Điểm mới của đề tài.Trong nhiều năm qua các giáo viên ở trung tâm đã đầu tư nhiều cho việc bồi dưỡng để nâng cao kĩ năng ngôn ngữ kí hiệu dạy học cho học sinh khiếm thính nhưng hiệu quả
Trang 11 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài.
Trẻ khiếm thính là những trẻ bị tổn hại cơ quan thính giác ở các mức độ khác nhau Do cơ quan thính giác bị tổn thương nên trẻ không tri giác được thế giới âm thanh, không nghe được tiếng nói, do đó không hình thành được ngôn ngữ Vì vậy, trẻ khiếm thính nếu được quan tâm hỗ trợ với phương pháp, cách thức đặc biệt sẽ càng có cơ hội phát triển và phát huy hết khả năng mà trẻ có thể
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển giáo dục nói chung, giáo dục trẻ khuyết tật đã đạt được những thành quả quan trọng về nhiều mặt, việc giáo dục người khuyết tật nói chung và sự phát triển ngành giáo dục đặc biệt nói riêng đang được các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước chú trọng phát triển Các chương trình giáo dục trẻ khuyết tật được xây dựng và triển khai thực hiện cùng với các phương thức phù hợp đang ngày càng được áp dụng rộng rãi Giáo dục hòa nhập cũng đứng trước những thời cơ lớn, hàng loạt các thành tựu trong nhiều lĩnh vực từ hệ thống quản lý, chính sách đến các giải pháp kỹ thuật trong dạy học Ở Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm thính đang triển khai trong quy mô của chương trình giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật Trung tâm đã áp dụng nhiều mô hình giảng dạy và hỗ trợ trẻ Trên địa bàn tỉnh, nhiều trường đã thành công trong việc hòa nhập học sinh khuyết tật về mặt thể chất, cùng những yêu cầu trong kế hoạch chống phân biệt đối xử với người khuyết tật được ghi nhận Tuy nhiên công tác này vẫn chưa được triển khai rộng rãi và hiệu quả chưa cao, một số cán bộ quản lý, giáo viên các nhà trường, cha mẹ trẻ chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục hòa nhập, chưa có kiến thức về tật điếc, về trẻ khếm thính và khả năng tham gia hòa nhập của các em Nhiều trẻ khiếm thính chưa được hỗ trợ hòa nhập từ phía giáo viên và bạn bè trong nhà trường, các em gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt và học tập
Là cán bộ quản lý đơn vị dạy trẻ khuyết tật và tham mưu tổ chức hoạt động hỗ trợ hòa nhập trẻ khuyết tật của Lệ Thủy, tôi thấy rõ nhu cầu được phát triển mọi mặt của trẻ khuyết tật, nhất là trẻ khiếm thính ngày càng cao; trong khi lượng trẻ khuyết tật ra lớp ngày một nhiều, các đơn vị có trẻ khiếm thính học hoà nhập còn lúng túng trong công tác quản lý, hỗ trợ các em học tập Ở đây Tôi muốn đề cập đến việc làm sao công tác giáo dục hòa nhập đã, đang và sẽ luôn làm tiền đề để trẻ khiếm thính cũng có cơ hội, khả năng phát triển một phần như trẻ bình thường khác
Vì những lí do trên, nên tôi chọn đề tài: Một số biện pháp nhằm nâng cao ngôn ngữ kí hiệu đối với học sinh khiếm thính
Trang 21.2 Điểm mới của đề tài.
Trong nhiều năm qua các giáo viên ở trung tâm đã đầu tư nhiều cho việc bồi dưỡng để nâng cao kĩ năng ngôn ngữ kí hiệu dạy học cho học sinh khiếm thính nhưng hiệu quả chưa đạt theo mong muốn (kế hoạch GD cá nhân) Vì sao vậy? Làm thế nào để giáo viên thấy được việc giúp đỡ những học sinh khiếm thính theo kịp bạn bè, theo kịp chương trình học là một việc làm thường xuyên, thiết thực? Làm thế nào để giáo viên, phụ huynh, học sinh thấy được việc giáo dục học sinh khiếm thính phải có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa nhiều lực lượng mới đạt được kết quả như mong muốn?
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng công tác giáo dục học sinh học sinh khiếm thính ở Trung tâm để làm rõ thêm vấn đề còn hạn chế trong kĩ năng dạy học, chăm sóc học sinh khiếm thính của giáo viên ở trung tâm Thông qua đó tìm
ra các biện pháp để bồi dưỡng nhằm nâng cao kĩ năng ngôn ngữ kí hiệu cho giáo viên ở trung tâm Đó chính là điểm mới của đề tài mà tôi đề cập đến
Xác định một số biện pháp tổ chức hoạt động bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ kí hiệu cho giáo viên nhằm hoàn thiện dần kĩ năng dạy học, chăm sóc cho học sinh khiếm thính ở trung tâm
Trang 3
2 PHẦN NỘI DUNG
2.1 Thực trạng vấn đề.
Năm học 2017-2018, Trung tâm có 10 giáo viên, trong đó có 5 giáo viên hợp đồng ngắn hạn Tất cả giáo viên nói chung đều được sự quan tâm của Ban Giám đốc, của tổ chức Công đoàn Trong nhiều năm qua, trung tâm đã thực hiện dạy học
có kĩ cương, nề nếp Việc kiểm tra, đánh giá nghiêm túc, xây dựng được ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh Trung tâm luôn chỉ đạo, theo dõi sâu sát tất cả các vấn đề về chương trình, về thời gian lên lớp, về chất lượng giáo dục, về sự tiến bộ của học sinh Đặc biệt, trung tâm rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng đội ngũ, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, kĩ năng dạy cho học sinh khuyết tật nhằm phát huy tính tích cực của học sinh khuyết tật Trung tâm đã thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không”, tạo niềm tin đối với phụ huynh
2.1.1 Bảng thống kê trình độ đào tạo về Chuyên môn nghiệp vụ
(Tháng 9/2017)
Tổng
số
GV
Thạc sĩ Đại học Cao đẳng Viên chức Hợp đồng Ghi
chú
10 1 10 6 60 3 30 5 50 5 50
2.1.2 Tình hình trước khi thực hiện giải pháp
Công tác giáo dục học sinh khuyết tật nói chung và học sinh khiếm thính nói riêng là việc làm hết sức tế nhị và đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, sự yêu thương học sinh hết lòng, sự tận tụy để sẽ chia phần nào những thiệt thòi do bệnh tật của các em Công tác này gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau:
a Những thuận lợi cơ bản:
- Đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới phương pháp dạy học nói riêng đã tạo đà vững chắc cho giáo viên kèm cặp, theo sát được đối tượng học sinh
- Trong các năm học trung tâm đã tổ chức các chuyên đề về giáo dục học sinh khuyết tật nói chung và chuyên đề ngôn ngữ kí hiệu dùng cho học sinh khiếm thính nói riêng
- Hằng năm các trung tâm giáo dục học sinh khuyết tật trong toàn tỉnh thường
tổ chức hội thảo chuyên đề về giáo dục học sinh khuyết tật nói chung
- Đa số phụ huynh đồng tình với cách đánh giá chất lượng giáo dục theo TT 22/2016, từ đó có biện pháp giáo dục con em của mình
Trang 4- Trung tâm có nhiều giáo viên đã tham gia tập huấn về kí hiệu ngôn ngữ và 1 giáo viên có chuyên môn là giáo dục đặc biệt
b Những khó khăn thách thức:
Tuy vậy, bên cạnh những mặt thuận lợi cơ bản, việc giáo dục cho học sinh
khuyết tật trong trung tâm vẫn còn một số khó khăn:
- Về phía Trung tâm: Cơ sở vật chất tuy ngày càng tăng trưởng song vẫn
chưa đáp ứng kịp yêu cầu đổi mới giáo dục chuyên biệt
- Về phía giáo viên:
+ Đa số giáo viên là được đào tạo theo chương trình giáo dục phổ thông, tuổi đời còn trẻ, mới được chuyển đến (Hợp đồng ngắn hạn) trung tâm nên ít có cơ hội tham gia các lớp tập huấn về phương pháp và kĩ năng ngôn ngữ kí hiệu nên khó khăn cho giáo viên khi dạy học và chăm sóc học sinh khiếm thính
+ Trong một lớp gồm nhiều loại tật khác nhau: khiếm thính, khiếm thị, vận động, bệnh tự kỉ, thiểu năng trí tuệ, down, , có em mang trên mình nhiều tật (đa tật) do vậy giáo viên gặp nhiều khó khăn khi tổ chức các hoạt động dạy học cho học sinh
+ Trong lớp, trong khu nội trú có nhiều đối tượng tật khác nhau nên thời gian quan tâm đến học sinh khiếm thính còn bị hạn chế
Bảng thống kê kĩ năng sử dụng ngôn ngữ kí hiệu của giáo viên
(Tháng 9/2017) Tổng
số
GV
Tốt Khá Trung bình Yếu Ghi
chú
- Về phía học sinh:
+ Đa số học sinh khiếm thính thường ít giao tiếp với cộng đồng nên vốn từ ngữ ít, các em thường sống nội tâm
+ Nhiều học sinh khiếm thính thường nhút nhát khi giao tiếp do khả năng giao tiếp hẹp
2.1.3 Nguyên nhân của những khó khăn bất cập.
- Trung tâm được tách ra từ một trường Tiểu học nên đa số giáo viên là giáo viên phổ thông chỉ có 1 giáo viên tốt nghiệp giáo dục đặc biệt
- Giáo viên còn thiếu kinh nghiệm trong giáo dục học sinh khiếm thính do vậy chất lượng kiến thức-kĩ năng, năng lực, phẩm chất thường xuất hiện tình trạng
Trang 5phân cực rõ nét khoảng cách ngày càng xa so với học sinh một số tật khác trong lớp Do vậy những học sinh khiếm thính nặng khó được bù đắp về kiến thức kĩ năng dẫn đến càng học lên lớp trên càng khó
- Mỗi tiết học thực hiện tối đa 35- 40 phút song phải quan tâm đến nhiều đối tượng tật trong lớp Do đó, thời gian để kèm cặp, phụ đạo cho học sinh khiếm thính còn hạn chế
- Nhận thức của phụ huynh về con bị khiếm thính mang tính bi quan nên thiếu quan tâm của việc học tập
- Kỹ năng dùng ngôn ngữ kí hiệu của phụ huynh còn hạn chế nên việc hướng dẫn cho con em còn khó khăn
- Hiện nay học sinh khiếm thính ở trung tâm ngày càng đông 15 em / 2 lớp (đó là lớp 1A và lớp 4A)
Tuy nhiên, chúng ta nhận diện học sinh khiếm thính để có kĩ năng giúp đỡ phù hợp với từng đối tượng chứ không phải nhận diện để “phân biệt” giữa học sinh khiếm thính và học sinh các tật khác nhằm tránh sự mặc cảm trong các em
2.2 Một số biện pháp nhằm nâng cao ngôn ngữ kí hiệu đối với học sinh
khiếm thính ở trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật.
Từ thực trạng của giáo viên về kỹ năng sử dụng ngôn ngữ ký hiệu trong dạy học và chăm sóc học sinh khiếm thính như trên, tôi mạnh dạn đưa ra những biện pháp như sau:
2.1.1 Biện pháp 1: Hướng dẫn giáo viên tìm hiểu những đặc điểm về khả năng và nhu cầu của học sinh khiếm thính.
Cũng còn có nhiều ý kiến về việc đưa học sinh khuyết tật vào học hòa nhập
có làm tăng hiệu quả giáo dục hay không và thiếu dẫn chứng về sự thành công của chính sách đưa trẻ vào học hòa nhập như vậy Giáo viên các trường phổ thông tỏ rõ nghi ngờ, yêu cầu bổ sung thêm nguồn lực đáng kể trong các trường có học sinh học hòa nhập và chỉ ra rằng phần lớn giáo viên chưa qua đào tạo cho việc áp dụng những phương pháp hiệu quả về mặt sư phạm để dạy học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt Ngoài ra còn có áp lực giữa động cơ hòa nhập với trọng tâm hiện tại là chỉ tiêu “đầu ra” đơn giản
Sự phát triển tâm lý, thể chất của trẻ khiếm thính cũng như mọi trẻ em bình thường, được hình thành và phát triển trong điều kiện cụ thể Các em đều là sản phẩm của sự phát triển xã hội Các em cũng có những nhu cầu năng lực và cần được giúp đỡ để có cơ hội tham gia bình đẳng trong cộng đồng Tật khiếm thính đưa đến những hậu quả rất lớn trong tâm lý, nhân cách của trẻ khiếm thính
* Tìm hiểu khả năng và nhu cầu của trẻ khiếm thính
Trang 6Sự phát triển về mọi mặt; thể chất, ngôn ngữ, giao tiếp, nhận thức và kĩ năng
xã hội tạo tiền đề cho giáo dục có hiệu quả Đối với trẻ khiếm thính do khả năng nghe bị suy giảm làm hạn chế khả năng giao tiếp, mà giao tiếp là phương tiện chủ yếu để phát triển nhận thức và hòa nhập cộng đồng Do vậy việc tìm hiểu khả năng nghe, sự phát triển ngôn ngữ, giao tiếp của trẻ khiếm thính là nhiệm vụ trọng tâm
* Về khả năng nhận thức
Trẻ khiếm thính do những đặc thù như vậy có ảnh hưởng nhiều hay ảnh hưởng ở mức độ vừa đến tư duy, trí nhớ, sự tập trung chú ý của trẻ
* Về khả năng nghe
Việc xác định chính xác khả năng nghe còn lại ở trẻ khiếm thính là một công việc đòi hỏi cần có các thiết bị chuyên dụng ngành y tế được các nhà chuyên môn
đo khám Tuy nhiên giáo viên là những người đóng vai trò quan trọng Giáo viên là những người hằng ngày tiếp xúc với trẻ, dạy trẻ học, chăm sóc trẻ là người có điều kiện thuận lợi nhất để tìm hiểu khả năng nghe còn lại của trẻ Từ đó tìm ra nguyên nhân làm giảm thính lực của trẻ khiếm thính:
+ Trẻ được phát hiện khiếm thính từ khi nào? Lúc mấy tuổi?
+ Trẻ nghe kém đột ngột sau ốm, hay giảm thính lực từ từ?
+ Lúc nhỏ trẻ có bị chảy mủ tai, viêm tai, sởi, cúm, hay các bệnh khác do điều trị kháng sinh?
+ Gia đình, dòng họ có ai bị khiếm thính?
+ Tai nào trẻ nghe tốt hơn?
+ Có hiện tượng lúc nghe được lúc không nghe được?
+ Khi nói chuyện nghe giảng, trẻ có tập trung chú ý nhìn miệng người nói không?
+ Trẻ có hay yêu cầu nhắc lại những điều vừa nghe không?
+ Trẻ có cần nói to hơn bình thường mới nghe được không?
+ Trẻ có nghe phát hiện những tiếng động mạnh, đột ngột trong khi ngồi học không? (Chẳng hạn: tiếng máy bay, tiếng va đập mạnh, tiếng ô tô, ) trẻ có nghe được tiếng trống trường không?
Trên cơ sở đó cần xác định nhu cầu nghe của trẻ: Nếu nghe không phải là nhu cầu chủ yếu cần được đáp ứng trong những trường hợp điếc sâu và điếc nặng thì phải đáp ứng nhu cầu giao tiếp của trẻ bằng những cách khác
Trang 7* Nhu cầu và khả năng phát triển ngôn ngữ/giao tiếp:
Đối với trẻ khiếm thính, việc xác định khả năng nghe và nhu cầu giao tiếp là tối thiểu cần thiết để có những biện pháp giáo dục có hiệu quả
* Về ngôn ngữ nói:
Sự phát triển về tiếng nói có liên quan mật thiết đến mức độ khiếm thính Trẻ mất thính lực mức nhẹ và vừa có khả năng phát triển ngôn ngữ nói nếu được
hỗ trợ của máy trợ thính và sự giúp đỡ của giáo viên, cha mẹ
Tìm hiểu khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói ở trẻ khiếm thính cần lưu ý những nội dung sau:
+ Trẻ có nói được cả câu?
+ Trẻ nói có ngữ điệu hay nói nhát gừng?
+ Nói với giọng như thế nào? (bình thường, giọng mũi, giọng cao, hay không có giọng, )
* Về ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ/kí hiệu.
Ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ/kí hiệu không phát triển song song với ngôn ngữ nói Nó thường xuất hiện trước ngôn ngữ nói để đáp ứng nhu cầu giao tiếp Đối với một số trẻ khiếm thính ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ/kí hiệu là phương tiện chính để trẻ
giao tiếp và học tập (trẻ khiếm thính mức độ nặng - câm).
2.1.2 Biện pháp 2: Tìm hiểu đặc điểm tư duy của trẻ khiếm thính
Tư duy của trẻ khiếm thính
* Tư duy trực quan – hành động:
Tư duy trực quan – hành động phát triển mạnh ở trẻ khiếm thính nhờ vào khả năng quan sát nhanh nhạy của thị giác
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ khiếm thính cũng có khả năng giải các bài tập toán, có khả năng chia một vật thể thành các bộ phận và lắp đặt chúng thành một chỉnh thể (xếp hình)
Trẻ khiếm thính có khả năng tiến hành các thao tác thuận nghịch trong tư duy trực quan – hành động (biết được sự thay đổi hình thái khi lật ngược sự vật) Tuy nhiên khả năng đó chỉ thể hiện khi gặp các bài toán đơn giản, những bài toán phức tạp thì cũng gặp khó khăn
*Tư duy trực quan – hình tượng:
Loại tư duy này phụ thuộc vào tri giác, loại tư duy trực quan cảm tính cụ thể Người ta cho rằng trẻ khiếm thính ở thời kỳ trước lúc tiếp thu ngôn ngữ và trong quá
Trang 8trình thu nhận còn có một thời gian dài dừng lại ở tư duy trực quan – hình tượng nghĩa là chúng không suy nghĩ bằng lời mà bằng hình ảnh Trẻ khiếm thính khó có thể hiểu ý nghĩa ẩn dụ của sự vật khi hỏi “bàn tay vàng là gì?” các em dễ hiểu nhầm thành “bàn tay làm bằng vàng” hay “bàn tay màu vàng” Trẻ khiếm thính khó hiểu những câu thành ngữ, những câu nói mang nghĩa ẩn dụ tiềm ẩn bên trong
* Tư duy trừu tượng:
Thiếu ngôn ngữ, thiếu sự giáo dục đặc biệt, thiếu sự hình thành các khái niệm thì không thể có tư duy trừu tượng ở trẻ khiếm thính Trẻ khiếm thính tiếp thu ngôn ngữ chậm hơn vì thế hạn chế đáng kể so với trẻ nghe rõ trong việc hình thành
tư duy trừu tượng và làm giảm khả năng nhận thức của trẻ Đối với trẻ khiếm thính, khi trẻ viết một từ chỉ tên gọi một vật do người lớn đặt ra thì ở trẻ chỉ hình thành một từ biểu thị cho một sự vật đơn nhất mà chưa biết nâng lên thành khái niệm
Ví dụ: Khi cho trẻ xem hình ảnh những chiếc túi khác nhau về bề ngoài thì
trẻ không nhận ra đó là cái túi bởi vì biểu tượng cái túi hình thành trong trẻ là cái túi có hai quai chứ không phải là cái túi có dây đeo hay một quai như trong hình
vẽ Vì vậy khi hình thành khái niệm mới cho trẻ cần hình thành từ nhiều vật khác nhau có màu sắc và hình dạng khác nhau, có thể sử dụng hình vẽ hoặc vật thật để trẻ dễ dàng quan sát và phân biệt
2.1.3 Biện pháp 3: Tìm hiểu đặc điểm nhân cách trẻ khiếm thính
Sự hình thành nhân cách ở trẻ em diễn ra ngày càng rõ nét theo từng năm Việc đứa trẻ đến trường là một trong những bước ngoặt trong cụôc đời đứa trẻ: Mối quan hệ của trẻ với người lớn, với các bạn cùng lớp được hình thành qua việc tham gia vào các hoạt động tập thể Điều đó đặt ra cho trẻ hàng loạt các yêu cầu mới và nghiêm túc buộc trẻ phải tuân thủ theo nội quy trường lớp một cách chặt chẽ Tất cả những điều trên ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách ở trẻ Nhờ đó trẻ cũng cố mối quan hệ đối với người khác và có trách nhiệm với các hoạt động học tập vui chơi của trường lớp làm hình thành ở trẻ em những nét tính cách, ý chí, phát triển hứng thú nhận thức, tình cảm xúc cảm ở các em Tật khiếm thính ảnh hưởng đến các mối quan hệ của trẻ khiếm thính với người khác
Trẻ khiếm thính gặp khó khăn trong giao tiếp với người nghe rõ xung quanh, điều đó làm chậm đi quá trình thu nhận thông tin
Sự phá hủy cơ quan thính giác làm nghèo đi kinh nghiệm của trẻ khiếm thính làm chúng mất khả năng tiếp thu một mặt rất quan trọng của hiện thực âm thanh (tín hiệu), mặt này rất quan trọng trong sự phát triển tình cảm, cảm xúc
Trang 9Người nghe rõ có khả năng tự lĩnh hội một phần đáng kể những kinh nghiệm
xã hội của loài người, trẻ khiếm thính bị hạn chế bị hạn chế rất nhiều nếu trẻ không được đến trường, không được tiếp cận với những hỗ trợ đặc biệt
Khó khăn trong giao tiếp là trở ngại lớn nhất trong mối quan hệ với những người nghe rõ Trong những điều kiện nhất định trẻ khiếm thính nhận ra sự khác biệt của mình so với trẻ nghe rõ Nói cách khác, trẻ khiếm thính nhận thấy sự đối
xử khác biệt đối với chúng và các trẻ nghe rõ Tuy nhiên khi trẻ khiếm thính được sống đúng trong môi trường của mình thì mọi người nhận thấy trẻ rất vui vẻ, yêu đời, ít có cảm giác bị thiệt thòi
Một số nhà tâm lý học cho rằng sự phát triển nhân cách của trẻ khiếm thính ngày càng tiến đến ngang bằng với trẻ bình thường nhờ sự tác động của những kĩ năng sư phạm đặc biệt
2.1.4 Biện pháp 4: Xác định những kĩ năng trong hoạt động dạy học và chăm sóc học sinh khiếm thính.
Trong tất cả các lớp đa tật ở trung tâm thì 2/7 lớp có học sinh khiếm thính
năng trí tuệ với học sinh khiếm thính cùng học trong lớp đa tật bắt buộc giáo viên phải có kĩ năng thực hiện được các cử chỉ điệu bộ Cử chỉ điệu bộ không phải là những động tác múa tay, mặt mày hớn hở mà nó có một cấu trúc ngữ pháp song hành với với các kí hiệu giao tiếp chặt chẽ Các yếu tố kết hợp với nhau để tạo nên
kí hiệu chữ chỉ điệu bộ trong giao tiếp của người khiếm thính, đó là:
+ Sự tượng hình
+ Sự định hướng
+ Vị trí
+ Cử động
+ Biểu đạt của nét mặt
Tùy theo khả năng của học sinh khiếm thính về khả năng nghe và phát âm để khi dạy học phải phối hợp chặt chẽ với ngôn ngữ nói, đọc hình miệng, chữ cái ngón tay
Trong quá trình tổ chức các hoạt động trên lớp giáo viên phải giúp các em cảm thấy, nghe thấy và nhìn thấy cái mà ta muốn học sinh tiếp nhận Bởi vậy môi trường lớp học phải phong phú, đảm bảo an và ở đó các em học sinh khiếm thính được tiếp nhận các phương tiện giao tiếp từ giáo viên: lời nói, tranh vẽ, cử chỉ điệu bộ,
Trang 10Như vậy kĩ năng sử dụng ngôn ngữ kí hiệu của giáo viên khi dạy học và chăm sóc học sinh khiếm thính có vai trò quyết định về định hướng quá trình dạy học và chăm sóc các em
+ Thái độ và niềm tin với hoạt động dạy học và chăm sóc học sinh khiếm thính của giáo viên được biểu hiện mạnh mẽ qua kĩ năng này Khó có thể tạo được động cơ học tập cho học sinh khiếm thính nếu giáo viên tỏ ra chán ghét hoặc thiếu hứng thú đối với việc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu
+ Sự quan tâm của giáo viên đối với học sinh khiếm thính bắt nguồn từ quan điểm mang tính nhân văn Giáo viên cần nhìn nhận học sinh khiếm thính với tư cách là một con người tổng thể bao gồm những nhu cầu tình cảm, xã hội cũng như trí tuệ Cảm giác được quan tâm là rất quan trọng đối với tất cả các em Giáo viên
có thể làm cho các em nhận thấy được sự quan tâm của mình đối với các em bằng cách sẵn sàng dành thời gian tâm sự chia sẻ cùng các em
Đối với nội dung bài học phải có tính phù hợp với nhu cầu và khả năng của học sinh khiếm thính Trên cơ sở đó để các em sử dụng các kiến thức hiện có để lĩnh hội kiến thức mới Căn cứ vào khả năng, thời điểm của bài học, giáo viên cần đưa ra các hoạt động.thông qua các hoạt động thực hành, trò chơi Tổ chức hoạt động dạy học ngoài trời
Khi giảng dạy giáo viên cần thay đổi yêu cầu và tiêu chí thành công của các
em khiếm thính Do đó khi giao bài tập giáo viên cần đảm bảo cho các em có khả năng để hoàn thành được Cùng một nhiệm vụ nhưng tùy thuộc vào khả năng mỗi học sinh khiếm thính mà giao những phần việc khác nhau
Song song với việc giao nội dung bài tập giáo viên cần thay đổi cách trợ giúp: Trực tiếp – gián tiếp; Gần – xa; Nhiều – ít
Những công việc cần chú ý:
+ Thời gian:
Tăng, giảm thời gian;
Thường xuyên thay đổi các hoạt động;
Nghỉ giải lao sau mỗi hoạt động + Môi trường lớp học:
Phải luôn giảm thiểu các tác động bên ngoài
Có chỗ ngồi đối diện với mình khi giảng bài, hoặc vị trí của giáo viên khi sử dụng ngôn ngữ kí hiệu cho cả lớp phải đảm bảo để các em nhìn rõ các kí, hiệu, cử chỉ điệu bộ