Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạchnguồn của sự sáng tạo.Trong khi đó, việc khảo sát thực tế dạy
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn sáng kiến
Khoa học xuất hiện trong hầu hết mọi mặt của cuộc sống, bao gồm khoa
học về vật lí, hóa học, sinh học, khoa học cuộc sống, khoa học trái đất… Ở ViệtNam, khoa học thường được quan tâm ở lứa tuổi thanh thiếu niên, ít ai nghĩ đến,quan tâm đến độ tuổi tiểu học và đặc biệt là học sinh tiểu học vùng nông thôn.Các cuộc thi sáng tạo khoa học, các bài thí nghiệm… nghe còn xa vời với các
em Theo nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học thì độ tuổi tiểu học cần phảiđược định hướng việc nghiên cứu khoa học vì đây là độ tuổi có khả năng quansát, suy luận… vô cùng nhạy bén và chính là nền tảng vững chắc để tạo điềukiện cho các em có khả năng phát triển năng lực nghiên cứu, sáng chế khoa họctrong tương lai Tuy nhiên cách nhìn nhận của giáo viên, cha mẹ học sinh vẫncòn nhiều điều chưa thấu đáo về khoa học nói chung và học môn Khoa học lớp 4nói riêng
Ở lớp 1, 2, 3, các em quen với môn Tự nhiên và Xã hội, lên lớp 4, các embắt đầu học môn Khoa học Những câu hỏi nghe thật bình thường như “Tại sao
có gió?” hay “Mây được hình thành như thế nào?”… lại được giải thích mộtcách khoa học Môn Khoa học lớp 4 có rất nhiều nội dung mới mẻ, thiết thựcnhư kiến thức về các chất dinh dưỡng, về âm thanh, ánh sáng, nhiệt độ… Vậylàm thế nào để học sinh tiểu học – những tâm hồn còn non nớt tiếp nhận nhữngkiến thức khoa học một cách dễ dàng và tự nhiên? Đây là một câu hỏi không dễ.Tuy nhiên, tôi chắc chắn một điều rằng làm bất cứ việc gì, học bất cứ môn nào
và đặc biệt là môn Khoa học đều cần có niềm đam mê Vậy làm thế nào để các
em có niềm đam mê với môn Khoa học? Như chúng ta đã biết, một trong nhữngnguyên tắc dạy học là đảm bảo tính cảm xúc và tính tích cực Điểu đó có nghĩa
là trong quá trình dạy học phải gây cho người học sự hấp dẫn, hứng thú, lòngham hiểu biết, thôi thúc con người hành động, cống hiến hết mình góp phần pháttriển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất…
Hứng thú là một thuộc tính tâm lí - nhân cách của con người Hứng thú cóvai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không
làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú M.Gorki từng nói: Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực
nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạchnguồn của sự sáng tạo.Trong khi đó, việc khảo sát thực tế dạy học ở tiểu họcbằng nhiều con đường (lấy phiếu hỏi từ các cấp quản lí giáo dục, từ các giáoviên, các bậc phụ huynh và học sinh, quan sát và làm các đo nghiệm khách quantrên học sinh) đã cho thấy nhiều học sinh tiểu học không có hứng thú trong họctập Điều này vừa được xem như là một biểu hiện vừa được xem như mộtnguyên nhân cơ bản của việc suy giảm chất lượng dạy học ở tiểu học
Những biện pháp tạo hứng thú trong sáng kiến này xuất phát từ 4 luận
điểm cơ bản: Một là: Hiệu quả thực sự của việc dạy học là học sinh biết tự học;
tự hoàn thiện kiến thức và tự rèn luyện kĩ năng, hai là: Nhiệm vụ khó khăn và
Trang 2quan trọng nhất của giáo viên là làm sao cho học sinh thích học, ba là: Dạy học
ở tiểu học phải làm cho học sinh cảm thấy biết thêm kiến thức của mỗi bài học ở mỗi môn học là có thêm những điều bổ ích, lí thú từ một góc nhìn cuộc sống, bốn là: Dạy học môn Khoa học lớp 4 không chỉ giúp học sinh có đầy đủ kiến thức mà còn thôi thúc, nhen nhóm trong các em niềm đam mê học các môn học được xem là khô cứng ở các bậc học tiếp theo và niềm đam mê sáng tạo khoa học.
Qua những luận điểm đó, tôi đã chọn sáng kiến: “Một số biện pháp giúp
học sinh hứng thú với môn Khoa học lớp 4” để tìm hiểu, nghiên cứu và đã vận
dụng trong dạy học môn Khoa học lớp 4 trong những năm gần đây và đã cónhiều biểu hiện đáng mừng
1.2 Điểm mới của sáng kiến
Sáng kiến “Một số biện pháp giúp học sinh hứng thú với môn Khoa học
lớp 4” giúp cho giáo viên nắm được, hệ thống hóa được trục nội dung, thấy
được đặc điểm, cấu trúc chương trình môn Khoa học lớp 4
Sáng kiến này sẽ mang đến cho giáo viên một cách nhìn mới trong dạyhọc môn Khoa học nói chung và Khoa học lớp 4 nói riêng Từ đó, khơi dậy ởcác em sự hứng thú, đam mê môn Khoa học và các môn học khác Ngoài ra,sáng kiến này còn là tài liệu tham khảo cho các bậc làm cha, làm mẹ trong cáchdạy con và kích thích trí thông minh của con, khơi dậy ở các em những khả năngcòn “ngủ quên” trong chính con người bé nhỏ của các em
Hứng thú và hứng thú với môn Khoa học là đề tài mở, có rất nhiều cáchnhìn nhận và rất nhiều phương pháp, giải pháp, biện pháp Tuy nhiên, một
điểm mới nữa trong sáng kiến của tôi là đi vào nội dung cụ thể, đưa ra các biện
pháp, cách thức trong từng bài, từng hoạt động, có sự phối hợp chặt chẽ giữa cácbiện pháp của giáo viên và kết hợp với các biện pháp của phụ huynh nhằm giúphọc sinh hứng thú học môn Khoa học, góp phần phát huy nhiều nhất các nănglực và phẩm chất của học sinh lớp 4
Trang 32 NỘI DUNG 2.1 Thực trạng của việc dạy và học môn Khoa học tại trường
2.1.1 Nhà trường
- Nhà trường chưa có điều kiện để làm một phòng thí nghiệm, mô hình, khuvực tham quan… cho học sinh thực hành mỗi khi có thí nghiệm hay hoạt độngdạy học cần tham quan thực tế
- Nhà trường ít có những cuộc thi sáng tạo các sản phẩm, mô hình về cácchủ đề của môn Khoa học
2.1.2 Giáo viên
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên chưa phát huy hết tính tích cực, sángtạo của học sinh Đôi lúc giáo viên còn làm thay cho học sinh mà đáng lẽ ra họcsinh phải trực tiếp làm thí nghiệm
- Giáo viên chưa chuẩn bị đồ dùng dạy học đủ cho các tiết dạy Nhiều giáoviên còn dạy “chay” coi nhẹ các thí nghiệm, thực hành, liên hệ thực tế
- Trong hoạt động nhóm, đôi lúc giáo viên chưa kiểm tra kịp thời những emthiếu tự giác trong học tập nên những em này ỷ vào bạn và không chịu học
- Giáo viên thường gọi em khá, giỏi làm cho nhanh để khỏi mất nhiều thờigian
2.1.3 Học sinh
- Trong quá trình học tập, học sinh không chịu tập trung, không chú ý nghethầy giáo giảng bài, không chịu sưu tầm vật mẫu để làm thí nghiệm, ít phát biểuxây dựng bài
- Đa số các em lười đọc sách Khi giáo viên hỏi các em không chịu trả lời
mà ngồi làm việc riêng, mặc dù đó là những câu hỏi sách giáo khoa
- Một số em ngại tiếp xúc với thầy, cô giáo, “ giấu dốt” mặc dù không hiểuđiều đó nhưng không muốn hỏi, sợ bạn cười
- Học sinh lười học bài phần Cung cấp thông tin ở sách giáo khoa và mụcBạn cần biết, các em không chịu đọc nên không làm bài được
- Một số em xem “nhẹ” môn Khoa học, chủ yếu là học Toán và Tiếng Việt
2.1.4 Phụ huynh
- Một số phụ huynh đi làm ăn xa để con cho ông, bà ở nhà chăm sóc nên
việc học của các em chủ yếu là phó mặc cho giáo viên chủ nhiệm Ở nhà, các emthiếu sự quan tâm, nhắc nhở và kiểm tra việc học từ phía gia đình
- Nhiều phụ huynh mang nặng tư tưởng môn Khoa học là “môn phụ” chủyếu là học thật giỏi Toán và Tiếng Việt Do tư tưởng đó, nên một số em lơ làmôn Khoa học
Kết quả khảo sát sự hứng thú học môn Khoa học đầu năm học 2017 – 2018 như sau:
Trang 4Số lượng học
sinh khảo sát
Rất thích mônKhoa học
Hơi thích mônKhoa học
Không thíchmôn Khoa học Ghi chú
2.2 Giải pháp giúp học sinh hứng thú với môn Khoa học lớp 4
2.2.1 Tìm hiểu trước nội dung môn Khoa học lớp 4
Tôi luôn suy nghĩ rằng, muốn học sinh có hứng thú với môn Khoa học thìchính giáo viên phải thích, phải đam mê môn học đó thì mới có đủ sức để “lôikéo” các em đến với môn học này Chính vì thế, khi được phân công dạy lớp 4,tôi tìm tòi và hệ thống lại tất cả nội dung môn Khoa học của cả năm học để nắmbắt và tìm ra nhiều điều thú vị, nhiều khám phá mới để giúp các em yêu thíchmôn học này
Khoa học lớp 4 gồm 3 nội dung chính: Con người và sức khỏe, Vật chất vànăng lượng, Thực vật và động vật Cụ thể như sau:
+ Phần Con người và sức khỏe gồm 18 bài trong đó có 1 bài để ôn tập:
Bài 1 Con người cần gì để sống?
Bài 2 Trao đổi chất ở người
Bài 3 Trao đổi chất ở người (tiếp theo)
Bài 4 Các chất dinh dưỡng có trong thức ăn Vai trò của chất bột
đườngBài 5 Vai trò của chất đạm và chất béo
Bài 6 Vai trò của vi - ta - min, chất khoáng và chất xơ
Bài 7 Tại sao cần ăn phối hợp nhiều loại thức ăn?
Bài 8 Tại sao cần ăn phối hợp đạm động vật và đạm thực vật?
Bài 9 Sử dụng hợp lí các chất béo và muối ăn
Bài 10 Ăn nhiều rau và quả chín Sử dụng thực phẩm sạch và an toànBài 11 Một số cách bảo quản thức ăn
Bài 12 Phòng một số bệnh do thiếu chất dinh dưỡng
Trang 5Bài 13 Phòng bệnh béo phì
Bài 14 Phòng một số bệnh lây qua đường tiêu hóa
Bài 15 Bạn cảm thấy thế nào khi bị bệnh?
Bài 16 Ăn uống khi bị bệnh
Bài 17 Phòng tránh tai nạn đuối nước
Bài 18 – 19 Ôn tập: Con người và sức khỏe
+ Phần Vật chất và năng lượng gồm 35 bài trong đó có 2 bài ôn tập
Bài 20 Nước có những tính chất gì?
Bài 21 Ba thể của nước
Bài 22 Mây được hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra?
Bài 23 Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên
Bài 24 Nước cần cho sự sống
Bài 25 Nước bị ô nhiễm
Bài 26 Nguyên nhân làm nước bị ô nhiễm
Bài 27 Một số cách làm sạch nước
Bài 28 Bảo vệ nguồn nước
Bài 29 Tiết kiệm nước
Bài 30 Làm thế nào để biết có không khí?
Bài 31 Không khí có những tính chất gì?
Bài 32 Không khí gồm những thành phần nào?
Bài 33 – 34 Ôn tập và kiểm tra học kì 1
Bài 35 Không khí cần cho sự cháy
Bài 36 Không khí cần cho sự sống
Bài 37 Tại sao có gió?
Bài 38 Gió nhe, gió mạnh Phòng chống bão
Bài 39 Không khí bị ô nhiễm
Bài 40 Bảo vệ bầu không khí trong sạch
Bài 41 Âm thanh
Bài 42 Sự lan truyền âm thanh
Bài 43 Âm thanh trong cuộc sống
Bài 44 Âm thanh trong cuộc sống (tiếp theo)
Bài 45 Ánh sáng
Bài 46 Bóng tối
Bài 47 Ánh sáng cần cho sự sống
Bài 48 Ánh sáng cần cho sự sống (tiếp theo)
Bài 49 Ánh sáng và việc bảo vệ đôi mắt
Bài 50 Nóng, lạnh và nhiệt độ
Bài 51 Nóng, lạnh và nhiệt độ (tiếp theo)
Bài 52 Vật dẫn nhiệt và vật cách điện
Bài 53 Các nguồn nhiệt
Bài 54 Nhiệt cần cho sự sống
Trang 6Bài 55 – 56 Ôn tập: Vật chất và năng lượng
+ Phần Thực vật và động vật có 11 bài trong đó có 2 bài ôn tập
Bài 57 Thực vật cần gì để sống?
Bài 58 Nhu cầu nước của thực vật
Bài 59 Nhu cầu chất khoáng của thực vật
Bài 61 Nhu cầu không khí của thực vật
Bài 62 Động vật cần gì để sống?
Bài 63 Động vật ăn gì để sống?
Bài 64 Trao đổi chất ở động vật
Bài 65 Quan hệ thức ăn trong tự nhiên
Bài 66 Chuỗi thức ăn trong tự nhiên
Bài 67 – 68 Ôn tập: Thực vật và động vật
Bài 69 – 70 Ôn tập và kiểm tra cuối năm
Qua cấu trúc trên, chúng ta thấy nội dung về Vật chất và năng lượng chiếmmột nửa chương trình môn Khoa học lớp 4 Qua những nội dung tôi đã nêu ra,chúng ta thấy bước sang lớp 4, các em đã bắt đầu bước vào chặng đường nghiêncứu khoa học với những vấn đề xung quanh cuộc sống của con người Đặc biệt
là nội dung vật chất và năng lượng có rất nhiều bài cần có dụng cụ, thiết bị, máymóc, phòng thí nghiệm để dạy và học Thật mới mẻ nhưng cũng có nhiều nộidung khó, cần sự đào sâu suy nghĩ, tìm phương pháp, biện pháp hay giúp họcsinh nắm bắt tất cả các kiến thức khoa học một cách nhẹ nhàng, tự nhiên màkhông bị áp lực
Nắm được nội dung môn Khoa học lớp 4 giúp giáo viên có cái nhìn tổngthể, đưa ra những biện pháp hữu hiệu cho việc dạy học môn học này trong toànnăm học Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4 có sự thay đổi rõ nét theochiều hướng tích cực, các bài học đều có tranh ảnh minh họa đẹp, rõ nét, gắnliền với nội dung bài học và thực tế xung quanh Giáo viên cần tận dụng triệt đểcác dữ liệu của sách, hiểu được ý đồ của từng bài Chính những việc đó giúpgiáo viên có biện pháp “gây nghiền” học sinh trong các tiết dạy của mình
2.2.2 Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, theo định hướng phát triển năng lực của học sinh
So với các phương pháp truyền thống như đọc chép, ngồi chăm chú nghegiảng thì việc sử dung các phương pháp dạy học tích cực, theo định hướng pháttriển năng lực áp dụng trong môn Khoa học lớp 4 giúp học sinh hứng thú hơnnhiều Chính vì vậy trong các tiết dạy tôi đã linh hoạt vận dụng các phươngpháp, kĩ thuật dạy học mới theo một cách nhìn mới tức là đưa học sinh vào tronghoạt động, không phải học sinh chỉ lĩnh hội đầy đủ kiến thức là được mà cần sửdụng, vận dụng những kiến thức, kĩ năng, thái độ vào trong hoạt động, trongcuộc sống
Trang 7Ngoài việc khai thác sự lí thú trong chính nội dung dạy học, hứng thú củahọc sinh còn được hình thành và phát triển nhờ các phương pháp, thủ pháp, hìnhthức tổ chức dạy học phù hợp với sở thích của các em Đó chính là cách tổ chứcdạy học dưới dạng các trò thi đố, các trò chơi, tổ chức hoạt động sắm vai, tổchức hoạt động học theo nhóm, tổ chức dạy học dự án, tổ chức dạy học ngoàikhông gian lớp học… Sau đây, tôi xin trình bày một số biện pháp theo hướngphát triển năng lực để góp phần tăng thêm hứng thú cho từng tiết học.
2.2.2.1 Dạy học theo nhóm
Dạy học theo nhóm là hình thức dạy học đưa học sinh vào môi trường học
tập tích cực Hoạt động nhóm góp phần hình thành các mối quan hệ qua lạitrong học sinh, đem lại bầu không khí đoàn kết, tin tưởng, hiểu nhau, đem lạicho tiết học sôi nổi, đầy hứng thú Đa số các tiết dạy tôi đều sử dụng biện phápchia nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6 Giáo viên cần có sự chuẩn bị kĩ càng từ việclàm thử thí nghiệm trước khi lên lớp đến cách tổ chức, giao việc để tránh gâylộn xộn, hoặc học sinh không nắm bắt được yêu cầu kiến thức của lớp học.Muốn vậy, giáo viên cần chú ý:
+ Mệnh lệnh đưa ra rõ ràng, ngắn gọn
+ Giao việc cụ thể cho từng nhóm
+ Phân công nhiệm vụ cho các em
Trong nhóm thường có các thành phần:
+ Nhóm trưởng: Quản lí chỉ đạo, điều khiển nhóm hoạt động
+ Thư kí nhóm: Ghi chép lại kết quả công việc của nhóm sau khi đạt được sựđồng tình của nhóm
+ Báo cáo viên: Trình bày trước lớp kết quả công việc của nhóm
+ Các thành viên trong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực vào các hoạtđộng của nhóm (mỗi nhóm chỉ nên có khoảng 4 đến 6 em)
Ví dụ: Bài 21: Ba thể của nước
Hoạt động 2: Nước ở thể khí
Giáo viên đã yêu cầu học sinh chuẩn bị dụng cụ ở trên bàn học sinh: 1 cáicốc, 1 cái đĩa Giáo viên nêu câu hỏi: Nước tồn tại ở những thể (trạng thái) nào?Sau đó yêu cầu học sinh hoạt động theo nhóm 4 để làm thí nghiệm, ghi ra cácnhận xét mà học sinh quan sát được Học sinh đổ một ít nước nóng vào cốc Đợi
1 phút rồi thành viên trong nhóm lật đĩa ra Nhóm trưởng hỏi ý kiến các thànhviên Các thành viên cho ý kiến và thống nhất để thư kí nhóm ghi lại các ý kiến:
“- Nước bám trên mặt đĩa - Do hơi nước nóng bốc lên, Nhiệt độ cao làm nướcchuyển thành thể khí” Trong lúc đó giáo viên xuống giúp đỡ các nhóm còn lúngtúng Giáo viên yêu cầu học sinh trình bày Yêu cầu các nhóm khác nhận xét.Giáo viên kết luận: Hoạt động 1 giúp chúng ta thấy được Nước tồn tại ở thể
Trang 8lỏng Qua thí nghiệm của các nhóm ở hoạt động 2 này, chúng ta thấy Nhiệt độcao làm nước bay hơi Đó chính là thể khí (thể hơi) của nước.
2.2.2.2 Thực hành, thí nghiệm
Qua mục 2.1.1, chúng ta thấy rằng môn Khoa học lớp 4 có số lượng các
tiết thực hành, thí nghiệm rất nhiều Người xưa từng nói “Trăm nghe không
bằng một thấy” quả thật không sai Nếu như trước đây, học sinh xem các thínghiệm trong sách giáo khoa và phỏng đoán kết quả, tôi nhận thấy tiết học thậtnhàm chán, các thông tin thu được tạo cảm giác “giả tạo” cho các em Học sinhkhông hề hứng thú với cách dạy này Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn thay đổi, sắpxếp thời gian, phân bố công việc cho các em thật cụ thể để các em chuẩn bị đồdùng, thí nghiệm trước khi lên lớp Các em rất thích thú khi được chính taymình làm thí nghiệm
Ví dụ: Bài : Tại sao có gió (trang 74)
Hoạt động 1: Tìm hiểu nguyên nhân gây ra gió.
Mục tiêu : Học sinh làm thí nghiệm để nhận ra không khí chuyển động tạothành gió Giải thích đuợc nguyên nhân gây ra gió
Cách tiến hành:
- Buớc 1: Tổ chức hướng dẫn
Giáo viên yêu cầu một số nhóm nêu các đồ dùng đã có để làm thí nghiệm
theo sự hướng dẫn của giáo viên.(Tương tự hình 4 trang 74 SGK).
+ Đặt mẫu hương đã tắt lửa nhưng còn bốc khói duới ống B, khép kín hainửa hộp Dự đoán khói sẽ bay qua ống nào? Giải thích
+ Làm thí nghiệm và quan sát khói để kiểm tra đự đoán khói bay vào ốngnào?
+ Tiếp tục đặt một cây nến đang cháy dưới ống A, khép kín hai nửa hộp lại
Dự đoán khói sẽ bay qua ống nào? Giải thích
+ Làm thí nghiệm và quan sát khói để kiểm tra đự đoán khói bay vào ốngnào
- Bước 2: Các nhóm tiến hành làm thí nghiệm theo các buớc trên
+ Giáo viên hướng dẫn cho các nhóm còn lúng túng
- Bước 3: Báo cáo và phân tích kết quả thí nghiệm
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích kết quả thí nghiệm như sau:
So sánh kết quả thí nghiệm với dự đoán ban đầu (giống và khác nhau như thế nào?)
? Vì sao khi đặt thêm cây nến dưới ống A thì khói bay ra qua ống A?
? Phần nào của hộp có không khí nóng? Tại sao? (phần A có không khí nóng do có ngọn nến cháy).
Trang 9? Phần nào của hộp có không khí lạnh? Tại sao? (phần B)
Khói bay từ ống B sang ống A và ra ngoài qua ống A, như vậy khói bay
theo chiều hướng nhiệt độ không khí như thế nào?(Khói bay theo chiều từ không khí lạnh đến nơi không khí nóng).
? Từ kết quả trên ta rút ra kết luận gì?
Từ kết quả trên cho thấy: không khí chuyển động từ nơi lạnh đến nơi nóng
Sự chênh lệch nhiệt độ của không khí là nguyên nhân gây ra sự chuyển động củakhông khí Không khí chuyển động tạo thành gió
2.2.2.3 Đóng vai
Đây là phương pháp thường dùng trong môn Tiếng Việt, tuy nhiên trongcác bài dạy Khoa học, đặc biệt là phần Con người và sức khỏe, tôi thường chocác em đóng vai và hiệu quả thật đáng mừng Các em rất hào hứng và đưa ranhiều cách giải quyết thật sáng tạo và nhớ được kiến thức lâu
Ví dụ: Bài Phòng một số bệnh do thiếu chất dinh dưỡng trang 26
Sau khi học xong kiến thức mới, tôi cho các em tình huống rồi yêu cầucác em đóng vai tập làm bác sĩ: nhóm 1 tư vấn cho bệnh nhân bị còi xương,nhóm 2 tư vấn bệnh nhân bị mờ mắt, nhóm 3 tư vấn cho bệnh nhân bị bướu cổ,nhóm 4 tư vấn giúp cho bệnh nhân bị suy dinh dưỡng, nhóm 5 tư vấn giúp chobệnh nhân bị thiếu chất đạm, nhóm 6 tư vấn giúp cho bệnh nhân bị thiếu chấtbột đường Sau khi chuẩn bị, các em phân công người làm bệnh nhân, người làmbác sĩ, người làm người nhà, thảo luận và đưa ra những lời tư vấn chữa các bệnhvừa học xong, các em đã tập làm bác sĩ và tư vấn rất sáng tạo, thêm được nhiềuchi tiết hay ngoài các câu trong sách giáo khoa Giờ học tràn đầy niềm vui vàhứng thú
2.2.2.4 Tổ chức trò chơi học tập
Trong thực tế dạy học, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây đượckhông khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn Nghiên cứu cho thấy, trò chơihọc tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng của trẻ em, kíchthích sự phát triển trí tuệ của các em Môn Khoa học lớp 4 cũng không ngoại lệ
Đa số các tiết học đều có trò chơi phù hợp Chính những trò chơi đã đem lạiniềm vui học tập Muốn có một trò chơi vừa vui vừa thực hiện đầy đủ nhiệm vụhọc tập cần suy nghĩ và chuẩn bị luật chơi, cách thức chơi một cách khoa học
Ví dụ: Bài Vai trò của chất đạm và chất béo (trang 12)
Cuối tiết học, để củng cố bài, tôi tổ chức trò chơi Ai là Lê Quý Đôn Luật
chơi là lớp chia thành 2 đội, mỗi đội cử ra 3 bạn để chơi Giáo viên nêu câu hỏi
và học sinh trả lời bằng cách ghi đáp án vào bảng con, thời gian suy nghĩ là 10giây Học sinh nào trả lời sai thì học sinh khác trong nhóm đó sẽ cứu trợ Sau 10câu hỏi từ dễ đến khó, nhóm nào trả lời đúng, ít cứu trợ nhất sẽ giành chiếnthắng Ai trả lời đúng 10 câu hỏi, không cần cứu trợ thì được đội mũ tặng biệtdanh Lê Quý Đôn Câu hỏi thường thuộc dạng trắc nghiệm 4 đáp án
Trang 10Câu hỏi 1: Hôm nay, chúng ta học bài gì?
A Chất béo B Vai trò của chất béo
C Chất đạm D Vai trò của chất đạm và chất béo
Câu hỏi 2: Thức ăn nào sau đây chứa nhiều chất đạm?
A Cơm B Bắp cải
C Thịt bò D Cà rốt
Câu hỏi 3: Thức ăn nào sau đây không chứa nhiều chất đạm?
A Đậu phụ B Tôm
C Đậu nành D Rau muống
Câu hỏi 4: Thức ăn nào sau đây chứa nhiều chất béo?
A Dầu ăn B Cà chua
C Dứa D Xoài
Câu hỏi 5: Thức ăn nào sau đây không chứa nhiều chất béo?
A Trứng B Mỡ lợn
C Lạc D Vừng
Câu hỏi 6: Chất đạm giúp gì cho cơ thể của em?
A Cung cấp năng lượng B Duy trì nhiệt độ cơ thể
C Xây dựng và đổi mới cơ thể D Hấp thụ các vi – ta - min A, D, E, KCâu hỏi 7: Chất béo giúp gì cho cơ thể của em?
A Cung cấp năng lượng B Duy trì nhiệt độ cơ thể
C Xây dựng và đổi mới cơ thể D Hấp thụ các vi – ta - min A, D, E, KCâu hỏi 8: Có ý kiến cho rằng: Ăn nhiều tôm, cua, cá, thịt càng nhiều càng tốt.Theo em, ý kiến đó đúng hay sai?
A Đúng vì đây toàn là thức ăn có nhiều chất bổ
B Sai vì ăn nhiều sẽ thừa đạm gây ra các bệnh nguy hiểm
Câu hỏi 9: Vì sao khi chế biến món Ớt Đà Lạt người ta thường cho thêm dầu ăn?
A Vì để nhanh béo B Vì dầu ăn giúp hấp thụ vi ta min A
C Vì để dễ ăn C Vì để cho đẹp
Câu hỏi 10: Có ý kiến cho rằng: Ăn nhiều món có nhiều dầu ăn càng tốt cho sứckhỏe Theo em ý kiến đó đúng hay sai?
A Đúng vì dầu ăn giúp cơ thể hấp thụ các vi – ta - min A, D, E, K
B Sai vì ăn nhiều sẽ dầu ăn gây ra các bệnh nguy hiểm
2.2.2.5 Dạy học theo các kĩ thuật dạy học tích cực
Hiện nay, theo định hướng mới dạy học phải phát triển năng lực và phẩmchất người học Vì vậy, khi dạy Khoa học cần sử dụng nhiều kĩ thuật dạy họctích cực nhằm giúp học sinh hứng thú, tạo không khí sôi nổi trong lớp như kĩthuật khăn trải bàn, bàn tay nặn bột, KLWH, Đọc tích cực, Viết tích cực… Sauđây tôi xin đưa ra một tiết dạy vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực:
Ví dụ: Bài Không khí có những tính chất gì?
I Mục tiêu:
Trang 11- Quan sát và làm thí nghiệm để phát hiện ra một số tính chất của không khí:trong suốt, không màu, không vị, không hình dạng nhất định; không khí có thể
bị nén lại và giãn ra
- Nêu được ví dụ về việc ứng dụng một số tính chất của không khí trong đờisống: bơm xe, …
* Kĩ năng sống: thu thập tài liệu, quan sát, hợp tác…
* Năng lực: tự học, hợp tác, tìm hiểu tự nhiên
II Chuẩn bị:
- HS: bóng bay với hình dạng khác nhau, cốc thủy tinh trong, chai nhựa với cáchình dạng khác nhau, bơm kim tiêm ( Chuẩn bị theo nhóm)
III Các hoạt động dạy học:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
A Khởi động
KT bài: Làm thế nào để biết có không khí?
GV ghi mỗi câu hỏi vào mỗi bông hoa, yêu cầu học
sinh chọn hoa và trả lời câu hỏi
- Tìm VD chứng tỏ không khí có ở xung quanh ta
và không khí có trong những chỗ rỗng ở mọi vật
- Lớp không khí bao quanh Trái đất được gọi là gì?
* Nhận xét, khen ngợi
- HS trả lời
B Bài mới:
Cho học sinh chơi trò chơi Thi thổi bóng
Luật chơi: Lớp chai thành 2 đội, mỗi đội sẽ thổi
một số quả bóng có nhiều hình dạng khác nhau
Đội nào thổi được nhiều, đội đó giành chiến thắng
* Chúng ta đều biết, trong các quả bóng này có
chứa không khí Vậy không khí có hình dạng nhất
HĐ1: Phát hiện một số tính chất của không khí
*Mục tiêu: Sử dụng các giác quan và làm thí
nghiệm để nhận biết tính chất của không khí