1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Câu hỏi tu từ trong ca từ Trịnh Công Sơn

126 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hoạt động âm nhạc – nghệ thuật có dùng ca từ cũng được xem như một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, xét theo quan điểm của ngôn ngữ học hiện đại, câu nghi vấn đóng vai trò rất qu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

LÊ THỊ HOA

CÂU HỎI TU TỪ TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

HẢI PHÒNG - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

LÊ THỊ HOA

CÂU HỎI TU TỪ TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM

MÃ SỐ: 8.22.01.02

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Hiệp

HẢI PHÒNG - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, với những biện luận, quan điểm độc lập Các số liệu khảo sát, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Hải Phòng, ngày 19 tháng 09 năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Thị Hoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình theo học ngành cao học Ngôn ngữ học Việt Nam tại trường Đại học Hải Phòng, đặc biệt là khoảng thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ hết lòng từ gia đình, thầy cô và bạn bè

Vì vậy, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, người đã đã trực tiếp dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn và động viên tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Các thầy, cô giảng dạy Cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học Việt Nam Khóa 7 tại trường Đại học Hải Phòng, những người đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, phòng Đào tạo Sau đại học

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, Khoa Toán trường Đại học Hải Phòng đã tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và làm Luận văn

Xin chân thành gửi lòng biết ơn, yêu thương và trân trọng tới gia đình

đã động viên, đồng hành, san sẻ những khó khăn cùng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin kính chúc sức khỏe tới quí thầy cô, gia đình và các anh chị học viên.Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hải Phòng, ngày 19 tháng 09 năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Thị Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÂU HỎI TU TỪ 10

1.1 Câu hỏi đích thực 10

1.1.1 Khái niệm 10

1.1.2 Dấu hiệu nhận diện và phân loại câu hỏi 11

1.1.3 Các phương tiện ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi 12

1.1.4 Tiêu điểm hỏi 14

1.1.5 Tình thái hỏi 15

1.2 Câu hỏi tu từ 16

1.2.1 Khái niệm 16

1.2.2 Phân biệt câu hỏi tu từ trong các dạng văn bản 19

1.3 Đặc trưng của câu hỏi tu từ trong thơ/ca khúc 24

1.4 Dấu hiệu nhận biết câu hỏi tu từ trong thơ 25

1.4.1 Dựa vào kết cấu diễn đạt 25

1.4.2 Dựa vào tình tình thái và biến đổi tình thái của câu hỏi tu từ 27

1.4.3 Dựa vào ngữ cảnh 28

1.4.4 Dựa vào hành động hỏi 30

1.4.5 Các cơ sở nhận diện khác 31

Tiểu kết chương 1 31

CHƯƠNG 2 CÂU HỎI TU TỪ TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN XÉT THEO KẾT CẤU HÌNH THỨC 33

2.1 Câu hỏi tu từ sử dụng đại từ nghi vấn 33

2.1.1 Đại từ nghi vấn “đâu” 33

2.1.2 Đại từ nghi vấn “sao”, “làm sao”, “mà sao” 38

2.1.3 Đại từ nghi vấn “nào”, “nao” 41

2.1.4 Đại từ nghi vấn “bao”, “bao nhiêu” 45

Trang 6

2.1.5 Đại từ nghi vấn “ai” 47

2.1.6 Đại từ nghi vấn “gì”, “chi” 52

2.1.7 Đại từ nghi vấn “bao giờ” 54

2.1.8 Đại từ nghi vấn “bao lâu” 55

2.1.9 Đại từ nghi vấn “mấy” 55

2.2 Câu hỏi tu từ sử dụng cặp phó từ nghi vấn 57

2.2.1 Cặp phó từ “có… không” 57

2.2.2 Cặp phó từ“không… sao” 60

2.3 Câu hỏi tu từ sử dụng thán từ 61

2.3.1 Câu hỏi tu từ sử dụng thán từ “ô hay” 61

2.3.2 Câu hỏi tu từ sử dụng thán từ “ơ hay” 62

2.4 Câu hỏi tu từ sử dụng quan hệ từ lựa chọn “hay” 62

2.4.1 Trường hợp quan hệ từ “hay” đứng đầu câu 62

2.4.2 Trường hợp quan hệ từ “hay” đứng giữa câu 63

2.5 Câu hỏi tu từ khuyết dấu hiệu nghi vấn 66

2.5.1 Câu hỏi tu từ có dấu “?” nhưng khuyết từ ngữ nghi vấn 66

2.5.2 Câu hỏi tu từ khuyết cả dấu “?” và từ ngữ nghi vấn 66

2.5.3 Câu hỏi tu từ khuyết dấu “?” 67

Tiểu kết chương 2 69

CHƯƠNG 3 CÂU HỎI TU TỪ TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN XÉT THEO Ý NGHĨA TÌNH THÁI TU TỪ TRONG NGỮ CẢNH SỬ DỤNG 71

3.1 Phân loại câu hỏi tu từ theo truyền thống 71

3.2 Các kiểu dạng câu hỏi tu từ trong ca từ Trịnh Công Sơn 72

3.2.1 Câu hỏi tu từ không lời đáp 72

3.2.2 Câu hỏi tu từ được tác giả gợi ý hồi đáp 98

Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 7

Trong hoạt động âm nhạc – nghệ thuật có dùng ca từ (cũng được xem như một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, xét theo quan điểm của ngôn ngữ học hiện đại), câu nghi vấn đóng vai trò rất quan trọng, giúp người phát (nhạc sĩ/nghệ sĩ) kết nối tác phẩm (diễn ngôn) của mình lại gần người nhận (khán giả) và truyền tải cảm xúc, thông tin nghệ thuật Câu hỏi tu từ trong thi ca, loại câu có hình thức hỏi nhưng nhằm đến những mục đích nói năng và hiệu quả thẩm mỹ phong phú, là loại câu có nhiều có nhiều nét riêng độc đáo cần được nghiên cứu

Khác với các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ khác của con người, hoạt động giao tiếp âm nhạc khó lòng dùng câu hỏi chính danh, mà thông qua ca

từ, người nghệ sĩ sử dụng câu hỏi tu từ để biểu đạt thế giới tình cảm của mình

và thực hiện các chức năng nghệ thuật của âm nhạc

Câu nghi vấn tu từ, hay còn gọi là câu hỏi tu từ (erotema – từ Hy Lạp cổ; interrogates – từ Latinh) từ lâu đã được giới tu từ học truyền thống phân tích, miêu tả và xem như là một trong những phương tiện để diễn đạt giàu màu sắc biểu cảm

Phương tiện này tuy xuất hiện không nhiều, nhưng mỗi lần sử dụng đều

có ý nghĩa với những màu sắc tu từ đặc biệt Bởi vậy, nghiên cứu câu hỏi tu

từ là công việc quan trọng, cần thiết để nắm rõ hơn nghệ thuật, phong cách của các tác gia, tác phẩm

Đặc biệt, việc tìm hiểu câu hỏi tu từ trong ca từ âm nhạc là một công

Trang 8

việc hoàn toàn mới mẻ và nhiều lí thú, cần được tiến hành

1.2 Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ huyền thoại, được đa số coi là một trong

ba nhạc sĩ tài danh nhất của nền tân nhạc Việt Nam (cùng với Phạm Duy và Văn Cao) Nhạc của ông là kho tàng rộng lớn, lưu trữ cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước Không những vậy, ca từ của Trịnh Công Sơn còn chứa đựng nhiều mã văn hóa, triết học và thể hiện vô vàn chiều sâu, góc khuất phức tạp trong tư tưởng, nhân sinh quan, thế giới quan riêng biệt của ông

Khác với nhiều nhạc sĩ khác, ngoài giai điệu đẹp, nhạc Trịnh Công Sơn nổi bật hơn hẳn ở phần ca từ Ca từ trong nhạc của ông đậm chất thơ, đa dạng

về từ vựng, độc đáo về ngữ pháp, phong phú về thanh điệu và ẩn chứa nhiều

mã nghệ thuật khác nhau Nói cách khác, nếu tách bỏ phần nhạc, thì phần lời của nhạc Trịnh thực sự đã làm nên những bài thơ xuất sắc, có đóng góp không nhỏ vào nền thi ca Việt Nam và làm giàu đẹp tiếng Việt Vì thế, nghiên cứu về

ca từ nhạc Trịnh Công Sơn là công việc cần thiết đối với ngành ngôn ngữ học

Cũng giống như nhiều mảng văn chương, thi ca khác, ca từ nhạc Trịnh Công Sơn sử dụng rất nhiều câu hỏi tu từ và xem nó như một phương tiện đắc lực để chuyên chở cảm xúc và truyền tải ý niệm nghệ thuật Nhận thấy nét

độc đáo này, chúng tôi tiến hành đề tài Câu hỏi tu từ trong ca từ Trịnh Công Sơn như một đóng góp nhỏ để tìm hiểu phong cách âm nhạc, thế giới nghệ

thuật của ông

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Câu hỏi tu từ dưới giác độ phong cách học và ngữ dụng học

Phong cách học nghiên cứu câu hỏi tu từ (rhetorical question) rất sớm,

gắn với nghệ thuật hùng biện từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại Hiện nay, các nhà phong cách học trong và ngoài nước đều thống nhất định nghĩa câu hỏi tu từ

là kiểu câu hỏi không chờ đợi sự trả lời và có tác dụng tăng cường diễn cảm cho phát ngôn Sau đây là một số ý kiến tiêu biểu:

D.E Rosental và M.A Telenkova là những tác giả đầu tiên đưa ra khái niệm

về câu hỏi tu từ Theo họ, câu hỏi tu từ là loại câu hỏi “chứa đựng hình thức nghi

Trang 9

vấn phủ định hay khẳng định nhưng không chờ đợi sự trả lời”[40, tr.61]

Sau hai tác giả trên, Katie Wales tiếp tục định nghĩa về câu hỏi tu từ là:

“kiểu câu hỏi không chờ đợi được trả lời đã xác định điều đã biết đối với người nhận là không thể trả lời được”[61] Định nghĩa của Katie Wales đã

chú trọng tới vai trò của câu hỏi tu từ trong một số kiểu hội thoại mang tính đặc thù là tranh biện cổ điển và tiểu thuyết

Theo tác giả: “câu hỏi tu từ được sử dụng từ trong thuật tranh biện cổ điển như là những thủ pháp khích lệ, kêu gọi sự biện minh của người nghe, hay là thủ pháp khêu gợi cảm hứng của người nói Trong truyện kể, chúng là những tín hiệu hiển nhiên của người kể toàn thông, dấu hiệu hô gọi đến người đọc”[61, tr.407-408]

Tác giả có uy tín về phong cách học tại Việt Nam là Đinh Trọng Lạc đã

định nghĩa câu hỏi tu từ là: “câu về hình thức là câu hỏi, về thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định có cảm xúc”[29, tr.194-197] Dạng thức của nó được miêu tả là: “không đòi hỏi câu trả lời mà chỉ nhằm tăng cường tính diễn cảm của phát ngôn”[29]

Xét theo tình thái biểu đạt, Nguyễn Thái Hòa cho rằng, câu hỏi tu từ là một trong những kiểu câu chuyển đổi tình thái điển hình nhất của tiếng Việt

Trong văn chính luận, câu hỏi tu từ được sử dụng như một biện pháp “buộc đối thủ phải chấp nhận luận điểm của mình”[31, tr.228] Còn trong thơ ca, nó chính là “cách nói truyền cảm”[31]

Trên cơ sở lí thuyết ngữ dụng học (thuộc ngôn ngữ học hiện đại), giới chuyên môn đã tiến hành nghiên cứu câu hỏi tu từ trong mối quan hệ với lí thuyết hội thoại, lí thuyết hành động ngôn ngữ và lí thuyết diễn ngôn:

Brown và Levinson xuất phát từ lí thuyết hội thoại đã cho rằng: “câu hỏi tu từ là một trong những chiến lược để đảm bảo lịch sự trong hội thoại”[3, tr.274]

Tiếp nối hai tác giả trên, Henri Morier quan niệm: “câu hỏi tu từ được nêu ra để khêu gợi một câu trả lời trong tâm trí người nghe, người đọc Câu

Trang 10

hỏi tu từ tạo ra một cuộc đối thoại mà người đối thoại không nói nhưng kêu gọi hay khích lệ người đối thoại tham gia”[38, tr.572-573]

Trong một số nghiên cứu gần đây trên thế giới, đa số các quan điểm được đưa ra cũng đã khẳng định rằng, trong câu hỏi tu từ có tính nghi vấn (tính hỏi)

Chẳng hạn, Ivano Caponigro và Jon Sprouse đã nêu quan điểm: “Chúng tôi cho rằng câu hỏi tu từ ngữ nghĩa giống như câu hỏi thông thường Dữ liệu mới được trình bày để cho thấy rằng câu hỏi tu từ cho phép các câu trả lời và một loạt các câu trả lời của nó cũng giống như câu hỏi thông thường”[70, tr.2] Hai tác giả quan niệm rằng:“câu hỏi tu từ và câu hỏi thông thường chỉ khác nhau ở mức độ thực tế: một câu hỏi được hiểu như là một câu hỏi tu từ khi câu trả lời của nó được biết đến với diễn giả và người nghe, trong khi nó được xem như là một câu hỏi thông thường khi câu trả lời của nó là không được diễn giả biết đến”[70, tr.2]

Tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Việt Tiến cho rằng, câu hỏi tu từ là “một trong ba câu hỏi giả nhất (câu hỏi điều tiết)"[51,tr.79]

Nguyễn Việt Tiến cũng phân biệt câu hỏi tu từ với câu hỏi chính danh

dựa trên biên độ trả lời: “loại câu hỏi này (câu hỏi tu từ) đối lập hoàn toàn với câu hỏi thực hay còn gọi là “câu hỏi chính danh”(câu hỏi yêu cầu thông tin) ở chỗ biên độ dành cho câu trả lời bị thu hẹp đến mức gần như bằng không vì loại câu hỏi này thách thức người được hỏi cả về khả năng phủ nhận hoặc thậm chí trả lời”[51, tr.107]

Như vậy, đa số các quan điểm từ giác độ phong cách học và dụng học

đều cho rằng: Câu hỏi tu từ là câu hỏi không yêu cầu thông tin hồi đáp mà thực hiện những hành động ngôn ngữ khác (ngoài hành động hỏi) để hướng tới những mục đích phát ngôn khác, một hoặc một số hiệu lực ở lời khác

Nhìn từ góc độ ngữ nghĩa - ngữ dụng, tác giả Lê Thị Thu Hoài cho rằng, câu hỏi tu từ có các đặc điểm như sau:

- Câu hỏi tu từ hiển nhiên phải có hình thức nghi vấn (với các dấu hiệu

Trang 11

như đại từ, trợ từ, phó từ nghi vấn, tiểu từ tình thái hay dấu hỏi chấm)

- Câu hỏi tu từ bao giờ cũng ngầm ẩn một nội dung phán đoán khẳng định hay phủ định khác chứ không chỉ diễn đạt nội dung hỏi

- Câu hỏi tu từ có chứa từ phủ định thì ngầm ẩn nội dung khẳng định mệnh đề tương ứng và ngược lại câu không chứa từ phủ định lại ngầm ẩn nội

dung phủ định mệnh đề tương ứng.[23, tr.17]

Tuy nhiên, tác giả cũng đồng thời khẳng định rằng, câu hỏi tu từ vẫn

phải có tính hỏi (yêu cầu cung cấp thông tin) Theo tác giả, tính hỏi này "tồn tại có lí do, mục đích”, và “nếu ở câu hỏi chính danh chúng đóng vai trò là mục đích giao tiếp của phát ngôn thì câu hỏi tu từ chúng bị đẩy xuống thứ yếu

và chỉ được xem như một công cụ nhằm đạt đến một mục đích giao tiếp khác của người nói"[23, tr.181]

Như vậy, theo quan niệm của tác giả Lê Thị Thu Hoài, do câu hỏi tu từ sẵn có tính hỏi (tính nghi vấn) nên tất yếu sẽ kéo theo một trong đích ngôn trung của câu hỏi tu từ là yêu cầu người hỏi phải cung cấp thông tin (thực hiện hành động hỏi)

Tuy nhiên, hiệu lực của đích ngôn trung này là thứ yếu, tức là hành động hỏi không phải hành động được ưu tiên số một Xếp trên nó là các hiệu lực ở lời khác (thực hiện các hành động ngôn ngữ khác như biểu đạt tình cảm,

ra lệnh, than vãn, cầu khiến, nhờ vả, trách cứ…) Vì vậy, nhiệm vụ cung cấp thông tin có thể có hoặc không Nó không ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp giữa người phát và người nhận

Từ các ý kiến, quan niệm trên, luận văn này xin đưa ra một số quan điểm về câu hỏi tu từ như sau :

- Câu hỏi tu từ trước tiên phải có hình thức nghi vấn, thể hiện qua các dấu hiệu nghi vấn (như đại từ nghi vấn, phó từ nghi vấn… hay dấu câu) Tuy nhiên, các dấu hiệu nghi vấn đó chủ yếu nhằm hướng tới một hoặc nhiều mục đích khác và thực hiện các hành động ngôn ngữ khác Mục đích yêu cầu cung cấp thông tin và hành động hỏi (nếu có) chỉ là thứ yếu

Trang 12

- Câu hỏi tu từ khi được sử dụng sẽ chấp nhận vi phạm nguyên tắc hội thoại của Grice để đạt tới những mục đích nghệ thuật, biểu đạt cao hơn truyền tin thông thường (Grice xây dựng lí thuyết giải thích hàm ngôn hội thoại dựa trên giả định về nguyên tắc hợp tác hội thoại, được cụ thể hóa bằng 4 phương châm hội thoại, gồm có phương châm về chất, phương châm về lượng, phương châm cách thức)

- Câu hỏi tu từ là một trong những chiến lược đối thoại khôn ngoan, ấn tượng, làm tăng tính biểu cảm, biểu hiện ý nghĩa tình thái tu từ cho câu văn, câu thơ hay ca từ Nó giúp người phát thiết lập nên những diễn ngôn mang hiệu quả giao tiếp cao

Việc sử dụng câu hỏi tu từ trong thơ trữ tình nói chung và ca từ nói riêng, đến nay vẫn ít được quan tâm trong giới nghiên cứu ngôn ngữ tại Việt Nam

Theo hiểu biết của chúng tôi, ở mảng luận văn cao học, chỉ có một số tác giả nghiên cứu câu hỏi tu từ ở những góc độ khác nhau

Trịnh Minh Thành với Luận văn Cao học “Câu hỏi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và việc sử dụng câu hỏi để biểu thị mục đích nói » đã thống

kê được 275 câu hỏi và bước đầu chỉ ra được một số đặc điểm tình thái của dạng câu hỏi gián tiếp trong tác phẩm Truyện Kiều Tuy nhiên, tác giả vẫn không phân biệt câu hỏi chính danh và câu hỏi tu từ Do đó tính tình thái, giá trị nghệ thuật của câu hỏi tu từ chưa được làm rõ thành hệ thống Mặt khác, các đặc điểm tình thái của câu hỏi không chính danh được chỉ ra còn nặng tính suy đoán, chưa dựa trên cơ sở và phương pháp khoa học để phân tích và chứng minh nên chưa có tính thuyết phục cao

Phạm Thị Như Hoa với Luận văn Cao học “Câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên (2003) » đã bước đầu phân biệt câu hỏi đích thực và câu hỏi tu từ

Tác giả cũng thống kê, phân loại câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên dựa vào kết cấu hình thức; nghiên cứu các tình thái của câu hỏi tu từ Từ đó, tác giả đi vào phân tích giá trị thẩm mĩ của câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên

Trên cơ sở luận văn này, Phạm Thị Như Hoa tiếp tục phát triển thành

Luận án Tiến sĩ “Hành động ngôn ngữ qua câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan

Trang 13

Viên và thơ Tố Hữu (2014) » với lí thuyết ngữ dụng học hiện đại

2.2 Vấn đề nghiên cứu ca từ của Trịnh Công Sơn

Xét trên khía cạnh âm nhạc, Trịnh Công Sơn là một trong ba nhạc sĩ huyền thoại, có tầm ảnh hưởng to lớn tới nền âm nhạc Việt Nam đương đại (cùng với Văn Cao và Phạm Duy) Còn xét trên khía cạnh thi ca, ông cũng được xem như một nhà thơ lớn, có nhiều đóng góp tới sự phát triển của tiếng Việt Công bằng mà nói, vị trí của Trịnh Công Sơn đối với nền thi ca Việt Nam không hề thua kém gì những nhà thơ tài hoa như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Bính Các tác phẩm âm nhạc của Trịnh Công Sơn, nếu tách bỏ phần nhạc, chỉ để lại phần lời, sẽ hoàn toàn trở thành những bài thơ giàu thanh điệu, nhạc tính, công phu về hình thức ngôn từ và sâu sắc về nội dung, mang lại giá trị nghệ thuật cao

Bởi vậy, nhạc sĩ Văn Cao mới từng nói: “Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người của thơ ca (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc theo cấu trúc bác học phương Tây Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra”[65] Chính vì thế, nhạc

Trịnh hoàn toàn có thể được nghiên cứu trên cả ba bình diện lí luận âm nhạc,

lí luận văn học và lí luận ngôn ngữ với tư cách là một đối tượng độc lập Đặc biệt, phần ngôn từ của Trịnh Công Sơn hiện vẫn đang là mảnh đất “màu mỡ” với nhiều góc khuất, cần được ngôn ngữ học nghiên cứu và khai thác, để sáng

tỏ thêm nhiều nét về ông

Với tầm vóc to lớn như vậy, từ trước tới nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Trịnh Công Sơn, cả trong và ngoài nước Trên bình diện văn

học, có một số tác giả như: Hàn Thị Thu Hương (2010), Phương thức so sánh trong ca từ của Trịnh Công Sơn, Luận văn thạc sĩ, Đại học Thái Nguyên; Trần Thị Mỹ Liên (2011); Mai Thanh Tùng (2014), Chất liệu dân gian trong

ca từ nhạc Trịnh Công Sơn, Luận văn thạc sĩ, Đại học Thái Nguyên Đặc

điểm chung của các đề tài này là nghiên cứu theo nội dung, tư tưởng và chất liệu sáng tạo của nhạc Trịnh (dưới dạng thi ca)

Trang 14

Trên bình diện ngôn ngữ, một số tác giả cũng bước đầu đi vào nghiên

cứu ca từ nhạc Trịnh như: Trần Thị Mỹ Liên, Ẩn dụ trong ca từ Trịnh Công Sơn dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; Mai Văn Hoan (2014), Một vài đặc điểm nghệ thuật trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn; Trần Kim Phượng (2015), Những kết hợp bất thường trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn dưới góc độ ngữ pháp; Bùi Vĩnh Phúc, Nghệ thuật ngôn ngữ trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn

Qua những công trình trên, có thể thấy, hầu hết các phương diện nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật ngôn từ trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn đều đã được xem xét tới Các tác giả khi nghiên cứu đều nhấn mạnh vào tính biểu

tượng, nhắc đến biểu tượng nghệ thuật như một nhân tố quan trọng góp phần

định hình phong cách nghệ thuật của Trịnh Công Sơn

Thế nhưng, vấn đề câu hỏi tu từ trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn, vốn được xem xét như một đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu, thể hiện phong cách nghệ thuật của ông lại chưa có công trình nghiên cứu nào Nhận thấy yêu cầu

này, chúng tôi chọn đề tài Câu hỏi tu từ trong ca từ Trịnh Công Sơn nhằm

khám phá một nét quan trọng để xác định phong cách nghệ thuật của ông

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Câu hỏi tu từ trong ca từ Trịnh Công Sơn

Trang 15

Trịnh Xuân Tịnh và Tạ Tuấn sưu tầm)

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu cách sử dụng sáng tạo một phương tiện tu từ trong ca từ Trịnh Công Sơn – loại thi ca đặc biệt của nền âm nhạc nghệ thuật Việt Nam đương đại, từ đó hiểu hơn về đặc điểm phong cách của ca từ Trịnh Công Sơn

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân biệt, làm sáng tỏ hơn về các khái niệm câu hỏi đích thực hay chính danh, câu hỏi tu từ và quan niệm câu hỏi tu từ trong thơ ca

- Khảo sát, thống kê, phân loại câu hỏi tu từ trong ca từ Trịnh Công Sơn dựa vào kết cấu hình thức

- Phân tích tính đa tình thái và đa chức năng được thể hiện trong câu hỏi tu từ của ca từ Trịnh Công Sơn

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả: giúp miêu tả ngữ cảnh rộng/hẹp xuất hiện câu hỏi tu từ để nhận diện các kiểu câu hỏi tu từ trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: được sử dụng để xử lý mối quan

hệ qua lại giữa nghiên cứu âm nhạc sang nghiên cứu ca từ dưới góc độ ngôn ngữ học

- Thủ pháp thống kê, phân loại: để tập hợp và phân loại các kiểu câu hỏi tu từ cùng các ý nghĩa tình thái tu từ tương ứng của chúng

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần chính luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về câu hỏi tu từ

Chương 2: Câu hỏi tu từ trong ca từ Trịnh Công Sơn xét theo kết cấu hình thức

Chương 3: Câu hỏi tu từ trong ca từ Trịnh Công Sơn xét theo ý nghĩa tình thái tu từ trong ngữ cảnh sử dụng

Trang 16

Tác dụng của câu hỏi đích thực, theo Bùi Đức Tịnh là dùng “để tỏ ý muốn biết một vật gì hay một điều gì”[55, tr.154] Còn tác giả Nguyễn Kim Thản lại cho rằng, “câu nghi vấn nhằm mục đích nêu lên sự hoài nghi của người nói và nói chung đòi người nghe tường thuật về đối tượng hay đặc trưng của đối tượng”[48, tr.254]

Vẫn trên mặt ý nghĩa sử dụng, Diệp Quang Ban định nghĩa: “câu nghi vấn thường dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó; về mặt hình thức câu nghi vấn cũng có những dấu hiệu đặc trưng nhất định”[1, tr.247] Trong đó, điều chưa

biết gợi mở những ý hàm ẩn và hành động ngôn ngữ gián tiếp đằng sau phát ngôn, còn sự chờ đợi sẽ lôi kéo người đọc, người nghe vào cuộc giao tiếp Tác giả cũng có sự phân biệt câu nghi vấn với câu trần thuật, câu cảm thán, câu cầu khiến theo tiêu chí về chức năng thông báo

Xét trên ý nghĩa tình thái của câu, Cao Xuân Hạo cho rằng, câu hỏi đích

thực là kiểu câu “có dấu hiệu riêng về tình thái hỏi”[18, tr.224] Tiếp đó, tác

giả dựa vào dấu hiệu hình thức chuyên dụng để chia câu hỏi đích thực thành 6 tiểu loại câu nghi vấn, tương ứng với nó là 6 hiệu lực ở lời khác nhau

Qua các khái niệm, định nghĩa trên, có thể thấy, các tác giả đều thống

Trang 17

nhất về đặc điểm của câu hỏi đích thực như sau:

- Về nội dung: câu hỏi đích thực được dùng để nêu lên điều chưa biết ở người phát và mong muốn nhận được sự giải thích hoặc trả lời từ phía người nhận

- Về hình thức: câu hỏi đích thực có những dấu hiệu chuyên dùng như

từ vựng, ngữ pháp, dấu câu…

Từ hai đặc điểm trên, câu nghi vấn được phân biệt với câu trần thuật ở dấu hiệu hình thức và phân biệt với câu cầu khiến, câu cảm thán về tính đối thoại Tức là, mỗi câu nghi vấn được dùng trong giao tiếp đều mang sẵn tính

có lí do Sự tồn tại của nó gắn liền với các nhân tố giao tiếp như: nhân vật giao tiếp, ngữ cảnh, thông điệp, cách thức truyền tin…

Từ góc độ lí thuyết hành động ngôn ngữ (speech acts), theo tác giả Searle, để sử dụng hành vi hỏi phải đảm bảo 4 điều kiện sau :

- Điều kiện về nội dung mệnh đề: gồm tất cả các mệnh đề hay hàm mệnh đề

- Điều kiện về sự chuẩn bị: người hỏi không biết chính xác lời giải đáp

- Điều kiện về sự chân thành: người hỏi tự đặt giả thuyết rằng người được hỏi biết câu trả lời

- Điều kiện về sự căn bản: người hỏi cố gắng nhận được thông tin từ người được hỏi.[3, tr.119]

Bốn điều kiện sử dụng mà Searle nêu ra trên đây chính là cơ sở để nhận biết một phát ngôn mang hình thức hỏi có phải là câu hỏi đích thực hay không

1.1.2 Dấu hiệu nhận diện và phân loại câu hỏi

1.1.2.1 Câu hỏi dùng theo lối trực tiếp

Câu hỏi (câu nghi vấn) dùng theo lối trực tiếp là kiểu câu được thực hiện đúng với đích ở lời và điều kiện sử dụng của chúng

Nói cách khác, câu hỏi trực tiếp là loại câu hỏi thực hiện mục đích nêu lên điều không biết hoặc sự hoài nghi của người nói (người phát) Nó đòi hỏi người nghe (người nhận) phải trả lời và sử dụng các hành động ngôn ngữ trực tiếp

Loại câu hỏi dùng theo lối trực tiếp xuất hiện nhiều trong ngôn ngữ

Trang 18

giao tiếp đời thường (phong cách ngôn ngữ sinh hoạt), nhưng ít thấy trong thơ

1.1.2.2 Câu hỏi dùng theo lối gián tiếp

Câu hỏi (câu nghi vấn) dùng theo lối gián tiếp là loại câu hỏi có dấu hiệu hình thức bên ngoài là hỏi, nhưng lại hướng tới đích ở lời của hành vi ngôn ngữ khác Tức là, chúng được sử dụng để thực hiện một hành động ngôn ngữ gián tiếp nào đó

Câu hỏi gián tiếp tạo nên tính mơ hồ về nghĩa cho lời nói Đây chính là đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca, ca từ Để nhận ra nghĩa đích thực (hành động đích thực) của câu hỏi gián tiếp, người nhận (người nghe, người đọc) phải dựa vào ngữ cảnh, thao tác suy ý và các quy tắc ngữ dụng học

Thông thường, các câu hỏi sử dụng theo lối gián tiếp khi đi vào thơ ca,

ca từ nghệ thuật sẽ trở thành câu hỏi tu từ Nó đều là những câu hỏi nhằm để khẳng định ý kiến của người nói Ví dụ:

Nắng có hồng bằng đôi môi em?

Mưa có buồn bằng đôi mắt em

(Như cánh vạc bay – Trịnh Công Sơn)

1.1.3 Các phương tiện ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi

1.1.3.1 Câu hỏi sử dụng đại từ nghi vấn

Về tác dụng của đại từ nghi vấn trong câu hỏi (câu nghi vấn), Diệp Quang

Ban cho rằng: “câu nghi vấn dùng đại từ nghi vấn được dùng để hỏi vào những điểm xác định trong câu, điểm hỏi là điểm chứa các đại từ nghi vấn

Do đó, ngay cả khi câu bị tách ra khỏi ngữ cảnh, điểm hỏi trong câu

Trang 19

vẫn xác định, nếu câu được dùng để hỏi”[1, tr.213] Tức là điểm hỏi có sẵn

trong câu và không cần phụ thuộc vào ngữ cảnh để nhận biết nó

Các kiểu đại từ nghi vấn trong câu hỏi gồm:

- Hỏi về nguyên nhân: vì sao, tại sao, sao, do đâu, bởi đâu, vì cái gì

- Hỏi về thời gian: bao giờ, bao lâu, khi nào, chừng nào

- Hỏi về số lượng và thứ tự: bao nhiêu, mấy

- Hỏi về tính chất và cách thức: như thế nào, thế nào, sao

- Hỏi về điều kiện và mục đích: với điều kiện gì/nào, trong điều kiện gì/nào, để làm gì, nhằm mục đích gì, vì mục đích gì

- Hỏi về người, vật, việc: ai, gì, nào

- Hỏi về không gian: (ở) đâu, chỗ nào, hướng nào, phía nào, đằng nào

1.1.3.2 Câu hỏi sử dụng phó từ nghi vấn

Trong tiếng Việt, người ta sử dụng các cặp phó từ làm thành những khuôn nghi vấn, giúp tạo ra câu hỏi (câu nghi vấn) như sau:

- Hỏi về tính hoàn thành/không hoàn thành:…xong (rồi)…chưa;…xong chưa chưa

- Hỏi về sự xảy ra/không còn xảy ra: đã… chưa

- Hỏi về tính khẳng định/tính phủ định: có… không (hoặc có không); có phải,,, không (hoặc có phải không)

1.1.3.3 Câu hỏi sử dụng quan hệ từ lựa chọn “hay”

Quan hệ từ “hay” là quan hệ từ bình đẳng Loại quan hệ từ này được sử dụng trong câu nghi vấn để hỏi một cách hạn chế trong khả năng trả lời của người nhận, bằng cách sử dụng một trong những đề nghị đã được người hỏi đưa ra Ví dụ:

“Em còn nhớ hay em đã quên Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng”

(“Em còn nhớ hay em đã quên” – Trịnh Công Sơn)

Vì vậy, loại câu hỏi sử dụng quan hệ từ “hay” còn được gọi là câu nghi vấn lựa chọn

Trang 20

1.1.3.4 Câu hỏi sử dụng các tiểu từ chuyên dụng

Ở loại câu hỏi (câu nghi vấn) sử dụng các tiểu từ chuyên dụng, nếu không có những phương tiện tạo tính nghi vấn khác đi kèm thì điểm hỏi trong câu sẽ rất mơ hồ khi tách ra khỏi ngữ cảnh

Vì vậy, có thể gọi kiểu câu hỏi này là câu nghi vấn không rõ trọng điểm Các tiểu từ chuyên dụng được dùng trong câu hỏi (câu nghi vấn) như: à,

ư, ạ, ạ, hả, hử, hở, chứ, chớ, nhỉ… Chúng thường kèm theo cả nghĩa tình thái, tức là những sắc thái tình cảm tế nhị Ví dụ:

Chị mượn cái áo này à? (trung hòa)

Chị mượn cái áo này ư? (ngạc nhiên)

Chị mượn cái áo này ạ? (kính trọng)

Chị mượn cái áo này hả? (thân hữu hoặc suồng sã)

Bởi vậy, các tiểu từ nghi vấn được dùng trong thơ ca đều biểu đạt cảm xúc, tình cảm của nhân vật trữ tình

Trong trường hợp không có các phương tiện đánh dấu khác để phân biệt, thì ngữ điệu đặc thù của câu hỏi sẽ là một ngữ điệu cao và sắc dành cho trọng điểm hỏi

1.1.4 Tiêu điểm hỏi

Điểm nhấn mà người hỏi muốn nhận được thông tin từ người nghe được gọi là tiêu điểm hỏi

Cùng một nội dung và hình thức, nhưng tiêu điểm hỏi trong một câu/phát ngôn có thể khác nhau Khi người nhận không nhận thấy được tiêu điểm hỏi, sẽ diễn ra tình trạng mơ hồ về nghĩa và dẫn đến nhiều câu trả lời khác nhau cho cùng một câu hỏi

Lúc này, ngữ cảnh và ngữ điệu của phát ngôn sẽ là căn cứ để người nghe nhận ra tiêu điểm hỏi Ví dụ:

Ngữ cảnh 1:

- Tuần trước mày đi xem phim với Phong à?

- Không, tao về quê cả tuần mà

Trang 21

Ngữ cảnh 2:

- Tuần trước mày đi xem phim với Phong à?

- Mày điên à, nó có người yêu rồi đấy

Ngữ cảnh 3:

- Tuần trước mày đi xem phim với Phong à?

- Tao không bao giờ làm chuyện đó, mày đừng nghi ngờ như thế!

Ba ngữ cảnh trên diễn ra cùng một câu hỏi, nhưng câu trả lời lại theo ba hướng khác nhau, với các tình thái khác nhau Người nhận cần phải nắm rõ được tiêu điểm hỏi của câu hỏi mới có câu trả lời tương thích

Trong câu hỏi tu từ, khi người nhận nhận thấy được tiêu điểm hỏi, họ sẽ

dễ dàng tìm ra được tính tình thái trong câu hỏi đó Ví dụ, khi một chàng trai hỏi

cô gái: "nhà em có sao không ở, lại chuyển hộ khẩu vào tim anh?", cô gái sẽ tự

khắc hiểu được rằng, chàng trai đó đang khen ngợi và muốn tán tỉnh mình Đó chính là tiêu điểm hỏi và nghĩa tình thái trong phát ngôn của chàng trai

Tình thái bắt buộc chính là yếu tố xác định kiểu câu Ngoài tình thái bắt buộc, trong câu còn có thể xuất hiện một tình thái khác, được gọi là tình thái tuỳ nghi (theo Chomsky) Đó là các yếu tố thể hiện sự thừa nhận, phủ nhận, chủ động, bị động, nhấn mạnh

Trong câu hay phát ngôn/diễn ngôn, ý nghĩa tình thái thường do các các phương tiện ngữ âm, từ vựng, hoặc ngữ pháp đảm nhiệm Theo đó:

Phương tiện ngữ âm biểu đạt ý nghĩa tình thái sẽ thể hiện qua ngữ điệu,

sự nhấn mạnh vào tiêu điểm mà người nói (người phát) cho là cần chú ý để thể hiện thái độ tình cảm, hoặc yêu cầu, đề nghị của mình

Trang 22

Phương tiện từ vựng biểu đạt ý nghĩa tình thái sẽ thể hiện qua các động

từ tình thái (dám, định, tưởng, muốn…); phó từ (cứ, đang, vẫn, đã, sẽ ); tiểu

từ tình thái (ạ, a, à, ừ, nhỉ, thế ); trợ từ (cả, ngay, chính ); thán từ (chao ôi,

ôi, ối chà, ối chao); và một số từ, tổ hợp từ chuyên dụng với ý nghĩa tình thái xuất hiện ở bậc câu (chắc chắn, dường như, có lẽ, có thể )

Phương tiện ngữ pháp biểu đạt ý nghĩa tình thái sẽ biểu hiện ở cách đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc câu nhằm thể hiện ý định của người nói (người phát) qua điểm cần nhấn trong phát ngôn/diễn ngôn

Ngoài các dấu hiệu hình thức trên, ý nghĩa tình thái của một phát ngôn/diễn ngôn còn được nhận diện thông qua việc vi phạm các nguyên tắc sử dụng hành động ở lời

Ví dụ: - Chị đi chợ đấy à ?

Nếu phát ngôn này xuất hiện khi đối ngôn 1 và đối ngôn 2 gặp nhau ở một cái chợ, thì điều kiện chuẩn bị đã bị vi phạm Rõ ràng, đối ngôn 1 đã biết nội dung trong câu hỏi và không cần lời giải đáp, trả lời của đối ngôn 2 nữa Hành vi hỏi ở đây được dùng để chào theo nghi thức giao tiếp quen thuộc của người Việt

- Anh có cái gì mà đòi yêu tôi ?

- Em nghĩ em cao giá lắm à ?

Trong hai phát ngôn trên, câu hỏi đối ngôn 1 đưa ra không phù hợp với đích của hành động hỏi là chê bai, dè bỉu Nói cách khác, đối ngôn 1 đưa ra câu hỏi nhưng không cần đến câu trả lời của đối ngôn 2 Các phát ngôn trên thực chất đang thực hiện hành động ngôn ngữ gián tiếp là mỉa mai Đó cũng chính là tính tình thái của các phát ngôn này trong giao tiếp

1.2 Câu hỏi tu từ

1.2.1 Khái niệm

Trong các quan điểm ngôn ngữ học hiện đại, giới nghiên cứu thống nhất rằng, câu hỏi tu từ là kiểu câu hỏi đưa ra mà không chờ đợi sự trả lời, giải đáp từ phía người nhận

Trang 23

Cụ thể, theo hai tác giả D.E Rosental và M.A Telenkova, câu hỏi tu từ

là câu “chứa đựng hình thức nghi vấn phủ định hay khẳng định nhưng không chờ đợi sự trả lời”[40],[61]

Theo tác giả Katie Wales, lý luận tu từ học cổ điển đưa ra 4 kiểu nghi vấn tu từ và xem đó là 4 phương thức diễn đạt tư duy của con người Trong

đó, phương thức ngữ pháp phổ biến nhất thường dùng ở các hình thức giao tiếp là câu hỏi tu từ

Katie Wales cũng cho rằng: “đây là câu hỏi không chờ đợi được trả lời” do “đã xác định điều đã biết đối với người nhận là không thể trả lời được”[61, tr.408]

Hoàn cảnh sử dụng của câu hỏi tu từ được Katie Wales trình bày: “câu hỏi tu từ được sử dụng từ trong thuật tranh biện cổ điển như là những thủ pháp khích lệ, kêu gọi sự biện minh của người nghe, hay là thủ pháp khêu gợi cảm hứng của người nói Trong truyện kể, chúng là những tín hiệu hiển nhiên của người kể toàn thông, dấu hiệu hô gọi đến người đọc”[61, tr.408]

Như vậy, Katie Wales đã nhấn mạnh đến vai trò đặc biệt của câu hỏi tu

từ trong tranh luận cổ điển và tiểu thuyết như một thủ pháp nghệ thuật Mục đích của nó nhằm tăng cường mối dây liên hệ giữa tác giả và người nghe, người đọc

Tại Việt Nam, Đinh Trọng Lạc cũng đưa ra khái niệm về câu hỏi tu từ:

“là câu về hình thức, là câu hỏi về thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định

có cảm xúc Nó có dạng không đòi hỏi câu trả lời mà chỉ nhằm tăng cường tính diễn cảm của phát ngôn”[32, tr.194]

Theo tác giả, các dạng thường gặp nhất của câu hỏi tu từ gồm: mang ý nghĩa khẳng định; biểu lộ tâm tư, cảm xúc, tình cảm của người nói; phủ định một ý tưởng và diễn đạt cảm xúc; mời mọc hay gợi ý một cách thiết tha Nguyễn Thái Hòa lại cho rằng, câu hỏi tu từ là một trong những kiểu câu chuyển đổi tình thái điển hình nhất Theo tác giả, câu hỏi tu từ được sử dụng

trong văn luận chiến như là thủ thuật để “buộc đối thủ phải chấp nhận luận điểm

Trang 24

của mình”; Còn trong thơ ca, nó là “cách nói truyền cảm”[31, tr.228]

Từ các định nghĩa, khái niệm, quan điểm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy những đặc điểm của câu hỏi tu từ như sau :

- Câu hỏi tu từ là kiểu câu có hình thức và hành động ngôn ngữ trực tiếp để hỏi, nhưng được người nói (người phát) sử dụng nhằm khẳng định hay phủ nhận một ý kiến, hiện tượng nào đó chứ không phải để nhận lại thông tin

mình muốn biết Đây là kiểu câu hỏi “không chờ đợi sự trả lời” ở người

nghe, người đọc (người nhận)

- Câu hỏi tu từ được sử dụng nhằm mục đích khêu gợi, khích lệ trí tưởng tượng của người nghe (người nhận) hay thể hiện cảm hứng của người nói (người phát) Có thể nói, nó được sử dụng để làm tăng tính đối thoại của văn bản Tác dụng của câu hỏi tu từ là kích thích người nghe, người đọc (người nhận) tham gia vào cuộc giao tiếp

- Câu hỏi tu từ thường xuất hiện trong thơ ca, ca từ để tăng tính cảm xúc và xuất hiện trong văn luận chiến để tăng tính tranh biện, thuyết phục người nghe

- Câu hỏi tu từ nếu được sử dụng đúng nơi, đúng lúc sẽ nâng cao cảm xúc của phát ngôn, hài hoà âm điệu,thay đổi hơi văn, giúp nó tinh tế và đa nghĩa hơn Thông thường, nó được sử dụng trong văn bản nghệ thuật như một biện pháp tu

từ, giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn, giàu tính gợi tả, gợi cảm

Từ các các đặc điểm nêu trên, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa về câu hỏi tu từ để phục vụ đề tài như sau:

Câu hỏi tu từ là kiểu câu hỏi có hình thức bên ngoài, mang ý nghĩa tường minh và thực hiện hành động ngôn ngữ trực tiếp để hỏi, nhưng lại hướng đến những hành động ngôn ngữ gián tiếp, cũng như ý nghĩa hàm ẩn khác Nó tạo nên các tác động tâm lí khác với người nhận, chứ không chờ đợi

sự trả lời từ họ.Trong thơ ca và ca khúc, câu hỏi tu từ là phương tiện nghệ thuật quan trọng giúp diễn ngôn trở nên đa nghĩa, tinh tế, sinh động hơn và khơi gợi cảm xúc, sáng tạo từ phía người đọc

Trang 25

1.2.2 Phân biệt câu hỏi tu từ trong các dạng văn bản

Nhiệm vụ của luận văn là nghiên cứu câu hỏi tu từ trong ca từ Trịnh Công Sơn, tuy nhiên, trong một cái nhìn toàn cục, chúng tôi cho rằng cần phải

có một cái nhìn tổng thể về câu hỏi tu từ trong các thể loại văn bản khác nhau,

để từ đó hiểu hơn về những nét riêng của câu hỏi tu từ trong ca từ của nhạc sĩ

tài hoa họ Trịnh

1.2.2.1 Câu hỏi tu từ trong văn bản chính luận

Câu hỏi tu từ được sử dụng đặc biệt và đầu tiên trong văn bản chính luận Nó được đặt ra như một thủ pháp nghệ thuật có tính khích lệ người nhận

và hướng họ vào câu trả lời đã được dự định trước của người phát

Để đảm bảo tính khách quan, người phát không trực tiếp nêu ra câu trả lời Họ sử dụng câu hỏi tu từ để người nhận tự nhận ra chân lí theo ý muốn của người nói Câu hỏi tu từ và thể văn chính luận thường được các chính trị gia sử dụng nhiều trong tranh biện

Chẳng hạn, trong tác phẩm Hịch tướng sĩ, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã sử dụng câu hỏi tu từ để khẳng định những tấm gương anh hùng nghĩa sĩ, qua đó vực dậy tinh thần binh lính trong hoàn cảnh hiện tại, khi đất

nước đang nguy khốn: “Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình…, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?” Câu hỏi “đời nào chẳng có?” thực hiện hành động hỏi, nhưng thực chất lại khẳng định, các bậc nghĩa sĩ đời nào cũng có Còn câu hỏi “sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ?” lại thực hiện hành động thúc

giục, kích thích tinh thần ở các binh sĩ

Trong các diễn văn và lời kêu gọi đọc ở Quốc hội, chủ tịch Hồ Chí

Minh cũng sử dụng nhiều câu hỏi tu từ: “Ai đã phá hoại hiệp định Giơneve, là hiệp nghị bảo đảm chủ quyền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam? Phải chăng, quân đội Việt Nam sang xâm lược nước Hoa Kỳ

và giết hại người Hoa Kỳ? Hay là Chính Phủ Mỹ đã đem quân đội Hoa Kỳ

Trang 26

đến xâm lược Việt Nam và giết hại người Việt Nam?”

Trong đoạn văn trên, các câu hỏi liên tiếp được đưa ra không để chờ đợi

sự trả lời của tổng thống Johnson mà để tuyên bố, khẳng định tội ác của quân

Mỹ đối với dân tộc Việt Nam Thông qua đó, người hỏi hướng tới đích ở lời là tạo áp lực cho đối phương (ở đây là chính phủ Mỹ) khi tiếp nhận diễn ngôn

1.2.2.2 Câu hỏi tu từ trong truyện kể, kịch

Truyện kể là loại hình diễn ngôn tự sự Trong đó, dấu ấn chủ quan của tác giả nhường chỗ cho tiếng nói khách quan của các hình tượng nhân vật trực thuộc tác phẩm

Nói cách khác, trong truyện kể, hình tượng nhân vật sẽ đại diện cho tư tưởng chủ đề của tác phẩm Qua đó, nó thể hiện lí tưởng, thẩm mĩ của tác giả Người kể truyện thường là nhân vật giấu mặt Họ để nhân vật trong tác phẩm lên tiếng để đảm bảo tính chân thực, khách quan của câu chuyện Đại

văn hào Balzac từng nói: “Không phải lỗi tại tôi, nếu nhân vật nói ra và nói to đến thế”[22] Chính ông cũng phải thừa nhận rằng, tác giả không chi phối

được sự phát triển tính cách của nhân vật

Vì vậy, câu hỏi tu từ xuất hiện trong truyện kể có thể là lời của nhân vật trong đối thoại hoặc những dòng độc thoại nội tâm Nó cũng có thể là lời của tác giả, hoặc đôi khi là lời nhân vật hoà với lời tác giả Sau đây là các dạng câu hỏi tu từ thường xuất hiện trong truyện kể

Câu hỏi tu từ trong lời đối thoại của nhân vật Ví dụ:

Vợ Trương Ba: Chết! Các ông có biết chết là thế nào không? Các ông

đã mất người thân bao giờ chưa?

Bắc Đẩu: Quả thật…chúng tôi người cõi giời…Người cõi giời không ai phải chết

Vợ Trương Ba: Cho nên các ông không hiểu được chết là thế nào?

(Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ)

Trong đoạn đối thoại trên, câu hỏi tu từ về cái chết được các nhân vật

vợ Trương Ba dùng để chấtvấn, gây sức ép với Bắc Đẩu

Trang 27

Câu hỏi tu từ trong độc thoại nội tâm nhân vật Ví dụ:

Hắn nghĩ bụng: "Quái sao nó lại buồn thế nhỉ? ồ sao nó lại buồn thế nhỉ? "… Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư? (Vợ nhặt – Kim Lân)

Trong đoạn văn trên, câu hỏi tu từ thể hiện sự bất ngờ, ngạc nhiên, chen lẫn cảm xúc có chút hạnh phúc của nhân vật Tràng

Câu hỏi tu từ là lời của tác giả hoà với lời nhân vật Ví dụ:

Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài Bóng tối trùm lấy hai con mắt Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?

(Vợ nhặt – Kim Lân)

Trong đoạn văn trên, câu hỏi tu từ là lời của tác giả, nhưng cũng chính

là tiếng lòng của nhân vật bà lão, khi bày tỏ nỗi lo lắng, băn khoăn về tương lai, cuộc đời của vợ chồng nhà Tràng Cả bà lão và tác giả đều cảm thấy lo lắng và chưa thể nhìn thấy tương lai của vợ chồng nhà Tràng

Câu hỏi tu từ là lời tác giả Ví dụ:

Vợ lão chết rồi Con lão đi bằn bặt Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai chả phải buồn?

(Lão Hạc – Nam Cao)

Câu hỏi tu từ trong diễn ngôn trên được sử dụng để khẳng định chân lí, một lẽ thường mà tác giả muốn đưa ra

Có thể thấy, các câu hỏi trên đều là câu hỏi tu từ hướng tới đối tượng, với điểm hỏi cụ thể, hoặc là người nhận, hoặc chính bản thân mình Vì hướng tới một đối tượng, với điểm hỏi cụ thể nên tính đối thoại của câu hỏi tu từ trong loại hình truyện kể, kịch bản kịch rất nổi bật

Câu hỏi tu từ xuất hiện trong văn xuôi luôn đòi hỏi sự trả lời, hoặc bằng thái độ, phản ứng hành động, hoặc bằng lời nói

Cơ chế nhận diện câu hỏi tu từ trong loại hình truyện kể rõ ràng hơn nhiều so với ca từ, thơ ca Nguyên do bởi ngữ cảnh tu từ bao chứa câu hỏi tu

từ thường chứa đựng nhiều nhân tố khác nhau như tình huống giao tiếp, không gian, thời gian giao tiếp, đặc điểm tâm lý, tính cách của người nói,

Trang 28

người nghe Thậm chí, nội dung tư tưởng, chủ đề của tác phẩm cũng là yếu tố giúp nhận diện giá trị đích thực của kiểu câu hỏi tu từ trong văn xuôi

1.2.2.3 Câu hỏi tu từ trong thơ trữ tình và trong ca từ

Trước hết, cần nhấn mạnh rằng, thơ ca và âm nhạc vốn đều là thể loại trữ tình nên có những điểm rất chung Một ca khúc nếu tách phần nhạc đi sẽ trở thành một bài thơ, và ca từ của nó chính là lời thơ (đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học) Ngược lại, một bài thơ khi được phổ nhạc sẽ trở thành ca khúc

Vì vậy, đặc điểm của câu hỏi tu từ trong ca từ cũng có những đặc điểm tương tự như trong thơ ca Nói cách khác, có thể áp dụng toàn bộ quan điểm, kiến thức về câu hỏi tu từ trong thơ ca để nghiên cứu ca từ âm nhạc

Đặc trưng của thể trữ tình là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc Thơ và bài ca là nơi để chủ thể (nhân vật) trữ tình biểu đạt sự thăng hoa trong cảm xúc, tâm trạng của mình

Vì vậy, câu hỏi tu từ trong thơ trữ tình hay ca từ thường là câu hỏi để bộc lộ tình cảm Trong đó, nhà thơ/nhạc sĩ sử dụng câu hỏi tu từ để tự hỏi mình Qua đó giãi bày tình cảm ở mức độ cao nhất những băn khoăn, những gợi nhớ, những điều trái ngược Ví dụ:

Em ru gì lời ru cho anh một đời đam mê, một đời giông tố?

Em ru gì cho ta khi bao ngày phôi pha?

(Đâu phải bởi mùa thu – Phú Quang)

Nhân vật trữ tình trong ca từ bài hát trên dùng câu hỏi tu từ để bộc lộ nỗi khát khao, day dứt trong những hoài niệm về tình yêu cháy bỏng, tràn đầy đam mê của mình

Đối tượng “em” tuy được nhắc đến, nhưng câu hỏi rõ ràng không đặt ra cho “em”, mà lại là câu trả lời cho những day dứt của đam mê mãnh liệt và sự xốn xang trong tâm trạng của “anh”

Trong thơ trữ tình hay ca từ, nhân vật trữ tình – cái Tôi trữ tình – tác giả thường hòa làm một Câu hỏi tu từ xuất hiện trong thơ chính là phát ngôn

Trang 29

của chính tác giả - chủ thể/nhân vật trữ tình Bởi vậy, câu hỏi tu từ cũng mang đậm dấu ấn cá nhân, cảm xúc cá nhân

Khi đó, nhà thơ/nhạc sĩ sẽ phân thân, dùng câu hỏi tu từ để tự hỏi và tự trả lời hay nhắc nhở người nghe, người đọc trả lời Đối tượng câu hỏi tu từ hướng tới thường chính là bản thân chủ thể trữ tình Thậm chí, nếu câu hỏi tu

từ hướng tới một đối tượng khác thì cũng là để diễn tả tâm trạng của chủ thể trữ tình Ví dụ:

Anh biết chăng anh? Em khổ vì ai? Em khóc vì ai?

Ngày vui đã tan, nhân tình thế thái (Ai khổ vì ai – Thương Linh)

Câu hỏi trữ tình hướng về “ai”, nhưng lại thể hiện tâm trạng đau khổ, trách cứ của chủ thể trữ tình – “em” Đó là tâm trạng thường gặp ở một người đang còn yêu tha thiết, đắm say, nhưng tình yêu lại tan vỡ

Hay trong đoạn ca từ sau, chủ thể trữ tình và đối thể trữ tình (đối ngôn giả định) hoán đổi vị trí cho nhau một cách linh hoạt và mơ hồ, khiến câu ca trở nên đa nghĩa “Ai” có thể là chủ thể, mà cũng có thể là khách thể, có thể là

“anh” hoặc “em”

Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ

Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm?

(Em ơi Hà Nội phố - Phú Quang)

Những tín hiệu “em”, “ai”, “anh”, “mình” xuất hiện trong thơ trữ tình/ ca khúc với tư cách là đối thể trữ tình (đối ngôn giả định) Nhưng thực chất, đây chính là sự phân thân của chủ thể trữ tình Do đó, thơ trữ tình/ca khúc thường là thơ một giọng điệu Xuyên suốt bài thơ/ca khúc, người đọc/người nghe có thể gặp nhiều ý cảm xúc, nhưng tất cả đều thống nhất trong một giọng của chủ thể trữ tình

Trong thơ trữ tình/ca khúc, không chỉ có dạng câu hỏi tu từ “không chờ đợi trả lời” mà còn có dạng “gợi ý trả lời” từ phía người hỏi Ví dụ:

Trang 30

Em không nghe rạo rực, Hình ảnh kẻ chinh phu, Trong lòng người cô phụ?

(Tiếng thu - Lưu Trọng Lư)

Cách kết hợp bất thường trên trục ngữ đoạn của các câu hỏi trong đoạn thơ trên cho thấy đây không phải là hành vi hỏi đích thực mà chính là cách tác giả gợi ý cho chính bản thân mình và độc giả rằng, mùa thu đã về, về từ những âm thanh rạo rực trong hồn vạn vật lẫn con người

Có lẽ vì thế mà trong thơ trữ tình/ca từ, nhiều khi câu hỏi bị lược mất dấu chấm hỏi Lúc này, cơ sở để nhận diện câu hỏi tu từ chính là ngữ cảnh tu

từ xung quanh

Tuy nhiên, ngữ cảnh tu từ trong thơ/ca khúc không có nhiều yếu tố nhận biết như văn xuôi Ngữ cảnh tu từ xung quanh câu hỏi tu từ trong thơ ca khúc là lời thơ/ lời nhạc đứng trước và sau câu hỏi tu từ, là giọng điệu bài thơ,

là mạch cảm xúc, là âm hưởng thơ Những yếu tố này đòi hỏi sự đồng cảm

và cảm nhận tinh tế từ người đọc hơn là miêu tả dàn trải như trong văn xuôi Tóm lại, thơ trữ tình/ca khúc, văn chính luận và truyện kể có đặc điểm nghệ thuật đặc trưng Vì vậy, tính chất của câu hỏi tu từ trong mỗi loại cũng không giống nhau Sự phân biệt câu hỏi tu từ trong các dạng văn bản trên đây nhằm mục đích tìm hiểu tính chất độc đáo của phương tiện tu từ này trong thơ trữ tình nói chung và trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn nói riêng

1.3 Đặc trưng của câu hỏi tu từ trong thơ/ca khúc

Dựa vào các kiến thức về đặc điểm ngôn ngữ thơ của Trần Đình Sử

trong cuốn Giáo trình lí luận văn học tập 2 – Tác phẩm và thể loại văn học,

Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Chúng tôi đưa ra những đặc điểm của câu hỏi

tu từ trong thơ ca/ca khúc như sau:

- Thơ là nghệ thuật của trí tưởng tượng, nên câu hỏi tu từ được dùng để xây dựng trường liên tưởng

- Tình cảm trong thơ mang tính cá thể, nên câu hỏi tu từ được dùng để

Trang 31

cá thể hóa, thể hiện cái tôi tác giả

- “Thơ không nói ở những điều nó viết ra, mà nói ở những chỗ trống không viết ra”[43, tr.265] Vì thế, nó sử dụng câu hỏi tu từ để biểu đạt nhiều ý

nghĩa khác ngoài câu chữ, tạo nên chất thơ cho thơ

- Thơ biểu lộ tình cảm một cách mãnh liệt, nên câu hỏi tu từ trong thơ được dùng để biểu đạt cảm xúc chứ không phải để hỏi Và vì cảm xúc trong thơ

là thứ cảm xúc đã được ý thức, siêu thăng, nên câu hỏi tu từ cũng được dùng như một phương tiện nghệ thuật để biểu đạt cảm xúc đã được ý thức hóa đó

- Câu hỏi tu từ trong thơ mang tính đa nghĩa, mơ hồ về nghĩa nhằm gợi nhiều liên tưởng, suy ngẫm cho người đọc/người nghe

- Câu hỏi tu từ trong thơ mang tính hướng nội nhiều hơn hướng ngoại,

để bộc lộ nội tâm nhân vật trữ tình và giúp chủ thể trữ tình khám phá bản thân mình

- Câu hỏi tu từ trong thơ thể hiện cả nhịp điệu, tính nhảy vọt và phức hợp

- Câu hỏi tu từ trong thơ sử dụng nhiều phép tu từ khác nhau và rất giàu nhạc tính

- Câu hỏi tu từ trong thơ thể hiện quan niệm sống, nhân sinh quan, thế giới quan của tác giả

- Câu hỏi tu từ giúp tạo nên biểu tượng, ý tượng cho thơ Nó giúp thơ nắm bắt được những hình ảnh cô đọng, nổi bật nhất mà không cần kể lể

1.4 Dấu hiệu nhận biết câu hỏi tu từ trong thơ

1.4.1 Dựa vào kết cấu diễn đạt

1.4.1.1 Kết cấu diễn đạt giống câu hỏi đích thực

a Dựa vào kết cấu và những từ ngữ chuyên dụng

- Dựa vào các đại từ nghi vấn: “ai”, “gì”, “nào”, “sao”, “đâu” Ví dụ:

Mùa đông sắp đến gió lay mành trúc

Bóng ai qua thềm?

(Bóng ai qua thềm – Văn Chung)

- Dựa vào quan hệ từ lựa chọn “hay là”, “hay” Ví dụ:

Trang 32

Em còn nhớ hay em đã quên ? Nhớ Sài gòn mưa rồi chợt nắng (“Em còn nhớ hay em đã quên” – Trịnh Công Sơn)

- Dựa vào các cặp phó từ nghi vấn: “đã chưa”, “rồi chưa”, “xong chưa”, “có không”, “có phải không”… Ví dụ:

Ta đã quên nhau chưa vậy? Tim đã thôi đau chưa vậy?

Người đành ra đi vội vã, anh còn chờ, và còn mơ (Ta đã quên nhau chưa – Hứa Kim Tuyền)

b Dựa vào dấu câu

Dấu "?" thường là hình thức dứt câu của câu hỏi thể hiện qua chữ viết

Ví dụ :

Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?

(Ca dao)

1.4.1.2 Kết cấu diễn đạt khác câu hỏi đích thực

a Kết cấu và các từ ngữ chuyên biệt

- Câu hỏi tỉnh lược một yếu tố nào đó trong cặp phó từ nghi vấn Các cặp phó từ nghi vấn có thể khuyết một thành phần ở đầu câu hoặc cuối câu

Ví dụ:

+ (Có) X không?

Nhớ không anh cơn mưa đầu em đã mãi mong chờ?

Nhớ không anh khi âm thầm anh đã đến bên em ?

(Nhớ không anh – Khởi My)

+ Có X (không)?

Này em, có nhớ cuộc đời?

Này em, có biết loài người?

Này em, có nhớ gì tôi?

(Này em có nhớ - Trịnh Công Sơn)

- Câu hỏi khuyết đại từ nghi vấn Ví dụ:

Trang 33

Trong gió? Trong mây? Trong nắng ngả?

Từ đâu đưa lại tiếng chơi vơi!

(Nhớ mông lung – Xuân Diệu)

b Trường hợp không có dấu câu

Trong thơ ca, nhiều câu hỏi tu từ không được kết thúc bằng dấu “?” Khi đó, người đọc cần phải dựa vào tính tình thái và ngữ cảnh để nhận ra đó

là câu hỏi tu từ Ví dụ:

Mùa xuân nói gì trong vườn chuối

Mà nghe lá lật gió thâu đêm

(Mùa xuân nói gì - Phạm Công Trứ)

1.4.2 Dựa vào tình tình thái và biến đổi tình thái của câu hỏi tu từ

Như đã nói, câu hỏi tu từ là kiểu câu hỏi “không chờ đợi sự trả lời” Vì vậy, nó được sử dụng chủ yếu nhờ tính tình thái Tức là, người đọc/người nghe có thể nhận diện câu hỏi tu từ nhờ vào tính tình thái và sự biến đổi tình thái của chính nó

Trong thơ ca, câu hỏi tu từ là một trong những biện pháp nghệ thuật làm cho lời văn, lời thơ, ca từ thêm sinh động hấp dẫn Với tác giả, câu hỏi tu

từ chính là phương tiện thể hiện tư tưởng tình cảm một cách tế nhị, kín đáo, khéo léo Về phía người đọc, nó tạo nên vô vàn sự liên tưởng, sáng tạo, mạch

ngầm đối thoại và sức hút về chiều sâu của tác phẩm

Tình thái của câu hỏi tu từ rất phong phú và đa dạng, nhiều tầng lớp

Một câu hỏi tu từ có thể có nhiều tình thái khác nhau, nằm ở những tầng bậc khác nhau Nhiệm vụ của người đọc/người nghe là phải khám phá tình thái đích thực của nó ở những tầng bậc sâu nhất

Một số dạng tình thái thường gặp trong thơ ca như sau:

- Dạng hỏi – trách móc:

Buổi chợ đông sao em chẳng bán hàng

Để tan buổi chợ em dạo làng bán duyên?

(Ca dao)

Trang 34

Câu hỏi tu từ trong đoạn ca dao trên được nhân vật chàng trai sử dụng

để trách yêu cô gái đã khiến mình xao xuyến, thương thầm nhớ trộm

- Dạng tình thái hỏi - khẳng định:

Em là ai?

Cô gái hay nàng tiên?

Em có tuổi hay em không có tuổi?

(Người con gái Việt Nam - Tố Hữu)

Các câu hỏi tu từ trong đoạn thơ trên có tình thái nối tiếp nhau trên ba tầng nghĩa là: hỏi - khẳng định – ca ngợi

- Dạng tình thái hỏi - phủ định:

Gươm nào chém được dòng Bến Hải?

Lửa nào thiêu được dải Trường Sơn?

(Ba mươi năm đời ta có Đảng - Tố Hữu)

Ở tầng nghĩa đầu tiên, câu hỏi tu từ trong đoạn thơ trên dùng để hỏi Đến tầng nghĩa thứ hai, đó là sự phủ định về khả năng “chém” được dòng Bến Hải và “thiêu” được dải Trường Sơn Trong tầng nghĩa sâu hơn, đây là lời ca ngợi tính thống nhất, đoàn kết và vững bền của non sông trước mọi sự tàn phá

Theo Trần Đình Sử, “ngữ cảnh là toàn bộ những điều kiện quy định lời văn, ý nghĩa và giá trị của văn bản”[43, tr.62] Còn theo Từ điển bách khoa

về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, “ngữ cảnh theo nghĩa rộng là những yếu tố tương thích của cấu trúc ngôn ngữ và phi ngôn ngữ ngoại vi trong mối quan

hệ của một biểu đạt bằng lời đang được xem xét”[22]

Trang 35

Ngữ cảnh được phân chia làm hai loại là ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp Trong đó, ngữ cảnh rộng là toàn bộ môi trường không gian, thời gian, địa

lí, văn hóa, lịch sử, thời đại… chi phối tới cuộc giao tiếp Còn ngữ cảnh hẹp là bối cảnh diễn ra cuộc giao tiếp

1.4.3.2 Ngữ cảnh tu từ

Theo Nguyễn Thái Hòa, ngữ cảnh tu từ là “ngữ cảnh có cấu trúc hình tuyến (văn bản) được sắp xếp theo một trật tự nhất định có quan hệ với những yếu tố ngoài ngôn ngữ (phi tuyến), có khả năng gợi lên ở người đọc những hình ảnh, cảm xúc, bổ sung vào lượng thông tin cơ bản và lý giải thông tin đó”[22]

Ngữ cảnh tu từ gồm hai loại:

-Ngữ cảnh tu từ rộng: là những yếu tố có quan hệ tương thích với tiêu điểm tu từ như bối cảnh văn hóa – lịch sử, địa lí, thời đại, phong tục – tập quán -Ngữ cảnh tu từ hẹp: là những yếu tố đứng trước hoặc sau một tiêu điểm tu từ đang xét

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi hiểu ngữ cảnh tu từ là những yếu tố tương thích liên quan đến câu hỏi tu từ Các yếu tố xung quanh một câu hỏi chính là ngữ cảnh tu từ để nhận diện đó có phải câu hỏi tu từ đích thực hay không Ví dụ:

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa ?

(Vội vàng – Xuân Diệu)

Trong đoạn thơ trên, 5 câu thơ đầu chính là ngữ cảnh hẹp của 2 câu hỏi phía dưới Nó bộc lộ tâm trạng tiếc nuối, bâng khuâng của chủ thể trữ tình trước sự đổi thay, dịch chuyển của trời đất, vạn vật

Vì vậy, 2 câu hỏi phía dưới không phải đặt ra cho “cơn gió” hay “chim”,

mà là câu hỏi tu từ nhân vật trữ tình đặt ra để tự hỏi mình phải chăng đang phiền muộn, sợ hãi trước sự phai tàn

Trang 36

1.4.4 Dựa vào hành động hỏi

Trong hoạt động giao tiếp, vì một số lí do nào đó, người nói/người viết

sẽ sử dụng trên bề mặt hành động ở lời này để đạt tới hiệu quả ở lời của một hành động khác Đây được gọi là hành động ngôn ngữ gián tiếp

Ở thơ ca/ca khúc cũng vậy, nhiều câu hỏi không được tác giả sử dụng nhằm đạt tới đích ở lời là hỏi mà chỉ dùng để thực hiện các đích ở lời khác Khi đó, nó sẽ trở thành câu hỏi tu từ Như vậy, người nhận có thể nhận ra câu hỏi tu từ thông qua hành vi hỏi

- Hỏi để bộc lộ niềm xót thương và nỗi buồn:

Thương xuân, xuân hỡi, có thương người?

Lệ chan má phấn, ủ mày ngài (Mai rụng – Lê Văn Bái)

Trong đoạn thơ trên, câu hỏi tu từ được đặt ra để chủ thể trữ tình (là một người phụ nữ xa chồng) tự bộc lộ niềm xót thương cho thân phận bạc bẽo, hẩm hiu của mình khi phải sống trong cảnh đơn côi, quạnh quẽ Đằng sau câu hỏi chính là những câu trần thuật lột tả cảnh hẩm hiu của người phụ

nữ Còn bản thân câu hỏi tu từ lại gợi ý cho người đọc về cảnh hẩm hiu đó Qua câu hỏi tu từ, nỗi buồn cũng được toát lên một cách rõ rệt

- Hỏi để phủ nhận:

Thơ em liệu có ích không?

(Thơ viết cho mình - Trần Thị Mỹ Hạnh)

Câu hỏi ở đầu đoạn thơ đã bộc lộ nỗi niềm băn khoăn của nhân vật trữ tình về giá trị của thơ ca trong mối tương quan với các giá trị khác của cuộc sống đời thường Các câu thơ tiếp theo thực hiện nhiệm vụ gián tiếp trả lời cho câu hỏi đó Câu hỏi tu từ ở đây có vai trò triển khai mạch cảm xúc của chủ thể trữ tình, đồng thời nêu ra yêu cầu về thơ phải hay hơn, cao hơn đời thường

- Hỏi để tăng tính biểu cảm:

Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Trang 37

1.4.5 Các cơ sở nhận diện khác

Ngoài những dấu hiệu trên, để nhận biết câu hỏi tu từ, người đọc phải dựa vào các tiền giả định bách khoa Đó là tri thức đời sống, văn hoá, phong tục, lịch sử, tập quán Ví dụ:

Con gà rừng tốt mã khoe lông;

Chẳng cho đi chọi, nhốt lồng làm chi?

(Ca dao) Dựa vào bối cảnh văn hóa, có thể thấy, chọi gà là một trò chơi dân gian truyền thống của người Việt, thường tổ chức trong các dịp lễ hội Những con

gà được chọn đi chọi phải tốt mã, trổ lông để thể hiện sức mạnh của nó Vì vậy, câu hỏi của nhân vật cô con gái muốn hướng đến việc trình bày rằng cô

đã đủ chín muồi, cả về nhan sắc lẫn tâm hồn Từ đó, cô gái hướng đến hành động ngôn ngữ là cầu xin cha mẹ cho mình được đi lấy chồng

Trang 38

nghi vấn, đại từ nghi vấn, tiểu từ chuyên dụng, quan hệ từ lựa chọn, tiêu điểm hỏi và tình thái hỏi

Về câu hỏi tu từ, sau khi kế thừa các nghiên cứu đi trước, chúng tôi đề xuất một định nghĩa có tính làm việc để phục vụ đề tài nghiên cứu: Câu hỏi tu

từ là kiểu câu hỏi có hình thức bên ngoài, mang ý nghĩa tường minh và thực hiện hành động ngôn ngữ trực tiếp để hỏi, nhưng lại hướng đến những hành động ngôn ngữ gián tiếp, cũng như ý nghĩa hàm ẩn khác Nó tạo nên các tác động tâm lí khác với người nhận, chứ không chờ đợi sự trả lời từ họ Trong thơ ca và ca khúc, câu hỏi tu từ là phương tiện nghệ thuật quan trọng giúp diễn ngôn trở nên đa nghĩa, tinh tế, sinh động hơn và khơi gợi cảm xúc, sáng tạo từ phía người đọc

Tiếp đó, chúng tôi trình bày đặc trưng của câu hỏi tu từ trong các dạng văn bản, đặc biệt nhấn mạnh vào thể loại trữ tình (thơ và ca khúc)

Chúng tôi cũng chỉ ra đặc trưng của câu hỏi tu từ trong thơ ca, ca khúc

và cách nhận biết chúng (dựa vào kết cấu diễn đạt, ngữ cảnh ngôn ngữ, hành động nói và các cơ sở khác)

Từ đây, chúng tôi có được hệ thống lí luận để tìm hiểu về câu hỏi tu từ trong ca từ Trịnh Công Sơn

Trang 39

CHƯƠNG 2 CÂU HỎI TU TỪ TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN XÉT

THEO KẾT CẤU HÌNH THỨC

Như có dịp nói trong Phần Mở Đầu, trong điều kiện giới hạn, chúng tôi

đã khảo sát 139 ca khúc của Trịnh Công Sơn, được in trong hai tuyển tập

Trịnh Công Sơn – “Một người thơ ca, một cõi đi về” của nhà xuất bản Âm

nhạc (do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đào Từ Hiền sưu tầm) và

“Trịnh Công Sơn – Tuyển tập những bài ca đi cùng năm tháng” của nhà xuất

bản Âm nhạc (do Trịnh Xuân Tịnh và Tạ Tuấn sưu tầm)

Qua đó, chúng tôi thống kê được 210 câu hỏi tu từ xuất hiện trong 68/139 bài hát (chiếm 48,92%) Và trung bình, mỗi bài hát được thống kê (trong số 68 bài) có ít nhất từ một tới hai câu hỏi tu từ Đây là một con số khá lớn, cho thấy câu hỏi tu từ là phương tiện nghệ thuật quan trọng trong ca từ Trịnh Công Sơn và được tác giả sử dụng với nhiều ý đồ nghệ thuật khác nhau

Câu hỏi tu từ trong ca từ Trịnh Công Sơn nhìn chung đều có sử dụng các kết cấu nghi vấn như: đại từ nghi vấn; cặp phó từ nghi vấn; quan hệ từ lựa chọn “hay”; các tiểu từ nghi vấn chuyên dụng Các kết cấu nghi vấn này khi

đi vào ca từ Trịnh Công Sơn đã tạo nên những ý nghĩa khác biệt

2.1 Câu hỏi tu từ sử dụng đại từ nghi vấn

Đại từ nghi vấn được sử dụng nhiều nhất trong câu hỏi tu từ ở ca từ Trịnh Công Sơn, nhưng lại không phân bố đồng đều ở từng nhóm từ cụ thể

Câu hỏi tu từ chứa đại từ nghi vấn về người (ai), nguyên nhân (sao), không gian (đâu), đối tượng (vật/việc – gì, nào), chiếm số lượng nhiều hơn cả

2.1.1 Đại từ nghi vấn “đâu”

Đại từ nghi vấn “đâu” thường được dùng trong những câu hỏi về không gian, phương hướng Chúng tôi thống kê được 22 câu hỏi tu từ sử dụng đại từ nghi vấn “đâu” (chiếm 10,47%) Trong đó, tần suất xuất hiện của “đâu” là 27 lần Đây là con số khá lớn, thể hiện khát khao kiếm tìm nơi chốn bản thể của

Trang 40

tác giả

- “Đâu” + (P) - (P = nội dung mệnh đề):

Yêu trong nỗi vui đợi chờ Đâu ngờ tình như lá úa?

(Thương nỗi đau tình cờ)

Trong khảo sát của chúng tôi, dạng kết cấu “Đâu” + (P) xuất hiện ít nhất,

với 1/68 bài hát chứa đựng câu hỏi tu từ Đó là bài “Thương nỗi đau tình cờ”

Đại từ “đâu” không dùng để xác định sự vật, sự việc hay tính chất của các yếu tố đứng sau mà thể hiện tình thái bất ngờ, hoang mang của chủ thể trữ tình trước sự đổi thay, tàn phai của tình yêu, không như mình mong đợi

- (P) + “đâu”:

Có một ngày như thế anh đi Anh đi đâu về đâu Anh đi đâu về đâu Anh đi đâu về đâu (Có một ngày như thế) Cạn suối nguồn bốn bề nương dâu

Ta tìm em nơi đâu (Sóng về đâu) Đừng buồn gió ơi Gió ngủ ở đâu Đừng buồn núi ơi Nắng vàng ở đâu (Thưở bống là người) Trả nợ một đời em đã phụ tôi Trả nợ một đời không hết tình đâu?

(Xin trả nợ người)

Em đi về nơi ấy Nơi đâu nơi đâu

Ngày đăng: 22/06/2020, 17:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp Việt Nam phần câu, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam phần câu
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2009
2. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1987
3. Đỗ Hữu Châu (2002), Đại cương ngôn ngữ học Tập II: Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học Tập II: Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
4. Đỗ Hữu Châu (1982), Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động, Tạp chí Ngôn ngữ số 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1982
5. Đỗ Hữu Châu (1983), Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động, Tạp chí Ngôn ngữ số 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1983
6. Đỗ Hữu Châu (1985), Từ và tiếng, Tạp chí Ngôn ngữ số 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và tiếng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1985
7. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1986
8. Đỗ Hữu Châu (1997), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1997
9. Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng (2007), Giáo trình Ngữ dụng học, Nxb Đại học sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm
Năm: 2007
10. Nguyễn Đức Dân (2000), Ngữ dụng học, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học, Tập 1
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
11. Lê Đông (1985), Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Tạp chí Ngôn ngữ, số phụsố 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1985
12. Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa- ngữ dụng và câu hỏi chính danh, Luận án phó tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa- ngữ dụng và câu hỏi chính danh
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1996
13. Nguyễn Thiện Giáp (1994), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
14. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
15. Nguyễn Thiện Giáp (2014), Nghĩa học Việt ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2014
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
17. Phạm Thị Hà (2002), Đặc trƣng của câu hỏi trong thơ trữ tình, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trƣng của câu hỏi trong thơ trữ tình
Tác giả: Phạm Thị Hà
Năm: 2002
18. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt, sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển I,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt, sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
19. Nguyễn Văn Hiệp (2001), Hướng đến một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối cấu Tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng đến một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối cấu Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2001
20. Nguyễn Văn Hiệp, Lê Đông (2003), Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học, Tạp chí Ngôn ngữ, số 7 và 8, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học, Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp, Lê Đông
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w