1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Đặc điểm cấu trúc lặp trong thơ Tố Hữu

115 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nhiều công trình quan trọng, hai tác giả trên đã trình bày những lí thuyết căn bản cho việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ mà sự lặp lại đã được chỉ ra như một phương thức điển hình để tổ c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN

ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC LẶP TRONG THƠ TỐ HỮU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

HẢI PHÕNG - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN

ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC LẶP TRONG THƠ TỐ HỮU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM

MÃ SỐ: 8.22.01.02

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Kim Bảng

HẢI PHÕNG - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Hải Phòng, ngày 20 tháng 09 năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Phương Lan

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Ngôn Ngữ Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, tìm số liệu phục vụ cho đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường THPT Hải An đã tạo điều kiện về thời gian,động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy hướng dẫn – PGS.TS Vũ Kim Bảng, thầy đã dành nhiều thời gian, tâm huyết chỉ bảo, giúp

đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng sự cố gắng và năng lực của mình nhưng chắc chắn luận văn vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn

Hải Phòng, ngày 20 tháng 09 năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Phương Lan

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9

1.1 Khái niệm và đặc trưng thơ 9

1.1.1 Khái niệm về thơ 9

1.1.2 Đặc trưng của thơ 11

1.2 Lí thuyết đồng quy trong thơ của R.Jakobson và Nguyên lí lặp lại trong thơ của IU.M.Lotman 15

1.2.1 Quan niệm về thơ và lí thuyết đồng quy trong thơ của R Rakobson 15

1.2.2 Nguyên lý lặp lại trong thơ của IU.M Lotman 18

1.3 Tố Hữu – Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca 22

1.3.1 Cuộc đời nhà thơ Tố Hữu 22

1.3.2 Sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu 24

1.4 Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN CỦA CẤU TRÚC LẶP TRONG THƠ TỐ HỮU30 2.1 Khái quát về cấu trúc lặp 30

2.2 Biểu hiện của cấu trúc lặp trong thơ Tố Hữu 33

2.2.1 Cấu trúc lặp từ trong thơ Tố Hữu 33

2.2.2 Cấu trúc lặp cụm từ trong thơ Tố Hữu 37

2.2.3 Cấu trúc lặp dòng thơ trong thơ Tố Hữu 40

2.2.4 Cấu trúc lặp đoạn thơ trong thơ Tố Hữu 44

2 3 Tiểu kết chương 2 47

CHƯƠNG 3 CHỨC NĂNG CỦA CẤU TRÚC LẶP TRONG THƠ TỐ HỮU 49

3.1 Chức năng của cấu trúc lặp trong chỉnh thể văn bản thơ Tố Hữu 49

Trang 6

3.1.1 Cấu trúc lặp trong quan hệ với tiêu đề bài thơ 49

3.1.2 Cấu trúc lặp trong quan hệ với tứ thơ 53

3.2 Sự lặp với việc xây dựng biểu tượng trong thơ Tố Hữu 56

3.2.1 Biểu tượng và biểu tượng trong tác phẩm văn học 56

3.2.2 Sự lặp với việc xây dựng biểu tượng "Hồ Chí Minh" trong thơ Tố Hữu 57

3.2.3 Sự lặp với việc xây dựng hình tượng "Miền Nam" trong thơ Tố Hữu 60 3.3 Tiểu kết chương 3 64

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nghiên cứu ngôn ngữ trong một văn bản nghệ thuật là xét đến một cách thức tư duy trên chất liệu ngôn ngữ của một tác giả Sự tổ chức ngôn ngữ trong một tác phẩm văn học là một kiểu hành chức mang tính đặc thù Là chất liệu để tạo nên nên các hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ văn học (ngôn ngữ nghệ thuật) vừa là tinh hoa của ngôn ngữ toàn dân vừa là sản phẩm sáng tạo của chính người nghệ sĩ và chịu sự chi phối mạnh mẽ của đặc trưng thể loại tác phẩm Thông qua việc soi chiếu vào kết cấu ngôn từ của một văn bản nghệ thuật cụ thể, người đọc có thể khám phá ra ý đồ nghệ thuật và quan niệm nhân sinh của người viết ẩn chứa sau đó Bởi vậy, việc nghiên cứu loại hình văn bản nghệ thuật nói chung và nghiên cứu văn bản thể loại thơ nói riêng từ góc

nhìn ngôn ngữ là một hướng đi có thể khám phá được những điều mới mẻ

1.2 Đã từ rất lâu, ngôn ngữ thơ là lĩnh vực luôn dành được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Có nhiều khuynh hướng, trường phái nghiên cứu ngôn ngữ thơ Tuy nhiên, người ta không thể không kể đến những đóng góp to lớn của trường phái Thi pháp học cấu trúc Nga với đại biểu là R.Jakobson và trường phái Ký hiệu học với đại biểu là IU.M.Lotman với lý thuyết cấu trúc lặp trong ngôn ngữ thơ Với nhiều công trình quan trọng, hai tác giả trên đã trình bày những lí thuyết căn bản cho việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ mà sự lặp lại đã được chỉ ra như một phương thức điển hình để tổ chức văn bản thơ trên những biểu hiện đa dạng của nó ở tất cả các cấp độ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp)

Tiếp thu lý thuyết của R.Jakobson và IU.M.Lotman, một số tác giả Việt Nam cũng đã tiến hành nghiên cứu văn bản thơ như Đặng Tiến, Nguyễn Hưng Quốc, Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh, Thụy Khuê Theo hướng đi này, chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu sự lặp lại trong thơ Tố Hữu - một nhà thơ cách mạng tiêu biểu - một phương thức độc đáo trong nghệ thuật tạo lập văn bản thơ mang tính phong cách

Trang 9

1.3 Tố Hữu, một nhà thơ cách mạng nổi tiếng, rất quen thuộc đối với mọi thế hệ độc giả Việt Nam Từ bình diện văn học, thơ Tố Hữu đã được nhiều nhà nghiên cứu nhìn nhận với các góc cạnh khác nhau Tuy nhiên, chưa

có công trình nào thực sự đi sâu khám phá cấu trúc ngôn ngữ thơ Tố Hữu, phát hiện ra cơ chế tổ chức ngôn từ bên trong văn bản thơ, những thủ pháp nghệ thuật độc đáo nhằm chứng minh đó là phong cách thơ riêng của tác giả

Năm 2011, Nxb Văn học đã phát hành Toàn tập thơ Tố Hữu với tiêu đề

Tố Hữu Thơ Toàn tập thơ Tố Hữu đăng tải đầy đủ 286 bài thơ của Tố Hữu

trong 7 tập thơ: Từ ấy (1937 - 1946); Việt Bắc (1946 - 1954); Gió lộng (1955 - 1961); Ra trận (1962 - 1971); Máu và Hoa (1972 - 1977); Một tiếng đờn (1979 - 1992); Ta với ta (1993 - 2001) đã thực sự gây được sự chú ý đặc biệt

của người đọc Trong toàn bộ 7 tập thơ, ông đã sử dụng cấu trúc lặp như một phương thức nghệ thuật chủ đạo để tổ chức văn bản Vì vậy, cấu trúc lặp trong cấu trúc ngôn ngữ thơ Tố Hữu là vấn đề rất đáng được quan tâm

Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài cho luận văn là: Đặc điểm cấu trúc lặp trong thơ Tố Hữu Việc khảo sát thơ Tố Hữu theo giả

thuyết này cho phép chứng minh cấu trúc lặp là biện pháp tổ chức ngôn ngữ tiêu biểu nổi bật và tạo nên phong cách điển hình của tác giả

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu sự lặp lại trong cấu trúc ngôn ngữ thơ

Có thể nói, vấn đề sự lặp lại đã được các nhà thi pháp học cấu trúc và cấu trúc ký hiệu quan tâm đặc biệt khi chỉ ra đặc trưng của ngôn ngữ thơ Trả lời cho câu hỏi “Yếu tố nào mà sự hiện diện của nó là tối cần thiết trong bất

kỳ tác phẩm thơ ca nào?”, R.Jakobson đã phát biểu: Chức năng thi ca chiếu

nguyên tắc tương đương của trục tuyển lựa lên trục của sự kết hợp Sự tương đương được nâng lên hàng biện pháp tạo tác của lớp ngôn ngữ [24, tr.24]

Tác giả đã dẫn định nghĩa của Gerard Manley Hopkins – người tiên phong vĩ

đại của khoa học ngôn ngữ thi ca – về câu thơ: “Một diễn từ lặp lại toàn bộ

hoặc từng phần cùng cái hình tượng âm thanh” và cho rằng hình tượng âm

Trang 10

thanh với tính lặp lại mà Hopkins nhìn thấy trong đó có tồn tại nguyên tắc tạo tác của câu thơ [24, tr.26] Không chỉ dừng lại trên phương diện lý thuyết Jakobson đã sử dụng sự lặp như chiếc chìa khóa để khai thác cấu trúc các bài

thơ cụ thể: Sonnet của Joachim Du Beliay, Chán chường của tập Hoa ác,

Những con mèo của Charles Baudelaire

Tác giả IU M Lotman trong Cấu trúc văn bản nghệ thuật đã dành một

phần để giải thích “nguyên lý của sự lặp lại” Theo đó, sự lặp lại ở đây “được

ý thức với tư cách là một tính điều chỉnh nào đó đối với cấp độ ngữ nghĩa của văn bản” và đó là “sự điều chỉnh theo tính tương đương” [12, tr.196-197] Tác giả cũng đã lần lượt chỉ ra các đặc điểm của sự lặp lại trên nhiều cấp độ của

cấu trúc văn bản thơ: cấp độ ngữ âm, nhịp điệu, ý tưởng, ngữ pháp trong văn

bản thơ và các lặp lại siêu thơ Có thể thấy, IU M Lotman là người đã quan tâm một cách đặc biệt tới sự lặp lại trong thơ, tìm hiểu nó trên nhiều phương diện và từ đó xây dựng một khung lý thuyết cần thiết cho việc nghiên cứu sự lặp lại trong một văn bản cụ thể

Ở Việt Nam, có thể nói sự lặp lại trong văn bản thơ được chú ý đồng thời với sự xuất hiện của Thi pháp học Phê bình văn học ở nước ta trước

1980 chủ yếu theo hướng xã hội học, quan tâm đến mối quan hệ của văn học trong việc phản ánh trung thành đời sống hiện thực, vấn đề ý thức hệ và đi vào trì trệ, giáo điều Thi pháp học được du nhập vào Việt Nam bắt đầu từ những năm 80 trở đi Một số nhà thi pháp học tiên phong như Trần Đình Sử, Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh, Đỗ Lai Thúy đã thực sự thổi một luồng gió mới vào hoạt động nghiên cứu phê bình văn học Tác giả Trần Đình Sử trong

bài viết Toàn cảnh Thi pháp học mở đầu cuốn sách Dẫn luận Thi pháp học ở

Việt Nam đã đánh giá khái quát: Thi pháp học đã đem lại cách tiếp cận mới, phương pháp mới nghiêng về tính nội tại Nó tuy là nghiên cứu phương diện nội tại, song không tách rời hiện thực, lịch sử, bởi đó vẫn là căn cứ để giải thích mọi sự biến đổi văn học Đó là một hiện tượng chưa từng có trong phê bình, lí luận văn học Việt Nam trước những năm 80 [25, tr.30]

Trang 11

Trong giáo trình Dẫn luận thi pháp học, tác giả Trần Đình Sử khi trình bày về phương pháp nghiên cứu thi pháp học đã nhấn mạnh: Các nguyên tắc

thi pháp thể hiện qua các yếu tố lặp lại và không lặp lại Không tìm thấy tính độc đáo sáng tạo thì không thấy tính nghệ thuật, mà không thấy tính lặp lại trên nhiều cấp độ và trong một hay nhiều văn bản thì không thấy các quy tắc

tổ chức hình thức [25, tr.38].Sự lặp lại được ông vận dụng hiệu quả như một

mắt xích quan trọng khi tìm hiểu về các trường hợp cụ thể như Truyện Kiều của Nguyễn Du hay thơ Tố Hữu

Khi bàn về vấn đề tư duy của nhà thơ trên chất liệu ngôn ngữ, tác giả

Nguyễn Phan Cảnh trong Ngôn ngữ thơ đã viết: Chính cái điều văn xuôi rất

kỵ lại là thủ pháp làm việc của thơ: trong thơ, tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các thông báo Ông nhấn mạnh: Các biện pháp tu từ đã được tổng kết và chấp nhận, từ điệp âm đến hình thức song song, xét cho cùng không phải gì khác ngoài sự lặp, đi từ cấp độ thấp nhất là

âm vị, qua từ, đến câu và cho tới văn bản [5, tr.46]

Tác giả Phan Ngọc là người đề xướng mạnh mẽ hướng tiếp cận văn học

từ góc độ ngôn ngữ với những công trình tiêu biểu như Tìm hiểu phong cách

Nguyễn Du trong Truyện Kiều hay Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học Trong tiểu luận Thơ là gì, tác giả đã lý giải tại sao văn xuôi không được

người ta nhớ nguyên vẹn và không biến thành nội cảm hóa được như thơ Ông

viết: Cách tổ chức thơ lại có ưu thế hơn văn xuôi bởi tính chắp khúc (articule)

của nó Một bài thơ chia ra từng đoạn, mỗi đoạn chia ra từng khổ, mỗi khổ

có một số câu như nhau, mỗi câu có một số chữ như nhau ngay câu thơ cũng đã là một sự lặp lại của những vế khác nhau [38]

Đỗ Lai Thúy cũng là người ủng hộ hướng nghiên cứu văn học từ ngôn ngữ học, không chỉ trên phương diện lý thuyết mà ông đã áp dụng nó vào việc

lý giải nhiều phong cách thơ Việt Nam Công trình tiêu biểu theo hướng

nghiên cứu này của ông là Mắt thơ Khẳng định điểm xuất phát cho hành trình

đi tìm những mắt thơ của mình là tác phẩm (chứ không phải là tác giả hay

Trang 12

hoàn cảnh xã hội) mà chính xác là ngôn ngữ tác phẩm “mã số của thơ chỉ có thể cất giấu trong và bằng ngôn ngữ”, Đỗ Lai Thúy trên thực tế đã sử dụng sự lặp lại như một tín hiệu nghệ thuật đặc biệt để tìm ra chìa khóa đi vào thế giới nghệ thuật của mỗi nhà thơ Tiếp cận thơ Hồ Xuân Hương, Hoàng Cầm, Xuân Diệu từ cái nhìn phân tâm học, ông cũng đã sử dụng sự lặp lại như một công

cụ ngôn từ để từ đó thiết lập nên hệ thống các biểu tượng đặc trưng trong thơ mỗi tác giả

Đến nay, thi pháp học đã trở thành một hướng nghiên cứu hấp dẫn, được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam Có thể thấy, trong khi nghiên cứu thơ, các nhà phê bình đã chú ý đến sự lặp lại như một dấu hiệu đặc biệt để chỉ ra những đặc trưng cơ bản của văn bản cũng như giúp nhận diện chân dung nhà thơ Tuy nhiên, phần lớn những công trình này chỉ mới vận dụng sự lặp lại như một công cụ, một cách thức trong khi khai thác những phương diện cơ bản của thi pháp như quan niệm nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật Một sự đi sâu tập trung nghiên cứu sự lặp lại như một phương thức tổ chức ngôn ngữ thơ của một tác giả cụ thể là vấn đề cần được triển khai một cách toàn diện hơn

2.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ Tố Hữu

2.2.1 Nghiên cứu thơ Tố Hữu từ góc độ văn học

Trong những năm qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một đối tượng nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình tên tuổi Những công trình nghiên cứu qui mô lớn viết về ông có nhiều Các bài viết về Tố Hữu tập trung làm nổi bật vai trò một tác giả văn chương, một đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam với hàng loạt những sáng tác ghi dấu ấn trong lòng người đọc trong một giai đoạn văn học hiện đại sôi động và vô cùng phong phú, đa dạng Trong những công trình biên khảo chuyên sâu về

thơ ông nổi bật nhất là ba công trình: Thơ Tố Hữu của Lê Đình Kỵ (1979),

Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí và Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu của Nguyễn Văn Hạnh (1985), và Thi pháp thơ Tố

Trang 13

Hữu của Trần Đình Sử (1987) Tác giả Hà Minh Đức cũng là một người bền

bỉ, chuyên tâm nghiên cứu về thơ Tố Hữu qua hai Lời giới thiệu công phu cho

hai Tuyển tập thơ Tố Hữu vào các năm 1979 (Nxb Văn học) và 1995 (Nxb Giáo dục) Đặc biệt, chuyên luận Tố Hữu - Cách mạng và thơ (Nxb ĐHQG

HN, 2004) đã tập hợp nhiều bài viết của các tác giả trong khoảng thời gian gần 20 năm viết về con người và sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu

Ngoài ra, còn phải kể đến các công trình nghiên cứu khác của Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ và các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, đối với thơ Tố Hữu Tuy xuất phát từ những góc độ, khía cạnh tiếp cận khác nhau, nhưng các nhà nghiên cứu đều gặp gỡ và thống nhất trong nhận định: Tố Hữu là một phong cách lớn trong sự phát triển của nền văn học dân tộc Thơ ông không chỉ đặc sắc ở nội dung, tư tưởng mà còn đặc sắc về nghệ thuật trên các phương diện phong cách và ngôn ngữ Bằng những hiểu biết sâu rộng và tài năng riêng, mỗi người theo một cách thức riêng của mình đã chỉ ra thế giới nghệ thuật mới mẻ, phong phú, khác biệt cùng các giá trị nhân văn và thẩm mĩ, sâu sắc, lâu bền của thơ Tố Hữu

2.2.2 Nghiên cứu thơ tố Hữu từ góc độ ngôn ngữ học

Nghiên cứu thơ Tố Hữu từ góc độ ngôn ngữ học cho đến nay là mới và chưa có nhiều Các công trình chủ yếu là các Luận văn cao học và các luận văn này thường giới hạn khảo sát góc độ sử dụng từ ngữ trong thơ Tố Hữu Trước tiên cần kể đến là luận văn của Phạm Thị Thùy Dương với đầu đề

Khảo sát việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu (ĐH Sư phạm,

ĐH Thái Nguyên, 2008) Tiếp theo là các luận văn của Trần Đình Thạo là

Đặc điểm ngôn ngữ thơ Tố Hữu trong tập Gió lộng (ĐH Vinh 2011) và của

Trần Thị Tính là Ngôn từ trong thơ Tố Hữu (Nhìn từ bình diện từ vựng) (ĐH

Sư phạm TP HCM, 2011) Nguyễn Thị Thơm đi sâu tìm hiểu một nhóm từ chỉ

không gian với luận văn Khảo sát từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu

(ĐH Sư phạm, ĐH Thái Nguyên, 2013) Gần đây nhất là luận án Tiến sĩ của

Trang 14

Phạm Thị Như Hoa với đầu đề Hành động ngôn ngữ qua câu hỏi tu từ trong

thơ Chế Lan viên và thơ Tố Hữu (Học viện KHXH, 2015)

Từ tình hình trên, việc tiếp tục khám phá cơ chế nội tại trong văn bản thơ

Tố Hữu là cấu trúc lặp (lặp từ, cụm từ, dòng thơ, khổ thơ) được coi là một thủ pháp nghệ thuật được xem là một hướng đi mới Với hướng đi này, chúng tôi còn muốn chỉ ra giá trị của phương thức lặp trong việc xây dựng chỉnh thể văn bản thơ nói riêng và với việc tạo dựng một phong cách thơ Tố Hữu nói chung

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu Đặc điểm cấu trúc lặp trong thơ Tố Hữu qua

tuyển tập Toàn tập thơ Tố Hữu - Tố Hữu thơ, Nxb Văn học, năm 2011 bao gồm 286 bài thơ trong 7 tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và

Hoa, Một tiếng đờn và Ta với ta làm đối tượng nghiên cứu

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ:

- Trình bày khái niệm và đặc trưng của thơ, quan niệm về thơ và “lí thuyết đồng quy” trong thơ của R.Jakobson, “nguyên lý của sự lặp lại” của IU.M.Lotman trong ngôn ngữ thơ và mối quan hệ giữa chúng Đồng thời, chúng tôi vận dụng những lý thuyết đó vào nghiên cứu một hiện tượng thơ tiêu biểu là Tố Hữu

- Đi sâu phân tích những biểu hiện đặc sắc của cấu trúc lặp trong văn bản thơ Tố Hữu

- Chỉ rõ cấu trúc lặp như một phương thức đặc biệt trong việc tổ chức một văn bản thơ cụ thể và trong tính liên văn bản Rút ra một số đặc điểm phong cách thơ Tố Hữu qua việc sử dụng cấu trúc lặp đó

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Chúng tôi tiến hành khảo sát, thống

kê và phân loại các hiện tượng lặp lại tiêu biểu làm cứ liệu minh xác cho việc phân tích, đánh giá

Trang 15

- Phương pháp miêu tả: Từ số liệu, luận văn tiến hành mô tả đối tượng nghiên cứu, nhằm chỉ ra những nét cơ bản, chủ yếu và thứ yếu của đối tượng

- Phương pháp phân tích: Luận văn triển khai phân tích, chỉ ra vai trò, hiệu quả nghệ thuật của sự lặp lại trong thơ Tố Hữu

- Phương pháp so sánh: Để làm nổi bật phong cách thơ của Tố Hữu trong việc sử dụng sự lặp lại, chúng tôi dự định so sánh thơ ông qua các giai đoạn khác nhau thể hiện qua các tập thơ

6 Đóng góp của đề tài

Đây là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu cấu trúc lặp trong thơ Tố Hữu xét về mặt cấu trúc cũng như ngữ nghĩa do thủ pháp lặp tạo ra Trên cơ sở này, luận văn rút ra những đặc điểm phong cách ngôn ngữ thơ Tố Hữu

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn

được triển khai thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết của đề tài

Chương 2: Biểu hiện của cấu trúc lặp trong thơ Tố Hữu

Chương 3: Chức năng của cấu trúc lặp trong thơ Tố Hữu

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Khái niệm và đặc trưng thơ

1.1.1 Khái niệm về thơ

Thơ là loại hình văn học sớm nhất của nhân loại Thơ ra đời hầu như cùng một lúc với nhạc, họa, múa nhảy trong các cuộc tế lễ thần linh, ma thuật thời nguyên thủy Thoạt đầu, nghệ thuật ngôn từ nói chung được gọi là thơ (thuật ngữ thi của Trung Hoa dùng chung ở vùng Đông Nam Á cổ và trung

đại, thuật ngữ poie `sis của Hy Lạp được dùng chung ở vùng châu Âu) Thời

cổ đại, trong cuốn sách mang tên Nghệ thuật thơ ca, Aristote đã nghiên cứu

sử thi, bi kịch và hài kịch Sở dĩ như vậy, là bởi trên thực tế cho đến thời cận đại, các hình thức ngôn từ có nhịp điệu của thơ hoặc gần với thơ vẫn chiếm

ưu thế trong hầu hết các nền văn học Văn xuôi (thuật ngữ văn ở Trung Hoa

và Đông Á và prosa gốc La Tinh được dùng ở châu Âu) thường được dùng để

gọi chung những tác phẩm chữ viết không mang tính nghệ thuật như sử, triết, chính luận, hành chính Vào thời cận đại, hiện đại, thơ có nghĩa hẹp chỉ riêng loại hình sáng tác cụ thể như thơ trữ tình, thơ tự sự, trường ca Ở đây, chúng tôi sử dụng khái niệm thơ theo nghĩa hẹp

Tuy nhiên, định nghĩa về thơ như thế nào lại không phải là điều đơn

giản Với nhan đề Đọc thơ như là thơ Nhưng thơ là cái gì?, Nguyễn Hưng

Quốc đã tóm gọn lại những quan niệm lớn về thơ trên thế giới Bắt đầu là

Jakobson với luận điểm: Thơ là thứ ngôn ngữ tự quy chiếu, tự nó đầy đủ cho

nó Ông bình luận thêm: ý nghĩa của bài thơ không chỉ ở cái được nói mà chủ yếu còn ở cách nói Ngôn ngữ không còn là phương tiện truyền thông mà là nội dung của việc truyền thông Với những mức độ khác nhau có thể nói hầu hết các trường phái phê bình hiện đại đều tập trung vào một loại nội dung đặc biệt trong thơ: bản thân hình thức của thơ [40, tr.83] Từ đó, ông khái

quát: Là thơ, theo các nhà hình thức luận của Nga là kỹ thuật, theo các nhà

Trang 17

cấu trúc luận của Pháp là một hệ thống kí hiệu, theo các nhà Phê bình mới của Mỹ là một cấu trúc của ý nghĩa [40, tr.85]

Thụy Khuê trong Cấu trúc thơ đã lần lượt điểm qua một số quan niệm

về thơ tại Việt Nam Phạm Quỳnh đã đưa ra một định nghĩa rất đơn giản về

thơ, chú ý tương quan giữa thơ và họa: Ta coi thơ tức là vẽ, và vẽ tức là thơ;

thơ là vẽ bằng lời, bằng âm thanh, vẽ là thơ bằng hình ảnh, bằng màu sắc

[14, tr.33] Nhà thơ Hàn Mặc Tử lại đưa ra quan niệm về thơ dựa trên thánh

chúa: Thơ là một tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ước ao

trở lại trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy, vô chung, với những hạnh phúc bất tuyệt Thơ là sự ham muốn vô biên những nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi trời cách biệt [14, tr.35] Năm 1949, Nguyễn Đình Thi viết Mấy ý nghĩ

về thơ đã trình bày sự khác biệt giữa văn và thơ, những nguyên nhân khiến

nghệ sĩ sáng tác và tác dụng tình cảm của thơ ca Ông cho rằng: Tâm hồn

chúng ta có một rung động thơ khi nó thoát ra khỏi trạng thái bình thường Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói – tức là chữ - để thể hiện một trạng thái tâm lí đang rung chuyển khác thường [14, tr.39] Được coi

như người khai sinh ra phong trào thơ tự do miền Nam sau 1954, Thanh Tâm

Tuyền đã từ chối quan niệm thi nhân và thi ca cổ điển Ông nhấn mạnh: Vần

của nó (thơ tự do) là vần ẩn dấu cách xa (có thể đi tới khác âm, nghịch thanh), nhịp điệu của nó là một thứ nhịp điệu rộng rãi, phức tạp ở một trình độ nghệ thuật cao hơn đối với thứ nhịp điệu đơn giản rút gọn [14, tr.39]

Tiếp nhận tư tưởng của Jakobson và Le'vi-Strauss, từ năm 1973, Đặng Tiến đã có những bài viết giới thiệu và phân tích sắc sảo về một số vấn đề cốt yếu của thi học: thơ khác ngôn ngữ chung ra sao, sự khác biệt giữa văn và

thơ, lời thơ và ý thơ Ông khái quát: Ngôn ngữ nói chung và văn xuôi nói

riêng nhằm phục vụ một đối tượng trong cuộc sống hàng ngày Thơ trái lại là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng [29, tr.26] Nhưng ông cũng đã lưu

ý: Nói thơ là một ngôn ngữ tự tại không có nghĩa rằng thơ không cần có ý

nghĩa Cũng không hàm ý rằng thơ không tương quan gì đến thực tế nhất là

Trang 18

thực tại xã hội Đây là hai điểm chính yếu ta không nên ngộ nhận [29,

tr.16] Nắm bắt và sử dụng lí thuyết ấy một cách sáng tạo, Đặng Tiến đã có nhiều bài phê bình đắc địa về các nhà thơ Việt Nam như Nguyễn Trãi, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, Hàn Mặc Tử

Năm 1985, cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều

của Phan Ngọc được công bố đã thực sự khuấy động một hướng tiếp cận tác phẩm văn học mới tại Việt Nam: nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ Và

đến năm 1995, trong công trình Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, Phan Ngọc đã đưa ra định nghĩa về thơ: Thơ là một tổ chức ngôn ngữ hết sức

quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này [21, tr.23] Theo đó, ông khẳng định

thêm : Một khi đã nhìn theo quan điểm này thì từ, nhịp, vần, phách, thể loại,

trường phái cái gì cũng có nội dung của nó và nội dung ấy là những kiểu quan hệ [21, tr.35] Cùng với Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh đã đi sâu nghiên

cứu những đặc trưng của thơ từ phương diện ngôn ngữ trong tiểu luận Ngôn

ngữ thơ Lĩnh hội tư tưởng về thơ của Jakobson, Nguyễn Phan Cảnh đã có

những phân tích cụ thể về các đặc trưng của thơ trong phân biệt với văn xuôi

Từ góc độ lí luận, xem xét thơ trong mối quan hệ tổng hòa giữa nội dung

và hình thức, Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa thơ là: Hình thức sáng tác

văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh

mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu [11, tr.309]

Có thể thấy, các quan niệm trên, đứng từ mỗi góc nhìn riêng đều chứa đựng một hạt nhân hợp lý nào đó Triển khai đề tài này, chúng tôi đặc biệt lưu

ý đến đặc tính tự lấy mình làm cứu cánh của ngôn ngữ thơ

1.1.2 Đặc trưng của thơ

1.1.2.1 Đặc trưng nội dung của thơ

Tính trữ tình là đặc trưng nổi bật nhất của nội dung Cũng giống như truyện hay kịch, thơ là một hình thức sáng tác văn học để phản ánh cuộc sống Song, nếu như truyện quan tâm đến việc tái hiện một hiện thực rộng lớn với

Trang 19

nhiều biến động, nhiều câu chuyện; kịch chú trọng miêu tả các xung đột xã hội thì lãnh địa đặc biệt của thơ là thế giới tinh thần con người với muôn vàn cung bậc cảm xúc và những biến thái tinh vi, mơ hồ nhất Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là truyện hay kịch không thể hiện tình cảm, xúc động của con người Tác phẩm văn học nào, xét đến cùng cũng là một tiếng nói đối thoại với cuộc đời về một quan niệm nhân sinh, gửi gắm một nỗi niềm, một tư tưởng hay một suy ngẫm sâu xa Nhưng với truyện hay kịch, tầng nội dung đó thường nằm ở bình diện thứ hai, được nói một cách gián tiếp thông qua bức tranh cuộc sống được miêu tả, được kể lại Còn với thơ, tình cảm được phô bày trực tiếp, dồn nén trong từng con chữ và trở thành bình diện thứ nhất, quan trọng nhất, không thể thiếu Một bài thơ có thể không có cảnh vật, không có lời thoại, không có nhân vật với đầy đủ dáng hình, tính cách, số phận nhưng không thể không có tình cảm Tình cảm vì thế là yếu tố trung tâm, chi phối mọi

yếu tố khác (nếu có) trong tác phẩm thơ Trong Mĩ học, Hegel viết: Đối tượng

của thơ không phải là mặt trời, núi non, phong cảnh, cũng không phải là hình dáng và các biểu hiện bên ngoài của con người Đối tượng của thơ là hứng thú tinh thần Nhiệm vụ chính của thơ là gợi lên cho ý thức nhận thấy sức mạnh của cuộc sống tinh thần và tất cả những gì lay động ta, làm ta xúc cảm trong các dục vọng và các tình cảm nhân tính [26, tr.256]

Thơ không chú trọng phản ánh cuộc sống bên ngoài mà hướng vào thế giới nội cảm Nhưng thơ không phải là sự bộc lộ tình cảm một cách bản năng,

dễ dãi Tình cảm trong thơ là tình cảm được lắng đọng qua lăng kính thẩm mĩ,

là sự kết tinh của ý thức, của suy ngẫm về cuộc đời và chính mình đã được thăng hoa cao độ Tình cảm trong thơ bởi vậy, không chỉ là sự xúc động của riêng cá nhân nhà thơ mà cao hơn là vươn tới tình cảm mang tính nhân loại Một bài thơ động chạm đến được góc khuất nào đấy của nhiều con người, nói

hộ được điều khó nói của muôn trái tim sẽ là một bài thơ bất tử với thời gian

Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã từng nói, đại ý: Thơ làm ra là để cho người

đọc, mỗi người có thể tìm thấy một chút mình

Trang 20

Có một điểm đặc biệt trong nội dung của thơ là chất thơ Người xưa

thường nói ý tại ngôn ngoại Thơ không nói ở những điều nó viết ra, mà ở

những chỗ trống không viết ra, ở giữa khoảng lặng giữa các từ, các câu Nhà

thơ Tố Hữu từng nói: Thơ là cái đó: sự im lặng giữa các từ Nếu người ta

lắng nghe cái im lặng đó, thì có những tiếng vang dội rất đa dạng và tinh tế Thơ phải chăng là điều ấy, mơ ở trong thực, cái vô hình trong cái hữu hình Những màu sắc trong màu trắng Đó là điều mà người ta gọi là sự tinh diệu của ngôn ngữ và của tâm hồn [26, tr.265] Tố Hữu đã nói rất đúng cái chất

thơ của thơ thể hiện qua ngôn từ Trong thơ có ý nghĩa của các từ, ý nghĩa của hình tượng, nhưng đó không phải là cái ý nghĩa có tính thơ Cái ý nghĩa có tính thơ là ý nghĩa ngoài lời, ngoài hình ảnh, do chính lời và hình ảnh gợi lên

Nhà mĩ học Pháp Jacques Maritain đã khẳng định: Cái giá trị ý niệm hàng

đầu, cơ bản nhất của thơ là cái ý nghĩa mang tính thơ Bởi vì ý nghĩa mang tính thơ gần gũi nhất với cội nguồn sáng tạo – một thứ ý nghĩa trong bầu trời đêm của trực giác khi khái niệm biểu thị trực tiếp vào ý thức chủ quan của nhà thơ [26, tr.266]

1.1.2.2 Đặc trưng hình thức thơ

Rapin đã phát biểu rằng: Ý nghĩa trong thơ của phần đông thi sĩ có

đáng kể gì, nếu bỏ hết lời thơ [26, tr.54] Thụy Khuê cũng khẳng định: Giá trị của văn nằm trong ý tưởng Giá trị của thơ nằm trong mỗi chữ, mỗi vần, không cần qua trung gian của ý tưởng [14, tr.55] Nói điều này là để khẳng

định vai trò quan trọng đặc biệt của ngôn ngữ trong thơ Vậy đặc trưng của ngôn ngữ thơ là gì?

Theo Shklovsky, ngôn ngữ thực dụng là ngôn ngữ tự động hóa, ngôn

ngữ thơ là ngôn ngữ được lạ hóa, do đó thực chất nó là sự bạo động có ý thức với ngôn ngữ thực dụng [40, tr.120] Phan Ngọc nhận xét tương tự: Ở bất kì ngôn ngữ nào, thơ cũng là một cách tổ chức ngôn ngữ quái gở, đối lập hẳn với ngôn ngữ hàng ngày đến mức độ khó chịu [20, tr.25] Và Đặng Tiến cũng

cho rằng: Thơ là sự nổi loạn thường xuyên, không phải của thi nhân, mà là

Trang 21

của ngôn ngữ [29, tr.77] Đặng Tiến chia ra ba kĩ thuật sử dụng ngôn ngữ của

thi nhân: một là, khai thác quy luật của ngôn ngữ để làm thơ; hai là, phải vi phạm vào quy luật thông thường mới tạo ra được một hệ thống kí hiệu tự tại

và ba là, niêm – luật được xem như một phương pháp quy củ để phá vỡ khuôn

khổ bình thường của ngôn ngữ Trong bài giới thiệu Roman Jakobson và thi

pháp, Đặng Tiến đã nhắc lại quan niệm về ngôn ngữ thơ của Jakobson: trong ngôn ngữ thi ca ký hiệu tự bản thân nó đã hoàn tất một giá trị độc lập [29,

tr.28] Ông nhấn mạnh: Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng Chức

năng thơ, trong ngôn ngữ, là tạo giá trị thẩm mỹ cho lời nói thường, để tăng mức độ thuyết phục cho thông tin hay biểu cảm [29, tr.26)]

Phân biệt ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi, Nguyễn Phan Cảnh đã

chỉ ra rằng: Chính cái điều văn xuôi rất kỵ ấy lại là thủ pháp làm việc của

thơ: trong thơ, tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các thông báo Các biện pháp tu từ đã được tổng kết và chấp nhận, từ điệp âm đến hình thức song song, xét cho cùng không gì khác ngoài sự lặp, đi

từ cấp độ thấp nhất là âm vị, qua từ, đến câu và cho tới văn bản [5, tr.46]

Thụy Khuê gọi đó là tính chất song song trong thơ và viết: song song không

phải là sự lặp lại tầm thường mà đó là một cấu trúc nghệ thuật có tổ chức, nằm trong một tổ chức rộng lớn hơn : hệ thống ngôn ngữ [14, tr.133] Đặng Tiến lại

dùng thuật ngữ biền lệ [29, tr.68] và dẫn lời của Jean Cohen: thơ là một vòng

tròn, văn xuôi là một mạch thẳng Thơ là cuộc trở về miên viễn, trái với văn xuôi là cuộc đi tới không cưỡng lại được [29, tr.69] Tuy nhiên, ông cũng lưu ý: Nhưng trong thơ, biền lệ chiếm ưu thế trong cấu trúc, cũng như trong thơ, thi tính chiếm ưu thế, chứ không phải là thành tố duy nhất [29, tr.70]

Từ góc độ lí luận văn học, Nguyễn Xuân Nam đã nhận định: Ngôn từ

thơ là ngôn từ được cấu tạo đặc biệt [26, tr.267-269] Ông chỉ ra ba đặc trưng

của ngôn từ thơ:

- Thứ nhất, đó là ngôn từ có nhịp điệu

- Thứ hai, ngôn từ thơ không có tính liên tục và tính phân tích như ngôn từ

Trang 22

văn xuôi, ngược lại, nó có tính nhảy vọt, gián đoạn tạo thành những khoảng lặng giàu ý nghĩa

- Thứ ba, ngôn từ thơ giàu nhạc tính với những âm thanh luyến láy, những từ trùng điệp, sự phối hợp bằng trắc và những cách nhắt nhịp có giá trị gợi cảm

Có thể thấy, phần lớn các ý kiến đều cho rằng ngôn ngữ thơ là kiểu tổ chức ngôn ngữ hết sức đặc biệt, khác xa với ngôn ngữ giao tiếp và cũng khác hẳn với ngôn ngữ văn xuôi Bản thân ngôn ngữ đã là một vẻ đẹp, một giá trị cần phải kiếm tìm của thơ ca

1.2 Lí thuyết đồng quy trong thơ của R.Jakobson và Nguyên lí lặp lại trong thơ của IU.M.Lotman

1.2.1 Quan niệm về thơ và lí thuyết đồng quy trong thơ của R Rakobson

Trong bài viết Thơ là gì, R.Jakobson đã phát biểu: Chúng tôi không hề nói

rằng nghệ thuật tự thỏa mãn cho bản thân nó, trái lại chúng tôi chỉ rằng nghệ thuật là một phần của cơ cấu xã hội, một phần hợp thành có quan hệ với những phần hợp thành khác, vì lẽ lĩnh vực thơ ca và mối quan hệ của thơ ca đối với những khu vực khác của cấu trúc xã hội biến đổi không ngừng và biến đổi một cách biện chứng Điều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh, không phải là một thứ chủ nghĩa phân lập của nghệ thuật mà là cái tính chất tự trị của chức năng mỹ học [24, tr.77] Như vậy, theo R.Jakobson, yếu tố để khu biệt nghệ thuật với các

lĩnh vực khác của xã hội chính là sự tồn tại của chức năng mỹ học

Để khu biệt thơ ca với các thể loại văn học khác, R.Jakobson đưa ra khái niệm chức năng thi ca Ông cho rằng khái niệm thơ là không ổn định, nó biến đổi theo thời gian, nhưng chức năng thi ca là một yếu tố đặc thù, một yếu

tố mà người ta không thể quy gián một cách máy móc vào những yếu tố khác Chức năng thi ca chỉ là một phần hợp thành của một cấu trúc phức tạp nhưng lại là một thành tố làm biến đổi một cách tất yếu những yếu tố khác, và cũng

với những yếu tố này, nó quy định cái tập tính của tập thể Ông viết: Nếu một

chức năng thi ca có ý nghĩa quyết định, được xuất hiện trong một tác phẩm văn chương thì chúng ta mới sẽ nói đến vấn đề thơ ca [24, tr.78] Nhưng tính

Trang 23

chất thi ca biểu lộ như thế nào? R.Jakobson trả lời: Chính trong cái ấy (trong

chức năng thi ca), từ mới được cảm nhận như là từ, chứ không phải là cái thay thế giản đơn của đối tượng được gọi tên, cũng chẳng phải là sự bùng nổ của cảm xúc [24, tr.78] Ông nhấn mạnh, trong thơ ký hiệu không tự hòa vào

đối tượng mà có trọng lượng riêng và giá trị riêng của chúng Vấn đề này đã

được R.Jakobson làm rõ trong bài tham luận Ngôn ngữ học và thi pháp học

Trong bài viết này, trước khi bàn về chức năng thi ca, R.Jakobson đã đưa ra cái nhìn bao quát về những yếu tố tạo tác sự vận hành ngôn ngữ của mọi hành vi giao tế Đó là 6 yếu tố: người gửi, người nhận, bối cảnh, thông điệp, bản mã và tiếp xúc Sau khi lần lượt điểm qua các yếu tố trong giáo tiếp

ngôn ngữ, R.Jakobson rút ra nhận xét: Việc nhấn mạnh vào thông điệp vì bản

thân nó chính là điều nói lên đặc trưng thi ca của ngôn ngữ [24, tr.21] Ông

cũng lưu ý rằng, chức năng thi ca không phải là chức năng duy nhất của nghệ thuật ngôn từ Trong thơ, nó là chức năng chi phối, quy định Còn trong những hoạt động khác, nó chỉ đóng vai trò bổ trợ, thứ yếu

Vậy, dựa vào tiêu chuẩn nào mà người ta nhận biết một cách kinh nghiệm chức năng thi ca? Đặc biệt, yếu tố nào mà sự hiện diện của nó là tối cần thiết trong bất kỳ tác phẩm thi ca nào? Để trả lời cho câu hỏi đó, Jakobson

đã nhắc lại hai phương thức cơ bản được sử dụng trong cách ứng xử ngôn từ:

sự tuyển lựa và sự kết hợp Sự tuyển lựa được tiến hành trên cơ sở của sự tương đương, của sự tương tự, của sự đồng nghĩa và trái nghĩa Trong khi ấy,

sự kết hợp tức xây dựng lớp, đặt trên tình trạng tiếp cận nhau Ông phát biểu:

Chức năng thi ca chiếu nguyên tắc tương đương của trục tuyển lựa lên trục của sự kết hợp Sự tương đương được nâng lên hàng biện pháp tạo tác của lớp ngôn ngữ Khuôn nhịp của lớp âm thanh là một thủ pháp – ngoài chức năng thi ca ra, không tìm thấy được sử dụng trong ngôn ngữ Chỉ trong thơ

ca, bằng sự lặp lại đều đặn của những đơn vị tương đương với thời gian của chuỗi ngôn từ đã mang lại một kinh nghiệm sánh bằng – để tạo ra một hệ thống ký hiệu khác – kinh nghiệm về thời gian âm nhạc [24, tr.24-25] Ông

dẫn lời của Gerard Manley Hopkins, câu thơ như là diễn từ lặp lại toàn bộ

Trang 24

hoặc từng phần cái hình tượng âm thanh

Jakonson hoàn toàn đồng thuận với Hopkins khi cho rằng cấu trúc của thơ ca được đặc trưng bằng một thứ song hành liên tục và sức mạnh của sự láy lại này nằm ở chỗ nó sinh ra một sự láy lại hoặc một sự song hành tương ứng trong các từ hoặc trong tư tưởng Ông chỉ rõ, trong thi ca, không chỉ chuỗi âm vị mà tất cả các chuỗi đơn vị ngữ nghĩa đều hướng đến việc xây dựng nên một đẳng thức Việc chồng sự tương tự lên trên sự tiếp cận nhau mang đến cái bản chất của nó, từ bên này đến bên kia mang tính tượng trưng,

phức hợp, đa nghĩa Jakobson viết: Mọi yếu tố của chuỗi là một sự so sánh

Trong thi ca, nơi mà sự tương tự được chiếu lên sự kế tiếp, mọi hoán dụ đều phảng phất mang tính ẩn dụ và mọi ẩn dụ đều có màu sắc hoán dụ Tính nhập nhằng là một đặc tính nội tại, không thể tước bỏ được của mọi thông điệp tập trung vào bản thân nó [24, tr.47]

Jakobson cũng chú ý rằng, thơ ca không phải là lĩnh vực duy nhất trong

đó ý nghĩa tượng trưng của âm thanh bộc lộ ra hiệu ứng của chúng, nhưng đó

là vùng đất mà mối liên hệ giữa âm thanh và ý nghĩa từ chỗ tiềm ẩn trở thành hiển nhiên và được biểu hiện rõ rệt, đậm đà nhất Trong văn xuôi, những thế song hành rất ít rõ nét, ít đều đặn hơn trong thế song hành liên tục và nó không có hình tượng âm thanh chủ đạo Trong thơ ca, hình thức bên trong của

từ hay ngữ nghĩa của những thành tố của từ tìm thấy tính xác đáng của nó

Jakobson khẳng định, trong thơ, mọi yếu tố ngôn ngữ học đều biến thành hình

tượng ngôn ngữ thi ca [24, tr.59]

Như vậy, theo R.Jakobson, đặc trưng của thơ nằm ở chức năng thi ca

mà chức năng thi ca không gì khác là việc bản thân thông điệp tự hướng vào

nó Nói cách khác, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh Bản thân ngôn ngữ trong thơ đã là một giá trị và trở thành những hình tượng nghệ thuật Yếu tố làm nên đặc trưng ấy của thơ trong phân biệt với các loại thể khác chính là sự lặp lại Sự lặp lại trên nhiều cấp độ là nguyên tắc cấu trúc

nên văn bản thơ Jakobson nhấn mạnh, vấn đề cơ bản của thi ca chính là sự

song hành [24, tr.43]

Trang 25

1.2.2 Nguyên lý lặp lại trong thơ của IU.M Lotman

Bàn về những nguyến tắc kết cấu văn bản nghệ thuật, IU.M.Lotman

cho rằng: Văn bản nghệ thuật được xây dựng trên cơ sở hai kiểu quan hệ, việc

đặt tương phản – tương đồng thành những yếu tố được lặp lại tương đương

và việc đặt tương phản – tương đồng thành những yếu tố kề cận (không tương đương) Có thể giải thích khuynh hướng hướng tới tính lặp lại được coi như một nguyên lý mang tính cơ cấu của thi ca, còn khuynh hướng hướng tới tính

có thể hợp nhất được như là nguyên lý mang tính cơ cấu thuộc văn xuôi [12,

tr.125] Như vậy, theo Lotman, nguyên lý cấu trúc nên văn bản thơ chính là

sự lặp lại Ông cũng lưu ý rằng, một khi mà bất cứ văn bản nào cũng được thành thạo với tư cách là một sự kết hợp liên hoàn của một số lượng có hạn các yếu tố thì sự hiện diện của những cái lặp lại là không thể tránh khỏi Tuy nhiên, những sự lặp lại trong văn bản không mang tính nghệ thuật có thể không được ý thức với tư cách là một tính điều chỉnh nào đó đối với cấp độ ngữ nghĩa của văn bản Sự lặp lại một đơn vị nào đó trong văn bản thơ trái lại,

là một tính điều chỉnh nào đó đối với ngữ nghĩa của văn bản Theo Lotman, tính lặp lại được có ý nghĩa ngang bằng với tính tương đương, cái xuất hiện trên cơ sở mối quan hệ của một sự cân bằng không trọn vẹn – tức là vào lúc

có sự hiện diện của các cấp độ mà trên đó sự cân bằng không tồn tại Ông đã lần lượt chỉ ra các cấp độ biểu hiện sự lặp lại trong văn bản thơ

Những sự lặp lại được thuộc ngữ âm làm hình thành nên cấp độ cấu trúc

thấp nhất của văn bản thơ Ông viết: Khi những sự lặp lại về âm trở nên là đối

tượng chú ý của nhà thơ thì cũng là lúc xuất hiện ý định gán cho chúng một ý nghĩa khách quan nào đấy [12, tr.200] Có thể thấy, Lotman luôn đặt mối quan

hệ giữa hình thức tổ chức văn bản và ngữ nghĩa của nó song hành với nhau

Ông diễn giải thêm: Những cái lặp lại thuộc âm thanh có thể thiết lập nên

những mối liên hệ bổ túc giữa các từ, mang vào trong sự tổ chức ngữ nghĩa của văn bản những cái đồng – đối – tịnh lập, được thể hiện ra ít rõ ràng hơn hay nói chung vắng mặt ở cấp độ của ngôn ngữ tự nhiên [12, tr.201] Cấu trúc

Trang 26

thuộc ngữ âm, trong ngôn ngữ tự nhiên là thuộc về bình diện biểu hiện, ở thơ lại chuyển vào cấu trúc nội dung, làm hình thành nên những đối lập ngữ nghĩa không tách rời được khỏi văn bản đã cho

Lotman cũng đặt ra vấn đề vai trò mang tính cấu trúc của những lặp lại

về mặt nhịp điệu Những lặp lại về mặt nhịp điệu chính là cơ sở đầy đủ để cho hai từ rất xa nhau trong ngôn ngữ được tiếp nhận như là hai từ tương đương Kết quả là số lượng các từ đồng nghĩa mang tính tình huống, đặc trưng cho văn bản thơ, tăng lên một cách mạnh mẽ Các từ tỏ ra là tương đương chỉ bởi

tính đẳng nhịp của mình Nói như Lotman: Hình thức thơ được sinh ra từ khát

vọng đặt những từ khác nhau về ý nghĩa vào những vị trí tương đương tối đa

[12, tr.295] Không chỉ vậy, sự lặp lại nhịp điệu còn tạo ra các câu thơ tương đương với nhau Việc chia đoạn theo nhịp điệu đối với văn bản ra các thành tố đẳng nhịp làm hình thành nên một sự phân tầng tổng thể đối với các sự tương đương siêu ngôn ngữ Câu thơ ở vào thế tương xâm với các câu thơ khác, khổ này với khổ khác, chương này với chương khác của văn bản

Vì thế trong văn bản thơ, thực chất, không thể tách từ như một đơn vị ngữ nghĩa riêng biệt Mỗi đơn vị nghĩa riêng biệt trong ngôn ngữ phi nghệ thuật khi đứng trong ngôn ngữ thơ đều hoạt tác chỉ như một chức năng của cả chức năng ngữ nghĩa phức tạp Liên kết tính của từ trong văn bản thơ được thể hiện ở chỗ, từ hiện diện trong tương xâm với các từ khác, được đặt ở vị trí song hành với chúng Nếu các mối liên hệ văn cảnh của ngôn ngữ tự nhiên được xác định bằng cơ chế kết nối ngữ pháp của từ thành ngữ đoạn, thì cơ chế

cơ bản của ngôn ngữ thơ ca sẽ là sự song hành

Các lặp lại của các yếu tố siêu thơ của văn bản được xây dựng trên cấp

độ cao hơn cũng tuân theo các nguyên tắc ấy Khi mở ra cái tương đồng trong cái đối lập và cái khác nhau trong cái giống nhau, các lặp lại siêu thơ cấu thành một hệ biến thái ngữ nghĩa trong đó, ý nghĩa của từng mẫu văn bản hoàn toàn khác so vói ý nghĩa của nó khi nghiên cứu tách rời Đó là trường hợp của những từ vựng trong một hay nhiều văn bản, trường hợp lặp lại câu

Trang 27

thơ hay đoạn thơ trong nhiều văn bản của cùng một tác giả

Tuy nhiên, tính tương đương không phải là tính đồng nhất Sự lặp lại mang tính ý tưởng trọn vẹn trong văn bản nghệ thuật là bất khả Sự lặp lại về mặt âm thanh chỉ tô đậm thêm sự khác biệt về mặt ý nghĩa Hơn thế, sự đồng nhất trở nên là điểm xuất phát cho một sự đối lập về ý nghĩa Lotman khẳng

định: Nói nghiêm khắc, thì sự lặp lại trọn vẹn và vô điều kiện ở trong thơ nói

chung là không thể Sự lặp lại của các từ trong văn bản, như một nguyên tắc, không có nghĩa là một sự lặp lại máy móc của khái niệm Thường xuyên hơn,

nó chứng tỏ về một nội dung phức tạp hơn tuy rằng cùng đồng nhất về nghĩa

[12, tr.233] Như vậy, sự gấp đôi của một từ có nghĩa không phải là sự gấp đôi máy móc của khái niệm, mà là nội dung của nó phức tạp hơn, mới, khác

hơn Ông khái quát: Tính có tổ chức về mặt cấu trúc cao độ của các câu thơ,

cái làm nên cảm quan về nhạc tính, thì cùng với điều đó cũng là cả một sự phức tạp về ý nghĩa cao độ, điều hoàn toàn không vươn tới được đối với loại văn bản vô định hình [12, tr.242]

Bản chất mỹ học của những sự lặp lại trong văn bản thơ là như vậy Lotman chia sự lặp lại ở các cấp độ ra hai trường hợp Trường hợp thứ nhất, trong các đơn vị được lặp lại diễn ra sự trùng hợp bộ phận Ông nhấn mạnh,

sự hiện hữu của những sự trùng hợp dẫn tới sự phân biệt đối với tính tích cực hóa cấu trúc của bộ phận không trùng hợp Càng nhiều những yếu tố và những khía cạnh trùng hợp trong các đoạn được lặp lại không trọn vẹn của văn bản thì tính tích cực ngữ nghĩa của yếu tố dị biệt lại càng cao Ngữ nghĩa của các từ ở đây là mang tính trường hợp và được sinh ra một cách đầy đủ không chỉ bằng nghĩa của các từ của văn cảnh mà còn bằng mối tương quan của chúng trong một vị trí mang tính cấu trúc nhất định

Kiểu thứ hai của sự song hành về mặt văn bản là kiểu mà ở đó các yếu

tố được nhắc lại trùng hợp nhau Có thể chỉ ra trước mắt chúng ta là một sự trừng hợp trọn vẹn về văn bản Tuy nhiên, sự trùng hợp trọn vẹn về văn bản lại làm bộc lộ ra sự khác biệt về mặt vị trí Sự phân bố khác nhau của các yếu

Trang 28

tố đồng nhất theo lối văn bản ở trong cấu trúc dẫn tới những hình thức khác nhau của tính tương xâm của chúng với toàn thể Chính sự trùng hợp tất cả, ngoại trừ

vị trí mang tính cấu trúc, lại thúc đẩy sự khác biệt về nghĩa Vậy là, cái lặp lại tưởng như trọn vẹn lại thể hiện ra là không trọn vẹn cả trên bình diện biểu đạt (sự khác nhau của vị trí) và, đương nhiên, cả trên bình diện nội dung

Như vậy, chức năng mang tính dị biệt hóa, nghĩa là chức năng mang tính phân biệt ngữ nghĩa của sự lặp lại được gắn kết với sự khác biệt của sự kiến tạo hoặc của vị trí của các yếu tố được lặp lại và của các kết cấu Tuy nhiên, cần lưu ý, sự đồng nhất, quá trình tương tự hóa cũng đóng một vai trò

to lớn trong sự lặp lại với tư cách là yếu tố của cấu trúc nghệ thuật Từ đó,

Lotman rút ra kết luận quan trọng: Điểm căn bản của tính đồng nghĩa nghệ

thuật là tính tương đương không hoàn toàn [12, tr.247]

Có thể thấy, Lotman là người đã phát triển quan niệm về thơ do R.Jakobson đề ra trước đó một cách cụ thể và sâu sắc Đây là những cơ sở lí thuyết hết sức quan trọng, mở ra một hướng tiếp cận và nghiên cứu văn bản thơ từ góc độ cấu trúc ngôn ngữ trên thế giới Đã có một số nhà nghiên cứu người Việt tiên phong trong việc tiếp thu những tư tưởng tân tiến của R.Jakobson và IU.M.Lotman như Đặng Tiến, Phan Ngọc, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Phan Cảnh, Thụy Khuê Tuy nhiên, số lượng công trình ứng dụng quan niệm trên vào nghiên cứu một hiện tượng thơ cụ thể chưa nhiều Tìm hiểu thơ Tố Hữu từ đặc trưng cấu trúc ngôn ngữ văn bản, chúng tôi hy vọng sẽ có được cái nhìn mới mẻ và những kết luận đúng bản chất đối tượng Chúng tôi đã vận dụng triệt để những nhận định của Jakobson và Lotman về thơ và sự lặp lại trong thơ để tiến hành đề tài này

Trong khi vận dụng quan niệm về sự lặp lại ở trên, chúng tôi cũng chú

ý tới các biện pháp tu từ đã được tác giả Đinh Trọng Lạc chỉ ra trong Phong cách học tiếng Việt: điệp vần, điệp thanh, điệp ngữ, trùng điệp cú pháp Đây thực chất là những biểu hiện cụ thể của sự lặp lại trên các cấp độ, từ cấp độ ngữ âm, từ vựng cho tới cấp độ ngữ pháp Sự lặp lại được nhấn mạnh là một

Trang 29

nguyên lý cơ bản chi phối tới cách tổ chức ngôn ngữ của toàn bộ văn bản thơ, chứ không đơn thuần chỉ là một phép tu từ Từ quan điểm này, chúng tôi đi vào tìm hiểu trường hợp cụ thể: sự lặp trong thơ Tố Hữu

1.3 Tố Hữu – Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca

Trong văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu có một vị trí bề thế, như một trong những cây bút đại thụ có khả năng đón gió thời đại và lặng lẽ tỏa bóng xuống cả một nền thơ Ông đươc coi là người mở đường và là người dẫn đầu tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Sau hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng

và sáng tạo thơ ca Tố Hữu đã để lại một sự nghiệp chính trị danh giá, gắn liền với một sự nghiệp văn chương đầy đặn, trang trọng, có sức bền nghệ thuật lâu dài Thơ ông đã bám rễ sâu vào cuộc sống, nhận được nhiều sự yêu mến của nhiều thế hệ độc giả

1.3.1 Cuộc đời nhà thơ Tố Hữu

Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920 – 2002) sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920 tại Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Quê gốc của ông

ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên

- Huế Năm 9 tuổi, ông cùng cha trở về sống tại quê gốc là làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Cha ông là một nhà nho nghèo, không đỗ đạt và phải kiếm sống rất chật vật nhưng lại thích thơ, thích sưu tập ca dao tục ngữ Ông đã dạy Tố Hữu làm thơ cổ Mẹ ông cũng là con của một nhà nho, thuộc nhiều ca dao dân ca Huế và rất thương con Cha

mẹ đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tố Hữu

Mẹ ông mất vào năm ông lên 12 tuổi Năm 13 tuổi, ông vào trường Quốc học Huế Tại đây, được trực tiếp tiếp xúc với tư tưởng của Karl Marx, Friedrich Engels, Vladimir Ilyich Lenin, Maxim Gorky, Kết hợp với

sự vận động của các đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam bấy giờ như Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu Tố Hữu đã sớm tiếp cận với lý tưởng cộng sản Năm 1936 ông gia nhập Đoàn thanh niên Dân chủ Đông Dương Năm 1938 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương Tháng

Trang 30

4/1939, ông bị bắt, bị tra tấn dã man và đày đi nhà lao Thừa Phủ (Huế) rồi chuyển sang nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị) và nhiều nhà tù khác ở Tây Nguyên Tháng 3-1942, ông vượt ngục Đắc Glêi (nay thuộc Kon Tum) rồi tìm ra Thanh Hóa, bắt liên lạc với Đảng (về hoạt động bí mật ở huyện Hậu Lộc và thôn Tâm Quy, xã Hà Tân, huyện Hà Trung, Thanh Hóa) Đến năm 1945, khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Thừa Thiên - Huế Năm 1946, ông là Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa Cuối

1947, ông lên Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên huấn Từ đó, ông được giao những chức vụ quan trọng trong công tác văn nghệ và trong bộ máy lãnh đạo Đảng và nhà nước:

- 1948: Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam;

- 1952: Giám đốc Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Thủ tướng phủ;

- 1954: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền;

- 1963: Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam;

- Tại đại hội Đảng lần II (1951): Ủy viên dự khuyết Trung ương; 1955:

Ủy viên chính thức;

- Tại đại hội Đảng lần III (1960): vào Ban Bí thư;

- Tại đại hội Đảng lần IV (1976): Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương, Phó Ban Nông nghiệp Trung ương;

- Từ 1980: Ủy viên chính thức Bộ Chính trị;

- 1981: Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, rồi Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng cho tới 1986 Ngoài ra ông còn là Bí thư Ban chấp hành Trung ương

Có thể nói tâm hồn thơ được bố mẹ hun đúc và tình yêu cách mạng được những người cộng sản tiền bối dậy dỗ là tiền đề để Tố Hữu trở thành một nhà thơ tiêu biểu của thơ cách mạng Việt Nam hiện đại và một chính trị gia có tiếng

Trang 31

1.3.2 Sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu

Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ thống nhất chặt chẽ, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp cách mạng “là hình thức tươi đẹp của hoạt động cách mạng” Ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I – 1996 Thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cánh mạng nên mỗi chặng đường thơ ông luôn song hành với các giai đoạn đấu tranh cách mạng

Tập thơ Từ ấy (1937 – 1946)

Tập thơ đầu tay của ông gồm ba phần Máu lửa, Xiềng xích, Giải

phóng, tương ứng với ba chặng đường trong mười năm hoạt động cách mạng

của nhà thơ

Máu lửa là tiếng reo náo nức của một tâm hồn được giác ngộ lý tưởng:

Từ ấy Nhờ đó, nhà thơ đã nhận ra được ách áp bức giai cấp, những bất công của xã hội và thân phận của con người lao khổ Ông hướng tâm hồn mình đến cảm thông với những em bé mồ côi, lão đầy tớ, cô gái giang hồ, em bé đi ở và khơi dậy ở họ lòng căm thù, ý chí chiến đấu và niềm tin ở tương lai

Xiềng xích là bản quyết tâm thư của người chiến sĩ cách mạng tự dặn

lòng mình quyết không khuất phục trước uy lực và sự tàn bạo của kẻ thù

(Trăng trối, Con cá chột nưa…) và luôn luôn tha thiết yêu đời, khát khao tự

do và hành động Đây là phần đặc sắc của tập thơ

Giải phóng ca ngợi Cách mạng tháng Tám thành công Nhà thơ say sưa

nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi, ngợi ca nền độc lập, ngây ngất trong “niềm vui bất tận” với cảm hứng dâng trào trước cuộc đổi đời vĩ đại của nhân dân, dân tộc

Tập thơ Việt Bắc (1947 – 1945)

Quân thù trở lại, cả dân tộc bước vào cuộc khống chiến anh dũng Việt Bắc là “thủ đô kháng chiến”, nơi có Đảng, Bác Hồ lãnh đạo toàn dân đánh giặc Việt Bắc là bản anh hùng ca ca ngợi cuộc kháng chiến anh hùng và những con người bình dị mà anh hùng của cuộc kháng chiến (như các em thiếu nhi, các anh bộ đội, các chị phụ nữ, các bà mẹ… và trên tất cả, hình ảnh

Trang 32

tập trung, tiêu biểu cho phẩm chất dân tộc là hình ảnh Bác Hồ) Tập thơ còn

ca ngợi những tình cảm điển hình của con người kháng chiến như tình yêu nước, tình yêu đồng bào, tình quân dân, tình cảm miền ngược với miền xuôi, lòng yêu thiên nhiên, kính yêu Đảng, Bác Hồ… và niềm tin tưởng ở ngày mai tươi sáng

Vào giai đoạn cuối với chiến dịch Điện Biên, hòa bình lập lại, miền Bắc được giải phóng đã chắp cánh cho hồn thơ Tố Hữu bay bổng với những cảm hửng sử thi mang hào khí thời đại, Việt Bắc là thành tựu xuất sắc nhất của văn học kháng chiến chống Pháp

Tập thơ Gió lộng (1955-1961)

Bước vào giai đoạn này cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng niềm Nam tiến tới thống nhất nước nhà:

Rộn ràng thay cảnh quê hương Nửa công trường, nửa chiến trường xôn xao

Thơ Tố Hữu bám sát nhiệm vụ chính trị đó Tập Gió lộng vừa thể hiện

niềm vui, niềm tự hào và tin tưởng ở công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, vừa bày tỏ tình cảm thiết tha với niềm Nam và ý chí thống nhất nước nhà, tình cảm quốc tế rộng lớn

Trong niềm vui lớn với cuộc sống hiện tại, Tố Hữu không quên nghĩ về quá khứ để bày tỏ tình cảm biết ơn ông cha và những người đi trước mở

đường Và từ đó thấm thía ân tình cách mạng: Ba mươi năm đời ta có Đảng,

Mẹ Tơm… Tập Gió lộng tiếp tục phát triển cảm hứng sử thi và khuynh hướng

khái quát với một cái tôi trữ tình đa dạng hơn và một nghê thuật biểu hiện già dặn và nhuần nhị hơn

Hai tập thơ Ra trận (1962 – 1971) và Máu và hoa (1972- 1977)

Ra trận là những chặng đường thơ Tố Hữu trong những năm chống Mĩ

quyết liệt và hào hùng của dân tộc cho tới ngày toàn thắng Thơ Tố Hữu lúc này là khúc ca ra trận, là mệnh lệnh tiến công, là lời kêu gọi, cổ vũ hào hùng

Trang 33

cả dân tộc “khắp thành thị nông thôn” vùng lên quyết đập “tan đầu Mĩ Ngụy”

Ra trận cũng dành hẳn một trường ca theo chân Bác để tái hiện hình ảnh Bác

trên những chặng đường lịch sử trong hơn nửa thế kỉ

Máu và hoa là những suy ngẫm của nhà thơ về những hi sinh to lớn của

dân tộc (máu) để tạo nên những chiến công (hoa) chói lọi của lịch sử “Phải

bao máu thấm trong lòng đất; Mới ánh hồng lên sắc tự hào” Thơ Tố Hữu

những năm chống Mỹ cứu nước mang đậm tính chính luận và chất sử thi, nhiều chỗ vươn tới âm hưởng anh hùng ca

Hai tập thơ Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999)

Trải qua những thăng trầm, những trải nghiệm trước cuộc đời, nhà thơ muốn bày tỏ những suy tư về cuộc sống, về lẽ đời, hướng tới những quy luật phổ quát và tìm kiếm những giá trị bền vững Giọng thơ vì thế cũng trầm lắng, thấm đượm chất suy tưởng

Thơ Tố Hữu là một bằng chứng cho sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị và nghệ thuật Con đường thơ của ông là con đường tìm tòi sự kết hợp hài hòa hai yếu tố, hai cội nguồn là dân tộc và cách mạng trong hình thức đẹp đẽ của thơ ca Với ngôn ngữ, thể thơ giàu tính đại chúng, dân tộc, cách mạng, thơ Tố Hữu đã truyền được cho hàng triệu độc giả niềm say mê lý tưởng cách mạng

Với một sự nghiệp thơ phong phú, đồ sộ, Tố Hữu đã định hình cho

mình một phong cách riêng “Sống là hành động, thơ cũng hành động Với Tố

Hữu thơ là hình thức tươi đẹp của hoạt động cách mạng, của sự sống” (Đặng

Thai Mai) Đó là bí quyết thành công của thơ Tố Hữu và đó cùng là cội nguồn sâu xa tạo nên phong cách đặc sắc trong thơ Tố Hữu

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, đồng thời là một chiến sĩ cách mạng, Vì vậy, đối với ông, thơ trước hết phải là phương tiện đắc lực phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, cho những nhiệm vụ chính trị được hình thành trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau Với ông, thơ chính trị đã trở thành thơ trữ tình sâu sắc

Trang 34

Tố Hữu ít nói đến đời tư, đời thường Những vấn đề đời sống được nhà thơ đề cập đến chủ yếu trên phương diện chính trị Ông ca ngợi lý tưởng, ca ngợi những con người mang lý tưởng cộng sản, biểu dương những tình cảm cách mạng, ca ngợi nhân dân ca ngợi đất nước Những vấn đề chính trị ấy trở thành nguồn cảm hứng, nguồn cảm xúc chân thật, sâu xa và thành lẽ sống, niềm tin… Bởi vậy, với Tố Hữu chính trị trở thành cái riêng tư và được nhà thơ diễn đạt bằng ngôn ngữ tâm tình, ngôn ngữ của tình yêu, tình mẹ con, tình bạn bè một cách tự nhiên không gượng ép

Trước Cách mạng tháng Tám, nhà thơ khẳng định lẽ sống của con người là con đường cách mạng Đó là con đường duy nhất có thể giải thoát cho mọi số phận cá nhân, khỏi cảnh áp bức, đọa đầy đau khổ trong các bài

thơ: Từ ấy, Như những con tàu, Những người không chết, Trăng trối, Con cả

chột nưa Từ Việt Bắc trở đi, Tố Hữu thường chủ yếu đặt vấn đề lẽ sống của

dân tộc, và tiếp đó là mối quan hệ giữa dân tộc và thời đại

Đi liền với lẽ sống lớn là những tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng: Niềm say mê lý tưởng, tình đồng chí, lòng yêu mến nhân dân, đất nước, ân nghĩa của cách mạng, của Đảng lãnh tụ, tình cảm quốc tế :

Ta, Việt Bắc, 30 năm, Mẹ Tơm, Nước Non… Sáng tháng Năm, Bác ơi, Miền Nam, Một nhành xuân, Bí… thơ Thơ Tố Hữu ở những bài hay nhất thường là

có sự kết hợp cả ba chủ đề lẽ sống lớn, niềm vui lớn và ân tình cách mạng:

Việt Bắc, Mẹ Tơm, Bác ơi, 30 năm đời ta có Đảng…

Thơ Tố Hữu ở giai đoạn sau cách mạng mang khuynh hướng sử thi Chủ yếu đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân Cái “Tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu từ buổi đầu là cái “tôi” chiến sỹ, rồi đến

cái “tôi” công dân, về sau là cái “tôi” nhân dân, dân tộc, cách mạng Ta đi tới,

Việt Bắc và nhiều bài Thơ Xuân trong tập thơ Gió lộng và các bài thơ khác

trong tập thơ Ra trận… Nhận vật trữ tình của Tố Hữu là những con người đại

diện cho những phẩm chất dân tộc, thậm chí mang tầm vóc lịch sử, thời đại: Hình tượng anh giải phóng quân Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lý, Mẹ Suốt…

Trang 35

Nghệ thuật thơ Tố Hữu rất giàu tính dân tộc Tính dân tộc thể hiện ở thế giới hình tượng, phong cảnh quê hương, đất nước thân thuộc, ở hình ảnh con người rất đỗi Việt Nam Tính dân tộc còn thể hiện ở việc Tố Hữu thể hiện,

sử dụng các thể thơ mang đậm tính chất “truyền thống dân tộc như Lục bát (các

bài thơ Việt Bắc, Kính gửi cụ Nguyễn Du, Nước non ngàn dặm… Kết hợp cả

giọng thơ cổ điển và dân gian thể hiện những nội dung tình cảm cách mạng mà

có gốc rễ truyền thống, tinh thần dân tộc, làm phong phú cho thể thơ lục bát:

Thơ 7 chữ của Tố Hữu Quê mẹ, Mẹ Tơm, Theo chân Bác, trang trọng, có màu

sắc cổ điển nhưng vẫn biến hóa linh hoạt, diễn tả được nhiều trạng thái cảm xúc Về ngôn ngữ, Tố Hữu không mạnh ở sáng tạo từ mà thường sử dụng từ ngữ, lối nói quen thuộc với dân tộc, thậm chí cả những ước lệ, những so sánh ví von truyền thống, nhưng lại biểu hiện được nội dung mới của thời đại

Về nhạc điệu, thơ Tô Hữu rất giàu nhạc điệu, một biểu hiện tính dân tộc của nghệ thuật ở bề sâu Tố Hữu có biệt tài trong việc sử dụng các từ láy, dùng các vần và phối hợp các thanh điệu… kết hợp với nhịp thơ, tạo thành nhạc điệu, phong phú cho các câu thơ, diễn tả được cái nhạc điệu bên trong của tâm hồn, một nhạc điệu tâm tình mà bề sâu của nó là điệu cảm xúc của

dân tộc, tâm hồn dân tộc Em ơi Ba Lan, Mẹ Tơm, Xuân 1961, Quê Mẹ, Nước

non ngàn dặm…Với những nét phong cách vừa phong phú vừa đa dạng, vừa

sâu sắc, hấp dẫn nói trên, Tố Hữu rất xứng đáng là “Lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam”

1.4 Tiểu kết chương 1

Ngôn ngữ có nhiều chức năng, chủ yếu là thông tin nhưng có một chức năng đặc biệt, ít được chú ý tới là chức năng thẩm mỹ Chức năng thẩm mỹ có mặt trong mọi hình thức diễn ngôn, ngay cả trong lời nói sinh hoạt thường ngày, nhưng được thể hiện đậm nét và phong phú hơn cả trong ngôn ngữ thi

ca Thơ ca là lĩnh vực mà tính cách thẩm mỹ của ngôn ngữ nổi lên ở bình diện thứ nhất, làm nên tính đặc thù của loại thể văn học này Thơ là một ngôn ngữ

có giá trị tự tại

Trang 36

Yếu tố làm nên đặc trưng của thơ, trong phân biệt với văn xuôi chính là

sự lặp lại Sự lặp lại là vấn đề cơ bản của thơ ca Phương thức tổ chức ngôn ngữ cơ bản nhất trong thơ chính là sự lặp lại Sự lặp lại ở đây không dừng lại

ở tư cách là một phép tu từ trong tác phẩm văn học, mà được ý thức với tư cách là nguyên lý tổng quát trong việc cấu trúc một văn bản thơ Sự lặp lại có

ý nghĩa như một thao tác tư duy, mang tính điều chỉnh đối với ngữ nghĩa của văn bản Sự lặp lại được biểu hiện đa dạng trên tất cả các cấp độ ngôn ngữ trong thơ, từ cấp độ ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, văn bản cho tới cấp độ liên văn bản và cả sự lặp lại trong tư tưởng Hai dạng thức tồn tại điển hình của sự lặp lại ở các cấp độ là lặp lại nguyên dạng và lặp lại có biến thể Hai dạng thức này gặp nhau ở một điểm: sự tương đồng làm nảy sinh sự khác biệt và chính sự khác biệt làm nên ý nghĩa cho sự tồn tại của sự tương đồng Sự lặp lại theo đó, luôn luôn biến đổi linh hoạt, mang nhiều màu sắc mới Mỗi nhà thơ, bằng tài năng sáng tạo sẽ vận dụng sự lặp lại theo một cách riêng, để chuyển tải những ý đồ nghệ thuật độc đáo và quan niệm nhân sinh mới mẻ của mình

Tố Hữu là một nhà thơ có phong cách đặc biệt, từ những vấn đề tư tưởng

mà ông gửi gắm cho tới cách thức tổ chức văn bản Một trong những nét nổi bật ở thơ Tố Hữu chính là việc sử dụng sự lặp lại rộng rãi với nhiều biểu hiện

đa dạng, theo một cách riêng, in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của tác giả

Trang 37

CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN CỦA CẤU TRÚC LẶP TRONG THƠ TỐ HỮU

2.1 Khái quát về cấu trúc lặp

Lê Quý Đôn từng cho rằng: “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta”

Thật vậy, thơ chính là những rung động và cảm xúc chân thật nhất của nhà thơ trước cuộc sống, khi đứng trước một thiên nhiên lãng mạn, mộng mơ, hay khi bắt gặp những nỗi đau buồn, những mảnh đời bất hạnh của nhân tình thế thái, dường như nhà thơ lại dễ mở rộng lòng mình và cho ra những bài thơ đầy cảm xúc Một trong những phương phức nghệ thuật góp phần làm nên

phong cách riêng của thơ Tố Hữu đó chính là sử dụng cấu trúc lặp Thơ ông tuân thủ theo nguyên tắc: "Sự lặp lại trên nhiều cấp độ là nguyên tắc cấu trúc

tạo nên văn bản thơ" của R Jakobson [16, tr.59] và "Khuynh hướng hướng tới tính lặp lại được coi như một nguyên lý mang tính cấu trúc của thi ca" của

IU.M Lotman [12, tr.125]

Trong thơ Tố Hữu, cấu trúc lặp được biểu hiện theo bốn kiểu cụ thể là:

lặp từ, lặp cụm từ, lặp dòng thơ (câu thơ) và lặp đoạn thơ (khổ thơ) Đơn vị

mà trong đó cấu trúc lặp được thể hiện ở các dạng khác nhau được chúng tôi

sử dụng để thống kê chính là bài thơ

- Việc lặp lại cả dòng thơ (câu thơ), đoạn thơ (khổ thơ) trong một bài thơ thường không nhiều, có tần số thấp Khái niệm dòng thơ và câu thơ có

trường hợp tương thích nhưng có trường hợp không tương thích Tương tự,

khái niệm đoạn thơ và khổ thơ cũng như vậy Tuy nhiên, để phân bậc cấu trúc

lặp, chúng tôi xem xét các đơn vị này cùng mang chức năng hình: những đơn

vị lặp lại (có thể tương thích hoặc không tương thích) Trong các phân tích

tiếp theo, chúng tôi thống nhất chỉ sử dụng khái niệm đại diện là dòng thơ và

đoạn thơ

Cấu trúc lặp là dòng thơ và đoạn thơ có thể dễ dàng nhận ra bởi cả một

dòng thơ hay một đoạn thơ nào đó được lặp lại (ít nhất 2 lần trong một bài thơ) Dòng thơ đó, đoạn thơ đó thường không lặp lại ở bài thơ khác của cùng

Trang 38

một tác giả, ví dụ:

Voi là voi ơi

Voi yêu voi quý Voi nằm voi nghỉ Voi nghỉ voi chơi

Voi là voi ơi

Voi ta đầu thép

(Voi - Việt Bắc)

- Việc lặp lại cụm từ cũng thường chỉ diễn ra trong phạm vi một bài thơ

So với lặp dòng thơ, đoạn thơ, lặp cụm từ xảy ra trong một bài thơ phổ biến

hơn Nhưng phổ biến hơn cả là tập trung đậm đặc trong một khổ thơ, ví dụ:

(Ta đi tới - Việt Bắc)

Lặp lại cùng một cụm từ cũng ít gặp trong những bài thơ khác nhau

- Khác với các trường hợp nêu trên, lặp từ phải được nhìn ở mức độ,

phạm vi rộng hơn Điều này dễ cắt nghĩa bởi từ được xem là viên gạch, là đơn

vị cơ bản xây dựng văn bản Điều quan trọng nhất để xác định có hiện tượng lặp từ là từ đó xuất hiện đậm đặc trong một bài thơ, đặc biệt trong một đoạn thơ nào đó Các trường hợp cần phải kể đến:

+ Từ lặp lại xảy ra ở cấp độ toàn bài thơ và cả ở cấp độ đoạn thơ Ví dụ

trong bài thơ Bác ơi, từ Bác được lặp trong toàn bộ bài thơ một cách đậm đặc

Trang 39

tới 19 lần Đặc biệt, chỉ trong một khổ thơ bốn câu thất ngôn trong bài nay, từ

Bác được lặp lại đến 4 lần:

Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!

Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội

Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười

(Bác ơi - Ra trận)

+ Từ lặp lại cả trong những bài thơ khác nhau, ví dụ từ Bác xuất hiện

cả trong bài Sáng tháng năm của Tố Hữu theo nguyên tắc đã nêu trên:

Bác kêu con đến bên bàn Bác ngồi Bác viết, nhà sàn đơn sơ

(Sáng tháng năm - Việt Bắc)

Trên cơ sở quan niệm nêu trên, chúng tôi đã tiến hành thống kê 4 kiểu

cấu trúc lặp ở tất cả các bài thơ trong 7 tập thơ, bao gồm: Từ ấy, Việt Bắc, Gió

lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, và tập thơ Ta với ta (Phụ lục.)

Theo số liệu chúng tôi thống kê được thì tổng số bài thơ trong tuyển tập

là 286 bài, trong đó tổng số bài không lặp là 58 bài, chiếm 20%, còn tổng số

bài lặp là 228 bài, chiếm tới 80%, với tỷ số lặp cả về từ, cụm từ, câu thơ, khổ

thơ tương đối lớn, và điều đó được thể hiện cụ thể như sau:

Bảng 2.1 Cấu trúc lặp từ trong thơ Tố Hữu

bài

Số bài không lặp

Trang 40

Nhìn vào bảng thống kê trên cho thấy số bài lặp trong các tập thơ tương

đối lớn, tập Từ ấy có 72 bài thơ thì có tới 65 bài lặp, chiếm 90%, tập Việt Bắc chiếm 89% số bài lặp, tập Gió lộng 84%, tập Máu và hoa 92%, tập Một tiếng

đờn 69% và cuối cùng là tập Ta với ta với 68% Như vậy, tổng số bài lặp

trong thơ Tố Hữu gần như chiếm ưu thế trong cả tuyển tập thơ của ông

Ngoài đặc điểm rút ra từ phương diện số lượng, những biểu hiện của cấu trúc lặp trong thơ Tố Hữu lại vô cùng đa dạng, độc đáo và mới lạ Những biểu hiện đó sẽ góp phần quan trọng tạo nên phong cách của nhà thơ

2.2 Biểu hiện của cấu trúc lặp trong thơ Tố Hữu

2.2.1 Cấu trúc lặp từ trong thơ Tố Hữu

Theo kết quả khảo sát thơ Tố Hữu, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ lặp từ trong thơ ông khá phổ biến, tương đối nhiều Trong khuôn khổ có hạn của luận văn,

chúng tôi chỉ có thể thống kê và khảo sát những trường hợp lặp từ tiêu biểu và

điển hình

Như đã trình bày, các từ lặp được nhìn nhận về tính đậm đặc của nó

trước tiên trong khổ thơ, sau đó là trong phạm vi một bài thơ Hơn thế nữa, chúng còn được quan tâm trong sự kết nối của các bài thơ trong 7 tập thơ của

Tố Hữu Các thống kê cho phép chúng tôi thu được những từ điển hình từ lặp

có tần số cao trong phạm vi một bài thơ và nhiều bài thơ của Tố Hữu

Ngày đăng: 22/06/2020, 17:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote (2007), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Lao Động – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Lao Động – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2007
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 1999
3. Nguyễn Thị Thanh Bình (2008), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Tố Hữu, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Tố Hữu
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình
Năm: 2008
4. Hoàng Trọng Canh (2010), Hệ thống hình thái cấu trúc và ngữ nghĩa của từ vựng tiếng Việt, Tập bài giảng Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống hình thái cấu trúc và ngữ nghĩa của từ vựng tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2010
5. Nguyễn Phan Cảnh (2006), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
6. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
7. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình), Luận án tiến sĩ Ngữ văn, ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình)
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
8. Hữu Đạt (1998), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
9. Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng biên soạn (2010), Thi pháp học ở Việt Nam ,Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng biên soạn
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
10. Trịnh Bá Đĩnh (2002), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học. Nxb Văn học – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Văn học – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học
Năm: 2002
13. Jean Chevalier và Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevalier và Alain Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du
Năm: 2002
14.Thụy Khuê (1996), Cấu trúc thơ, Nxb Văn nghệ, California, Hoa Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc thơ
Tác giả: Thụy Khuê
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1996
15. Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội 16. Đinh Trọng Lạc (2000), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt", Nxb Giáo dục, Hà Nội 16. Đinh Trọng Lạc (2000), "99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng
Tác giả: Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội 16. Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
17.Trần Thị Kim Liên (2009), Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu
Tác giả: Trần Thị Kim Liên
Năm: 2009
18. Đặng Lưu (2006), Ngôn ngữ tác giả trong truyện Nguyễn Tuân, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ tác giả trong truyện Nguyễn Tuân
Tác giả: Đặng Lưu
Năm: 2006
19. Hoàng Kim Ngọc (Chủ biên) (2011), Ngôn ngữ văn chương, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ văn chương
Tác giả: Hoàng Kim Ngọc (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2011
20. Phan Ngọc (1995), Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, Nxb Trẻ, Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1995
21. Phan Ngọc (2010), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2010
22. Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức (2006), Thơ ca Việt Nam – hình thức và thể loại, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam – hình thức và thể loại
Tác giả: Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2006
23. Xuân Quỳnh (2011), Không bao giờ là cuối – tuyển thơ, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không bao giờ là cuối
Tác giả: Xuân Quỳnh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2011

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w