đề có ý nghĩa thực tế và vô cùng quan trọng trongtrường mầm non

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Muốn có được những chủ nhân tương

lai của đất nước khoẻ mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng ngay từ khi còn nhỏ đặc

Trang 4

biệt là trẻ em trong độ tuổi mầm non thì bữa ăn của trẻ tại trường mầm non phảiđược xây dựng theo khẩu phần thực đơn, các món ăn thường xuyên được thay đổi

để trẻ ăn ngon miệng, tăng sự tiêu hoá, hấp thu giúp trẻ phát triển tốt giảm tỷ lệ trẻ

em bị suy dinh dưỡng

Từ những quan điểm trên và qua thực tế tìm hiểu thực trạng chất lượng giáodục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trường mầm non đối với đơn vị tôi

là một đơn vị thuộc vùng khó tôi nhận thấy trình độ chuyên môn nghiệp vụ củagiáo viên dinh dưỡng còn nhiều hạn chế trong công tác chế biến món ăn, chọn muathực phẩm, thực hiện công tác vệ sinh trong khi chế biến, việc bảo quản thựcphẩm, vệ sinh dụng cụ sử dụng ăn uống trong bếp ăn bán trú nhà trường bên cạnh

đó tỷ lệ suy dinh dưỡng còn cao Nên tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp quản

lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường mầm non”nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và giúp

trẻ phát triển một cách toàn diện

* Điểm mới của đề tài:

Đề tài sáng kiến của tôi đi sâu vào việc nghiên cứu vấn đề nâng cao chấtlượng giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non,không để xảy ra ngộ độc thực phẩm và các bệnh lây truyền qua thực phẩm Bảo vệ

và nâng cao sức khỏe thông qua việc “Giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực

phẩm” cho đội ngủ và học sinh tại trường mầm non, nhằm tìm ra giải pháp tốt nhất

để làm tốt công tác giáo dục vệ sinh dinh dưỡng, an toàn thực phẩm Hạn chế tuyệtđối tình trạng ngộ độc thực phẩm trong trường mầm non Nâng cao nhận thức vềgiáo dục dinh dưỡng an toàn thực phẩm trong cộng đồng

Trang 5

Đề xuất một số kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vệsinh dinh dưỡng an toàn thực phẩm ở các trường mầm non.

1.2 PHẠM VI ÁP DỤNG :

Đề tài “Một số biện pháp quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo

dục dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non” với mục đích

nhằm nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm tốt

nhất trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non; Đề tài đã được áp dụng tạitrường tôi và có tính khả thi cao Vì thế, đề tài này được áp dụng cho tất cả cáctrường mầm non đơn vị bạn

2 PHẦN NỘI DUNG

2.1.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:

Năm học 2017-2018 toàn trường có 10 lớp/169 trẻ Trong đó: Nhà trẻ: 3

nhóm/44 trẻ; Mẫu giáo: 7 lớp/125 trẻ Có 10 phòng học bán kiên cố, 2 phòngchức năng khác Có 100% công trình vệ sinh đảm bảo tiêu chuẩn Có 3 bếp ănđảm bảo nguyên tắc bếp một chiều đảm bảo đúng tiêu chuẩn, có đủ đồ dùng trang

thiết bị phục vụ cho việc nấu ăn, chế biến thực phẩm cho trẻ Với 24 cán bộ, giáo

viên, nhân viên (Ban giám hiệu: 03, giáo viên: 16, nhân viên: 03, 2 nhân viên nấu

ăn) 100% cán bộ giáo viên, nhân viên đạt chuẩn trở lên, trên chuẩn 21/24 đ/c; tỷ

lệ 87,5%

Tổng số học sinh được tổ chức nấu ăn bán trú tại trường là 8 lớp/ 136 trẻ,với mức ăn là 10.000đ/ ngày/ trẻ

Trang 6

* Chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ: Qua theo dõi cân đo lên biểu đồ tăng

trưởng đầu năm học kết quả cho thấy như sau:

Độ tuổi

Tổn g số trẻ

Cân nặngbìnhthường

Suy dinhdưỡng

độ 1

Suydinhdưỡng

độ 2

Cao bìnhthường

Thấp còi

độ 1

Thấp còi

Tỷ lệ

Cơ sở vật chất trường lớp ngày càng khang trang, bếp ăn đảm bảo về cácđiều kiện, trang thiết bị phục vụ bếp ăn và phục vụ các hoạt động chăm sóc giáodục trẻ

Đội ngũ giáo viên đa số trẻ, khỏe, nhiệt tình, tân huyết, yêu nghề, mến trẻ,tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ tay nghề, có nhiều biệnpháp trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ Đời sống tương đối ổnđịnh

Khó khăn:

Trang 7

Nhà trường chỉ có 2 nhân viên dinh dưỡng/3 bếp, nên phải cử giáo viênxuống 01 bếp Địa bàn dân cư xa, đường sá đi lại khó khăn, không có chợ mua bánnên có phần ảnh hưởng đến công tác tiếp phẩm.

Đời sống nhân dân khó khăn còn nghèo nàn về kinh tế, tư tưởng còn trôngchờ ỉ lại; phụ huynh rất ít quan tâm đến trẻ Mức ăn của trẻ còn thấp trong điềukiện giá cả đắt đỏ chưa đáp ứng nhu cầu năng lượng cho trẻ

Được sự quan tâm chỉ đạo và hướng dẫn của các cấp quản lý giáo dục, sựgiúp đỡ của chính quyền, các ban nghành đoàn thể ở địa phương, sự nổ lực củabản thân trong quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục vệ sinh dinh dưỡng,

an toàn thực phẩm Để đạt được điều này, chúng tôi đã tập trung vào một số biệnpháp sau:

Làm tốt công tác theo phần hành, thực hiện có hiệu quả việc nuôi dưỡngchăm sóc giáo dục trẻ đề ra các chỉ tiêu cần đạt về số lượng, chất lượng, nuôidưỡng chăm sóc giáo dục trẻ Xây dựng kế hoạnh chỉ đạo tốt các hoạt động nuôidưỡng chăm sóc giáo dục trẻ

Trang 8

Chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất đồ dùng, thiết bị cho việc tổ chứcnuôi dưỡng và chăm sóc giáo dục trẻ.

Chỉ đạo giáo viên đưa nội dung vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩmvào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ; chỉ đạo phó hiệu trưởng và y tế thườngxuyên kiểm tra giám sát công tác vệ sinh nói chung và vệ sinh an toàn thực phẩmnói riêng Chỉ đạo các lớp thực hiện đúng quy chế nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dụctrẻ Thực hiện tốt các chuyên đề, đổi mới phương pháp giảng dạy lồng ghép, tíchhợp nội dung giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm vào các giờ học, cáchoạt động khác trong ngày Làm tốt công tác tuyên truyền tới các bậc phụ huynh

về công tác thực hiện chuyên đề

Đối với giáo viên nấu ăn phải kiểm tra sức khỏe 2 lần/năm (6 tháng/1 lần),cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên tham gia chăm sóc trẻ phải được khám sứckhỏe và tập huấn xác nhận kiến thức về ATTP hàng năm

Trong quá trình chế biến thức ăn cho trẻ phải đảm bảo vệ sinh cá nhân.Hàng ngày trước khi bếp hoạt động, nhà trường có kế hoạch phân công cụ thể giáoviên nuôi dưỡng thay phiên nhau làm thông thoáng phòng cho khí lưu thông, kiểmtra hệ thống điện, nước, chất đốt trước khi hoạt động Thực hiện tốt các biện phápphòng nhiễm bẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh nơi chế biến Nhà bếp luônluôn sạch sẽ, không để bụi bẩn, có đủ dụng cụ cho nhà bếp chế biến và đồ dùng ănuống cho trẻ Ngoài ra trong nhà bếp có bảng tuyên truyền 10 nguyên tắc vàng về

vệ sinh an toàn thực phẩm cho mọi người thực hiện Phân công cụ thể ở các khâu:Chế biến theo thực đơn, theo số lượng trẻ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và hợp vệsinh

Trang 9

Chỉ đạo nhân viên dinh dưỡng thực hiện nghiêm túc công tác vệ sinh hàngngày, định kỳ hàng tháng phải tổng vệ sinh xung quanh nhà bếp, vệ sinh bếp, dụng

cụ nhà bếp, dụng cụ ăn uống nơi sơ chế thực phẩm sống, khu chế biến thực phẩmchín

Biện pháp 2 Tăng cường chỉ đạo cho đội ngũ về kiến thức nâng cao chất lượng dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường.

Với chức năng là một cán bộ quản lý tôi đã chỉ đạo đội ngũ đưa nội dungtuyên truyền các tài liệu về vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm lồng ghéptrong các cuộc họp cho phụ huynh; tuyên truyền qua tranh dinh dưỡng và an toànthực phẩm do các cơ quan chức năng cung cấp; tuyên truyền thông qua góc tuyêntruyền cho các bậc cha mẹ ở các lớp đặc biệt là thông qua các giờ đón trả trẻ vàcác buổi gặp gở giao lưu

Học sinh nơi đây đa số là con nhà có điều kiện khó khăn, suy dinh dưỡngnhiều nên nhà trường chỉ đạo nhân viên dinh dưỡng tăng cường nguồn dinh dưỡngtrong các bữa ăn hàng ngày của trẻ và đối với giáo viên trực tiếp chăm sóc trẻ phảichú ý đến trẻ trong các bữa ăn để trẻ phát triển tốt

Bên cạnh đó chỉ đạo giáo viên giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thựcphẩm cho trẻ thông qua các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, tích hợp nội dunggiáo dục dinh dưỡng vào chương trình giảng dạy theo các chủ đề, được giáo viênlòng ghép, tích hợp vào các hoạt động một cách linh hoạt

Ví dụ 1: Thông qua các buổi trãi nghiệm tập làm các cô các bác nông dân

chăm bón cây cối, rau chỉ đạo giáo viên giới thiệu cho trẻ tên, nhận biết các loạirau giáo viên giới thiệu cho trẻ loại rau đó chế biến được món ăn nào, cung cấpcho ta chất gì, cách chăm bón, không nên bón các chất độc hại

Trang 10

Ví dụ 2: Tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng – sức khỏe vào chủ đề

trường mầm non Ở chủ đề này chỉ đạo giáo viên lồng ghép tích hợp những nộidung sau:

- Trẻ tôi đa số là dân tộc Bru vân kiều nên đối với lớp nhà trẻ, lớp mẫu giáo béviệc cầm bát cầm thìa tự ăn là một vấn đề rất khó khăn, vì vậy giáo viên phải tậpcho trẻ thối quen cầm bát thìa tự xúc ăn là việc làm đầu tiên trong giáo dục vệsinh, an toàn thực phẩm Sau đó làm quen dần với các món ăn tại trường, tập ănhết suất, rèn luyện hành vi văn minh trong ăn uống: Biết mời cô và các bạn trướckhi ăn; ngồi ăn ngay ngắn, không co chân lên ghế; cầm thìa bằng tay phải tự xúc

ăn gọn gàng, tránh đổ vãi, ăn từ tốn, nhai kỹ, không nói chuyện và đùa nghịch trong khiăn

- Đa số trẻ chưa có thói quen tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày cho bảnthân và thói quen tự phục vụ trong sinh hoạt tại trường nên tôi đã chỉ đạo giáo viêntập cho trẻ thói quen: Tự cất, dọn bát, thìa sau khi ăn, tự nhặt thức ăn rơi vãi đẻvào đĩa, lau tay, rửa tay, rửa chân, lau mặt, lau miệng sau khi ăn, lấy gối lêngiường đi ngủ

- Tập luyện thói quen tốt về vệ sinh cá nhân từ việc làm đơn giản nhất:Tập chải đầu, rửa tay, mặc quần áo, đi dép, đi vệ sinh đúng nơi qui định Giữ gìn vệ sinh môi trường như không khạc nhổ nơi công cộng, vứt rác đúngnơi qui định

Ví dụ 3: Thông qua góc chơi Bé tập làm nười lớn: với trò chơi “Bán hàng rau quả” khi mua hàng giáo viên hướng dẫn các cháu phải biết chọn thực phẩm

tươi ngon, thực phẩm không bị rập nát Qua trò chơi “Nấu ăn” hướng dẫn các

Trang 11

cháu biết rửa tay và vệ sinh đồ dùng, rửa sạch thực phẩm trước khi chế biến, phảibiết ăn chín uống sôi

+ Thông qua góc học tập: trẻ phần lớn chưa được tiếp xúc nhiều với các loạithực phẩm từ nơi khác đưa đến, vì vậy tôi chỉ đạo giáo viên bước đầu cho trẻ nhậnbiết các loại thực phẩm, giới thiệu cho trẻ biết chất dinh dưỡng của thực phẩm đó

lặp đi lặp lại nhiều lần sau đó cho trẻ “Phân nhóm thực phẩm” thì cần phải chuẩn

bị những lô tô về các loại thực phẩm (đủ 4 nhóm dinh dưỡng) và trò chơi“Thi xem

ai nhanh” yêu cầu trẻ lấy đúng và xếp nhanh phân loại nhóm dinh dưỡng theo yêu

cầu của cô giáo Qua các trò chơi giúp trẻ nhận biết và nhớ lâu các nhóm thựcphẩm trẻ biết nhóm nào lên ăn nhiều và nhóm nào ăn hạn chế

Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, chỉ đạo nhân viên y tế cập nhập thông tin về vệsinh dinh dưỡng an toàn thực phẩm thường xuyên cho đội ngũ, nhất là đối với nhânviên dinh dưỡng

Bồi dưỡng và chỉ đạo thực hiện tốt các công tác nâng cao chất lượnggiáo dục và vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh nhóm lớp, cá nhân và vệ sinh môitrường Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia học tập các lớp trên chuẩn các lớptập huấn bồi dưỡng chuyên môn hè, các lớp bồi dưỡng chuyên đề Đối với cán bộ,giáo viên, nhân viên dinh dưỡng, nhân viên y tế tham gia công tác chăm sóc trẻđều phải được tham gia tập huấn vệ sinh an toàn thực phẩm và có chứng nhận Thường xuyên kiểm tra để tăng cường cơ sở vật chất, các điều kiện trangthiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc đảm bảo vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm ởnhà trường Xây dựng kế hoạch hoạt động nhiệm vụ năm học, triển khai chỉ đạocán bộ giáo viên nhân viên thực hiện một cách nghiêm túc

Ngày đăng: 22/06/2020, 19:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w