DANH MỤC BẢNG Số hiệu 2.1 Kết quả khảo sát về đặc điểm cấu tạo của thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu SGK Ngữ văn THCS 47 2.2 Các dạng thể hiện của thành ngữ ẩn dụ đối xứng 48 2.3 Cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
––––––––––––––––
LẠI THỊ NGỌC MINH
ĐẶC ĐIỂM HÀNH CHỨC CỦA THÀNH NGỮ TRONG CÁC VĂN BẢN ĐỌC HIỂU SGK
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kì công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hải Phòng, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lại Thị Ngọc Minh
Trang 4Gia đình - những người luôn giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất;
Quí Thầy, Cô giảng dạy chuyên ngành Ngôn ngữ học Việt Nam khóa 7 tại trường Đại học Hải Phòng, những người đã hết lòng truyền đạt kiến thức
và những kinh nghiệm quí báu cho chúng tôi;
Cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Hiên, người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp;
Các anh, chị học viên trong lớp Cao học Ngôn ngữ Việt Nam khóa 7 và các bạn đồng nghiệp đã ủng hộ, giúp đỡ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và tài liệu cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này;
Cuối cùng xin kính chúc sức khỏe quí thầy cô, gia đình và các anh, chị học viên
Hải Phòng, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lại Thị Ngọc Minh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
1.1 Hoạt động hành chức của hệ thống ngôn ngữ 9
1.1.1 Khái quát chung về hoạt động hành chức của ngôn ngữ 9
1.2 Khái quát về thành ngữ với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ 22
1.2.1 Khái niệm thành ngữ 22
1.2.2 Đặc trưng từ vựng – ngữ pháp của thành ngữ 24
1.2.3 Nhận diện thành ngữ 36
1.3 Thành ngữ trong văn bản văn học 42
1.4 Tiểu kết chương 1 45
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM HÀNH CHỨC CỦA THÀNH NGỮ TRONG CÁC VĂN BẢN ĐỌC HIỂU SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN THCS XÉT TRÊN BÌNH DIỆN CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG NGỮ PHÁP 47
2.1 Đặc điểm về hành chức của thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu sách giáo khoa ngữ văn trung học cơ sở xét trên bình diện cấu tạo 47
2.1.1 Thành ngữ ẩn dụ đối xứng 48
2.1.2 Thành ngữ ẩn dụ phi đối xứng 54
2.1.3 Thành ngữ so sánh 58
2.2 Đặc điểm hành chức của thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu sách giáo khoa Ngữ văn THCS xét trên bình diện chức năng ngữ pháp 59
2.2.1 Thành ngữ làm thành tố cấu tạo trong câu 60
2.2.2 Thành ngữ làm thành tố cấu tạo trong cụm từ 62
2.2.3 Thành ngữ tách thành câu riêng biệt 64
Trang 62.3 Tiểu kết chương 2 64
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM HÀNH CHỨC CỦA THÀNH NGỮ TRONG CÁC VĂN BẢN ĐỌC HIỂU SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN THCS XÉT TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG 66
3.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu SGK Ngữ văn THCS 66
3.1.1 Trường nghĩa phản ánh hiện thực xã hội 66
3.1.2 Trường nghĩa phản ánh lối sống, hành động, cách ứng xử, tâm lý nhân vật 68
3.1.3 Trường nghĩa phản ánh phong tục tập quán và văn hóa người Việt 70
3.2 Hiện tượng biến đổi nghĩa của thành ngữ 71
3.2.1 Nghĩa hàm ẩn được tạo lập theo cơ chế chuyển nghĩa ẩn dụ 73
3.2.2 Nghĩa hàm ẩn được tạo lập theo cơ chế chuyển nghĩa hoán dụ 76
3.2.3 Nghĩa hàm ẩn được tạo lập theo cơ chế chuyển nghĩa so sánh 80
3.3 Quá trình tạo nghĩa của thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu SGK Ngữ văn THCS 81
3.3.1 Đích tác động 81
3.3.2 Tính cộng hưởng về nghĩa trong việc sử dụng phối hợp nhiều thành ngữ trong câu hoặc đoạn văn 82
3.4 Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu SGK Ngữ văn THCS 83
3.4.1 Sự hài hòa về vần và nhịp điệu 83
3.4.2 Tính hàm súc, ngắn gọn 85
3.4.3 Tính hình tượng, giàu sắc thái biểu cảm 85
3.5 Tiểu kết chương 3 86
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 96
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
2.1 Kết quả khảo sát về đặc điểm cấu tạo của thành ngữ
trong các văn bản đọc hiểu SGK Ngữ văn THCS 47 2.2 Các dạng thể hiện của thành ngữ ẩn dụ đối xứng 48 2.3 Các dạng thể hiện của thành ngữ ẩn dụ phi đối xứng 55
2.4 Khả năng đảm nhận các chức năng ngữ pháp của thành
ngữ trong các văn bản đọc hiểu SGK Ngữ văn THCS 59
2.5
Khả năng đảm nhận các chức năng làm thành tố cấu tạo
nên câu của thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu SGK
Ngữ văn THCS
60
3.1 Kết quả khảo sát các trường nghĩa đặc trưng trong các
văn bản đọc hiểu SGK Ngữ văn THCS 67
3.2 Kết quả khảo sát các cơ chế tạo nghĩa trong các văn bản
đọc hiểu SGK Ngữ văn THCS 73
3.3
Kết quả khảo sát các cơ chế tạo nghĩa hàm ẩn bằng
phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ của thành ngữ trong
các văn bản đọc hiểu SGK Ngữ văn THCS
74
3.4
Kết quả khảo sát các cơ chế tạo nghĩa hàm ẩn bằng
phương thức chuyển nghĩa hoán dụ của thành ngữ trong
các văn bản đọc hiểu SGK Ngữ văn THCS
77
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thành ngữ là những sáng tác của dân gian và có quan hệ mật thiết
với văn hóa dân tộc Không ai có thể biết được thành ngữ được ra đời từ khi nào nhưng một điều không thể phủ nhận đó là những kinh nghiệm của dân gian được đúc rút một cách ngắn gọn và cô đọng nhất Và những kinh nghiệm này thường có liên quan mật thiết tới văn hóa, văn học của mỗi dân tộc Người Việt thường sử dụng những câu nói này như một thói quen vì vậy lâu dần những ngôn ngữ ấy trở thành chuẩn mực, motip quen thuộc Đó là nơi bộc lộ rõ nét nhất lối sống, tâm tư tình cảm, kinh nghiệm về thiên nhiên về lao động sản xuất của nhân dân lao động Chỉ cần gặp một câu nói, hoặc một câu văn nhờ vận dụng thành ngữ; khi đi sâu vào khám phá mà ta có thể nhận ra nội dung, ý nghĩa của cả câu cả đoạn văn đó Và vì thế thành ngữ chiếm một
vị trí không hề nhỏ trong đời sống văn hóa, tinh thần của con người
1.2 Văn học phản ánh cuộc sống qua lăng kính chủ quan của nhà văn
Vì vậy, văn học phản ánh một cách đầy đủ và chân thực nhất đời sống văn hóa và xã hội
Đa số các tác phẩm văn học Việt Nam được đưa vào giảng dạy trong chương trình THCS là những tác phẩm tiêu biểu nhất của mỗi nhà văn, nhà thơ Các tác giả này trong các tác phẩm của mình dù ít hay nhiều cũng đã có
sử dụng thành ngữ làm chất liệu để phác họa nên nghệ thuật ngôn từ Vì vậy, đọc hiểu những tác phẩm này từ chính những yếu tố cấu tạo nên tác phẩm đó
là một cách dễ dàng nhất để hiểu được nội dung, hoàn cảnh sáng tác, phác họa được hình tượng nhân vật của tác phẩm Đặc biệt trong vài năm trở lại đây, giáo dục đang chú trọng xu hướng phát triển kĩ năng và năng lực cho học sinh; trong đó năng lực đọc hiểu là quan trọng nhất
1.3 Từ thực tế vận dụng hết sức linh hoạt, sáng tạo các thành ngữ vào
trong các tác phẩm văn học, đặc biệt là các văn bản đọc hiểu nhưng lại chưa
được quan tâm nghiên cứu nhiều người viết mạnh dạn chọn đề tài “Đặc điểm
Trang 10hành chức của thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu SGK Ngữ văn
THCS” để nghiên cứu, đi sâu phân tích, lý giải một cách hệ thống về vấn đề
này Việc nghiên cứu sẽ giúp tác giả luận văn thêm một lần nữa được thấy cái hay, cái đẹp của thành ngữ Việt Nam trong hoạt động hành chức của chúng với sự vận dụng sắc sảo và đầy sáng tạo của các nhà văn Từ đó, chúng tôi hi vọng có thể tích lũy thêm được nguồn ngữ liệu phong phú từ chính các văn bản đọc hiểu được dạy học trong chương trình Ngữ văn THCS để tổ chức các hoạt động dạy học một cách có hiệu quả theo định hướng phát triển các năng lực giao tiếp ngôn ngữ (năng lực đọc hiểu và năng lực làm văn) của học sinh
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Từ trước đến nay việc nghiên cứu thành ngữ là một đề tài thu hút được
sự quan tâm của nhiều tác giả trong và ngoài nước Ở góc độ văn học, các nhà nghiên cứu đề cập đến nhiều vấn đề của thành ngữ: xác định khái niệm (phân biệt thành ngữ với tục ngữ; thành ngữ với quán ngữ, thành ngữ với cụm từ tự
do, thành ngữ với từ ghép); nội dung, hình thức diễn đạt của thành ngữ; sự vận dụng, mối quan hệ của tục ngữ với các thể loại văn học khác
Nghiên cứu thành ngữ trong một cương vị nhất định (trong sự phân định với các đơn vị khác như tục ngữ, quán ngữ, từ ghép, …) Đi theo hướng này, thành ngữ được nghiên cứu hầu hết ở các công trình về từ vựng học, ngữ pháp học hoặc được tách riêng ra thành các bài nghiên cứu về vấn đề ranh giới giữa các đơn vị từ vựng
Các công trình tiêu biểu có thể kể đến ở đây như các công trình “Vài
suy nghĩ góp phần xác định khái niệm thành ngữ tiếng Việt” Nguyễn Văn
Mệnh (1986); “Góp ý kiến về phân biệt giữa tục ngữ và thành ngữ” của Cù
Đình Tú (1973); … Các công trình này đi vào tập trung nghiên cứu ranh giới
giữa thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ và từ ghép
2.1 Những nghiên cứu chung
Về khái niệm, thành ngữ là những sáng tác của dân gian ngắn gọn ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về
Trang 11mọi mặt, được nhân dân vận dụng vào trong lối sống, suy nghĩ lời ăn tiếng nói hàng ngày Đây là một thể loại văn học dân gian Phân biệt thành ngữ với quán ngữ và từ ghép Các tác giả đều cho rằng thành ngữ được xem là những cụm từ cố định có cấu trúc chặt chẽ, ổn định, có tính bóng bẩy, gợi tả trong nội dung ngữ nghĩa; quán ngữ là các đơn vị ngôn ngữ có chức năng đưa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh ý nghĩa chứ không có chức năng định danh như ở thành ngữ; từ ghép chỉ nêu lên khái niệm sự vật chung chung, thành ngữ còn chỉ rõ những thành ngữ biểu thị những sự vật hiện tượng ở hoạt động nào và ở trạng thái ấy ở mức độ nào
Về nội dung của thành ngữ bao gồm hai mặt: tính văn học nghệ thuật (hình ảnh, âm điệu, tình cảm) và phi văn học nghệ thuật (kinh nghiệm, khoa học thực hành, triết lí thực tiễn)
Về hình thức diễn đạt, thành ngữ ngắn gọn, có tính ổn cao, có nhịp điệu, hình ảnh
Các công trình tiêu biểu có thể kể đến ở đây như các công trình của tiêu
biểu với công trình “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Văn Tu (1968) và “Hoạt động của từ tiếng Việt” Đái Xuân Ninh (1978); “Từ vựng-
ngữ nghĩa tiếng Việt” Đỗ Hữu Châu (1981); “Một số nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt” Nguyễn Kim Thản (1963); “Từ vựng học tiếng Việt” Nguyễn Thiện
Giáp (1985); “Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại” Hồ Lê (1976),… Thứ
nhất, các tác giả này xem thành ngữ không phải là những đơn vị của ngôn ngữ
mà là lời nói liên quan đếm cụm cố định; thứ hai, họ đều cho rằng thành ngữ không có kết cấu trung tâm Thứ ba, thành ngữ là những cụm cố định
Khi phân biệt thành ngữ với tục ngữ, tác giả Hoàng Văn Hành viết:
“Thành ngữ tuy có nhiều nét tương đồng với tục ngữ (như: tính bền vững về
cấu tạo, tính bóng bẩy về nghĩa ) nhưng lại khác tục ngữ về bản chất Sự khác biệt thể hiện ở chỗ: Thành ngữ là những tổ hợp từ "đặc biệt", biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu – ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật” [16, tr.31-35]
Trang 12Riêng cuốn “Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt” do Nguyễn Như
Ý chủ biên và các tác giả cộng sự Hoàng Văn Hành, Lê Xuân Thại, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành (1995) là cuốn duy nhất biên soạn thành ngữ dựa vào tư liệu phong phú, trong hoạt động giao tiếp Trong lời nói đầu, tác
giả Hoàng Văn Hành viết: “Ngoài lời giải nghĩa và các chú thích cần
thiết, Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt còn đưa vào các câu trích dẫn nguyên văn lấy từ các tác phẩm văn học, sách giáo khoa các cấp và báo chí xuất bản ở Việt Nam trong khoảng 20 năm lại đây để minh hoạ cho cách dùng thành ngữ trong giao tiếp” Ngoài ra còn một số công trình khác dù ít hay
nhiều cũng đề cập tới thành ngữ trên phương diện văn học
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu khác như: “Đặc trưng cấu
trúc ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao người Việt” Nguyễn Việt Hùng
năm 2004; “Đặc trưng cấu trúc- ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca
dao của người Việt” Nguyễn Nhã Bản năm 2005
2.2 Những nghiên cứu về thành ngữ trong hoạt động hành chức
Thành ngữ tiếng Việt trong hoạt động nói năng đã được chọn làm đề tài
cho các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án … và thu được nhiều kết quả
đáng ghi nhận Vận dụng thành ngữ trong nói năng, trong tìm hiểu phong tục tập quán, tâm lí dân tộc, trong sáng tạo văn học nghệ thuật Xem xét về kết
cấu của thành ngữ về nội dung thành ngữ
Vấn đề được quan tâm nghiên cứu phong phú hơn cả là việc nghiên cứu các mặt riêng rẽ của thành ngữ tiếng Việt như nguồn gốc hình thành và phát triển thành ngữ, các vấn đề ngữ nghĩa của thành ngữ, các bình diện văn hoá của thành ngữ, biến thể của thành ngữ, phương pháp nghiên cứu thành
ngữ, … Các công trình nghiên cứu theo hướng này có “Ngữ nghĩa thành ngữ
và tục ngữ Sự vận dụng” Nguyễn Đức Dân (1986); “Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán” Nguyễn Như Ý (1993) ; “Từ Hán – Việt và vấn đề dạy học từ
Hán –Việt trong nhà trường phổ thông” Nguyễn Văn Khang(1994),… Các
công trình này đều đi tới một kết luận chung, thành ngữ được xem như là một
Trang 13bộ phận nhỏ của tục ngữ; xét về nguồn gốc, thành ngữ đều xuất phát từ lời ăn tiếng nói của dân gian, được đúc rút một cách cô đọng nhất; xét về nghĩa, thành ngữ đều hoàn chỉnh về nghĩa… và cuối cùng thói quen tâm lí, văn hóa, đặc điểm riêng về thành ngữ cũng chi phối sự nhận diện thành ngữ
Đặc biệt, trong số các công trình nghiên cứu về thành ngữ, chuyên khảo
“Thành ngữ học tiếng Việt” (2004) của GS Hoàng Văn Hành là một trong
những công trình có ý nghĩa nhất Đây là kết quả của quá trình tìm tòi và khảo nghiệm của tác giả Ở cuốn sách này, tác giả đã khái quát các phương diện cơ bản của thành ngữ về đặc trưng cấu trúc, ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, phân biệt thành ngữ với tục ngữ, quan hệ giữa thành ngữ với văn hoá và thành
ngữ trong sử dụng… Với “Thành ngữ học tiếng Việt”, GS Hoàng Văn Hành
đã tạo một cơ sở, một nền tảng lý thuyết vững chắc cho những người đi sau tiếp tục khám phá kho tàng thành ngữ của dân tộc và của từng địa phương Một số tác giả khác thì lại tách riêng một vài loại thành ngữ ra để nghiên cứu mặt cấu trúc – hình thái và đặc điểm ngữ nghĩa của chúng Các
công trình có thể kể đến ở đây là “Về bản chất của thành ngữ so sánh trong
tiếng Việt” Hoàng Văn Hành (1976) tập trung nghiên cứu thành ngữ so sánh
và “Về tính biểu trưng của thành ngữ trong Tiếng Việt” Bùi Khắc Việt (1981)
và “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” của nhóm tác giả thuộc Viện ngôn ngữ
(1994) tập trung miêu tả cả thành ngữ đối lẫn thành ngữ so sánh
Gần đây, nổi lên xu hướng nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt trong việc
đối chiếu với các thành ngữ nước ngoài Ví dụ : Đối chiếu thành ngữ Nga –
Việt trên bình diện giao tiếp (Nguyễn Xuân Hoà, 1996); Ngữ nghĩa của những thành ngữ và tục ngữ có từ chỉ thành tố động vật trong tiếng Anh (trong sự so sánh với tiếng Việt) (Phan Văn Quế, 1996); Thành ngữ so sánh
có thành tố chỉ động vật tiếng Việt – Nga – Anh (Hoàng Công Minh Hùng,
2001); Đặc điểm của thành ngữ tiếng Nhật (trong sự liên hệ với thành ngữ
tiếng Việt) (Ngô Minh Thuỷ, 2006), “Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của các
từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với tiếng
Trang 14Anh) của Nguyễn Thị Phượng…
Như vậy, có thể nói các công trình nghiên cứu về thành ngữ nói riêng
và thành ngữ trong tiếng Việt nói chung rất phong phú và đã có thời gian nghiên cứu khá dài Tuy nhiên, việc nghiên cứu đặc điểm hành chức của thành ngữ dựa trên các văn bản đọc hiểu trong trường THCS thì ít được nghiên cứu, nhất là việc khảo sát, nghiên cứu sự xuất hiện của các thành ngữ
trong SGK một cách hệ thống
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Chúng tôi lựa chọn, nghiên cứu đề tài “Đặc điểm hành chức của thành
ngữ trong các văn bản đọc hiểu sách giáo khoa Ngữ văn THCS” nhằm mục
tiêu vận dụng lí thuyết về Ngôn ngữ học để phân tích, tìm hiểu đặc điểm hành chức của thành ngữ trên cứ liệu các văn bản đọc hiểu được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn THCS, từ đó có thể đề xuất và vận dụng những biện pháp tiếp cận các văn bản đọc hiểu nói riêng, các tác phẩm văn học trong nhà trường nói chung từ phương diện đặc điểm hành chức của thành ngữ trong
cứ liệu các văn bản đọc hiểu trong sách giáo khoa Ngữ văn THCS
2 Khảo sát, phân tích một cách cụ thể, khoa học nguồn ngữ liệu - các văn bản đọc hiểu trong chương trình Ngữ văn THCS nhằm xác định, chỉ ra được các biểu hiện đặc điểm hành chức của thành ngữ trong từng văn bản đọc hiểu được khảo sát
3 Đánh giá được những đặc điểm riêng, sáng tạo và hiệu quả nghệ
Trang 15thuật của mỗi văn bản đọc hiểu nhờ sự sử dụng các yếu tố, phương tiện bộc lộ
rõ đặc điểm hành chức của ngôn ngữ Đưa ra những kiến nghị, đề xuất về cách tiếp cận các văn bản đọc hiểu từ phương diện hoạt động hành chức của thành ngữ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm của các thành ngữ tiếng Việt khi đi vào hoạt động hành chức (thông qua khảo sát các văn bản
đọc hiểu trong SGK Ngữ Văn THCS)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đặc điểm hành chức của thành ngữ là vấn đề rất rộng và vô cùng phức tạp Trong phạm vi của luận văn, để việc nghiên cứu được tập trung với điều kiện và khả năng có hạn, chúng tôi vận dụng những thành tựu nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước để khảo sát các văn bản đọc hiểu trong sách giáo khoa Ngữ văn THCS phân tích các thành ngữ nhằm làm rõ đặc điểm về
hoạt động hành chức của thành ngữ trong các văn bản này
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau đây:
5.1 Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng khi khảo sát, để thống kê các văn bản đọc trong chương trình Ngữ văn THCS từ đó khảo sát đặc điểm hành chức của thành ngữ trên hai phương diện cấu tạo, ngữ pháp và ngữ nghĩa và ngữ dụng từ đó làm cơ sở nhận xét, phân tích, đánh giá những đặc điểm nổi bật của các văn bản đọc hiểu trong chương trình THCS
5.2 Phương pháp miêu tả
Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát đặc điểm hành chức của thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu chúng tôi sẽ miêu tả những đặc điểm cơ bản trong các văn bản đọc hiểu trong SGK Ngữ văn THCS
Trang 165.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trong quá trình phân tích, chúng tôi sẽ tổng hợp những đặc điểm về hoạt động hành chức của thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu trong SGK Ngữ văn THCS từ đó rút ra nhận xét, đánh giá về các văn bản đọc hiểu trong nhà trường
5.4 Thủ pháp so sánh đối chiếu
Thủ pháp so sánh đối chiếu để thấy rõ được sự tương đồng và khác biệt giữa các văn bản đọc hiểu trong chương trình THCS với các tác phẩm văn học
từ đó để thấy được đặc trưng riêng trong phong cách của mỗi tác giả
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và các phần tài liệu tham khảo, phần phụ lục thì nội dung của luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm hành chức của thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu sách giáo khoa Ngữ văn THCS xét trên bình diện cấu tạo và chức năng ngữ pháp
Chương 3: Đặc điểm hành chức của thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu sách giáo khoa Ngữ văn THCS xét trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng
Trang 17CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Hoạt động hành chức của hệ thống ngôn ngữ
1.1.1 Khái quát chung về hoạt động hành chức của ngôn ngữ
a Ngôn ngữ vốn là một hệ thống tín hiệu bao gồm nhiều yếu tố gắn bó
với nhau bởi rất nhiều mối quan hệ và tạo nên một cấu trúc phức tạp Hệ thống này đã được hình thành trong lịch sử và tồn tại trong tiềm thức và năng
lực ngôn ngữ của mỗi người, trước hết là người bản ngữ Ở mỗi người, nó tồn
tại trong dạng tiềm năng, đồng thời tiềm năng ấy được mỗi con người hiện thực hóa khi dùng ngôn ngữ để tiến hành hoạt động tư duy và đặc biệt là hoạt
động giao tiếp Ngôn ngữ cũng như một cỗ máy, có cấu tạo hệ thống Hệ
thống bao gồm nhiều bộ phận, nhiều chi tiết có quan hệ với nhau và được tổ chức theo một cấu trúc nhất định Khi chưa hoạt động, cỗ máy đó là một hệ thống, đến khi hoạt động thì các bộ phận chuyển động có thể có sự biến đổi, chuyển hóa linh hoạt nhưng theo những qui tắc vận hành nhất định để thực hiện được các chức năng của nó
Để thực hiện được các chức năng trọng đại của mình, ngôn ngữ cần ở
trạng thái hoạt động thường xuyên Để thực hiện chức năng giao tiếp, ngôn
ngữ hoạt động dưới hai dạng thức: dạng nói và dạng viết Mỗi dạng này được tiến hành trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, trong những phạm vi nhất định của cuộc sống xã hội Dạng viết, chẳng hạn, được sử dụng cả trong
phạm vi sinh hoạt hàng ngày, nhưng chủ yếu trong các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, hành chính, báo chí, Dạng nói dùng ngôn ngữ âm thanh có sự phối hợp với cử chỉ, điệu bộ và thường để giao tiếp trực diện với người nghe Còn dạng viết sử dụng tín hiệu chữ viết (thay thế ngôn ngữ âm thanh) với ưu thế giao tiếp không nhất thiết phải trực diện giữa các nhân vật giao tiếp, và có thể thực hiện ở một không gian rộng lớn, một thời gian lâu dài và đạt được độ chuẩn xác cao
Trang 18b Trong hoạt động hành chức, ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với
ngữ cảnh Ngữ cảnh là bối cảnh ngoài ngôn ngữ, ở đó diễn ra hoạt động giao
tiếp bằng ngôn ngữ Ngữ cảnh thường được phân biệt thành ngữ cảnh văn hóa và ngữ cảnh tình huống:
- Ngữ cảnh văn hóa là toàn bộ môi trường xã hội, lịch sử, địa lí, kinh
tế, chính trị, văn hóa, phong tục, tập quán, mà cộng đồng ngôn ngữ (trong
đó có các nhân vật giao tiếp) tồn tại và phát triển Các nhân vật giao tiếp với
tất cả những đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân sơ, nghề nghiệp, lứa tuổi, vốn sống, vốn văn hóa, giới tính, cá tính, đều luôn luôn chi phối sự sử dụng ngôn ngữ và sự lĩnh hội ngôn ngữ
- Ngữ cảnh tình huống là hoàn cảnh cụ thể về thời gian, địa điểm, sự kiện, mà hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ diễn ra, nó bao gồm cả văn cảnh của các đơn vị ngôn ngữ Hoạt động hành chức của ngôn ngữ và những
sản phẩm được tạo ra trong hoạt động đó đều bị chi phối sâu sắc bởi ngữ cảnh
Ví dụ:
“Cậy em, em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Đây là hai câu thơ mở đầu cho đoạn trích “Trao duyên” trong kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du Đó cũng là nỗi lòng đau xót của Thúy Kiều khi phải trao mối tình mặn nồng giữa nàng và Kim Trọng cho Thúy Vân, cũng là phần mở đầu cuộc đời đầy đau khổ của Kiều Thúy Kiều
đã dùng những lời lẽ chân tình, thuần hậu để nói chuyện với Thúy Vân Từ
“cậy” được sử dụng đặc sắc, là “cậy” chứ không phải “nhờ”; người được
“cậy” khó lòng có thể từ chối Thúy Kiều nói “cậy” thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối, phó thác hoàn toàn cho Thúy Vân, như ngầm nói: việc mình sắp nói
ra, sắp nhờ chỉ có Thúy Vân mới có thể giúp được, làm được Vừa được đề cao, vừa được tin tưởng như thế, Vân khó lòng từ chối được Kiều đã đặt Vân lên vị trí cao hơn, hạ mình xuống như để van nài, kêu xin Không có người
Trang 19chị nào lại xưng hô với em mình bằng từ ngữ tôn kính chỉ dùng cho bề trên như “thưa, lạy” Kiều muốn chuẩn bị tâm lý cho Vân để đón nhận một việc hệ trọng mà nàng chuẩn bị nhờ cậy em bởi nàng hiểu rằng việc mà nàng sắp nói ra
là rất khó khăn với Vân cũng là việc rất tế nhị Thúy Kiều hỏi Thúy Vân có
“chịu lời” hay không mà không phải là “nhận lời” Một là Thúy Kiều ý thức được sự phi lí của việc nhờ vả của mình và dường như chưa có tiền lệ nên người bình thường khó chấp nhận được sự nhờ vả này Hai là ngay trong khi cất lời nhờ Kiều đã muốn cho Vân thấu hiểu sự hi sinh, thua thiệt của Vân khi chấp nhận giúp chị gá nghĩa với Kim Trọng Kiều biết ơn, mang ơn vì điều đó
c Trong hoạt động, ngôn ngữ tạo nên những sản phẩm Cũng như
nhiều hoạt động khác của con người, hoạt động ngôn ngữ được tiến hành
bằng các nguyên liệu, vật liệu có sẵn (các âm thanh hoặc hệ thống chữ viết thay thế các âm thanh, các từ, cụm từ cố định, các qui tắc kết hợp của chúng)
và tạo ra các sản phẩm (các ngữ, các cụm từ, các câu, lời nói, văn bản, )
Mỗi sản phẩm như vậy được tạo ra trong hoàn cảnh giao tiếp nhất định và trên cơ sở của những nguyên vật liệu có sẵn cùng những qui tắc kết hợp chúng ( Ví dụ: câu được tạo ra nhờ từ và qui tắc kết hợp từ)
Hơn nữa, trong hoạt động ngôn ngữ, cụm từ, câu, văn bản vừa là các sản phẩm lại vừa là các phương tiện để thực hiện chức năng Chẳng hạn, câu
vừa là sản phẩm được tạo ra khi nói hoặc viết, đồng thời vừa là phương tiện
để người nói hay người viết thể hiện được một ý, một nội dung nhận thức tư tưởng hay tình cảm; văn bản vừa là một sản phẩm được tạo ra lại vừa là một phương tiện để người viết, nói bộc lộ được một nội dung trọn vẹn
d Cũng trong hoạt động, các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ vừa giữ nguyên (duy trì) những đặc tính bản chất, những mối quan hệ vốn có, lại vừa
có sự biến đổi và chuyển hóa linh hoạt Những sự biến đổi và chuyển hóa này
phụ thuộc vào các nhân tố của hoạt động giao tiếp và nhằm đạt tới những hiệu quả giao tiếp tốt nhất
Những sự biến đổi và chuyển hóa đó có thể diễn ra ở tất cả các phương
Trang 20diện khác nhau của hệ thống ngôn ngữ Có những sự biến đổi ở mặt ngữ âm, kết quả tạo ra các biến thể ngữ âm: các biến thể cá nhân (giọng nói địa phương), các biến thể kết hợp Có những biến đổi và chuyển hóa ở phương diện hình thức tổ chức và kết hợp các yếu tố ngôn ngữ sẵn có, cũng như ở các sản phẩm được tạo ra: sự có mặt hay vắng mặt của các thành tố, trật tự sắp xếp của các thành tố, sự đan xen lẫn nhau của các thành tố Ví dụ, trong hoạt
động, từ có thể biến âm (nào – nao/Ông ơi ông vớt tôi nao! Nhớ ai tát nước
bên đường hôm nao – ca dao), có thể đổi vị trí cấu tạo (giữ gìn – gìn giữ, áo quần – quần áo), có thể đan xen thành tố với từ khác (Biết bao bướm lả ong lơi – Truyện Kiều/ bướm chán ong chường) Câu có thể đầy đủ hay tạm thời vắng
mặt thành phần, có thể sắp xếp các thành phần theo một số cách khác nhau
Ví dụ: Chúng ta hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em/ Chúng ta
hãy dành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất/ Những gì tốt đẹp nhất, chúng ta hãy dành cho trẻ em
Sự biến đổi và chuyển hóa có thể diễn ra ở bình diện nội dung ngữ nghĩa Chẳng hạn, trong hoạt động ngôn ngữ rất nhiều từ nảy sinh các nghĩa
mới Ví dụ: trượt vỏ chuối, viêm màng túi, khâu sống, vượt rào, Câu cũng
có thể tùy hoàn cảnh giao tiếp mà có cả nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
Chẳng hạn, bạn trai của con gái đến nhà chơi buổi tối, bố/mẹ bỗng nói “ Thế
mà đã 11h rồi đấy”, thì câu này không chỉ hàm ý thông báo về thời gian mà
còn nhắc khéo khách rằng: muộn rồi nên về thôi
Song, những sự biến đổi và chuyển hóa của các yếu tố ngôn ngữ trong hoạt động không phải là sự thay đổi tùy tiện ngẫu hứng, hoàn toàn theo ý chủ quan của một người nào đó Những sự biến đổi và chuyển hóa đó phải diễn ra theo qui luật và theo những mối quan hệ hệ thống của ngôn ngữ Có như thế, trong hoạt động, ngôn ngữ mới là phương tiện giao tiếp chung của xã hội, mới thực hiện được chức năng tư duy và giao tiếp mang bản chất xã hội
1.1.2 Sự biến đổi và chuyển hóa của ngôn ngữ trong hoạt động hành chức
Như đã biết, ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố (các đơn
Trang 21vị ngôn ngữ) có quan hệ qua lại với nhau, qui định lẫn nhau Hệ thống này có thể tồn tại ở trạng thái tĩnh, trong tiềm năng ngôn ngữ của mỗi người Ở trạng thái tĩnh, các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ có những mối quan hệ qua lại, chế định lẫn nhau, có các vai trò và chức năng nhất định Khi được sử dụng trong hoạt động giao tiếp, hoạt động hành chức, các yếu tố này vẫn nằm trong các quan hệ hệ thống với nhau, tuy rằng chúng có thể có những sự chuyển hóa và biến đổi để thích nghi với nhiệm vụ và mục đích giao tiếp trong từng hoàn cảnh cụ thể Dưới đây, chúng ta lần lượt xem xét một số sự chuyển hóa, biến đổi ở một trong hai loại yếu tố, đơn vị ngôn ngữ cơ bản nhất và có số lượng
lớn nhất trong mỗi ngôn ngữ, đó chính là từ Qua việc xem xét này, chúng ta
cũng có thể có những nhận định chung về các loại yếu tố khác của hệ thống
ngôn ngữ trong trạng thái hoạt động giao tiếp – hành chức
Từ là yếu tố cơ bản của hệ thống ngôn ngữ Chúng có số lượng rất lớn, lại là một hệ thống mở: nhiều từ cũ dần dần không được dùng, nhiều từ mới
dần dần được nảy sinh và sử dụng Hơn nữa từ lại là loại yếu tố có nhiều bình
diện: bình diện ngữ âm, bình diện cấu tạo, bình diện ngữ nghĩa, bình diện kết
hợp ngữ pháp, bình diện phong cách chức năng, Ở trạng thái tĩnh, căn cứ vào mỗi bình diện như vậy, ta có thể tập hợp các từ theo các hệ thống bộ phận (tiểu hệ thống) trong lòng hệ thống từ vựng chung Khi hoạt động giao tiếp, các bình diện của các từ đều có thể diễn ra những biến đổi Ban đầu những sự biến đổi đó có thể ở phạm vi hẹp, mức độ thấp nhưng dần dần có thể có mức
độ cao hơn và những thay đổi về lượng có thể dẫ đến những thay đổi về chất:
làm nảy sinh những hiện tượng mới, những yếu tố mới, từ mới
1.1.2.1 Sự biến đổi, chuyển hóa của từ ở bình diện ngữ âm và cấu tạo
a) Về mặt ngữ âm
Từ là loại tín hiệu có hai mặt: âm thanh và ý nghĩa Muốn thực hiện được chức năng tín hiệu của mình, âm thanh của từ phải ổn định, có tính xác định và thống nhất chung của toàn thể các thành viên của xã hội Hai mặt âm thanh và ý nghĩa của từ tuy có quan hệ võ đoán và có tính qui ước nhưng
Trang 22không ai có thể tùy tiện thay đổi theo ý muốn riêng của cá nhân
Tuy nhiên, ở mỗi cá nhân, khi phát âm, từ vẫn có những biến thể cá nhân trong giọng nói (ở mức độ cho phép) Hoặc trong các phương ngữ, từ vẫn có thể có những biến thể ngữ âm địa phương Đó là sự biểu hiện của những biến đổi ngữ âm của từ khi từ được sử dụng trong lời nói của cá nhân hoặc của phương ngữ trong hoạt động giao tiếp Cũng trong hoạt động giao tiếp (trong sự kết hợp với từ), bộ mặt ngữ âm của từ có thể có những biến thể kết hợp
Chẳng hạn trong phương ngữ Nam bộ của tiếng Việt, ta gặp thấy thường xuyên xuất hiện hiện tượng gộp âm như:
anh ấy - ảnh, ông ấy - ổng, cô ấy - cổ, trong ấy - trỏng
Sự biến đổi về mặt ngữ âm của từ diễn ra đồng loạt ở nhiều từ theo một qui luật chung Nó tạo nên biến thể ngữ âm của cùng một nhóm từ
Ví dụ: sự chuyển hóa giữa các phụ âm đầu mà chữ viết ghi là tr và gi
được qua sát thấy ở nhiều từ như: trời – giời, (nhà) tranh – (nhà) gianh, (con)
trai – (con) giai, trăng – giăng, trả (lại) – giả, (ăn) trầu – (ăn) giầu,
Những biến đổi ngữ âm như vậy được gọi là sự biến âm Sự biến âm diễn ra theo qui luật và có tính đồng loạt ở nhiều từ, và có thể ở các bộ phận
âm thanh khác nhau trong từ
b) Về mặt cấu tạo
Các từ cần có cấu tạo ổn định để thực hiện các chức năng định danh, chức năng tạo câu, Đồng thời đặc điểm cấu tạo của từ là cơ sở để cho từ thuộc về một hệ thống cấu tạo nhất định: từ đơn, từ láy, từ ghép, Đó cũng là các hệ thống bộ phận của hệ thống từ vựng, hệ thống ngôn ngữ nói chung Trong hoạt động giao tiếp hình thức của từ cũng có thể biến đổi ở một mức độ nhất định Những sự biến đổi này không làm thay đổi nghĩa của từ, không làm thay đổi bản chất ngữ pháp của từ nhưng lại có tác dụng làm cho từ thích hợp với các nhân tố giao tiếp Cụ thể hơn, có thể thấy, trong tiếng Việt:
- Các từ phức (láy hoặc ghép) có thể thay đổi thứ tự các thành tố như:
Trang 23đấu tranh – tranh đấu, giữ gìn – gìn giữ, đổi thay – thay đổi, son sắt – sắt son, rì rầm – rầm rì,
Những sự thay đổi như vậy có tác dụng làm cho việc dùng từ được uyển chuyển, linh hoạt đặc biệt là khi cần tạo ra một âm hưởng hay nhịp điệu thích hợp cho câu văn câu thơ
Ví dụ: thường ta hay gặp biến thể chung thủy (yếu tố chung đi trước) nhưng trong câu thơ sau, biến thể thủy chung là thích hợp về nhịp điệu, tiết tấu: Thủy chung tình bạn chùm hoa tím (Tố Hữu)
- Có những trường hợp các thành tố của từ phức được tách ra để xen kẽ những thành tố của từ phức khác vào, hoặc xen kẽ các từ đơn vào Sự thay đổi này đã trở thành một biện pháp tu từ, phục vụ cho việc biểu đạt được hiệu quả
Ví dụ: “Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!” (Truyện Kiều)
Các từ phức dày dạn, chán chường, gió sương, bướm ong được tách ra
và xen kẽ vào nhau, diễn tả được một cách hình tượng, cụ thể tâm trạng ngao ngán, ê chề của nàng Kiều
- Lại có những trường hợp, hình thức cấu tạo đa tiết của từ được cắt ngắn đi, chỉ còn giữ lại một hai âm tiết Nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ không thay đổi, nhưng hình thức ngắn, đơn tiết của từ phù hợp với phong cách khẩu ngữ, phong cách ngôn ngữ linh hoạt hơn
Ví dụ: Ưu điểm, khuyết điểm – ưu, khuyết điểm
Công nghiệp, nông nghiệp – công, nông nghiệp
Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp – nông, lâm, ngư nghiệp
Trang 24- Ngoài ra, còn có thể qui vào sự biến đổi về mặt cấu tạo đối với những dạng viết tắt theo nhiều cách khác nhau và ngày càng phổ biến trong các văn bản tiếng Việt:
Xã hội chủ nghĩa: XHCN
Ngân hàng đầu tư và phát triển: BIDV
Tóm lại, từ của tiếng Việt mặc dầu vẫn cần tính định hình, chặt chẽ về cấu tạo, nhưng khi được sử dụng trong lời nói giao tiếp vẫn có thể biến hóa linh hoạt, tạo nên các dạng thức lâm thời để thích hợp với các hoàn cảnh giao tiếp và mang lại các sắc thái tu từ - phong cách học nhất định
Cần chú ý phân biệt những dạng thức linh hoạt, uyển chuyển trong việc dùng từ với những trường hợp dùng từ sai do không nắm vững đặc điểm cấu tạo của từ
Ví dụ: Anh ấy có một yếu điểm là thiếu quyết đoán trong công việc
(phải là điểm yếu)
1.1.2.2 Sự biến đổi, chuyển hóa của từ ở bình diện nghĩa
Ở bình diện nghĩa, khi từ được dùng trong hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ cũng có những biến đổi và chuyển hóa
Trước hết, nghĩa của từ trong hệ thống là một nghĩa khái quát Khi dùng trong lời nói, nghĩa của từ được hiện thực hóa, được qui chiếu vào một đối tượng cá thể, xác định, hoặc được qui chiếu vào loại sự vật nhất định
Ví dụ: Trong hệ thống ngôn ngữ chưa được dùng vào hoạt động giao
tiếp, từ “quần đảo” có nghĩa chung chỉ nhiều đảo ở cụm gần nhau trong một vùng biển, còn “đảo” chỉ chung vùng đất nhô trên mặt biển có thể có các sinh vật và người sống Nhưng trong các câu 2 và câu 3 của đoạn sau thì “quần
đảo” chỉ quần đảo Trường Sa, còn “đảo” thì chỉ một trong các đảo của quần
đảo Trường Sa
“Đó là quần đảo Trường Sa, mảnh đất xa xôi nhất của Tổ quốc ta Quần đảo bao gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo hình vòng cung Mỗi đảo
là một bông hoa san hô rực rỡ góp thành một lẵng hoa giữa mặt nước biển
Trang 25Đông xanh mênh mông” (Hà Đình Cẩn – Quần đảo san hô)
Ta biết được điều đó vì hoàn cảnh giao tiếp – các câu đi trước – đã xác định rõ “Đó là quần đảo Trường Sa, mảnh đất xa xôi nhất của Tổ quốc ta” Qua ví dụ trên cũng có thể thấy hiện tượng nghĩa của từ bị thu hẹp khi
từ được dùng trong lời nói
Có trường hợp, khi từ dùng trong giao tiếp, nghĩa của nó được qui chiếu vào một loại sự vật nhất định
Ví dụ: Sầu riêng là loại trái quí, trái hiếm của miền Nam (Mai Văn Tạo)
Ngược lại với trường hợp thu hẹp nghĩa là trường hợp nghĩa của từ được mở rộng hơn khi từ dùng trong giao tiếp so với từ trong trạng thái tĩnh của ngôn ngữ
Ví dụ: “Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”
(Viễn Phương)
Từ “mùa xuân” ở câu thơ trên không phải có ý nghĩa mùa đầu tiên
trong bốn mùa của một năm mà nó mang ý nghĩa rộng hơn: một năm tuổi trong một đời người
Nghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp còn có sự chuyển đổi rõ rệt hơn, khi từ chuyển sang chỉ các đối tượng khác Đây là sự chuyển nghĩa lâm thời trong lời nói Nghĩa mới chưa có tính phổ biến và ổn định, nên chưa trở thành một nghĩa của từ, để có thể ghi vào từ điển thành nghĩa ngôn ngữ Những sự chuyển nghĩa này làm cho từ có thêm nghĩa mới, có sức sống mới Sự chuyển nghĩa như thế vẫn theo các phương thức chung: ẩn dụ hoặc hoán dụ
Ví dụ: Đây là đoạn văn miêu tả một khu rừng thảo quả vào mùa (chín):
Rừng say ngây và ấm nóng Thảo quả như những đốm lửa hồng, ngày qua ngày lại thắp thêm nhiều ngọn mới, nhấp nháy vui mắt (Ma Văn Kháng)
Trong ví dụ này, các từ say và thắp được dùng với nghĩa mới theo phép
nhân hóa: không phải người say mà là rừng say, không phải say rượu, say thuốc mà là say hương vị thảo quả ngọt lựng, thơm nồng Còn thắp cũng
Trang 26không phải thắp đèn, thắp lửa mà là thảo quả thắp thêm những “chùm thảo
quả đỏ chon chót, bóng bẩy như chứa lửa, chứa nắng”
Các nghĩa mới thường được nảy sinh khi từ được dùng trong giao tiếp Các nghĩa đó ban đầu do một cá nhân tạo ra theo qui luật chuyển nghĩa chung Nếu được nhiều người thừa nhận và dùng theo thì nghĩa mới đó đi dần vào lĩnh vực hệ thống ngôn ngữ và trở thành một nghĩa ngôn ngữ của từ Nếu không, nó vẫn chỉ là nghĩa lâm thời do sự chuyển hóa trong lời nói Chẳng hạn, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:
- Nách tường bông liễu bay sang láng giềng
Từ nách ở đây được chuyển nghĩa và mang nghĩa mới Nách vốn chỉ
một vị trí trên cơ thể con người, nơi cánh tay và thân mình giao nhau tạo nên một góc Nhưng ở đây nó được dùng cho bức tường chỉ nơi giao nhau của hai bức tường tạo nên một góc Do đó, nách tường là góc tường Rõ ràng sự chuyển nghĩa này còn có tính chất cá nhân Từ đó đến nay đã hơn 200 năm nhưng không ai dùng từ nách để chỉ góc tường, mặc dầu ai cũng biết sự chuyển nghĩa đó tương tự như sự chuyển nghĩa của chân trong chân tường
1.1.2.3 Sự biến đổi, chuyển hóa của từ ở bình diện ngữ pháp
Bình diện ngữ pháp của từ là bình diện các đặc điểm ngữ pháp, bản chất ngữ pháp của từ Nó được bộc lộ ở khả năng của từ trong việc tạo cụm
từ, tạo câu, đảm nhiệm các chức năng của các thành phần trong cụm từ và trong câu Ở tiếng Việt, đặc điểm ngữ pháp của từ không được bộc lộ trong bản thân hình thức ngữ âm của nó, không bộc lộ ở sự biến hóa hình thái của
từ mà ở sự kết hợp của các từ trong câu
Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt cũng có tính ổn định ở mức độ rõ rệt Do đó các từ thuộc về các từ loại nhất định và có các chức năng nhất định trong việc tạo nên các đơn vị lớn hơn
Song, khi dùng trong hoạt động giao tiếp, những đặc điểm ngữ pháp của từ cũng có sự chuyển hóa và biến đổi Nhiều sự biến đổi như thế được lặp
đi, lặp lại, được gọi là sự chuyển loại của từ
Trang 27Ví dụ: có nhiều từ vừa có thể dùng như danh từ chỉ công cụ, phương
tiện của hoạt động, vừa có thể dùng như động từ chỉ hoạt động được tiến hành bằng công cụ, phương tiện ấy
(cái) cày – cày (ruộng)
(cái) cưa – cưa (gỗ)
(cái) đục – đục (lỗ)
(cái) khoan – khoan (giếng)
Những trường hợp như thế tạo nên hai biến thể ngữ pháp của từ và đã
có tính ổn định nên thường được ghi trong từ điển
Trong hoạt động giao tiếp còn thường thấy những sự chuyển loại có tính chất lâm thời, nhưng theo qui tắc chung: chuyển nghĩa khái quát, nghĩa ngữ pháp đồng thời với sự thay đổi về hoạt động ngữ pháp của từ
Ví dụ: Đầu óc căng thẳng vì tiếng bom, tiếng đạn, tiếng rú, và trong mỗi
một người đều phải trải qua những bực tức, giận giữ, lo âu và cả sợ sệt nữa
Bốn từ: bực tức,lo âu, giận giữ, sợ sệt vốn là các động từ chỉ các trạng
thái tâm lí Nhưng trong câu trên, chúng có sự chuyển đổi về đặc điểm ngữ pháp Chúng được dùng như các từ có ý nghĩa sự vật (tuy không có yếu tố sự
đi kèm)
Đó là sự biến đổi về ý nghĩa ngữ pháp Còn về hình thức kết hợp, ta thấy chúng được dùng với từ những đi trước, từ này là dấu hiện thường thấy ở danh từ Do đó, có thể nói rằng: trong trường hợp này, bốn từ trên không phải được dùng với tư cách của những động từ, mà dùng trong tư cách các danh từ
Sự chuyển đổi các đặc điểm ngữ pháp của từ có thể diễn ra giữa các tiểu loại từ trong một từ loại Tuy vẫn nằm trong loại lớn, nhưng khi chuyển đổi tiểu loại, từ cũng đều có sự thay đổi cả ở nghĩa ngữ pháp khái quát của từ,
cả ở hình thức kết hợp của từ
Ví dụ: từ “sống” thường được xuất hiện trong tư cách một nội động từ,
biểu hiện một trạng thái không có sự tác động đến một đối tượng bên ngoài
do đó nó không có bổ ngữ đối tượng ở sau:
Trang 28- Họ sống và chiến đấu
- Nguyễn Trãi sống vào thời kì đất nước có giặc Minh
Nhưng có thể dùng từ “sống” theo cách dùng của một ngoại động từ,
lúc đó nó có thể có quan hệ đến một thành phần tương tự như một bổ ngữ chỉ đối tượng:
Ví dụ: Ông đã sống một cuộc sống oanh liệt, nhiều ý nghĩa
Như vậy, ở bình diện ngữ pháp, từ của tiếng Việt không biến đổi hình thức, không tạo nên các hình thái để thể hiện các phạm trù ngữ pháp hoặc quan hệ ngữ pháp như từ trong các ngôn ngữ biến hóa tổng hợp tính (Nga, Anh, Pháp )
Tuy nhiên khi đi vào hoạt động giao tiếp, từ của tiếng Việt vẫn có sự biến đổi và chuyển hóa linh hoạt về các đặc điểm ngữ pháp Chúng có thể biến đổi các ý nghĩa ngữ pháp khái quát (với các mức độ khác nhau) đồng thời thay đổi khả năng kết hợp ở trong câu Hiện tượng đó thường được gọi là
sự chuyển loại lâm thời
1.1.2.4 Sự biến đổi, chuyển hóa của từ ở bình diện phong cách chức năng
Việc sử dụng ngôn ngữ trong các lĩnh vực và phạm vi xã hội để thực hiện các mục tiêu giao tiếp khác nhau đã làm hình thành dần dần các phong cách chức năng ngôn ngữ Các phong cách này biểu hiện đặc điểm của mình ở nhiều cấp độ khác nhau của hệ thống ngôn ngữ
Ở cấp độ từ có sự phân biệt các từ đơn phong cách và các từ đa phong cách Trong số các từ đơn phong cách có thể có những từ thiên về phong cách khẩu ngữ sinh hoạt, có từ thiên về phong cách khoa học, có từ thiên về phong cách hành chính, có từ thiên về phong cách văn chương nghệ thuật
Tuy thế, trong hoạt động giao tiếp lại cũng thường gặp những cách dùng linh hoạt: các từ có thể thâm nhập từ phong cách này sang phong cách khác, có thể chuyển đổi màu sắc phong cách Những sự chuyển đổi đó là dụng
ý của người nói (người viết) và nhằm phục vụ cho các mục đích tu từ phong cách học
Trang 29Ví dụ: Bản “Tuyên ngôn độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày
2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình là một văn bản thuộc phong cách chính luận, nhưng trong đó đã huy động nhiều từ thuộc phong cách khẩu ngữ sinh hoạt:
- Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu
- Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân
- Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu
Việc dùng các từ ngữ như thế trong một văn bản chính luận không phương hại đến tính thống nhất trong một phong cách ngôn ngữ của văn bản
mà còn làm cho sự tố cáo tội ác kẻ thù thêm sống động, tránh được sự khôn khan, mòn sáo
Tóm lại, xét ở tất cả các bình diện của từ: ngữ âm, cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ pháp, phong cách chức năng, từ của tiếng Việt khi dùng trong hoạt động giao tiếp đều có thể có những sự biến đổi và chuyển hóa linh hoạt Những sự biến đổi đó không làm cho hoạt động giao tiếp ngôn ngữ lâm vào trạng thái hỗn loạn tùy tiện, vì chúng vẫn giữ được thế cân bằng và diễn ra theo những qui luật của hệ thống Hơn nữa những sự biến đổi và chuyển hóa đó của từ còn làm cho giao tiếp ngôn ngữ trở nên sông động và tươi mới
Ngoài biến đổi và chuyển hóa trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ còn tạo ra các yếu tố mới, đơn vị mới, kết cấu mới, được gọi là vận động tân tạo Chẳng hạn:
* Ở lĩnh vực từ vựng: Lĩnh vự từ vựng là lĩnh vực diễn ra vận động tân
tạo thường xuyên và điển hình Trong đó, rõ nhất là việc sản sinh, tạo lập ra những từ mới bằng các phương thức từ hóa hình vị, phương thức ghép và phương thức láy
* Trong lĩnh vực ngữ pháp: việc tạo ra các đơn vị câu, kết cấu câu mới
diễn ra chậm chạp Tuy nhiên, trong hoạt động giao tiếp vẫn dần hình thành những cách nói, cách diễn đạt mới
Ví dụ: “Sinh viên Nguyễn Văn A đến từ Đại học Hải Phòng”
Trang 30Ví dụ: Phương thức ghép theo mô hình X + hóa đã tạo ra nhiều từ như:
trẻ hóa, lão hóa, xanh hóa, cứng hóa…
1.2 Khái quát về thành ngữ với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ
1.2.1 Khái niệm thành ngữ
Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong vốn ngôn ngữ và có liên quan mật thiết tới văn hóa của mỗi dân tộc Đặc biệt số lượng thành ngữ trong tiếng Việt là vô cùng phong phú nhưng cũng là đơn vị ngôn ngữ vô cùng phức tạp Vì vậy tìm ra một tiêu chí cụ thể để xác định khái niệm về thành ngữ là
vô cùng phức tạp
Dương Quảng Hàm tác giả đầu tiên đề cập tới khái niệm về thành ngữ
trong tác phẩm “Việt Nam văn học sử yếu” năm 1956 quan niệm: “Thành ngữ
là lời nói có sẵn để ta tiện dùng diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho
có màu mè” [14, tr.49]
Nguyễn Thiện Giáp trong bài viết “Về khái niệm của thành ngữ tiếng
Việt” năm 1975 nhận định: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính
hoàn chỉnh về nghĩa vừa có tính gợi cảm… bên cạnh nội dung trí tuệ các thành ngữ bao giờ cũng làm theo sắc thái bình giá, nội dung nhận định” [13, tr.52]
GS Hồ Lê (1976) nêu lên: "Thành ngữ là những tổ hợp từ (gồm nhiều
từ hợp lại) có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa để miêu
tả một hình ảnh, một hình tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đó"
[28, tr 97]
Tác giả Nguyễn Văn Mệnh (1987), trong khi so sánh thành ngữ với tục
ngữ cũng nói: "Mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn
Trang 31chỉnh" [30, tr.12]
Còn GS Đỗ Hữu Châu (1999) trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
đã nêu chung khái niệm thành ngữ (trong loại lớn là ngữ cố định) như sau:
"Nói ngữ cố định là các cụm từ cố định hoá là nói chung… Bởi vậy cái quyết
định để xác định các ngữ cố định là tính tương đương với từ của chúng về chức năng tạo câu Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ không phải chỉ vì chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với
có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu" [ 49, tr.271]
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do GS Lê Bá Hán chủ biên (2004), các tác giả định nghĩa: Thành ngữ tiếng Việt là "Đoạn câu cụm từ có
sẵn tương đối cố định bền vững không nhằm diễn trọn một ý… mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hấp dẫn… Dù ngắn hay dài, xét về nội dung ý nghĩa cũng như về chức năng ngữ pháp thành ngữ cũng chỉ tương đương như từ, nhưng là từ đã được tô điểm và nhấn mạnh nghĩa bằng sự diễn đạt sinh động, có nghệ thuật" [15, tr 249]
Như Đỗ Việt Hùng trong [21, tr 187] có viết: “Thành ngữ là đơn vị
đặc trưng của ngữ cố định về tính ổn định trong cấu tạo và giá trị biểu trưng
về mặt nghĩa”
GS TS Hoàng Văn Hành (2004), người được xem là GS đầu ngành về
thành ngữ tiếng Việt, ông phát biểu: "Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định,
bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ" [16; tr 27]
Hầu hết các tác giả đều đi đến kết luận cho rằng: Thành ngữ là những cụm từ cố định có sẵn được lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời
Trang 32khác Về chức năng thành ngữ là đơn vị tương đương với từ dùng để gọi tên
sự vật hoặc biểu thị khái niệm Về ý nghĩa thành ngữ thường mang tính hình tượng, gợi tả, tính bóng bẩy và biểu trưng một nội dung trọn vẹn về nghĩa
1.2.2 Đặc trưng từ vựng – ngữ pháp của thành ngữ
1.2.2.1 Đặc điểm kết cấu- cấu tạo
Thành ngữ là những cụm từ có tính cố định, ổn định, chặt chẽ Chính nhờ tính chất chặt chẽ cố định mà thành ngữ được dùng tương đương như từ Tuy nhiên tính ổn định, cố đinh về hình thái cấu trúc của thành ngữ không phải là bất biến, bất di bất dịch Nghĩa là trong hoạt động giao tiếp người ta vẫn chấp nhận việc sử dụng thành ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt Hai đặc tính trên của thành ngữ không hề mâu thuẫn, loại trừ nhau mà có tác dụng bổ sung cho nhau Chính điều này khiến cho kho tàng thành ngữ ngày càng được
mở rộng, phong phú hơn do xuất hiện nhiều biến thể của thành ngữ
Về mặt cấu tạo của thành ngữ
Như đã nói ở trên, thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ phức tạp Do đó, việc chỉ rõ các đặc tính cũng như việc phân loại thành ngữ theo cấu tạo quả là không dễ dàng
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, các tác giả đã dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại
- Cách phân loại thứ nhất: dựa vào số lượng thành tố trong thành ngữ Các tác giả Lương Văn Đang, Nguyễn Lực trong cuốn Từ điển thành ngữ tiếng Việt dựa vào số lượng thành tố trong thành ngữ, chia ra làm 3 loại: + Thành ngữ kết cấu ba tiếng: Ác như hùm, bạn nối khố, bở hơi tai, bé hạt tiêu, bụng bảo dạ …
Trong kiểu này có một số trường hợp tuy hình thức là tổ hợp ba tiếng một, nhưng về mặt kết cấu, đó chỉ là sự kết hợp của một từ đơn và một từ ghép, như: Bé hạt tiêu, có máu mặt, chết nhăn răng…, kiểu có ba từ đơn, kết cấu giống như cụm từ c - v: Bạn nối khố, cá cắn câu…
+ Thành ngữ kết cấu bốn từ đơn hay hai từ ghép liên hợp theo kiểu nối
Trang 33tiếp hay xen kẽ là kiểu phổ biến nhất của thành ngữ tiếng Việt: Bán vợ đợ con, bảng vàng bia đá, phong ba bão táp, ăn to nói lớn, ác giả ác báo, …Trong
đó các tác giả chia ra các kiểu:
* Kiểu thành ngữ có láy ghép: Ăn bớt ăn xén, chết mê chết mệt, chúi đầu chúi mũi…
* Kiểu thành ngữ tổ hợp của hai từ ghép: Nhắm mắt xuôi tay, nhà tranhvách đất, ăn bờ ở bụi, bàn mưu tính kế…
+ Thành ngữ kết cấu năm hay sáu tiếng cũng tương đương như kiểu kết cấu trên: Trẻ không tha già không thương, treo đầu dê bán thịt chó…
Một số thành ngữ có kiểu kết cấu từ bảy, tám, mười tiếng Nó có thể hai hayba ngữ đoạn, hai hay ba mệnh đề liên hợp tạo thành một tổ hợp kiểu ngữ cú dài cố định, như: Vênh váo như bố vợ phải đâm, vén tay áo xô đốt nhà táng giày.v.v…
Như vậy, dựa vào số lượng thành tố trong thành ngữ để phân loại thành ngữ là chỉ dựa vào hình thức, không phản ánh được tính chất quan hệ và đặc điểm bên trong của chúng
- Cách phân loại thứ hai: dựa vào kết cấu ngữ pháp
Tác giả Nguyễn Văn Tu dựa vào kết cấu ngữ pháp chia thành ngữ các loại: + Thành ngữ có cấu tạo là câu đơn giản: Nước đổ lá khoai, chuột sa chĩnh gạo, gà sống nuôi con; bốn bể là nhà, tấc đất tấc vàng… Ở loại câu này, tác giả phân ra làm hai loại:
* Câu đơn giản đủ hai thành phần chủ yếu, có thể thêm thành phần thứ yếu theo mô hình: Chủ ngữ + vị ngữ + trạng ngữ hoặc tân ngữ, ví dụ: Nước
đổ lá khoai, chuột sa chĩnh gạo, gà sống nuôi con…
* Câu đơn giản chỉ có hai thành phần chính theo mô hình: Chủ ngữ + vị ngữ, ví dụ: Bốn bể là nhà, tấc đất tấc vàng, trên dưới một lòng…
+ Thành ngữ có cấu tạo là câu phức tạp: Bút sa gà chết, bụng làm dạ chịu, cha nào con nấy, vườn không nhà trống, điều nặng tiếng nhẹ, …
Nhưng thành ngữ này có công thức C - V, C - V không có liên từ, ta có
Trang 34thể chia làm 2 loại nhỏ, căn cứ vào mối quan hệ đẳng lập hay chính phụ của các mệnhđề trong thành ngữ:
* Về mệnh đề phụ: Bút sa gà chết, bụng làm dạ chịu, ngọc nát hương tàn, mật ít ruồi nhiều, cha nào con nấy…
* Về mệnh đề đẳng lập: C - V, C- V: Tai bay vạ gió, vườn không nhà trống, mẹ tròn con vuông, điều nặng tiếng nhẹ…
Ngoài ra, thành ngữ còn có kiểu cấu tạo là câu phức hợp thiếu thành phần chủ yếu như:
Kiểu: Số + danh + số + danh: Ba đầu sáu tay, ba chân bốn cẳng… Nhìn chung, cách phân loại dựa vào cấu tạo ngữ pháp đã chia thành ngữ thành các kiểu cụ thể Tuy nhiên cách phân loại này sẽ khó có thể khảo sát thành ngữ tiếng Việt triệt để và chính xác về nội dung
- Cách phân loại thứ ba: dựa vào số lượng cụm từ
Dựa vào tiêu chí này, người ta chia thành ngữ tiếng Việt gồm hai loại lớn: thành ngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ đơn và thành ngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ liên hợp Hai loại này, tiếp tục phân ra các tiểu loại nhỏ:
+ Thành ngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ đơn
* Thành ngữ có cấu tạo C - V là cụm từ đơn
Đó là loại thành ngữ tiếng Việt có cấu tạo chỉ gồm một cụm C - V Theo Lê Thị Hải Vân [45], khảo sát 626 thành ngữ tiếng Việt có kết cấu là cụm từ C - V thì có 329 thành ngữ là cụm từ đơn, chiếm 52,6% Ví dụ: Gậy ông đập lưng ông, Trứng khôn hơn vịt, ngựa non háu đá…
* Thành ngữ có cấu tạo C - P là cụm từ đơn
Cụm từ C - P thường được gọi tên theo từ loại của thành tố chính trong cụm từ, đó là cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ, cụm số từ, cụm đại từ Thành ngữ có cấu tạo là cụm từ C- P cũng có đầy đủ các loại cụm từ đã nêu trên; nhưng số lượng nhiều nhất là cụm danh từ, cụm động từ cụm tính từ Trong các loại này đều có cấu tạo là cụm từ đơn
Trang 35a Thành ngữ có cấu tạo là cụm danh từ đơn:
Đây là loại thành ngữ tiếng Việt có quan hệ chính phụ giữa các yếu tố cấu thành, trong đó yếu tố đóng vai trò trung tâm là danh từ, cấu tạo chỉ gồm một cụm C - P Theo Lê Thị Hải Vân, khảo sát 636 thành ngữ tiếng Việt có kết cấu cụm danh từ, thì có 85 thành ngữ có cấu tạo cụm từ đơn: Mắt cú vọ,
sư tử Hà Đông…
b Thành ngữ có cấu tạo là cụm động từ đơn
Đây là loại thành ngữ tiếng Việt có một thành phần trung tâm là động
từ, cũng theo tác giả trên khảo sát 1366 thành ngữ tiếng Việt có cấu tạo là cụm động từ, thì có 364 thành ngữ có cấu tạo là cụm từ đơn: Ăn ở hai lòng, chỉ tay năm ngón…
c Thành những có cấu tạo là cụm tính từ đơn:
Là thành ngữ có cấu tạo cụm từ đơn không xuất hiện thành phần phụ trước, chỉ bao gồm một trung tâm và một thành phần phụ sau, có 326 thành ngữ có cấu tạo là cụm từ đơn trong tổng 547 thành ngữ tiếng Việt có cấu tạo
là cụm tính từ, ví dụ: Tối như bưng, nhanh như cắt, chậm như rùa…
+ Thành ngữ có cấu tạo kiểu cụm từ liên hợp
Đó là loại cấu tạo gồm 2 cụm từ trở lên kết hợp với nhau, gồm các kiểu:
* Thành ngữ có cấu tạo C - V là cụm từ liên hợp (C - V + C - V)
Thành ngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ liên hợp là thành ngữ có hai kết cấu trung tâm, mà kết cấu trung tâm là kết cấu C - V Trong 626 thành ngữ tiếng Việt có kết cấu là cụm C - V, thì có 297 thành ngữ là cụm từ liên hợp, ví dụ: Máu chảy đầu rơi, miệng nói tay làm, chó ăn đá gà ăn sỏi…
* Thành ngữ có cấu tạo C - P là cụm từ liên hợp (C - P + C - P) (trong
đó C-P là chính phụ)
Ở đây, người ta chia ra các tiểu loại theo cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ, cụ thể:
a Thành ngữ có cấu tạo là cụm danh từ liên hợp
Loại thành ngữ này có hai cụm từ chính phụ liên kết lại, hai cụm từ
Trang 36chính phụ đó đều là cụm danh từ Ví dụ: Lều tranh vách đất, công ăn việc làm, chân đồng vai sắt, … có 551 cụm danh từ liên hợp trong tổng 636 thành ngữ có cấu tạo cụm từ danh từ
b Thành ngữ có cấu tạo là cụm động từ liên hợp
Đây là loại thành ngữ tiếng Việt có hai thành phần trung tâm do động
từ đảm nhiệm, có 1002 thành ngữ có cấu tạo là cụm từ liên hợp trong 1366 thành ngữ tiếng Việt có cấu tạo là cụm động từ: Lấp biển vá trời, đem con bỏ chợ, sống vô gia cư chết vô địa táng…
c Thành ngữ có cấu tạo là cụm tính từ liên hợp
Thành ngữ loại này bao gồm hai thành phần trung tâm do tính từ đảm nhiệm, có 219 thành ngữ có cấu tạo là cụm từ liên hợp trên tổng 547 thành ngữ tiếng Việt có cấu tạo cụm tính từ: Bầm gan tím ruột, mát lòng mát dạ, mềm nắn rắn buông, …
Đây là một cách phân loại khá hợp lý, vì thành ngữ vốn là cụm từ cố định,
do đó dựa vào số lượng cụm từ ta có thể chia các kiểu kết cấu của thành ngữ
- Cách phân loại thứ tư: dựa vào phương thức cấu tạo
Theo [16], GS- TS Hoàng Văn Hành đưa ra tiêu chí phân loại thành ngữ dựa vào phương thức cấu tạo Trên cơ sở đó, ông đã phân thành ngữ làm
ba loại:
+ Thành ngữ so sánh
Loại thành ngữ này khá phổ biến trong thành ngữ Tiếng Việt, thành ngữ so sánh là một tổ hợp từ bền vững, bắt nguồn từ phép so sánh mang nét nghĩa biểu trưng
Nếu như cấu trúc của phép so sánh thông thường gồm bốn dạng:
1) At như B: “Đối với bộ đội, chính trị viên phải dịu hiền như một người chị…” (Hồ Chí Minh)
2) A như B: “Thế địch như lửa, thế ta như nước Nước nhất định thắng
lửa” (Hồ Chí Minh)
3) t như B: “Ấp úng như thúng đứt vành Trả lời không được phải đành
Trang 37ngậm câm” (Ca dao)
4) Như B: “Như cá nằm trong chậu, quân địch chết, bị thương và bị bắt hết” (Hồ Chí Minh)
(Trong đó A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, t là thuộc tính) Thì cấu trúc của thành ngữ so sánh chỉ tương ứng với dạng thứ ba và dạng thứ tư của phép so sánh, cụ thể là:
1) t như B: sắc như dao, xấu như ma, dữ như hổ, chậm như rùa…
2) như B: như mèo thấy mỡ, như hổ rình mồi, như ong vỡ tổ…
Trong thành ngữ so sánh, về B- vế so sánh đóng vai trò quan trọng bởi qua đó ta nhận thấy được cách nhìn, cách nghĩ, dấu ấn của đời sống con người của mỗi dân tộc, mỗi địa phương
Vế B có thể được cấu tạo là một từ: chậm như rùa, nhanh như cắt
Vế B có thể được cấu tạo là một tổ hợp từ: trắng như trứng gà bóc, đẹp như tiên nong bồng
Hoặc vế B được kết cấu như một cụm chủ vị: như chuột/ thấy mèo; như mèo/ thấy mỡ
Vế [t]- vế cái được so sánh là vế có tính chất bắt buộc, nhưng không nhất thiết phải ổn định ở mặt hiển ngôn Các thành ngữ: ướt như chột lột, run như cầy sấy …thì [t] xuất hiện ở dạng hiển ngôn và có tính chất ổn định Nhưng có trường hợp [t] hầu như vắng mặt: như cá nằm trên thớt, như tay với chân; như chó với mèo
Cũng có trường hợp trung gian [t] ẩn hay hiện tùy theo ngữ cảnh: (đen) như than; (chậm) như rùa
+ Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng
Đây là loại thành ngữ phổ biến nhất trong tiếng Việt Theo giáo sư Hoàng Văn Hành thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng làm nên diện mạo của thành ngữ tiếng Việt, vì loại thành ngữ này chiếm 2/3 tổng số thành ngữ tiếng Việt Các thành ngữ có cấu trúc đối xứng như: sơn hào hải vị, một nắng hai sương, đầu tắt mặt tối…
Trang 38Các thành ngữ này có tính chất đối xứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ Quan hệ đối xứng đó được thiết lập dựa trên hai bình diện đối ý và đối lời Đối ý là đối ở cấp độ vế, đối lời là đối ở cấp độ yếu tố
Ví dụ: thành ngữ đầu voi đuôi chuột ta thấy “đầu voi” đối xứng với
“đuôi chuột”, đây là đối xứng ở cấp độ vế, nhờ quan hệ đối xứng này mà
chúng ta có thể nhận ra được nghĩa của thành ngữ: “việc làm không cân đối,
đề ra to tát quy mô, thực hiện thu nhỏ dần và quy mô rất ít” Nhưng để có được quan hệ đối ý này là do đối xứng giữa các yếu tố giữa hai vế của thành ngữ- đó là quan hệ đối lời
Trong thành ngữ trên nhờ có quan hệ đối xứng giữa “đầu” và “đuôi”,
“chuột” và “voi” mà ta có thể suy ra được ý nghĩa thành ngữ Cần nhận thấy,
để có được sự đối lời đó thì nội dung ngữ nghĩa các yếu tố đối xứng nhau trong hai vế ở phần lớn các thành ngữ thường phản ánh những đặc trưng thuộc cùng một phạm trù ngữ nghĩa và chúng phải cũng một phạm trù từ loại Hay nói cách khác giữa các yếu tố trong hai vế phải có sự tương đồng về ngữ pháp và ngữ nghĩa
Xét ví dụ: sung chát đào chua ta thấy có hai cặp yếu tố cùng cặp phạm
trù ngữ nghĩa “sung- đào; chát- chua” Chúng cùng chỉ một hiện tượng, một
sự vật, tính chất… Sung, đào chỉ những loại quả đơn giản gần gũi với người
dân lao động Chát, chua chỉ tính chất của sự vật vừa nêu Mặt khác các yếu
tố ở hai về đều thuộc cùng một phạm trù từ loại, cụ thể là sung, đào đối xứng nhau đều là danh từ; còn chát chua đối xứng nhau đều là tính từ
Tương tự có các thành ngữ ẩn dụ đối xứng: mẹ tròn con vuông, cà chua
mắn mặn rừng vàng biển bạc, ăn chắc mặc bền…
+ Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
Bên cạnh những thành ngữ có cấu trúc đối xứng và thành ngữ so sánh thì có một bộ phận thành ngữ không thuộc hai kiểu cấu tạo trên GS Hoàng
Văn Hành gọi đó là thành ngữ thường “hay tốt hơn là thành ngữ ẩn dụ hóa
phi đối xứng” [16; tr.47]
Trang 39Loại thành ngữ này thường chiếm tỉ lệ không nhiều Về mặt cấu tạo chúng không có tính chất đối xứng bởi chúng được tạo ra như những cấu trúc ngữ pháp bình thường Cụ thể là được cấu tạo theo hai kiểu kết cấu ngữ pháp: kết cấu có một trung tâm và kết cấu có hai trung tâm Ta có thể hiểu một cách đơn giản như sau:
* Kết cấu ngữ pháp có một trung tâm gồm ba kiểu:
Kết cấu danh ngữ: anh hùng rơm, hai bàn tay trắng, công tử bột, bạn
nối khố, công dã tràng, mắt cú vọ, nước mắt cá sấu, cá mè một lứa…
Kết cấu động ngữ: ăn vụng khéo chùi mép, chạy long tóc gáy, bán trời
không văn tự, bắt cá hai tay, bật đèn xanh…
Kết cấu tính ngữ: bở hơi tai, cứng đầu cứng họng, bé chẳng vin cả gẫy
cành, xấu chàng hổ ai…
* Kết cấu ngữ pháp có hai trung tâm là kết cấu chủ vị (C-V): cá nằm trên thớt, chuột sa chĩnh gạo, mèo mù vớ được cá rán, gà trống nuôi con, gái
đĩ già mồm, cha chung không ai khóc, chó cắn áo rách…
Theo chúng tôi, trong bốn cách phân chia cấu trúc của thành ngữ tiếng Việt trên, cách chia của GS Hoàng Văn Hành- dựa vào phương thức cấu tạo- có thể xem là cách chia hợp lý nhất, mang tính khoa học nhất Chúng tôi lấy đó làm nền tảng, làm cơ sở để khảo sát thống kê, phân tích hoạt động hành chức của thành ngữ trong các văn bản đọc hiểu sách giáo khoa Ngữ văn THCS
1.2.2.2 Đặc điểm ngữ pháp
Thành ngữ có thể làm chủ ngữ, vị ngữ trong câu hay làm phụ ngữ trong các cụm danh từ, cụm động từ…
Thành ngữ làm chủ ngữ trong câu
Ví dụ: “Mưa to gió lớn làm tan hoang cả khu vườn”
Thành ngữ đóng vai trò làm vị ngữ trong câu:
Ví dụ: Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
(Bánh trôi nước, Ngữ văn 7, tập 1, tr 94)
Trang 40Thành ngữ bảy nổi ba chìm làm vị ngữ trong câu,
Thành ngữ đóng vai trò làm phụ ngữ cho các cụm danh từ:
Ví dụ: “Anh đã nghĩ thương em như thế thì hay là anh đào giúp cho em
một cái nghách sang nhà anh, phòng khi tắt lửa tối đèn có đứa nào đến bắt nạt thì em chạy sang ”
(Bài học đường đời đầu tiên, Ngữ văn 6, tập 2, tr 5) Thành ngữ tối lửa tắt đèn là phụ ngữ của danh từ khi
1.2.2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa
Mặt khác, khi nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt hay bất kì một thành ngữ của dân tộc nào đều phải xem xét về mặt ngữ nghĩa bởi thành ngữ là một đơn vị từ vựng- ngữ nghĩa
Theo Lương Văn Đang- Nguyễn Lực: “Một bộ phận thành ngữ tiếng
Việt cũng có tính đa nghĩa nhưng trong đó nghĩa bóng có tầm quan trọng hơn cả…Nghĩa này có tính khái quát đặc trưng cho toàn bộ tổ hợp” [29, tr.8]
Điều này nói lên nghĩa của thành ngữ là sự hòa hợp, chung đúc nghĩa của từng yếu tố
Nhưng đó không phải là phép cộng đơn nghĩa của từng yếu tố, mà là dựa trên cơ sở nghĩa của từng yếu tố để liên tưởng tới nghĩa của cả thành ngữ dựa trên cơ sở những hình ảnh, những sự vật, hiện tượng bên ngoài cuộc sống
để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động… phổ quát
Ví dụ: thành ngữ chó cắn áo rách không hề nói đến con chó nào hay
chiếc áo nào mà nó mang ý nghĩa là đã lâm vào tình trạng nghèo khổ lại càng gặp tính cảnh khốn khó hơn, gần như lâm vào đường cùng
Hay thành ngữ múa rìu qua mắt thợ không phải đơn thuần chỉ một cái
rìu hay một người thợ nào mà ý nghĩa trổ tài, khoe tài trước những người tài giỏi, thông minh hơn mình
Do vậy, “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý
nghĩa.” [6, tr.153], tức là cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ thường được diễn
đạt thành một cụm từ tự do, trong đó một từ trung tâm hoặc (một cụm từ