Những nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp hỏi Ngữ dụng học là một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, đó là nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp.. Ở Việt Nam t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
VŨ THỊ MINH HÒA
HÀNH ĐỘNG HỎI VÀ HỒI ĐÁP HỎI TRONG
CA DAO TRỮ TÌNH NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
HẢI PHÕNG - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
VŨ THỊ MINH HÒA
HÀNH ĐỘNG HỎI VÀ HỒI ĐÁP HỎI TRONG
CA DAO TRỮ TÌNH NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Đức Thuận
HẢI PHÕNG - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công
bố trong bất kì công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Hải Phòng, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thị Minh Hòa
Trang 4Gia đình - những người luôn giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất;
Quí Thầy, Cô giảng dạy chuyên ngành Ngôn ngữ học Việt Nam khóa 7 tại trường Đại học Hải Phòng, những người đã hết lòng truyền đạt kiến thức
và những kinh nghiệm quí báu cho chúng tôi;
Giảng viên cao cấp, PGS.TS Nguyễn Đức Thuận, người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp;
Các anh chị học viên trong lớp Cao học Ngôn ngữ Việt Nam khóa 7 và các bạn đồng nghiệp đã ủng hộ, giúp đỡ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và tài liệu cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này;
Cuối cùng xin kính chúc sức khỏe quí thầy cô, gia đình và các anh chị học viên
Hải Phòng, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thị Minh Hòa
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1 Lý thuyết hội thoại 10
1.1.1 Khái niệm hội thoại 10
1.1.2 Cấu trúc hội thoại 12
1.1.3 Vấn đề lịch sự và quan hệ liên cá nhân trong hội thoại 16
1.2 Lý thuyết hành động ngôn ngữ 18
1.2.1 Khái niệm 18
1.2.2 Điều kiện sử dụng hành động ở lời 20
1.2.3 Hành động ở lời trực tiếp - gián tiếp 21
1.2.4 Hành động hỏi 24
1.2.5 Hồi đáp hỏi 27
1.3 Một số phương tiện tu từ và biện pháp tu từ trong tiếng Việt 28
1.3.1 Khái quát về phương tiện tu từ 29
1.3.2 Khái quát về biện pháp tu từ 30
1.4 Đôi nét về ca dao người Việt 32
1.4.1 Khái niệm về ca dao 32
1.4.2 Những nét cơ bản về ca dao trữ tình người Việt 32
1.5 Tiểu kết 34
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT HÀNH ĐỘNG HỎI VÀ HỒI ĐÁP HỎI TRONG CA DAOTRỮ TÌNH NGƯỜI VIỆT 36
2.1 Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại về hành động hỏi và hồi đáp trong ca dao trữ tình người Việt 36
Trang 62.2 Hành động hỏi không có hồi đáp 38
2.2.1 Nội dung các HĐNNGT được thực hiện thông qua hành động hỏi không có hồi đáp 38
2.2.2 Phương tiện đánh dấu hình thức của hành động hỏi không có hồi đáp 50
2.3 Hành động hỏi có hồi đáp 59
2.3.1 Nội dung các HĐNNGT được thực hiện thông qua hành động hỏi và hồi đáp hỏi 59
2.3.2 Phương tiện đánh dấu hình thức của hành động hỏi có hồi đáp 67
2.4 Tiểu kết 73
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ THẨM MĨ CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬTTU TỪ VÀ HIỆU QUẢ GIAO TIẾP CỦA HÀNH ĐỘNG HỎIVÀ HỒI ĐÁP HỎI 75
3.1 Giá trị thẩm mĩ của các phương thức nghệ thuật tu từ 75
3.1.1 Phương thức ẩn dụ tu từ 75
3.1.2 Phương thức so sánh tu từ 80
3.2 Hiệu quả giao tiếp 83
3.2.1 Nội dung làm quen, thăm dò 83
3.2.2 Nội dung thử tài, giao duyên 90
3.2.3 Nội dung than trách 91
3.2.4 Nội dung giãi bày 93
3.2.5 Nội dung khuyên nhủ 94
3.2.6 Nội dung chê 96
3.3 Tiểu kết 97
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC
Trang 7HĐOLH Hành động ở lời hỏi
HĐOLTT Hành động ở lời trực tiếp
HĐOLGT Hành động ở lời gián tiếp
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
2.1 Nội dung các HĐNNGT được thực hiện thông qua
HĐH trong ca dao trữ tình người Việt
36
2.2 Thống kê số lần xuất hiện của phương tiện đánh dấu
hình thức của HĐH trong ca dao người Việt
3.1 Các phương thức nghệ thuật tu từ thường gặp trong
hành động hỏi (ca dao trữ tình người Việt)
75
3.2 Kết quả khảo sát phương thức ẩn dụ tu từ trong hành
động hỏi (ca dao trữ tình người Việt)
77
3.3 Kết quả khảo sát phương thức so sánh tu từ trong hành
động hỏi (ca dao trữ tình người Việt)
80
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ca dao là một thể loại chủ yếu của văn học dân gian, có giá trị rất lớn trong kho tàng văn học của dân tộc Đó là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong dân gian Những bài ca dao trữ tình của người Việt thường nói lên tâm tư, tình cảm của nhân dân trong cuộc sống lao động thường ngày, trong các mối quan
hệ xã hội như mối quan hệ gia đình, bạn bè, tình làng, nghĩa xóm và đặc biệt
là tiếng nói hạnh phúc hay khổ đau của tình yêu lứa đôi Ca dao có thể cấu trúc theo lối ngẫu nhiên, có thể cấu trúc theo lối đối thoại và cũng có thể cấu trúc theo lối phô diễn Lối đối thoại trong ca dao rất phổ biến, đặc biệt hình thức hỏi và hồi đáp hỏi trong ca dao bộc lộ rất rõ những tư tưởng, tình cảm,
vẻ đẹp tâm hồn, sắc thái biểu cảm… của người dân lao động xưa Trong kho tàng ca dao của người Việt nói chung, ca dao trữ tình chiếm một số lượng rất lớn (theo thống kê của các nhà nghiên cứu có khoảng 80%) và cũng mang cấu trúc đặc thù chung của ca dao về hình thức hỏi và hồi đáp hỏi khi diễn xướng
1.2 Từ lâu, ca dao Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu chú trọng tìm hiểu, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị giúp cho chúng ta
có cái nhìn đa chiều về ca dao Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu ngôn ngữ văn chương truyền thống mới chỉ dựa trên ngữ pháp và ngữ nghĩa, tức là đi sâu vào bình diện kết học, nghĩa học của câu chữ trong ca dao mà bỏ qua mặt dụng học khi đi vào nghiên cứu Đây là hướng đi của ngôn ngữ học cổ điển (ngôn ngữ học tiền ngữ dụng) Hạn chế của các phương pháp nghiên cứu truyền thống này là mới chỉ thấy được mô hình mã mà chưa thấy được mô hình suy ý, tách rời ngôn ngữ nhân vật trữ tình khỏi ngữ cảnh rộng và hẹp nên không thấy được nhiều hơn những nghĩa nằm trên câu chữ trực tiếp Điều này cũng có nghĩa là chúng ta đã bỏ qua một mảng lớn nội dung của ca dao, bao gồm các hành động ngôn ngữ (trực tiếp/gián tiếp), nghĩa hàm ẩn, hợp phần ngữ cảnh… Đó là những nhân tố quan trọng kiến tạo nên cuộc giao tiếp hoàn
Trang 10chỉnh giữa các nhân vật trữ tình trong ca dao và giữa tiếng nói cá nhân, tiếng nói tập thể với những người nghe, người đồng cảm, hiểu về nội dung của nó Những nội dung ngoài câu chữ này đóng vai trò không nhỏ giúp chúng ta hiểu sâu hơn nội dung của các bài ca dao cũng như những điều mà tác giả dân gian gửi gắm
1.3 Khi nghiên cứu về ca dao, chúng ta cần áp dụng những thành tựu của ngữ dụng học để phát hiện thêm nhiều vẻ đẹp tiềm ẩn đằng sau câu chữ Chúng ta nên coi tác phẩm văn học nói chung và ca dao nói riêng là một diễn ngôn, giống như sản phẩm giao tiếp giữa nhà văn và bạn đọc Bởi vậy, cần thiết phải dùng lí thuyết hội thoại trong ngữ dụng học nghiên cứu phương thức diễn xướng chủ đạo trong ca dao, lối hỏi - đáp, để qua đó ta thấy được vị thế, dấu ấn thời đại, xã hội cũng như tư tưởng mà các tác giả dân gian gửi gắm vào chúng Nhờ sự tác động của ngữ cảnh và thông qua những chuyển hóa khác nhau mà hành động hỏi ngoài việc dùng để hỏi còn có thể thực hiện các hành động nói khác như: hứa hẹn, giãi bày, trách móc và người trả lời (hồi đáp) có rất nhiều cách hồi đáp khác nhau Trước tình hình như vậy, việc vận dụng lí thuyết về hành động ngôn ngữ, cụ thể là hành động hỏi và hồi đáp vào nghiên cứu ca dao trữ tình sẽ có những đóng góp mới cho việc nghiên cứu về ca dao người Việt
1.4 Là một giáo viên giảng dạy Ngữ văn ở bậc Trung học phổ thông, chúng tôi nhận thấy loại hình ca dao xuất hiện nhiều trong chương trình Ngữ văn từ bậc học Mầm non, Tiểu học, THCS đến THPT Đây là chương trình đồng tâm, mà ca dao chiếm một dung lượng lớn, với số tiết khá nhiều Trong chương trình Mầm non có những câu ca dao về tình cảm gia đình, về các hiện tượng tự nhiên, các con vật, về đặc điểm của vùng miền… Đến chương trình Tiểu học ca dao xuất hiện nhiều trong phân môn Tập đọc, đặc biệt là sách
Tiếng Việt từ lớp 2 đến lớp 5 Trong sách giáo khoa Ngữ văn THCS đã có
những bài ca dao được dạy và học theo các chủ đề khác nhau Ở bậc học này, học sinh không những thuộc và ghi chép đầy đủ, chính xác các bài ca dao mà
Trang 11còn biết cách cảm nhận, phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của một bài
ca dao gắn với các chủ đề đã được học Đặc biệt, trong chương trình Ngữ văn
THPT, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 đã dành một số lượng đáng kể để học
sinh tiếp cận với vẻ đẹp của văn học dân gian nói chung, trong đó có ca dao nói riêng Học sinh không những phân tích được giá trị nội dung và nghệ thuật của một bài ca dao mà còn phải biết vận dụng sáng tạo, liên tưởng đến những vấn đề ngoài thực tiễn đời sống, điều đó đòi hỏi người giáo viên trong quá trình giảng dạy phải có cái nhìn tổng thể, sâu sắc đặc biệt là các tầng lớp
ý nghĩa, giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mĩ… trong ca dao để truyền cảm hứng cho học sinh
Xuất phát từ những lý do về khoa học cơ bản và khoa học sư phạm như
đã nêu trên, chúng tôi lựa chọn: "Hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong ca dao trữ tình người Việt" là đề tài nghiên cứu
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp hỏi
Ngữ dụng học là một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, đó là nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp Trong giao tiếp, câu nghi vấn là một trong bốn kiểu câu phân loại theo mục đích nói Kiểu câu này được
sử dụng khá phổ biến trong tiếng Việt Ở Việt Nam từ những năm 80 trở lại đây, vấn đề hành vi ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi, hồi đáp hỏi nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học như các tác giả: Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp … Khi nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp phải kể đến các công trình
khoa học của một số tác giả như: Hành động hỏi trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, Trần Thị Quế Quyên, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2014; Hành động hỏi trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Thị Toan, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Hải Phòng, năm 2013; Hành động hỏi của nhân vật nữ trong một số tiểu thuyết của nhà văn Ma Văn Kháng,
Ngô Thuỳ Dương, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Hải Phòng, năm 2013
Trang 12Các luận văn này đã nghiên cứu hành động hỏi trong các tác phẩm văn học cụ thể, để thấy được đặc điểm và chức năng ngữ dụng của hành động hỏi trong cách xây dựng truyện của tác giả, đồng thời khám phá thêm một nét mới trong phong cách xây dựng tính cách nhân vật của nhà văn dưới góc độ ngôn ngữ Nếu như các tác giả nêu trên chỉ đi vào nghiên cứu hành động hỏi trong một
số tác phẩm truyện ngắn thì tác giả Nguyễn Thị Dịu với đề tài Hành động hỏi
và hồi đáp hỏi trong tác phẩm của nhà văn Nguyên Ngọc, Luận văn Thạc sĩ,
Trường Đại học Hải Phòng, năm 2012 và tác giả Nguyễn Thị Hằng với đề tài
Hành vi hỏi và hồi đáp hỏi trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn
Thạc sĩ, Trường Đại học Hải Phòng, năm 2013 lại nghiên cứu cả hành động hỏi và hồi đáp hỏi, làm rõ hơn đặc điểm các cuộc thoại hỏi - hồi đáp hỏi, chỉ
ra những đặc điểm cơ bản trong việc xây dựng tính cách nhân vật và làm rõ được đặc điểm ngữ cảnh trong từng tác phẩm cụ thể
Đề tài Hành động hỏi trong ca dao của người Việt của tác giả Hà Thị
Hồng Mai, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Vinh, năm 2012 lại không đi vào tìm hiểu hành động hỏi trong các tác phẩm văn xuôi mà đi vào tìm hiểu hành động hỏi trong ca dao của người Việt, đây là một góc mới trong việc tìm hiểu, nghiên cứu nét độc đáo của văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng Đề tài đã làm rõ được các đặc điểm của hành động hỏi trong ca dao trên các phương diện: hình thức, nội dung, văn hóa ứng xử, trong đó nổi bật là phép lịch sự
Bên cạnh đó cũng có một số bài viết liên quan đến đề tài này như: Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Lê Đông, Ngôn ngữ (số phụ), năm 1985; Thử tìm hiểu phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương tác lẫn nhau giữa chúng trên bình diện giao tiếp, Nguyễn Chí Hoà, Ngôn ngữ số 1, năm 1993; Vai trò của thông tin tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa – ngữ dụng của câu hỏi, Lê Đông, Ngôn ngữ số 2, năm 1994; Một vài đặc điểm chung của câu nghi vấn (qua
ngôn liệu một số ngôn ngữ), Nguyễn Đăng Sửu, Kỉ yếu hội thảo Ngữ học trẻ,
năm 1998; Một số tiểu từ tình thái đứng cuối câu dùng để hỏi, Nguyễn Thị
Tuyết Mai, Những vấn đề ngôn ngữ học, Kỉ yếu hội nghị khoa học, năm 2001,
Trang 13Viện Ngôn ngữ học…
2.2 Những nghiên cứu về ca dao người Việt
Ca dao nói chung đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý khai thác trên nhiều phương diện như văn học dân gian, thi pháp học, ngôn ngữ học, văn hóa học, trong đó không thể không kể đến sự đóng góp của các tác giả như: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Xuân Kính, Phạm Thu Yến…v.v
- Với tác phẩm Văn hóa dân gian với sự phát triển của xã hội Việt Nam,
NXB Chính trị quốc gia, năm 1995, tác giả Đinh Gia Khánh đã nêu lên tính thời sự của việc nghiên cứu văn hóa dân gian trong đời sống hiện đại, làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa dân gian với môi trường văn hóa ở nông thôn, sự hội
tụ của các giá trị văn hóa dân gian ở hội làng và sự nuôi dưỡng bản sắc dân tộc, những giá trị thẩm mĩ trong văn hóa dân gian và tâm hồn nhân dân Trong đó nhấn mạnh vào ca dao, tiếng nói tâm tư, tình cảm của người dân lao động
- Tìm hiểu ở phương diện thi pháp học, Nguyễn Xuân Kính đã xuất bản
cuốn Thi pháp ca dao (1992), NXB Khoa học Xã hội Tác giả đã nêu rất rõ
những đặc trưng cơ bản của thi pháp ca dao: cái tôi trữ tình trong ca dao, tính tập thể trong sáng tác và tính truyền miệng trong lưu hành khiến cái tôi trữ tình của ca dao không có dấu vết cá nhân, cá thể; thời gian và không gian trong ca dao là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật trong tác phẩm; trong ca dao sử dụng rất nhiều biểu tượng phổ biến: con cò, hoa nhài, hoa sen, cây trúc, cây mai… và đặc biệt tác giả nhấn mạnh vào thể thơ lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc ta được vận dụng trong ca dao người Việt
- Tác giả Phạm Thu Yến cũng có những đóng góp rất lớn cho việc
nghiên cứu về ca dao Việt Nam Với tác phẩm Những thế giới nghệ thuật trong ca dao, NXB Giáo dục năm 1990 và bài viết "Tính dân tộc và phép đối ngẫu tâm lí trong thơ ca trữ tình dân gian", Tạp chí Văn học, số 2, năm 1996,
cho chúng ta những cái nhìn mới mẻ, đa chiều về ca dao người Việt
Trang 14- Tác giả Hoàng Tiến Tựu với bài viết "Bước đầu tìm hiểu sự khác
nhau giữa ca dao và thơ lục bát", Tạp chí Văn học, số 11, và cuốn Bình giảng
ca dao, NXB Giáo dục, năm 1997, là những tác phẩm có giá trị, đóng góp rất
lớn vào việc nghiên cứu về ca dao Việt Nam
Ngoài một số tác giả nêu trên, gắn bó với việc nghiên cứu, tìm hiểu về
ca dao người Việt, chúng ta cũng cần phải kể đến một số tác giả khác như:
- Phan Đăng Nhật với “Tìm hiểu thi pháp học qua Thi pháp ca dao”,
Văn hóa nghệ thuật Hà Nội, số 5, năm 2005 Tác giả đã nêu rõ khái niệm thi
pháp văn chương nói chung, khái niệm thi pháp của một thể loại nói riêng, cụ thể là thi pháp văn học dân gian, toàn bộ những đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ thuật miêu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo đề tài, cốt truyện về phương pháp xây dựng hình tượng con người hay sự vật Cụ thể, tác giả đã đi sâu vào thi pháp ca dao, đặc trưng nhất đó là cái tôi trữ tình trong
ca dao, tính tập thể trong sáng tác và tính truyền miệng trong lưu hành, giao tiếp khiến cái tôi trữ tình của ca dao không có dấu vết cá nhân, cá thể…
- Hoàng Kim Ngọc (2009) với cuốn sách So sánh ẩn dụ trong ca dao trữ tình, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã tiếp cận ca dao trữ tình từ
góc nhìn của lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ và phân tích diễn ngôn Tác giả đã chỉ ra được hệ quy tắc cùng những đặc điểm về hình thái cấu trúc - ngữ nghĩa của so sánh và ẩn dụ Gợi mở ý tưởng nghiên cứu về trầm tích văn hóa - ngôn ngữ, về vai trò và hình thức sử dụng so sánh, ẩn dụ trong việc tạo lập ngôn bản ca dao…
- Trần Thị An (1990) với Về một phương diện nghệ thuật của ca dao tình yêu, Văn hóa dân gian; Phan Huy Dũng (1991) với Hình thức lấp lửng của lời tỏ tình trong bài ca xin áo, Văn hóa dân gian; Đỗ Thị Kim Liên (2003) với Cách sử dụng từ xưng hô trong ca dao tình yêu Các tác giả này lại
đi sâu vào nội dung và nghệ thuật của ca dao tình yêu, một mảng đề tài rất độc đáo trong kho tàng ca dao người Việt
Như vậy, có thể thấy đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về ca
Trang 15dao người Việt, về một hành động ngôn từ cụ thể trong tiếng Việt hoặc so sánh một hành động ngôn từ trong tiếng Việt với loại hành động đó trong một ngôn ngữ khác Tuy nhiên, về giá trị thẩm m và hiệu quả của các hành động hỏi cũng như hồi đáp hỏi trong ca dao gắn với văn hóa, vẻ đẹp ngôn ngữ giao tiếp dân gian của người Việt vẫn là một vấn đề còn khá mới mẻ và chưa được nghiên cứu đầy đủ Trên cơ sở tiếp nhận và kế thừa ít nhiều những thành quả nghiên cứu lý thuyết của các tác giả đi trước, với mong muốn góp phần làm rõ thêm mảng đề tài nghiên cứu một số hành động ngôn ngữ được thể hiện trong một thể loại của văn học dân gian là ca dao, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài Hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong ca dao trữ tình người Việt
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết ngữ dụng học, tiến hành nghiên cứu đề tài này, luận văn nhằm mục đích: làm rõ các đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong ca dao trữ tình người Việt trên các phương diện: hình thức, nội dung, văn hóa ứng xử, giá trị thẩm mĩ và hiệu quả của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong ca dao trữ tình người Việt, trong đó nổi bật là hiệu quả của phép
lịch sự
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan được tình hình nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
- Khảo sát đặc điểm hành động hỏi và hồi đáp trong ca dao trữ tình người Việt
- Chỉ ra những giá trị thẩm mĩ và hiệu quả của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong ca dao trữ tình người Việt (nổi bật đặc sắc của phép lịch sự)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là tập trung khảo sát, nghiên
Trang 16cứu hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong ca dao trữ tình người Việt ở hai đề tài: tình yêu đôi lứa và tình cảm vợ chồng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng sách Tổng tập ca dao người Việt - 2 tập, do tác giả
Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên), NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội, năm 1994 làm đối tượng nghiên cứu, vì nhận thấy rằng đây là sách có số lượng ca dao
được tác giả sưu tầm nhiều hơn so với cuốn Tục ngữ, ca dao Việt Nam của
Vũ Ngọc Phan
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp và thủ pháp chủ yếu sau:
văn học khi phân tích, miêu tả
5.2 Phư ng pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả, phân tích giá trị thẩm
m cũng như hiệu quả diễn ngôn với nguồn tư liệu đã lựa chọn, từ đó có những nhận xét, kết luận phù hợp Phương pháp này tạo nên tính logic, chặt
chẽ trong lập luận
6 Đóng góp của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp kh ng định các đặc điểm về mặt hình thức và nội dung của những giá trị thẩm m và hiệu quả của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong ca dao trữ tình người Việt Nó là cơ sở để hiểu thêm
về cách mà người Việt bày tỏ tâm tư, tình cảm của mình qua ca dao, đồng
Trang 17thời qua đó cũng để hiểu thêm phong tục, tập quán và con người Việt Nam
Mặt khác, kết quả của đề tài sẽ góp thêm một cứ liệu trong lĩnh vực nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hoá, văn học dân gian và văn hoá dân gian;
là nguồn tư liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu và giảng dạy ngữ dụng học, văn học dân gian trong nhà trường góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chư ng 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài
Chư ng 2: Khảo sát hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong ca dao trữ tình
người Việt
Chư ng 3: Giá trị thẩm mĩ của phương thức nghệ thuật tu từ và hiệu
quả của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong ca dao trữ tình người Việt
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lý thuyết hội thoại
1.1.1 Khái niệm hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, căn bản và phổ biến của ngôn ngữ, cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Hội thoại
từ lâu đã được nhiều ngành học quan tâm, và cũng có nhiều quan niệm khác
nhau về hội thoại Theo Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Hội thoại là khái niệm dành cho mọi hình thức hội thoại khác nhau” [9, tr.201]
Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Hội thoại là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ Giao tiếp hội thoại luôn luôn có sự hài hòa giữa người nói và người nghe, chẳng những người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói của từng người cũng tác động lẫn nhau”.[17,tr.63]
Còn theo Hồ Lê, thì “Hội thoại là hành vi thể hiện ngôn giao hai chiều,
cụ thể và xác định, làm chuyển hóa vị thế của người thụ ngôn thành vị thế của người phát ngôn và ngược lại, đồng thời tạo ra sự liên kết hành vi phát ngôn với hành thụ ngôn tạo thành một thể thống nhất” [31, tr.13]
Trong các quan niệm trên về hội thoại, chúng tôi sử dụng quan niệm của Đỗ Hữu Châu để làm cơ sở nghiên cứu Ông đã quan niệm về “hội thoại” một cách bao quát hơn, có thể áp dụng cho nhiều loại hình ngôn ngữ Theo
Đỗ Hữu Châu trong cuốn Đại cương Ngôn ngữ học – Tập hai, Ngữ dụng học,
NXB Giáo dục Việt Nam, trang 201, hội thoại có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) ở đó diễn ra cuộc hội thoại: Thoại trường hội thoại có thể là công cộng hay riêng tư Thoại trường không phải chỉ có nghĩa không gian – thời gian tuyệt đối mà gắn với khả năng can thiệp của những người thứ ba đối với cuộc hội thoại đang diễn ra
Trang 19Thứ hai, ở số lượng người tham gia: Số lượng nhân vật hội thoại – còn gọi là đối tác hội thoại hay đối tác – thay đổi từ hai đến một số lượng lớn Có
những cuộc hội thoại tay đôi, tay ba (trilogeue) tay tư hoặc nhiều hơn nữa (đa thoại – polylogue) Những cuộc hội thoại như một cuộc hội nghị, một giờ học,
một cuộc mít tinh… thì số lượng nhân vật không thể cố định được
Thứ ba, cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại: Sự thực, tiêu chí số lượng có quan hệ với tiêu chí cương vị và tư cách người tham gia Cương vị và tư cách của người hội thoại rất khác nhau tùy theo các cuộc hội thoại, tựu trung có thể kể ra như sau: a) Tính chủ động hay thụ động của các đối tác Trong hội thoại có vai nói và vai nghe Cuộc hội thoại chủ động là hội thoại trong đó cả hai vai đều có quyền chủ động tham dự vào cuộc hội thoại như nhau theo nguyên tắc anh nói tôi nghe, tôi nói anh nghe; tôi và anh luôn phiên nhau nói và nghe Cuộc hội thoại thụ động là cuộc hội thoại trong
đó chỉ một người giữ cương vị vai nói, còn người kia (những người kia) chỉ nghe, không tham gia được vào hội thoại hoặc có tham gia vào thì cũng rất hạn chế, thường là chỉ để bày tỏ kết quả tiếp nhận của mình hoặc để yêu cầu người nói giải thích hoặc bổ sung thêm một thông tin nào đó cho nội dung diễn ngôn của người này b) Sự có mặt hay vắng mặt của vai nghe trong hội thoại Ví dụ: phát thanh, truyền hình… là những hình thức hội thoại mà người nghe vắng mặt Trò chuyện tay đôi, tay ba, những cuộc hội nghị, mít ting…v.v là những cuộc hội thoại trong đó người nghe có mặt Hội thoại qua điện thoại có dạng đặc biệt: những người nói chuyện bằng điện thoại (trừ điện thoại tối tân có truyền hình) tuy không nhìn thấy nhau nhưng vẫn có mặt trong cuộc hội thoại…
Thứ tư là các cuộc hội thoại khác nhau ở tính có đích hay không có đích: Những cuộc hội thoại như thương thuyết ngoại giao, hội thảo khoa học
có đích được xác định trước rõ ràng Những cuộc tán gẫu được xem là không
có đích
Thứ năm, các cuộc hội thoại có thể khác nhau về tính có hình thức hay
Trang 20không có hình thức: Những cuộc thương nghị, hội thảo… là những cuộc hội thảo mà hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành nghi lễ còn những chuyện trò đời thường không cần một hình thức nào cả
Cuối cùng là vấn đề ngữ vực: Do tính có hình thức hay không có hình thức mà các cuộc hội thoại có thể diễn ra ở một trong ba ngữ vực đã biết
1.1.2 Cấu trúc hội thoại
Cho đến thời điểm hiện nay, trên thế giới tồn tại ba trường phái có quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại Thứ nhất là trường phái phân tích hội
thoại ở Mĩ (Conversation analysis) – Trường phái này cho rằng hội thoại có
hai tổ chức cơ bản là lượt lời và cặp thoại Thứ hai là trường phái phân tích
diễn ngôn (Discourse analysis) – Trường phái này dựa trên mô hình cấu trúc bậc (rank) chia hội thoại thành năm bậc như sau: I Tương tác (Interaction);
II Đoạn thoại (Transaction); III Cặp thoại (Exchange); IV Bước thoại (move); V Hành động (act) Trong cấu trúc tầng bậc này, hành động (act) là
đơn vị nhỏ nhất của cuộc thoại tức cuộc tương tác Các hành động tạo nên bước thoại, các bước thoại tạo nên cặp thoại và đơn vị lớn nhất, bao trùm là cuộc thoại Trong đó, ba đơn vị cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại có tính chất
lưỡng thoại (dialogal) có nghĩa là hình thành do vận động trao đáp của các
nhân vật hội thoại Hai đơn vị có tính chất đơn thoại, có nghĩa là do một người nói ra là tham thoại và hành động ngôn ngữ Thứ ba là trường phái lý thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và Pháp – Trường phái này đã phân định các đơn
vị cấu trúc hội thoại thành các đơn vị cơ bản: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, hành động ngôn ngữ và tham thoại Để tiện cho việc nghiên cứu, đề tài xin trình bày một số đơn vị hội thoại theo trường phái lý thuyết hội thoại nhằm làm cơ sở lý thuyết nghiên cứu Ở phần này, đề tài đã sử dụng toàn bộ quan điểm của Đỗ Hữu Châu về cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại và tham
thoại trong cuốn Đại cương Ngôn ngữ học (Tập hai – Ngữ dụng học), NXB
Giáo dục Việt Nam, 2009
Trang 211.1.2.1 Cuộc thoại
Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất Có thể nói toàn bộ hoạt động ngôn ngữ của con người là một chuỗi dằng dặc những lời đối đáp
Để xác định một cuộc thoại, dựa vào các tiêu chí sau:
Nhân vật hội thoại: theo tiêu chí này, một cuộc thoại được xác định bởi
sự gặp mặt và sự chia tay của hai người hội thoại, nói chung một cuộc thoại được xác định bởi sự đương diện liên tục của những người hội thoại Khi số lượng hay tính chất của người hội thoại thay đổi thì chúng ta có cuộc thoại mới
Tính thống nhất về thời gian và địa điểm: Thời gian có thể ban ngày, ban đêm, chiều tối, hôm qua Không gian có thể là một góc sân, một cuộc họp ở hội trường hay cuộc nói chuyện ở nhà riêng Tiêu chí này chỉ có tính chất tương đối bởi vì trong quá trình hội thoại thời gian và không gian có thể thay đổi
Tính thống nhất về đề tài diễn ngôn: Đề tài là phạm vi hiện thực mà người nói đề cập đến Chủ đề là cái chủ đích mà người nói, người nghe cùng đề cập đến trong toàn bộ cuộc thoại Một cuộc thoại có độ dài ngắn khác nhau, song đòi hỏi phải có sự thống nhất về đề tài – tức các nhân vật tham gia cuộc thoại phải cùng hướng đến một vấn đề, một cái đích chung Theo Grice, một cuộc thoại phải theo một hướng nhất định từ đầu cho đến khi kết thúc Tuy nhiên, trên thực tế lại tồn tại rất nhiều cuộc thoại mà đề tài liên tục được thay đổi (điển hình là các cuộc tán gẫu) Do tính chất không chặt chẽ của các tiêu chí trên, C.K Orecchioni đã đưa ra một định nghĩa mềm dẻo hơn về cuộc thoại: “Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong một khung thời gian - không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng”
1.1.2.2 Đoạn thoại
Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ
đề, về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích Tiêu chí ngữ dụng của đoạn thoại
là sự thực hiện một quan hệ lập luận trong đoạn thoại đó Cấu trúc tổng quát
Trang 22của một cuộc thoại có thể là: Đoạn thoại mở thoại, thân cuộc thoại và đoạn thoại kết thúc Trong đó: Đoạn thoại mở thoại: Mang tính chất “đưa đẩy”, có chức năng mở ra cuộc thoại và nêu đề tài diễn ngôn Đoạn thân thoại: Là đoạn thoại phản ánh nội dung chính của cuôc thoại Đoạn kết thoại: Là đoạn thoại
có chức năng tổng kết, kết luận về chủ đề hội thoại Để kết thúc chúng ta có thể đưa ra những lời hứa hẹn, cảm ơn, chúc mừng, xin lỗi, từ biệt
1.1.2.3 Cặp thoại (Cặp trao đáp)
Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu, với chúng, cuộc trao đổi, tức cuộc hội thoại chính thức được tiến hành Vì cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo nên, có thể căn cứ vào số lượng các tham thoại để phân loại các cặp thoại:
Cặp thoại một tham thoại: Thực tế, về nguyên tắc, cặp thoại ít nhất phải
có hai tham thoại của hai nhân vật, tuy nhiên khi chúng ta nói đến các cặp thoại một tham thoại là nhắc đến những trường hợp tham thoại Sp1 không
được Sp2 hưởng ứng hồi đáp bằng một hành vi tương ứng Ví dụ như: Sp1: Hôm nay em đẹp quá!/ Sp2:… Chúng ta gọi những trường hợp này là cặp
thoại hẫng Tuy nhiên, không phải cặp thoại hẫng chỉ xảy ra khi một trong hai nhân vật hội thoại tỏ ra không thích thú với tham thoại của người kia Có
những trường hợp như: Sp1: Chào em! Em là học sinh mới vào lớp?/ Sp2: Vâng! Tham thoại Chào em! Không có tham thoại hồi đáp tương ứng của
Sp2 Sp2 chỉ hồi đáp tham thoại hỏi của Sp1 Đây cũng là một dạng của tham thoại hẫng
Cặp thoại hai tham thoại: Cặp thoại này còn được gọi là cặp thoại đôi
Trong đó tham thoại thứ nhất được gọi là tham thoại dẫn nhập, tham thoại thứ
hai là tham thoại hồi đáp Ví dụ: Sp1: Đi đâu đấy?/Sp2: Đi học
Cặp ba tham thoại: Cặp thoại này còn được gọi là cặp thoại ba Về
nguyên tắc cặp thoại đủ hai tham thoại đã hoàn chỉnh Tuy nhiên trong thực tế những tham thoại như vậy thường tỏ ra “cụt lủn”, “ông ch ng bà chuộc”…
nên ta thường gặp các cặp thoại ba như: Sp1: Đi đâu đấy?/Sp2: Đi nhận phần thưởng đây./ Sp1: Xin chúc mừng
Trang 23Bên cạnh đó, căn cứ vào tính chất của những tham thoại hồi đáp, có thể chia cặp thoại thành những cặp thoại tích cực và cặp thoại tiêu cực Thông thường một cặp thoại ít khi kéo dài đến 5, 6 tham thoại Tuy nhiên, sự có mặt các tham thoại tiêu cực làm cho cấu trúc và chức năng của các cặp thoại trở nên phức tạp, khó miêu tả
1.1.2.4 Tham thoại
Theo Đỗ Hữu Châu, tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định Một lượt lời có thể gồm nhiều tham thoại mà cũng có thể nhỏ hơn tham thoại (một tham thoại gồm nhiều lượt lời) Ví dụ:
(1) = Sp1: Chào!
(2) – Sp2: Chào!
(3) – Sp1: Thế nào? Bình thường chứ?
(4) – Sp2: Bình thường Cám ơn Còn cậu thế nào?
(5) – Sp1: Cám ơn, mình cũng bình thường Đi đâu mà hớt hơ hớt hải thế? (6) – Sp2: Mình đi tìm Thắng Cậu ấy sắp đi Nha Trang
(1) và (2) là một cặp thoại chào gồm hai tham thoại đối xứng; (3) và (4)
là một cặp thoại, trong đó (3) là một lượt lời gồm một tham thoại hỏi (4) là một lượt lời gồm 3 tham thoại, một tham thoại đáp, một tham thoại cám ơn, một tham thoại hỏi Mỗi cặp thoại như trên do hai tham thoại tạo thành
Về tổ chức nội tại, một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên Theo trường phái Geneve, một tham thoại có một hành vi chủ hướng (CH), và có thể có một hoặc một số hành vi phụ thuộc (PT) [9, tr.317] Cấu trúc của tham thoại có thể là:
Trang 24nhiều chức năng khác nhau Ví dụ:
- Sp1: Xin lỗi! Anh có biết đồng chí Tuấn ở đây không ạ? Anh Tuấn dạy khoa Toán ấy mà
CH là hành vi hỏi và Sp2 khi nghe tham thoại này chắc chắn sẽ đáp lại bằng câu trả lời biết hay không biết chỗ ở của Tuấn Tuy nhiên cũng có những trường hợp tham thoại chỉ có PT nhưng người đối thoại lại hồi đáp theo CH
ẩn Ví dụ: Sp1: Tắc đường ở Cầu Giấy đến hơn một tiếng / Sp2: Không sao Cuộc họp vẫn chưa bắt đầu đâu
CH của tham thoại của Sp1 là hành vi xin lỗi vì đến trễ nhưng gián tiếp Bởi vậy, Sp2 hồi đáp cho chính CH đó, không hồi đáp cho hành vi PT Đây là vấn đề của các hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại
1.1.3 Vấn đề lịch sự và quan hệ liên cá nhân trong hội thoại
1.1.3.1 Vấn đề lịch sự
Lịch sự là những chiến lược nhằm duy trì hay thay đổi quan hệ liên cá nhân Nó có chức năng gìn giữ sự cân bằng xã hội và quan hệ bè bạn, những quan hệ này khiến chúng ta có thể tin rằng người đối thoại với chúng ta tỏ ra trước hết là cộng tác với chúng ta Phép lịch sự liên quan tới tất cả các phương diện của diễn ngôn: bị chi phối bởi các quy tắc (ở đây không có nghĩa
là những công thức hoàn toàn đã trở thành thói quen), xuất hiện trong địa hạt quan hệ liên cá nhân, chúng có chức năng gìn giữ tính chất hài hòa quan hệ đó (ở mức thấp nhất là giải tỏa những xung đột tiềm tàng, tốt hơn nữa là làm cho người này trở thành càng dễ chịu đối với người kia thì càng tốt [9, tr 256]
Khi hội thoại, các đối tác đều mong muốn giữ được thể diện cho cả mình và người nghe Vì vậy, khi thực hiện một hành động ở lời nào có khả năng làm mất thể diện của đối tác thì người nói tìm cách làm dịu tác động đe dọa thể diện của nó bằng những hành động cứu vãn thể diện hay giữ thể diện
Ch ng hạn, khi chê một người nào đó tức là xúc phạm thể diện dương tính của người đó, người ta thường sử dụng đến những yếu tố làm giảm sự xúc phạm thể diện như rào đón, nói giảm nói tránh, dùng hành động gián tiếp (hỏi,
Trang 25tường thuật, cầu khiến)
Tuy nhiên, ranh giới giữa các hành động đe dọa thể diện và các hành động giữ thể diện nhiều khi không phải dễ phân biệt Có khi một hành động tôn vinh thể diện lại trở thành một hành động đe dọa thể diện Cho nên, để đảm bảo được phép lịch sự khi giao tiếp phải thực hiện chiến lược lịch sự qua những phép lịch sự dương tính và lịch sự âm tính
Phép lịch sự là tập hợp những phương tiện mà người nói vận dụng để điều phối các thể diện giao tiếp Phải tôn trọng lãnh địa của người nói nhưng cũng phải làm sao cho lãnh địa của mình không bị xúc phạm Bởi vậy, phép lịch sự là rất cần thiết và là chuẩn mực mà người nói luôn hướng tới Lịch sự gắn với văn hóa của từng dân tộc nên việc nghiên cứu sự thể diện của phép lịch
sự trong ngôn ngữ chính là đi vào những đặc trưng văn hóa của từng dân tộc
1.1.3.2 Quan hệ liên cá nhân
Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp Còn quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp có thể xét theo hai trục, trục tung là vị thế xã hội còn gọi là trục quyền uy, trục hoành là trục của quan hệ khoảng cách còn được gọi là trục thân cận
Trục hoành (trục khoảng cách, trục thân cận): Thể hiện khoảng cách tình cảm gần gũi thân tình hay xa lạ giữa những người hội thoại với nhau, nó
có thể điều chỉnh được Những quan hệ trên trục này gọi là quan hệ ngang Có những dấu hiệu phi lời, kèm lời và bằng lời để đánh dấu mức độ quan hệ này giữa những người hội thoại
Trục tung (trục quyền uy, trục vị thế): Thể hiện vị thế xã hội giữa những người tham gia giao tiếp với nhau Những quan hệ trên trục này gọi tắt là quan
hệ dọc Những quan hệ chính về vị thế cũng biểu hiện qua các dấu hiệu phi lời, kèm lời và những dấu hiệu ngôn ngữ Các dấu hiệu ngôn ngữ bao gồm: các nghi thức xưng hô, tổ chức các lượt lời, tổ chức cấu trúc của tương tác hội
Trang 26thoại, các hành động ngôn ngữ Sự không bình đ ng về vị thế, trước hết là những vấn đề của ngữ cảnh: tuổi tác, giới tính, địa vị, vai trò trong hội thoại, sự làm chủ ngôn ngữ
Vị thế xã hội và mức độ thân cận có ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung, hình thức và cả quá trình giao tiếp Vị thế xã hội không đồng nhất với vị thế giao tiếp (vai trò, vị thế của nhân vật tham gia hội thoại)
Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức diễn ngôn, do đó, xưng hô chịu áp lực rất mạnh từ quan hệ này Qua việc sử dụng từ xưng hô mà vai nghe biết được vai nói xác định quan hệ vị thế và quan hệ xã hội với mình như thế nào Các từ xưng hô trong tiếng Việt chịu áp lực rất mạnh của quan hệ liên cá nhân Qua các từ xưng hô, người nghe có thể nhận biết được người nói đã xác định quan hệ dọc hay quan hệ ngang trong giao tiếp như thế nào để hồi đáp cho phù hợp
1.2 Lý thuyết hành động ngôn ngữ
1.2.1 Khái niệm
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, giữa những năm 1950, J.L.Austin - nhà triết học người Anh đã trình bày 12 chuyên đề liên quan đến hành động ngôn ngữ (HĐNN) (cũng gọi là hành vi ngôn ngữ) Ông đã tiến hành phân biệt phát ngôn khảo nghiệm với phát ngôn ngữ vi và phát hiện ra được bản chất hành động của ngôn ngữ “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một HĐNN được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong một ngữ cảnh C”[9,446] J.L.Austin cho rằng
có ba loại HĐNN lớn là: hành động tạo lời (locutionary act), hành động mượn lời (perlocutionary act), hành động ở lời (I-llocutionary act)
Theo Đỗ Thị Kim Liên, hành động tại lời (HĐTL) là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn (đúng về hình thức và cấu trúc) hay những văn bản có thể hiểu được”, còn hành động mượn lời là những hành động mượn những
Trang 27phương tiện ngôn ngữ, hay nói một cách khác, là mượn các phát ngôn để gây ra một tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe Hiệu quả này không đồng nhất ở những người khác nhau” [33,70-71] Như vậy
có thể nói HĐML là hành động nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lí, trong hành động vật lí có thể quan sát được, gây ra một tác động nào đó đối với ngữ cảnh Hiệu quả mượn lời là những hiệu quả ngoài ngôn ngữ (ngoài diễn ngôn), phân tán, không có tính qui ước và khó tìm ra cơ chế Bởi với mỗi một HĐNN, tùy ngữ điệu, tùy hoàn cảnh phát ngôn và tùy vào tâm lý của người tiếp nhận lúc đó mà hiệu quả mượn lời có thể khác nhau
Cũng theo Đỗ Thị Kim Liên hành động ở lời (HĐOL) là những hành
động người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng gây những sự tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với người nghe Sở dĩ ta gọi là hành động ở lời là vì khi nói thì ta đồng thời thực hiện luôn một hành động ở trong lời (còn gọi là hành động ở lời, hành động trong lời)”[33,72] HĐOL có ý định quy ước và có thể chế rõ ràng nhưng quy ước và thể chế đó không hiển ngôn mà mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ đều vẫn ngầm hiểu được quy tắc vận hành của chúng một cách không tự giác Điều đó cũng có nghĩa là nắm được ngôn ngữ không phải chỉ dừng lại ở việc biết phát âm, dùng từ, đặt câu mà phải biết sử dụng ngôn ngữ đó theo đúng những qui định ở lời mà phát ngôn đó đòi hỏi và tác động gần như buộc vai nghe phải hồi đáp lại đối với hành động ở lời trong câu nói ra được gọi là hiệu lực ở lời (kí hiệu là F) F là đối tượng quan tâm chính của ngữ dụng học
Theo quan điểm của J.L.Austin thì khái niệm HĐNN được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm ba loại hành động - hành động tạo lời, hành động mượn lời và hành động ở lời Nhưng trong một số trường hợp thì HĐNN được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, trùng với khái niệm HĐOL Trong luận văn này, chúng tôi cũng dùng thuật ngữ HĐNN theo nghĩa hẹp Ba loại hành động: hành động tại lời, hành động mượn lời, hành động ở lời được thực hiện một cách thống nhất khi tạo ra một diễn ngôn Tuy nhiên, ở phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ
Trang 28khảo sát các bài ca dao trữ tình người Việt trên văn bản viết (không có môi trường diễn xướng) nên chúng tôi chỉ xem xét, tìm hiểu, nghiên cứu HĐH dưới hình thức hành động ở lời hỏi (HĐOLH)
1.2.2 Điều kiện sử dụng hành động ở lời
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó” [9,111] Còn theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên: “Điều kiện sử dụng HĐOL (hành vi ở lời) là những nhân tố cần thiết cho phép thực hiện một HĐOL nhất định trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể” [33,82] Điều kiện sử dụng các HĐOL theo J.L.Austin là các điều
kiện “may mắn” (felicic conditions) vì nếu chúng được bảo đảm thì hành
động mới thành công
- Phải có thủ tục có tính quy ước và thủ tục này cũng phải có hiệu quả
có tính quy ước; Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều kiện quy định trong thủ tục
- Thủ tục phải được thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ
- Thông thường thì những người thực hiện hành động ở lời phải có ý nghĩ tình cảm, ý định giống như đã được đề ra trong thủ tục, và khi hành động diễn ra thì ý nghĩ tình cảm, ý định đúng như nó đã có [9,112]
J.R.Searle gọi HĐOL là điều kiện thoả mãn, bao gồm bốn loại sau:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: Chỉ ra bản chất nội dung của hành động
- Điều kiện chuẩn bị: Bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn
về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói
và người nghe
- Điều kiện chân thành: Chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và người nghe, như xác tín đòi hỏi niềm tin, mệnh lệnh đòi hỏi mong muốn, hứa hẹn đòi hỏi ý định người nói
- Điều kiện căn bản: Là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người
Trang 29nói, người nghe bị ràng buộc khi HĐOL đó được phát ra
- Sở dĩ chúng tôi quan tâm nhiều hơn tới HĐOL và điều kiện sử dụng HĐOL bởi chính các điều kiện sử dụng đó sẽ giúp cho việc nhận diện và phân biệt các hành động ở lời trực tiếp (HĐOLTT) và hành động ở lời gián tiếp (HĐOLGT)
1.2.3 Hành động ở lời trực tiếp - gián tiếp
1.2.3.1 Hành động ở lời trực tiếp
Khi nào có một quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thì chúng ta có một hành động ngôn từ trực tiếp Cũng có thể coi những HĐNN (hành động ở lời) chân thực (hành động ngôn ngữ trực tiếp) là những HĐNN được thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng của chúng
Ví dụ:
Sp1: Lợn nhà bác đẻ được mấy con?
Sp2: Nó đẻ tất cả bốn con bác ạ!
Trong phát ngôn trên, Sp1 đã thực hiện HĐOLH, được đánh dấu bằng
phương tiện hình thức là dùng đại từ nghi vấn mấy để hỏi về số lượng (số ít,
đếm được, dưới 10) Xét về các điều kiện sử dụng HĐOL cho thấy phát ngôn không vi phạm điều kiện nào Với đích ở lời là hỏi, phát ngôn đã mang tới hiệu lực của HĐOLH bằng sự phản ứng của Sp2 trả lời và cung cấp cho Sp1 thông tin về số lượng mà Sp1 muốn biết Như vậy, phát ngôn chúng tôi vừa phân tích trên đây đã thực hiện HĐOLH trực tiếp
Đi trong đám hội có chồng hay chưa?
Trong bài ca dao trên, Sp1 đã thực hiện HĐOLH bằng phương tiện
đánh dấu về hình thức là cặp phụ từ nghi vấn có hay chưa để hỏi về việc cô
gái đã lấy chồng hay chưa lấy chồng Tuy nhiên, khi xét các điều kiện sử dụng HĐOL cho thấy phát ngôn không thỏa mãn đầy đủ 4 điều kiện Sp1 không biết rõ câu trả lời, nhưng Sp1 thực hiện hành động hỏi không hoàn toàn nhằm mục đích để Sp2 cung cấp cho mình thông tin chưa rõ, Sp1 cũng không
Trang 30cố gắng nhận thông tin đồng ý hay không đồng ý từ Sp2 Sp1 thực hiện HĐOLH nhưng là để làm quen, để bông đùa Như vậy, phát ngôn đã vi phạm điều kiện 3 và 4 trong các điều kiện sử dụng HĐOL mà Searle đưa ra Từ đó
có thể thấy phát ngôn trên thực hiện HĐOLH nhưng nhằm mục đích thực hiện hành động gián tiếp là làm quen, là bông đùa
1.2.3.2 Hành động ở lời gián tiếp
Có một nguyên lí đặc biệt của ngôn ngữ đó là: trong nói năng, chúng ta truyền báo nhiều hơn là điều chúng ta nói ra Trong thực tế giao tiếp, một phát ngôn thường không phải chỉ có một đích ở lời, mà đại bộ phận phát ngôn được xem như là thực hiện đồng thời một số hành động ở lời
Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt HĐOL này nhưng lại nhằm hiệu quả của một HĐOL khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành động ngôn ngữ theo lối gián tiếp
Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng cho rằng: “Một hành vi được sử dụng gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác” [9, 492]
Ch ng hạn một câu hỏi: “Mấy giờ rồi mà con vẫn chưa đứng lên nấu cơm?” bề ngoài là câu hỏi nhưng thực chất lại là hành động nhắc nhở, đe dọa
của người mẹ đối với con về sự việc con nấu cơm muộn
HĐOLGT lệ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh, vào quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần của nội dung mệnh đề trong biểu thức ngữ vi trực tiếp với ngữ cảnh, vào ý nghĩa trực tiếp của biểu thức ngữ vi trực tiếp Ngoài ra, trong thực
tế, nó còn bị quy định bởi lý thuyết lập luận, các phương châm hội thoại, phép lịch sự, các quy tắc liên kết hội thoại, lẽ thường, Vì vậy, để nhận biết HĐOLGT, nhất thiết phải vận dụng đến những yếu tố trên
Ví dụ: - Một em bé (phụng phịu): Ba ơi! Lớp con các bạn được đăng kí
đi học bơi vào dịp hè
- Ba của bé: Ôi! Thế à? Để mai ba bảo mẹ đăng kí cho con gái đi học
Trang 31bơi vào dịp hè nhé!
Phát ngôn trên thực hiện HĐOL trần thuật Nhưng nếu đặt trong hoàn cảnh trên thì phát ngôn trên lại không chỉ thực hiện HĐOL trần thuật mà gián tiếp thực hiện HĐOLGT là trách móc Chính vì nhận được đích ở lời này của
bé nên ba bé đã trả lời như trên
Ngữ nghĩa của các thành phần tạo nên nội dung mệnh đề trực tiếp càng gắn với các nhân tố của ngữ cảnh bao nhiêu, đặc biệt là gắn với phông hiểu biết chung của người nói và người nghe thì càng có khả năng thực hiện các HĐOLGT bấy nhiêu
Tương tư gọi nó thế nào hở em?
Trong phát ngôn trên Sp1 là nhân vật chàng trai đã thực hiện HĐOLH
bằng phương tiện đánh dấu về hình thức là sử dụng đại từ nghi vấn thế nào, tiểu từ tình thái hở (hả) Dường như lời dẫn dắt “Lá này gọi lá xoan đào” không có gì ăn nhập với câu hỏi phía sau của Sp1 Nhưng nếu đặt trong hoàn
cảnh chàng trai lúc gặp và hỏi cô gái, hai tay chàng vân vê lá xoan đào vì ngại ngùng, ngập ngừng khó thốt nên lời thì “lá xoan đào” kia lại trở nên có lí Nhờ cái “lá xoan đào” trong tay mà chàng trai như vô tình được tiếp thêm sức mạnh để mạnh dạn hỏi người con gái bấy lâu nay mình thầm yêu trộm nhớ:
“Tương tư gọi nó thế nào hở em?” Hỏi chỉ là cái cớ để chàng trai nhắc tới
trạng thái tâm lí của mình với cô gái rằng chàng đang “tương tư” Như vậy, có thể thấy chàng trai đã đồng thời thực hiện HĐOLGT là bày tỏ, kh ng định
Như vậy, HĐOLH có thể được dùng theo hai cách: trực tiếp và gián tiếp như trên Ở cách dùng trực tiếp, HĐOLH được sử dụng với mong muốn
có được thông tin mà người nói thực sự chưa biết bằng cấu trúc của câu hỏi đích thực Ở cách dùng gián tiếp, hành động hỏi có thể được dùng để hướng đến hiệu lực ở lời của những hành động khác như: ra lệnh, đề nghị, khuyên, mời, nhắc nhở, từ chối, đề nghị, chê trách, yêu cầu, kh ng định, bác bỏ người đối thoại
Trang 32HĐH trong thực tế sử dụng ngôn ngữ có thể được dùng với nghĩa trực tiếp, cũng có khi được dùng với rất nhiều mục đích gián tiếp khác nhau: trách, phản bác, thách thức, từ chối,… Bằng cách đó, ngôn ngữ phát huy tối đa được chức năng ngữ nghĩa của các cấu trúc câu, làm nên sự đa dạng về ý nghĩa tình thái của chúng Sử dụng HĐNN theo lối gián tiếp là biện pháp rất có hiệu lực
để truyền báo các ý nghĩa hàm ẩn, đặc biệt là các ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên dụng học Trong thực tế sử dụng, vì nhiều lí do, người nói có thể sử dụng HĐNN này nhưng lại nhằm đạt đến hiệu lực ở lời của một HĐNN khác
Có rất nhiều kiểu HĐNN được dùng theo lối gián tiếp tùy theo hoàn cảnh giao tiếp mà đến nay chưa thể tổng kết thành quy tắc sử dụng
1.2.4 Hành động hỏi
Theo tác giả Hà Thị Hồng Mai việc xác định khái niệm câu hỏi và HĐH nhằm mục đích tìm kiếm mối quan hệ giữa hành động đặt ra một câu hỏi với việc sử dụng một phát ngôn có hình thức nghi vấn HĐH là hành động mà người nói thực hiện nhằm thu được thông tin về điều chưa biết, cần biết Còn câu hỏi là một cấu trúc ngôn ngữ, một trong những công cụ
để thực hiện hành động đó Tuy nhiên, trên thực tế, câu hỏi với tư cách là một công cụ ngôn ngữ chủ yếu để thực hiện HĐH, còn được thực hiện để thực hiện một số HĐOL khác Bên cạnh đó, để thực hiện HĐH, người nói
có thể sử dụng một cấu trúc ngôn ngữ khác ngoài câu hỏi.[35]
Hướng tiếp cận của luận văn này chúng tôi chỉ giới hạn ở HĐH được thực hiện bằng cấu trúc câu hỏi Vì vậy, việc tìm hiểu lý thuyết về câu hỏi
và HĐH; điều kiện sử dụng HĐH; các phương tiện hình thức sử dụng trong
HĐH làm cở sở để tìm hiểu về HĐH trong ca dao
1.2.4.1 Khái niệm câu hỏi và hành động hỏi
a Khái niệm câu hỏi
Hỏi là khi người nói có “sự hoài nghi”, “cái chưa rõ”, “cái chưa biết”; hoặc người nói “mong muốn” được người nghe làm sáng tỏ điều chưa biết khi
đó người nói sử dụng hoặc từ hỏi hoặc ngữ điệu hỏi Ngoài ra, câu hỏi cũng
Trang 33được dùng để chuyển tải những giá trị ngôn trung khác ngoài yêu cầu thông báo, cung cấp thông tin
Như vậy, mục đích của câu hỏi là hướng tới (1) yêu cầu thông báo, cung cấp thông tin và (2) chuyển tải những giá trị ngôn trung khác Với mục đích thứ nhất, xuất hiện những câu/ phát ngôn mang hình thức câu hỏi để thực hiện HĐH Mục đích thứ hai là dùng câu có hình thức hỏi để hướng tới mục đích thực hiện những HĐNNGT không phải HĐH
b Khái niệm hành động hỏi
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu Việt ngữ liên quan đến câu hỏi và HĐH, có thể thấy các nhà Việt ngữ quan niệm về HĐH theo hai cách như sau: Một là, HĐH là HĐNN sử dụng câu hỏi để thực hiện các mục đích giao tiếp khác nhau Ví dụ như, người nói dùng HĐH (tức dùng phát ngôn hỏi) để hỏi - yêu cầu cung cấp thông tin mà người nghe cần biết chưa biết; thực hiện HĐH để phê phán, để sai khiến, để kh ng định, để phủ định, để trách móc,
để tỏ ý nghi ngờ, để ra lệnh…
Hai là, HĐH là đích giao tiếp mà người nói hướng tới - yêu cầu cung cấp thông tin cần biết chưa biết Người hỏi có thể sử dụng câu hỏi/ phát ngôn hỏi hay một hình thức phát ngôn nào khác, ví như câu trần thuật, câu cảm thán v.v…
Trong luận văn này, chúng tôi xem xét HĐH ở cách hiểu thứ nhất, đó là: HĐH là HĐNN sử dụng câu hỏi để thực hiện các mục đích giao tiếp khác
nhau HĐH phải thỏa mãn những điều kiện sử dụng và các phương tiện đánh
dấu về hình thức của HĐH nhất định
1.2.4.2 Điều kiện sử dụng hành động hỏi (theo J.R Searle)
Theo quan điểm cuả J.R.Searle với HĐOLH với bốn điều kiện thỏa mãn: nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành và điều kiện căn bản:
+ Nội dung mệnh đề: Bao gồm tất cả các mệnh đề và hàm mệnh đề + Điều kiện chuẩn bị: S không biết lời giải đáp; S, H không chắc rằng
H cung cấp thông tin ngay lúc trò chuyện nếu S không hỏi
Trang 34+ Điều kiện chân thành: S mong muốn có được thông tin đó
+ Điều kiện căn bản: S nhằm cố gắng nhận được thông tin từ H
Trong phát ngôn, khi thỏa mãn đầy đủ bốn điều kiện trên thì người nói
đã thực hiện HĐHTT, khi một trong số bốn điều kiện trên không được thỏa mãn thì có nghĩa là người nói đang thực hiện một HĐNNGT thông qua HĐH
1.2.4.3 Các phương tiện hình thức sử dụng trong hành động hỏi
Theo tác giả Hà Thị Hồng Mai trong Luận án Tiến sĩ về Hành động hỏi trong ca dao trữ tình người Việt, trường Đại học Vinh, HĐH được nhận diện
bởi một số dấu hiệu hình thức như sau:
a Đại từ nghi vấn
Trong câu hỏi tiếng Việt, thường sử dụng các đại từ nghi vấn sau: ai (hỏi về người), gì (hỏi về vật và tính chất của con vật, của người, của sự vật), nào (hỏi về tính chất, có hàm ý lựa chọn), sao (hỏi về cách thức), bao nhiêu
(hỏi về số lượng nhiều ít), bao giờ (hỏi về thời gian), đâu (hỏi về nơi chốn),
- Chị đi chuyến tàu lúc mấy giờ?
- Ai làm trúc võ mai sầu,/ Đào tơ liễu yếu bên cầu vì ai?
b Phụ từ nghi vấn
Các cặp phụ từ nghi vấn ở dạng đầy đủ: Có (hay) không; có phải (hay) không, đã (hay) chưa, có không hoặc có sự tỉnh lược một vế trong
cặp phụ từ
Biết là bấc có bén dầu cho không?
c Quan hệ từ lựa chọn
Quan hệ từ lựa chọn hay được dùng để hỏi mang hàm ý lựa chọn
Còn không hay đã đá vàng cùng ai?
Trang 35- Lan đấy à? (trung hòa)
- Hay là cậu đi chơi cùng mình nhé? (thân mật)
Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng lý thuyết về câu hỏi, HĐH nói chung vào nghiên cứu HĐH trong ca dao để tìm ra những nét riêng, đặc trưng của HĐH trong ca dao
1.2.5 Hồi đáp hỏi
Phát ngôn sẽ trở thành hội thoại khi người nghe đáp lời, sẽ có lần lượt thay đổi vai nói – nghe giữa các nhân vật giao tiếp Phát ngôn là sản phẩm của các hành động ở lời, tất cả các hành vi ngôn ngữ đều đòi hỏi sự hồi đáp Điều này không chỉ đúng đối với các hành động hỏi (trả lời), hành động chào (đáp lại), hành động cầu khiến (nhận lệnh hay không) mà còn đúng cả cho hành động trình bày (xác tín, kh ng định, miêu tả )
Có những phát ngôn loại trừ sự đáp lời như ngôn bản viết hoặc miệng (tuyên án, truyền thanh, truyền hình) Đây là sự loại trừ hồi đáp trực tiếp, tức thời Trong chiều sâu, những diễn ngôn này vẫn cần đến sự hồi đáp nào đó của những người nghe Không phải hồi đáp là bắt buộc người nghe phải trả lời bằng lời mà có những trường hợp người nghe có thể hồi đáp bằng những tín hiệu phi lời, đó là những cử chỉ, vẻ mặt, ánh mắt những tín hiệu âm thanh như tiếng gõ, tiếng kéo,
Ví dụ:
SP1: Chào anh! Hôm qua anh qua nhà tôi đúng không?
SP2: gật đầu
Trang 36Như vậy, hành động gật đầu của SP2 chính là tín hiệu phi lời hồi đáp lại câu hỏi của SP1
Hồi đáp hỏi phải đảm bảo các quy tắc về sự tương tác, luân phiên lượt lời Về sự tương tác, các nhân vật giao tiếp có ảnh hưởng lẫn nhau, tác động đến cách ứng xử của từng người trong quá trình hội thoại Do bản chất tuyến tính nên sự giao tiếp bằng lời đòi hỏi phải giảm thiểu đến mức thấp nhất sự dẫm đạp lên lời của nhau Vì thế khi hội thoại, người kia phải nói khi người này nhường lời theo cách lời người này là kế tiếp lời người kia Có những dấu hiệu nhất định báo một cách tự động cho người kia biết rằng họ có thể nói Đó
là những dấu hiệu như sự trọn vẹn về ý nghĩa, sự trọn vẹn về cú pháp, ngữ điệu, các câu hỏi, các hư từ
Ca dao trữ tình người Việt là văn bản nói, đó là tiếng lòng của người dân lao động xưa được truyền miệng từ đời này qua đời khác cho nên ở mỗi bài ca dao có hành động hỏi lại sẽ có những cách hồi đáp khác nhau, có thể là hồi đáp bằng lời và cũng có những hồi đáp phi lời; có thể là hồi đáp trực tiếp khi các nhân vật giao tiếp đang ở cạnh nhau như giao duyên, làm quen, đố thử tài hoặc hồi đáp gián tiếp như than trách số phận, giãi bày, bày tỏ nỗi lòng
Ở luận văn này, chúng tôi khảo sát các bài ca dao trên hệ thống văn bản giấy
đã được tổng hợp và ghi lại để lưu giữ nên hồi đáp hỏi được thống kê là các hồi đáp bằng lời (không thể khảo sát các hồi đáp phi lời) Chính vì vậy, luận văn không đi vào phân tích các hồi đáp phi lời trong mỗi bài ca dao có hành động hỏi
1.3 Một số phương tiện tu từ và biện pháp tu từ trong tiếng Việt
Ngôn ngữ văn chương là thứ ngôn ngữ được trau chuốt để đạt đến mức cao nhất hiệu quả biểu đạt Muốn đảm nhận được vai trò đó các đơn vị cấu thành cần có sự lựa chọn Kết quả của sự lựa chọn đó là các phương tiện tu từ Chính vì vậy, những người nghiên cứu ngôn ngữ văn chương rất quan tâm đến lí do phát sinh và tồn tại của các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ Để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng những lý thuyết về phương
Trang 37tiện tu từ và biện pháp tu từ trong cuốn 99 Phương tiện và Biện pháp tu từ tiếng Việt của tác giả Đinh Trọng Lạc, NXB Giáo dục, 1994
1.3.1 Khái quát về phư ng tiện tu từ
“Phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa
cơ bản (ý nghĩa sự vật - logic) ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ.” [29] Căn cứ vào các cấp độ ngôn ngữ của các yếu tố ngôn ngữ có
nghĩa, các phương tiện tu từ được phân chia thành:
Phương tiện tu từ từ vựng: là những từ đồng nghĩa mà ngoài ý nghĩa cơ
bản ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ được hình thành từ bốn thành tố: biểu cảm (chứa đựng những yếu tố tượng hình), cảm xúc (diễn đạt những tình cảm, những cảm xúc), bình giá (khen, chê, tốt, xấu) và phong cách chức năng (chỉ rõ phạm vi sử dụng, thường xuyên, cố định) Căn cứ vào phạm vi được ưu tiên sử dụng, có thể chia thành: từ đồng nghĩa có điệu tính tu
từ cao (từ thi ca, từ cũ, từ Hán Việt, từ mượn, từ sách vở); từ ngữ đồng nghĩa
có điệu tính tu từ thấp (từ hội thoại, từ thông tục, từ lóng, từ nghề nghiệp, từ địa phương, từ láy); thành ngữ.[29, tr 12]
Phương tiện tu từ ngữ nghĩa: là những định danh thứ hai mang màu sắc
tu từ của sự vật, hiện tượng Căn cứ vào hình ảnh được sử dụng, phương tiện
tu từ ngữ nghĩa có thể chia ra: phương tiện tu từ hình ảnh số lượng (phóng đại, thu nhỏ, nói giảm); phương tiện tu từ hỉnh ảnh chất lượng (ẩn dụ, hoán
dụ, nói mỉa, …) [29, tr.45] Trong đó, ẩn dụ tu từ là dùng tên gọi của sự vật/hiện tượng này bằng tên của sự vật/hiện tượng khác có nét tương đồng giữa 2 đối tượng về mặt nào đó (như tính chất, trạng thái, màu sắc, …) nhằm tăng sức gợi hình và gợi cảm cho sự diễn đạt
Phương tiện tu từ cú pháp: là những kiểu câu ngoài nội dung thông tin
cơ bản ra còn mang phần thông tin bổ sung, còn có màu sắc tu từ do được cải biến từ kiểu câu cơ bản (có kết cấu C-V), tức là những kiểu câu có thành phần được thu gọn, hay thành phần được mở rộng, hay thành phần được đảo trật tự [29, tr 84]
Trang 38Phương tiện tu từ văn bản: là những mô hình văn bản cải biến mà
ngoài nội dung thông tin cơ bản ra còn mang phần thông tin bổ sung, còn có màu sắc tu từ do được cải biến (tức được rút gọn hay mở rộng, hay đảo trật tự các bộ phận) từ mô hình văn bản cơ bản (vốn bao gồm ba bộ phận: mở đầu - phần chính - kết thúc)[29, tr.120]
Phương tiện tu từ ngữ âm âm vị học: âm vị là đơn vị cơ bản của cấp độ
âm vị học Chức năng chính của nó là khu biệt các đơn vị có ý nghĩa của ngôn ngữ Khác với những đơn vị thuộc các cấp độ khác của ngôn ngữ, các âm vị chỉ
có bình diện biểu đạt, tức không phải là những kí hiệu hai mặt, vì vậy tất cả các
âm vị đều có chức năng như nhau, đều có vai trò như nhau trong tổ chức cái mặt âm thanh của phát ngôn Chính vì lẽ đó mà không có một âm vị nào có thể
là âm vị được đánh dấu về tu từ học so với âm vị khác và hệ quả của điều này
là trên cấp độ âm vị học không tồn tại những phương tiện tu từ từ học Nói đến
tu từ ngữ âm cũng có nghĩa là nói đến mặt ngữ âm trong thơ Mặt ngữ âm quan trọng nhất trong thơ là độ hòa phối hay sự hài âm Độ hòa phối được tạo nên từ
3 yếu tố: âm điệu, vần điệu và nhịp điệu đã trình bày từ đầu rồi nên chúng tôi không viết lại về âm điệu, vần điệu hay nhịp điệu ở dưới đây nữa
1.3.2 Khái quát về biện pháp tu từ
Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ, hoàn cảnh) [29] Nó đối lập với biện pháp sử
dụng ngôn ngữ thông thường trong mọi hoàn cảnh nhằm mục đích diễn đạt lí trí Căn cứ vào cấp độ ngôn ngữ của các phương tiện ngôn ngữ được phối hợp
sử dụng, các biện pháp tu từ được chia ra như sau:
Biện pháp tu từ từ vựng: là những cách phối hợp sử dụng các đơn vị từ
vựng trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn (trong phạm vi của một câu, một chỉnh thể câu trên) có khả năng đem lại hiệu quả tu từ do mối quan hệ qua lại giữa các đơn vị từ vựng trong ngữ cảnh Căn cứ vào các
Trang 39kiểu quan hệ tiêu biểu giữa các cú đoạn, biện pháp tu từ từ vựng được chia ra: biện pháp hòa hợp, biện pháp tương phản, biện pháp quy định [29, tr.143]
Biện pháp tu từ ngữ nghĩa: là những cách kết hợp có hiệu quả tu từ,
theo trình tự tiếp nối của các đơn vị từ vựng (kể cả các phương tiện tu từ) thuộc một cấp độ trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn Căn
cứ vào các kiểu tương quan ý nghĩa giữa các đơn vị từ vựng, biện pháp tu từ ngữ nghĩa được chia ra: biện pháp tu từ dùng các hình ảnh tương đồng (so sánh, đồng nghĩa kép, thế đồng nghĩa); biện pháp tu từ dùng các hình ảnh đối lập (phản ngữ, nghịch ngữ); biện pháp tu từ dùng các hình ảnh không ngang bằng (tăng dần, giảm dần, chơi chữ, nói lái) [29, tr.153,154] Trong đó, so sánh phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác, giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc và người nghe
Biện pháp tu từ cú pháp: là những cách phối hợp sử dụng các kiểu câu
trong một ngữ cảnh rộng (trong chỉnh thể trên câu, trong đoạn văn và trong văn bản trọn vẹn) nhằm đem lại ý nghĩa biểu cảm và cảm xúc cho những mảnh đoạn của lời nói do chúng cấu tạo nên Căn cứ vào tính chất của các mối quan hệ giữa các kiểu câu, vào các phương thức chuyển đổi ý nghĩa của các kiểu câu và vào tính chất của mối liên hệ giữa các thành tố của những kiểu câu này, biện pháp tu từ cú pháp được chia ra thành ba nhóm: nhóm tác động qua lại giữa các cấu trúc cú pháp trong ngữ cảnh (sóng đôi, đảo đôi, lặp đầu, lặp cuối); nhóm chuyển đổi ý nghĩa của các cấu trúc cú pháp trong ngữ cảnh (câu hỏi tu từ); nhóm chuyển đổi ý nghĩa của các phương thức liên hệ (tách biệt) [29, tr.183,184]
Biện pháp tu từ văn bản: là những cách phối hợp sử dụng các bộ phận
của văn bản để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng tạo hình, gợi cảm, nhấn mạnh, làm nổi bật…) do sự tác động qua lại của các bộ phận của văn bản với nhau Căn cứ vào tính chất của kiểu quan hệ tồn tại giữa các bộ phận của văn bản, biện pháp tu từ văn bản được chia ra thành: biện pháp quy định, biện
Trang 40pháp hòa hợp, biện pháp tương phản [29, tr.207]
Biện pháp tu từ ngữ âm - văn tự: là những cách phối hợp sử dụng khéo
léo các âm thanh, đem đến cho phát ngôn một cơ cấu âm thành nhất định nhằm tạo ra những màu sắc biểu cảm - cảm xúc nhất định Căn cứ vào các phương thức cấu tạo, có thể chia các biên pháp tu từ ngữ âm thành hai nhóm: nhóm lặp các yếu tố (điệp phụ âm, điệp vần, điệp thanh); nhóm hòa hợp các yếu tố (tượng thanh, hài âm, tạo nhịp điệu, tạo âm hưởng) [30, tr.221]
1.4 Đôi nét về ca dao người Việt
1.4.1 Khái niệm về ca dao
Theo tác giả Chu Xuân Diên và Đinh Gia Khánh: “Ca dao là những bài hát thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay tám câu, âm điệu lưu loát và phong phú” [21, 411- 438), và “theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời các bài dân ca đã tước đi những tiếng đệm, tiếng láy (…) hoặc ngược lại là những câu thơ có thể “bẻ” thành làn điệu dân ca” [21, 411]
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên thì mục
từ “ca dao” được ghi như sau:
(1) Thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo những điệu nhất định
(2) Thể loại văn vần, thường làm theo thể lục bát , có hình thức giống như ca dao cổ truyền
Ở luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ ca dao để chỉ: những sáng tác được lưu truyền trong dân gian bằng những lời ca có vần điệu và mang phong