DANH MỤC HÌNH Số hiệu 2.1 Không khí diễn ngôn thông qua mối quan hệ giữa các 2.2 Những nét tính cách, phẩm chất nổi bật của cô Hiền – nhân vật chính trong diễn ngôn Một người Hà Nội
Trang 1DƯƠNG THỊ HỒNG
TIẾP CẬN TÁC PHẨM “MỘT NGƯỜI HÀ NỘI”
CỦA NGUYỄN KHẢI
TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
HẢI PHÒNG - 2018
Trang 2DƯƠNG THỊ HỒNG
TIẾP CẬN TÁC PHẨM “MỘT NGƯỜI HÀ NỘI”
CỦA NGUYỄN KHẢI
TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Kim Phượng
HẢI PHÒNG - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hải Phòng, ngày 30 tháng 9 năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Dương Thị Hồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Trần Kim Phượng – người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong Hội đồng khoa học bảo vệ luận văn đã góp ý, bổ sung cho luận văn được hoàn thiện
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Quản lý sau đại học và các giảng viên trường Đại học Hải Phòng vì những tâm huyết, kiến thức quý báu mà các thầy cô đã dành cho học viên cả khóa học
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn các thành viên trong gia đình, bạn bè, các đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và công tác
Hải Phòng, ngày 30 tháng 9 năm 2018
Học viên
Dương Thị Hồng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1 Những vấn đề chung về phân tích diễn ngôn 8
1.1.1 Khái quát về phân tích diễn ngôn 8
1.1.2 Ngữ vực 11
1.1.3 Mạch lạc 14
1.2 Vài nét về tác giả Nguyễn Khải và tác phẩm Một người Hà Nội 22
1.2.1 Về tác giả Nguyễn Khải 22
1.2.2 Về truyện ngắn Một người Hà Nội 23
Tiểu kết chương 1 23
CHƯƠNG 2 TIẾP CẬN TÁC PHẨM “MỘT NGƯỜI HÀ NỘI” TỪ GÓC ĐỘ NGỮ VỰC 24
2.1 Trường diễn ngôn trong tác phẩm Một người Hà Nội 24
2.1.1 Các phân cảnh (lớp) trong tác phẩm Một người Hà Nội 24
2.1.2 Các trường cụ thể trong tác phẩm Một người Hà Nội 25
2.2 Phương thức diễn ngôn Một người Hà Nội 33
2.2.1 Phương thức diễn ngôn của lớp 1 34
2.2.2 Phương thức diễn ngôn của lớp 2 35
2.2.3 Phương thức diễn ngôn của lớp 3 36
2.2.4 Phương thức diễn ngôn của lớp 4 37
2.2.5 Phương thức diễn ngôn của lớp 5 39
2.2.6 Phương thức diễn ngôn của lớp 6 41
2.2.7 Phương thức diễn ngôn của lớp 7 44
Trang 62.3 Không khí chung trong diễn ngôn Một người Hà Nội 47
2.3.1 Không khí của diễn ngôn qua mối quan hệ giữa cô Hiền với nhân vật “tôi” 47
2.3.2 Không khí diễn ngôn qua mối quan hệ giữa cô Hiền với chồng và con trai 48
2.3.3 Không khí diễn ngôn qua mối quan hệ giữa Dũng với các vị khách 49
2.3.4 Không khí diễn ngôn qua mối quan hệ giữa nhân vật “tôi” với lớp trẻ của Hà Nội 50
Tiểu kết chương 2 52
CHƯƠNG 3 TIẾP CẬN DIỄN NGÔN “MỘT NGƯỜI HÀ NỘI” TỪ GÓC ĐỘ MẠCH LẠC 55
3.1 Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa đề tài và chủ đề 55
3.1.1 Khái niệm đề tài và chủ đề 55
3.1.2 Mạch lạc thể hiện trong tính thống nhất đề tài và chủ đề 57
3.1.3 Mạch lạc biểu hiện trong việc duy trì đề tài 60
3.2 Mạch lạc biểu hiện theo quan hệ thời gian 61
3.2.1 Biểu hiện thời gian trong ngôn ngữ 61
3.2.2 Mạch lạc theo quan hệ thời gian trong ngôn ngữ 62
3.2.3 Mạch lạc theo quan hệ thời gian trong Một người Hà Nội 63
3.3 Mạch lạc biểu hiện theo quan hệ không gian 71
3.3.1 Không gian trong văn học 71
3.3.2 Mạch lạc theo quan hệ không gian trong ngôn ngữ 73
3.3.3 Mạch lạc biểu hiện theo quan hệ không gian trong diễn ngôn Một người Hà Nội 73
3.4 Mạch lạc thể hiện trong sự tương hợp giữa các hành động ngôn ngữ 76
3.4.1 Khái quát về hành động ngôn ngữ 76
3.4.2 Sự tương hợp giữa các hành động ngôn ngữ trong diễn ngôn Một người Hà Nội 77
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Số hiệu
2.1 Không khí diễn ngôn thông qua mối quan hệ giữa các
2.2 Những nét tính cách, phẩm chất nổi bật của cô Hiền –
nhân vật chính trong diễn ngôn Một người Hà Nội 54
3.1 Tính thống nhất giữa đề tài và chủ đề trong diễn ngôn
Trang 9sở của logic và ngôn ngữ Vì vậy, việc ứng dụng lý thuyết PTDN vào việc tiếp cận, giải mã các văn bản nghệ thuật ngày càng thu hút các nhà nghiên cứu cũng như những người dạy văn – học văn ở nước ta hiện nay
1.2 Văn xuôi sau 1975 đã đi được một chặng đường khá dài, song việc dạy học những tác phẩm giai đoạn này trong nhà trường THPT vẫn luôn là
một thách thức không nhỏ Truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
sáng tác năm 1990, là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho văn học thời
kỳ đổi mới, được đưa vào SGK Ngữ văn lớp 12 Trong chuỗi truyện ngắn sau
1975 trong chương trình Ngữ văn THPT, Một người Hà Nội là tác phẩm hay
nhưng khó tiếp cận, khó phân tích Và cũng từ khó khăn này mà tác phẩm đã trở thành đề tài hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Qua khảo sát, đến thời điểm này, chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu, giải mã tác phẩm từ góc độ ngôn ngữ, đặc biệt tiếp cận tác phẩm
từ góc độ phân tích diễn ngôn
Với hai lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn: Tiếp cận tác phẩm Một người Hà Nội của Nguyễn Khải từ góc độ phân tích diễn ngôn là đề tài
nghiên cứu của luận văn
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu lí thuyết phân tích diễn ngôn
2.1.1 Hướng nghiên cứu Phân tích diễn ngôn từ góc độ lý thuyết
Phân tích diễn ngôn là phân môn mới của ngôn ngữ học, được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới chú ý từ những năm 60 của thế kỷ XX Trải qua hơn nửa thế kỷ, lý thuyết về phân tích diễn ngôn đã hình thành và phát
Trang 10triển nhanh, tạo ra bước đột phá mới trong việc tìm hiểu, giải mã các tín hiệu ngôn ngữ Ở Việt Nam, phân tích diễn ngôn trở thành mối quan tâm đối với các nhà Việt ngữ học từ những năm 80 của thế kỷ trước Là “giai đoạn 2” của ngữ pháp văn bản, phân tích diễn ngôn chính là sự kế thừa thành quả của giai đoạn 1 Nhiệm vụ của phân tích diễn ngôn không dừng lại ở việc nghiên cứu mối quan hệ n ội tại, trong lòng văn bản (như ngữ pháp văn bản ), mà nó nghiêng hẳn về phía phân tích mối quan hệ giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản với những yếu tố bên ngoài văn bản (mối quan hê ̣ ngoại tại)
Thuật ngữ phân tích diễn ngôn (Discourse) bắt đầu được biết đến bởi Z.Harris 1952 với bài báo có tên gọi “Discourse Analysic” (phân tích diễn ngôn) Nhưng người có những đóng góp về phân tích diễn ngôn được biết đến nhiều hơn là Mitchell 1957 Sau đó, lí thuyết này được phổ biến rộng rãi nhờ công của Van Dijk 1972, G.Brown và G.Yule năm 1983, D.Nunan năm 1985
Ở Việt Nam, phân tích diễn ngôn là lĩnh vực nghiên cứu mới có sức hấp dẫn đối với những nhà ngôn ngữ hàng đầu Việt Nam như Trần Ngọc Thêm (1985), Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hạo (1991), Diệp Quang Ban (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2007), Nguyễn Hòa (2008), Trong đó, hai nhà ngôn ngữ Trần Ngọc Thêm và Diệp Quang Ban là những người nghiên cứu vấn đề này sâu nhất Trần Ngọc Thêm thiên về tìm hiểu ngữ pháp văn bản với
công trình: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt (1985) Ông quan tâm đến các
vấn đề như khái niệm liên kết, các phương thức liên kết giữa các câu trong văn bản Diệp Quang Ban là người đặt nền móng cho nghiên cứu phân tích
diễn ngôn ở Việt Nam qua các công trình Giao tiếp – Văn bản – Mạch lạc –
Liên kết – Đoạn văn (2002) và Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản
(2009) Với hai công trình này, Diệp Quang Ban đã chú trọng vào nhiều vấn
đề khá mới mẻ như: khái niệm diễn ngôn và phân tích diễn ngôn, ngữ vực, mạch lạc, liên kết,…Đặc biệt, dựa trên quan điểm c ủa M.A.K Halliday, trong
hệ thống lí thuyết về ngữ vực, Diệp Quang Ban đã hư ớng đến mối quan hệ giữa văn bản với các yếu tố ngoài văn bản
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hòa cũng có hai công trình góp phần xây
dựng bộ môn khoa học này: Phân tích diễn ngôn, một số vấn đề lí luận và
Trang 11phương pháp (2003), Phân tích diễn ngôn phê phán: Lí luận và phương pháp
(2006)…Với những công trình này, Nguyễn Hòa đã khẳng định vị trí của phân tích diễn ngôn trong nghiên cứu ngôn ngữ Ông đã đề cập đến các vấn
đề như ngữ vực, tính quan yếu của diễn ngôn và chú trọng đến các đường hướng của phân tích diễn ngôn
Ngoài những công trình nghiên cứu chuyên sâu trên, còn có các tác giả
khác như Đinh Văn Đức với Ngôn ngữ học đại cương – những nội dung quan
yếu (2012), Nguyễn Chí Hòa với công trình Các phương liên kết và tổ chức văn bản (2006),…Đinh Văn Đức đề cập đến những vấn đề về văn bản, diễn
ngôn, phân tích diễn ngôn và lập luận ở chương 11 trong cuốn sách nói trên Nguyễn Chí Hòa nghiên cứu về mặt liên kết trong văn bản Những công trình này đã giúp độc giả có cái nhìn bao quát về những vấn đề cốt lõi của phân tích diễn ngôn
2.1.2 Hướng nghiên cứu phân tích diễn ngôn từ góc độ ứng dụng
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về lý thuyết PTDN kể trên, trong những năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện nhiều chuyên luận, bài báo khoa học, luận án TS luận văn thạc sĩ nghiên cứu về diễn ngôn và PTDN
mang tính ứng dụng như: Bước đầu nhận diện về diễn ngôn văn học, diễn
ngôn thơ của Trần Thiện Giáp (2012), Tản mạn về diễn ngôn thơ của Trần
Thị Phương Hoa (2012), Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn của Nguyễn Thị Ngọc Minh (2012) và Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học
hôm nay của Trần Đình Sử (2013),…Những công trình này đã nêu lên những
cách thức tiếp cận bộ môn PTDN Năm 2013, với bài báo Phân tích diễn
ngôn, ứng dụng vào phân tích một truyện cười, Trần Kim Phượng đã cụ thể
hóa, vận dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn vào việc tiếp cận một tác phẩm văn học Với hướng tiếp cận này, tác giả Trần Kim Phượng, đã gợi mở, tạo
hứng thú nghiên cứu cho nhiều luận văn thạc sĩ như: Tiếp cận tác phẩm “Lão
Hạc”của Nam Cao từ góc độ phân tích diễn ngôn (2014) của Hà Bích Thủy; Tiếp cận tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu từ góc
độ phân tích diễn ngôn (2014) của Quách Thị Thanh Nhàn; Tiếp cận tác phẩm “Vợ nhặt” từ lý thuyết phân tích diễn ngôn (2015) của Nguyễn Thị Vân
Trang 12Anh; Tiếp cận tác phẩm “Rừng Xà Nu” của Nguyễn Trung Thành từ góc độ
phân tích diễn ngôn (2016) của Nguyễn Thị Thảo; Tác phẩm “Người ngựa và ngựa người” của Nguyễn Công Hoan từ quan điểm của phân tích diễn ngôn
(2016) của Lương Thị Nghĩa,
Từ việc thống kê, khảo cứu các công trình kể trên, chúng tôi nhận thấy rằng: về mặt lý thuyết đã có nhiều quan điểm, cách nhìn nhận về phân tích diễn ngôn khác nhau Phân tích diễn ngôn có thể được nhìn nhận từ góc độ lí luận văn học, phê bình văn học, xã hội học hay ngôn ngữ học,…Về mặt thực tiễn, đã xuất hiện hàng loạt các bài viết, công trình ứng dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn vào việc nghiên cứu một tác phẩm văn học cụ thể Hướng tiếp cận này đang là một hướng đi mới, hấp dẫn và là công cụ hữu hiệu để chúng tôi khai thác, giải mã tư tưởng nghệ thuật của các tác phẩm văn chương
2.2 Lịch sử nghiên cứu tác giả Nguyễn Khải và tác phẩm Một người Hà Nội
Nguyễn Khải được giới nghiên cứu phê bình đánh giá là một cây bút thông minh, sắc sảo trong khám phá và nắm bắt hiện thực Sự mẫn cảm với cái hàng ngày, với những gì đang diễn ra, với những vấn đề hôm nay đã khiến
những trang viết sắc sảo đầy chất văn xuôi của ông không những luôn luôn có
độc giả mà còn khơi gợi hứng thú tranh luận và là đề tài yêu thích của giới nghiên cứu phê bình văn học Tìm hiểu về Nguyễn Khải, người đọc có thể tìm thấy một số lượng khá phong phú những bài viết nghiên cứu về Nguyễn Khải, được công bố dưới nhiều dạng thức khác nhau và đề cập đến nhiều phương diện khác nhau
Nghiên cứu một cách khái quát và toàn diện về tác giả, tác phẩm
Nguyễn Khải có bài viết của Phan Cự Đệ trong cuốn Nhà văn Việt Nam
1975 (tập II), của Đoàn Trọng Huy trong Giáo trình văn học Việt Nam
1945-1975 (phần tác giả) Ngoài ra còn kể đến Lời giới thiệu của Vương Trí Nhàn
trong tuyển tập Nguyễn Khải (3 tập) và bài Nguyễn Khải: một đời gắn bó với
thời đại của dân tộc của Bích Thu…
Ngoài những công trình nghiên cứu lớn trên còn có rất nhiều bài viết về từng tác phẩm cụ thể hoặc đi vào các phương diện sáng tác của Nguyễn Khải Các bài viết có giá trị đăng trên các báo, tạp san, tạp chí,…đã được tập hợp lại
Trang 13trong công trình Nguyễn Khải – Về tác gia và tác phẩm (do Hà Công Tài và
Phan Diễm Phương tuyển chọn và giới thiệu)
Về truyện ngắn Một người Hà Nội, đã có một số bài viết như: Một
người Hà Nội – Truyện ngắn thế sự của Trần Đình Sử, Nguyễn Khải và sự đổi mới quan niệm về con người trong tác phẩm Một người Hà Nộicủa Nguyễn
Văn Long, Truyện ngắn Một người Hà Nội của Ngô Thị Hy, Truyện ngắn
Một người Hà Nội và phong cách Nguyễn Khải của Ngọc Huy, Đôi điều cảm nhận về tác phẩm Một người Hà Nội của Cao Hải Thanh và Một người Hà Nội – truyện ngắn có xu hướng triết luận của Đặng Lưu
Ngoài các bài viết trên các báo, tạp san, tạp chí, Một người HàNội cũng
là một tác phẩm hấp dẫn, là một sự lựa chọn thích hợp đối các luận văn thạc
sĩ: Một số biện pháp rút ngắn khoảng cách lịch sử, văn hóa ở học sinh dân
tộc miền núi khi dạy học truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải của
Nguyễn Ngọc Thủy (2009), Tính triết luận trong văn xuôi Nguyễn Khải thời
kỳ đổi mới của Lê Nguyễn Hạnh Thảo (2010), Dạy đọc hiểu truyện ngắn Một người Hà Nội theo hướng kết hợp cảm hứng ngợi ca và cảm hứng phê phán
của Trần Thị Thùy Linh (2010)…
Trên cơ sở khảo sát các công trình nghiên cứu về Nguyễn Khải và
truyện ngắn Một người Hà Nội, chúng tôi nhận thấy hầu hết các tác giả, các
nhà nghiên cứu mới chỉ quan tâm đến các góc độ phong cách tác giả hay lí luận phê bình văn học… mà chưa có chuyên luận hay bài viết nào đề cập đến việc giải mã các tác phẩm của Nguyễn Khải từ góc độ phân tích diễn ngôn Chúng tôi hi vọng đề tài này sẽ có những đóng góp hữu ích cho xu hướng nghiên cứu văn học gắn liền với ngôn ngữ hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tiếp cận tác phẩm Một người Hà Nội từ lí thuyết phân tích diễn ngôn,
luận văn hướng đến việc giúp người đọc hiểu hơn về tính liên kết và mạch lạc giữa các phát ngôn trong văn bản, làm rõ các giá trị về mặt nội dung, nghệ thuật cũng như tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm Từ đó, luận văn góp phần củng cố lý thuyết PTDN theo hướng ứng dụng lý thuyết này vào
Trang 14nghiên cứu một diễn ngôn cụ thể
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
(1)Tiếp cận tác phẩm Một người Hà Nội từ góc độ ngữ vực (trường,
phương thức, không khí diễn ngôn) để thấy rõ các phân cảnh, các nhân vật, mối quan hệ giữa các nhân vật, các lớp đối thoại mà các nhân vật tham gia
(2) Phân tích tác phẩm Một người Hà Nội từ góc độ mạch lạc để thấy
mối quan hệ về mặt nội dung giữa các phát ngôn, các đoạn, các phần trong văn bản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tác phẩm Một người Hà Nội qua
hai phương diện quan trọng của phân tích diễn ngôn: ngữ vực và mạch lạc
Chúng tôi sử dụng văn bản Một người Hà Nội in trong Tuyển tập
truyện ngắn Nguyễn Khải (1991) của NXB Văn học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tác phẩm Một người Hà Nội từ hai góc độ cơ bản
là ngữ vực (trường, phương thức, không khí diễn ngôn) và mạch lạc
Phân tích diễn ngôn đề cập tới nhiều lĩnh vực: tính quan yếu, ngữ cảnh, ngữ vực, liên kết, mạch lạc, lập luận,…Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chọn hai lĩnh vực để khảo cứu, đó là ngữ vực và mạch lạc Tiếp cận diễn ngôn từ góc độ ngữ vực sẽ làm nổi bật mối quan hệ giữa diễn ngôn với tác giả và hoàn cảnh nảy sinh tác phẩm – đây là những quan hê ̣ ngo ại tại của diễn ngôn Còn tiếp cận diễn ngôn từ góc độ mạch lạc
sẽ cho ta thấy logic ở chiều sâu của diễn ngôn – tức là làm rõ mối quan hệ trong lòng diễn ngôn – quan hệ nội tại
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp phân tích diễn ngôn: là phương pháp chủ đạo, được sử
Trang 15dụng trong toàn bộ quá trình tiếp cận tác phẩm, là định hướng quan trọng tạo nên bố cục của luận văn
+ Phương pháp miêu tả: được sử dụng trong chương 2 và chương 3 của
luận văn để tìm ra các giá trị của diễn ngôn
+ Thủ pháp thống kê, phân loại: được sử dụng để xem xét tác phẩm từ
góc độ ngữ vực của chương 2 cũng như khai thác các yếu tố mạch lạc ở chương 3
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận: Trình bày những vấn đề lí thuyết cơ bản về
phân tích diễn ngôn, các khái niệm ngữ vực và mạch lạc
Chương 2: Tiếp cận tác phẩn Một người Hà Nội từ góc độ ngữ vực Chương 3: Tiếp cận tác phẩm Một người Hà Nội từ góc độ mạch lạc
Phần phụ lục được đính kèm ở cuối luận văn sẽ ghi lại toàn bộ văn bản
Một người Hà Nội, có đánh số thứ tự từ câu 1 đến câu 280
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Những vấn đề chung về phân tích diễn ngôn
Phân tích diễn ngôn là một bộ phận quan trọng trong ngôn ngữ học ứng dụng, là giai đoạn thứ 2 của ngữ pháp văn bản Nó được hình thành từ giữa thế kỷ XX, đến nay đã có sự phát triển vô cùng sâu rộng Có nhiều công trình
đã nghiên cứu về bộ môn này, nhằm thống nhất và đưa ra hệ thống lý luận chặt chẽ, hoàn thiện cơ sở lý thuyết cho nó
1.1.1 Khái quát về phân tích diễn ngôn
1.1.1.1 Vị trí của bộ môn phân tích diễn ngôn
Sự ra đời và phát triển của bộ môn PTDN không phải là con đường bằng phẳng, mà nó là con đường của sự tìm tòi, nghiên cứu, trải nghiệm thực
tế trong sử dụng ngôn ngữ Mặc dù đã tìm đúng hướng nhưng các nhà nghiên cứu vẫn luôn trăn trở, đấu tranh để khẳng định giá trị của PTDN trong lòng ngôn ngữ học
PTDN kế thừa thành quả của ngữ pháp văn bản ở việc nghiên cứu những đơn vị ngôn ngữ ở bậc lớn hơn câu Ngoài việc quan tâm đến vấn đề liên kết, nó đặc biệt chú ý đến những khía cạnh mới hơn như mạch lạc, ngữ vực, tính quan yếu Có thể nói, trên cơ sở của ngữ pháp văn bản, PTDN dần dần chiếm một vị trí quan trọng trong ngành ngôn ngữ học
Đến nay, PTDN đã trở thành một bộ phận mới của ngôn ngữ, có một vị trí độc lập Và mỗi nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục xây dựng, củng cố lí thuyết để
bộ môn này ngày càng trở nên hoàn thiện hơn
a.Thuật ngữ “văn bản” và “diễn ngôn”
Các nhà nghiên cứu coi văn bản là sản phẩm ghi lại quá trình giao tiếp,
phạm vi tồn tại có thể một câu hay nhiều câu Theo Diệp Quang Ban,“Văn
bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài…như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường…”[11, tr.193]
Còn diễn ngôn là thuật ngữ được các nhà ngôn ngữ nhìn nhận theo
Trang 17nhiều quan điểm khác nhau Sự phức tạp trong cách hiểu về diễn ngôn bắt nguồn từ việc thuật ngữ này tồn tại song song với thuật ngữ văn bản Các nhà ngôn ngữ đã cố gắng phân tách hai khái niệm này, để diễn ngôn thật sự là một thuật ngữ có nội hàm riêng
Crystal cho rằng: Diễn ngôn là chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là
ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, lời tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể
(Dẫn theo Diệp Quan Ban [11, tr.200])
Nguyễn Hòa quan niệm: diễn ngôn như là sự kiện hay quá trình giao
tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể [30, tr.33]
Điểm chung của các định nghĩa này: diễn ngôn là thuật ngữ chỉ sự kiện giao tiếp có mục đích, thống nhất và có mạch lạc, đƣợc ghi lại bằng văn bản
Phân biệt hai thuật ngữ “văn bản” và “diễn ngôn” là cơ sở quan trọng với việc xác định đối tƣợng của PTDN Do chúng cùng là những đơn vị ngôn ngữ bậc trên câu nên rất khó vạch ra ranh giới, đôi khi chúng có thể đƣợc sử dụng thay thế lẫn nhau hoặc bao hàm nhau Khi phân tách hai thuật ngữ này, cần chú ý đến nguồn gốc xuất hiện của nó Có những quan niệm rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau gay gắt
*Quan niệm thuật ngữ văn bản và diễn ngôn có thể thay thế cho nhau Quan niệm này cho rằng hai thuật ngữ đồng nghĩa với nhau, nó đƣợc đề cập đến trong giai đoạn đầu của quá trình nghiên cứu PTDN Văn bản và diễn ngôn đƣợc dùng để chỉ chung sản phẩm ngôn ngữ viết và nói có mạch lạc và liên kết
*Quan niệm diễn ngôn bao hàm văn bản
Thực tế nghiên cứu PTDN có sự đan xen các yếu tố, các dạng thức tồn tại của hai đối tƣợng, dẫn đến việc dùng tên gọi diễn ngôn để chỉ chung cho các sản phẩm ngôn ngữ nói, lẫn sản phẩm ngôn ngữ viết Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu, tiêu biểu là Nguyễn Hòa, đã cho thấy cái nhìn khái quát trong
việc sử dụng hai thuật ngữ này: ngoại diên của diễn ngôn rộng hơn so với văn
bản, bởi lẽ với tư cách là một quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp, nó còn
Trang 18bao hàm cả yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh tình huống, yếu tố dụng học
và tác động của chiến lược văn hóa ở người sử dụng [30, tr.32], nên ta có thể
hiểu diễn ngôn là khái niệm rộng hơn và nó bao hàm văn bản
*Quan niệm đối lập giữa văn bản và diễn ngôn
Chúng được phân biệt với nhau bằng cách quy về dạng tồn tại của chúng, quan niệm này xuất hiện ở giai đoạn thứ hai của quá trình nghiên cứu Người ta dùng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ ở dạng viết và diễn ngôn để chỉ sản phẩm ngôn ngữ ở dạng nói
Có thể thấy sự khác biệt giữa văn bản và diễn ngôn thông qua bảng so
sánh sau trong bài báo “Phân tích diễn ngôn - Ứng dụng vào phân tích một
truyện cười” (5/2013) của tác giả Trần Kim Phượng
Định nghĩa
Là một chỉnh thể ngôn ngữ bao gồm một tập hợp các câu, có tính chất nhất quán về chủ đề, trọn vẹn về nội dung được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ (Theo Bùi Minh Toán)
Là một khúc đoạn ngôn ngữ nói hoặc viết lớn hơn câu, do một phát ngôn mạch lạc tạo thành
Tính chất Tính tĩnh (không có mối quan
hệ với bên ngoài)
Tính động (là chuỗi ngôn ngữ được nhận diện trọn vẹn nghĩa gắn với ngữ cảnh)
Là sản phẩm ( ổn định )
Tính mạch lạc (tổ chức nghĩa)
Là quá trình
b Thuật ngữ “phân tích diễn ngôn” và “phân tích văn bản”
Sự phân biệt hai thuật ngữ diễn ngôn và văn bản cũng dẫn tới việc phân
Trang 19biệt hai ngành khoa học PTDN và ngữ pháp văn bản
David Crystal cho rằng: “PTDN tập trung vào cấu trúc của ngôn ngữ
nói, xuất hiện một cách tự nhiên trong các diễn ngôn như lời đàm thoại, phỏng vấn, bình luận và lời nói Phân tích văn bản tập trung vào các cấu trúc của ngôn ngữ viết, trong các văn bản như tiểu luận, thông báo, biển chỉ đường và các chương sách” (Dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc Minh [38]) Nhận
định này cho thấy đối tượng nghiên cứu của hai bộ môn hoàn toàn khác nhau Quá trình chuyển từ ngữ pháp văn bản sang PTDN là chuyển từ việc nghiên cứu chủ yếu ở mặt hình thức của bậc trên câu sang lĩnh vực nghiên cứu ở mặt nghĩa của diễn ngôn, với phương pháp là dựa hẳn vào ngữ cảnh tình huống
Nếu ngữ pháp văn bản chuyên nghiên cứu văn bản một cách biệt lập, tách khỏi ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ thì PTDN quan tâm đến mối quan hệ ngoài văn bản như: ngữ cảnh văn hóa – xã hội, hoàn cảnh lịch sử,…Các nhà nghiên cứu khai thác năng lực của PTDN trên nhiều bình diện Đặc biệt, họ chú ý đến mặt hành chức của ngôn ngữ Vì vậy, trong nghiên cứu ngôn ngữ, PTDN được ưa chuộng hơn vì khả năng lí giải vấn đề toàn diện
1.1.2 Ngữ vực
Ngữ vực là “dấu vết” ngôn ngữ có khả năng mang nghĩa hoặc mang
một giá trị nào đó có thể nhận biết được (suy diễn được), gọi chung là các dấu
nghĩa tiềm ẩn
Sự liên hội giữa các đặc điểm ngôn ngữ trong một diễn ngôn với các đặc điểm thuộc tình huống sẽ tạo nên ngôn vực hay ngữ vực của kiểu diễn
ngôn đó M.A.K Halliday gọi đây là bình diện vĩ mô của diễn ngôn Ngữ vực
bao gồm: trường, phương thức và không khí của diễn ngôn
1.1.2.1.Trường diễn ngôn (Field of Discourse)
Trường diễn ngôn là hoàn cảnh bao quanh diễn ngôn, là sự kiện trong
đó văn bản hành chức, cùng với tính chủ động và có mục đích của người nói, người viết, bởi vậy nó bao gồm một đề tài – chủ đề (subject – matter) với tư
cách một yếu tố trong đó Nói vắn tắt: “Trường là tính chủ động xã hội được
thực hiện” [11, tr.159]
Như vậy, trường là nơi gây ra kích thích (hoặc cảm hứng) để cùng chủ
Trang 20động tạo văn bản và là nơi cung cấp đề tài – chủ đề cho văn bản
1.1.2.2.Phương thức diễn ngôn (Mode of Discourse)
Phương thức diễn ngôn là chức năng của văn bản trong sự kiện hữu
quan, gồm nói và viết, ứng khẩu và có chuẩn bị, các thể loại của diễn ngôn / văn bản, các phép tu từ hoặc các hành động ngôn ngữ như kể, hỏi, thuyết phục, khuyên nhủ, đe dọa, đưa đẩy,… Nói vắn tắt, thức là vai trò của ngôn ngữ trong tình huống (Diệp Quang Ban [11, tr.159] Như vậy, thức có thể
được hiểu là các cách tạo ngôn ngữ thích hợp với sự kiện cần diễn đạt, chịu sự chi phối của các điều kiện tạo văn bản
1.1.2.3.Không khí diễn ngôn (Tenor of Discourse)
Không khí chung phản ánh các kiểu trao đổi theo vai, gồm các quan hệ
xã hội thích ứng với các vai, quan hệ lâu dài hay nhất thời, giữa những người tham dự cuộc tương tác Nói vắn tắt, không khí chung là các vai xã hội được trình diễn (Diệp Quang Ban [11, tr.159]
Không khí diễn ngôn phản ánh mối quan hệ giữa những người tham gia
giao tiếp với những trạng thái tâm sinh lí của họ (thoải mái, không thoải mái,
tự nguyện hay ép buộc…); với các kiểu quan hệ giữa họ (ngang vai hay không ngang vai)
Tóm lại, ngữ vực là đặc điểm của tình huống liên quan đến văn bản
Có thể tìm hiểu các yếu tố ngữ vực qua ví dụ sau:
- Nhân viên bán hàng: Xin chào, cô cần giúp gì không?
- Khách hàng: Tôi muốn xem vài chiếc khăn quàng cổ
- Nhân viên bán hàng: Tất cả khăn quàng của chúng tôi đều ở gian
hàng này Cô thấy chiếc khăn này thế nào? Nó được làm bằng lụa đấy
- Khách hàng: Trông nó đẹp đấy, nhưng tôi cần cái gì đó ấm hơn cho
mùa đông
- Nhân viên bán hàng: Có lẽ cô thích một chiếc khăn len dày Cô thấy
cái này thế nào?
-Khách hàng: Cái này có vẻ được đấy Nó có giá bao nhiêu vậy?
- Nhân viên bán hàng: 180 nghìn
-Khách hàng: Chà, có vẻ hơi đắt nhỉ Cô có thể giảm giá một chút
Trang 21trong hoạt động mua bán: Nó có giá bao nhiêu vậy?; 180 nghìn; Chà, có vẻ
hơi đắt nhỉ Cô có thể giảm giá một chút được không; Nhưng đó là mức giá hữu nghị nhất rồi đấy ạ; Tôi sẽ mua chiếc khăn này…
*Phương thức diễn ngôn: là ngôn ngữ nói bằng lời trực tiếp giữa nhân
viên bán hàng và khách hàng thông qua hình thức đối thoại có quy thức, tức là
có chào hỏi, có tiếp thị tư vấn Vì là trung tâm thương mại lớn nên người bán hàng đã được đào tạo kỹ năng bán hàng bài bản Cô nhân viên chủ động giới thiệu, tư vấn cho khách hàng lựa chọn món đồ ưng ý và phù hợp về giá cả nhất Sau câu hỏi đầu tiên của người bán hàng vốn là câu hỏi có chuẩn bị, theo một công thứ quen thuộc của hoạt động mua bán, các lượt thoại sau đều không có sự chuẩn bị
* Không khí chung của diễn ngôn: Quan hệ vai giao tiếp giữa người mua
và người bán là quan hệ ngang vai Quan hệ này nhất thời, không bền vững
giữa những người không quen biết, tâm lí chung là thuận mua vừa bán Những
người tham gia giao tiếp có quan hệ mới quen, ngang hàng nhau Họ trao đổi, mặc cả trên nguyên tắc “đôi bên cùng có lợi”
Trường – Phương thức – Không khí chung tạo nên ngữ cảnh tình huống bên ngoài diễn ngôn, khiến cho hoạt động mua bán diễn ra với tư cách là một quá trình trao đổi dựa trên tinh thần vui vẻ, tự nguyện của bên mua và bên bán
Trang 221.1.3 Mạch lạc
1.1.3.1 Khái niệm mạch lạc
Trước khi mạch lạc được nghiên cứu bài bản, các nhà ngôn ngữ đã nhận thấy một hiện tượng đặc biệt, đó là có một sốvăn bản không có liên kết hình thức nhưng vẫn là văn bản Từ đó, liên kết ngữ nghĩa ra đời và tạo được
sự quan tâm lớn Với sự phát triển của liên kết hình thức và liên nội dung, các nhà ngôn ngữ đã phát hiện ra mạch lạc trong văn bản và mạch lạc nhanh chóng trở thành đề tài tranh luận sôi nổi
David Nunan định nghĩa ngắn gọn về mạch lạc: “Mạch lạc là tầm rộng
mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là có “mắc vào nhau” chứ không phải
là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan với nhau” [20, tr.165]
Diệp Quang Ban định nghĩa mạch lạc như sau: “Mạch lạc là sự nối kết
có tính chất hợp lý về mặt nghĩa và mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại, một lời nói hay bài viết,…), nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết với câu” [13, tr.297] Định nghĩa này đã nêu lên các thuộc tính, dấu hiệu cơ
bản (đặc trưng vốn có) của mạch lạc về mặt nghĩa và mặt chức năng với vai trò tạo lập văn bản, đồng thời giúp phân biệt mạch lạc với liên kết
Song, mạch lạc vẫn là lĩnh vực trừu tượng, khó nắm bắt nhưng “dễ cảm nhận khi thiếu vắng nó” Có thể khẳng định, dù ở vai trò nào, mạch lạc cũng chính là mạng lưới mối quan hệ nội dung giữa các từ trong một câu, các câu trong một đoạn văn và các đoạn văn trong một văn bản tạo nên một chỉnh thể
1.1.3.2 Biểu hiện của mạch lạc
Mạch lạc là một vấn đề tương đối phức tạp và mơ hồ Do vậy, các biểu hiện của nó cũng rất khó nắm bắt Ở Việt Nam, Diệp Quang Ban là người đi sâu vào nghiên cứu các biểu hiện của mạch lạc Theo ông, mạch lạc có 7 biểu hiện chính:
(1) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ nghĩa giữa các từ ngữ trong một câu
Trong một câu, giữa các từ ngữ luôn có quan hệ về nghĩa hoặc về cú pháp Nhờ có quan hệ này mà trong câu luôn duy trì được tính mạch lạc Theo tác giả, có thể chứng minh mạch lạc qua việc đưa ra ví dụ có tính chất “phản
Trang 23biện” hay “tiêu cực”, tức là chỉ ra những trường hợp không có mạch lạc để nhận biết mạch lạc
Ví dụ: Mặt trời mọc ở đằng tây
Nếu xét về mặt ngữ pháp, đây là một câu đúng, vì nó có đầy đủ thành phần chủ ngữ và vị ngữ Nhưng xét về nghĩa hay về logic thì câu này không thể chấp nhận được, bởi trên thực tế, mặt trời mọc ở đằng đông Như vậy, câu này phi mạch lạc
(2) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa đề tài – chủ đề của các câu trong toàn văn bản
Đề tài là những vật, những việc, hiện tượng được nói đến Chủ đề là vấn đề chủ yếu được đặt ra và giải quyết Theo Diệp Quan Ban, duy trì đề tài
và triển khai đề tài là cách để mạch lạc xuất hiện trong quan hệ giữa các đề tài (chủ đề) của các câu
*Duy trì đề tài
Duy trì đề tài là trường hợp vật, việc, hiện tượng nào đó được nhắc lại trong những câu khác nhau với tư cách là đề tài của câu đó Các từ ngữ diễn đạt đề tài này trong các câu có thể chỉ là một và được lặp lại nhưng cũng có thể là những yếu tố bề ngoài khác nhau [13, tr.305] Duy trì đề tài có thể được
thực hiện bằng cách sử dụng từ ngữ, phép thế đại từ, phép tỉnh lược
Ví dụ:
Trâu ơi, ta bảo trâu này, Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông, Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
Bài ca dao trên là tiếng gọi trìu mến, là sự quý trọng và biết ơn của
người nông dân đối với con trâu của gia đình mình Sự lặp lại của từ trâu (4 lần) và từ ta (3 lần) có tác dụng duy trì đề tài diễn ngôn: tình cảm gắn bó của
giữa người nông dân và con trâu
Mạch lạc trong việc duy trì đề tài thường được xây dựng bằng cách sử
Trang 24dụng các phương thức liên kết, chủ yếu là phép thế và phép lặp Đó là những điều kiện cần thiết nhất mà việc duy trì đề tài đòi hỏi
*Triển khai đề tài
Triển khai đề tài là trường hợp từ một đề tài nào đó trong một câu liên tưởng đến đề tài khác thích hợp trong câu khác theo một quan điểm nào đó nhằm mục đích làm cho sự việc được nói đến phát triển thêm lên [11, tr.303]
Các đề tài được đưa thêm vào phải có cơ sở nghĩa và cơ sở logic nhất định
Cơ sở nghĩa thể hiện ở việc phù hợp về nghĩa của các đề tài mới thêm vào với
đề tài đã có và với tình huống sử dụng nói chung Cơ sở logic thể hiện ở các kiểu quan hệ logic thích hợp và số lượng đề tài được triển khai thỏa mãn tính cần và đủ Triển khai đề tài có thể được thực hiện thông qua phép liên kết liên tưởng và so sánh
Ví dụ:
Trời mưa Quả dưa vẹo vọ Con ốc nằm co Con tôm đánh đáo Con cò kiếm ăn
Đề tài của bài đồng dao là sự tác động của yếu tố ngoại cảnh đã làm biến dạng, biến chất của một số hạng người trong xã hội cũ thông qua phép liên tưởng, so sánh Trong mưa gió, hình như quả dưa trở nên biến dạng, con
ốc nằm co, con tôm gặp mưa bật nhảy lên đánh đáo Chỉ riêng có cái cò là vẫn chủ động trong công việc của mình là kiếm ăn
Duy trì đề tài và phát triển đề tài là hai yếu tố có tầm quan trọng tương đương nhau, nếu chỉ duy trì đề tài mà không phát triển đề tài dẫn đến đề tài bị lặp hoặc giậm chân tại chỗ, còn nếu quá chú ý đến việc phát triển đề tài mà không duy trì nó thì sẽ dẫn đến việc lan man, lạc đề
(3) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau
Để tạo lập tính mạch lạc cho câu, việc trình bày các vật với các đặc trưng riêng của chúng trong một chuỗi câu nối tiếp nhau đòi hỏi phải có cơ sở hợp lí
Trang 25Đây là nền tảng của việc tạo được mạch lạc, phải khéo léo tạo lập ra mối quan
hệ hợp lí, logic giữa các đặc trưng của các vật trong các câu với nhau
Giang và Hương là giáo viên Hương dạy tiếng Anh Còn Giang dạy môn Ngữ văn
Như vậy, mạch lạc là yếu tố quyết định việc một chuỗi câu trở thành văn bản, chứ không phải liên kết
(4) Mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lí giữa các câu (các mệnh đề)
Theo Diệp Quang Ban, giữa các sự việc chứa trong câu hay các mệnh
đề nối tiếp nhau (trong các câu đơn nối tiếp nhau, hoặc trong một câu ghép chứa nhiều mệnh đề) có thể có quan hệ nghĩa – logic (như quan hệ bổ trợ, quan hệ nghịch đối, quan hệ thời gian, không gian, quan hệ nguyên nhân, quan hệ lập luận,…) Việc thay đổi trật tự giữa các câu sẽ dẫn đến kết quả khác nhau, nếu không được thêm vào những từ ngữ làm rõ quan hệ logic giữa chúng [11, tr.307] Có những hiện tượng thường gặp có tính chất tiêu biểu ở
mạch lạc trong việc biểu hiện trật tự hợp lí giữa các câu (mệnh đề):
- Quan hệ thời gian giữa các câu (mệnh đề)
- Quan hệ nguyên nhân giữa các câu (mệnh đề)
- Quan hệ lập luận giữa các câu (mệnh đề)
Các quan hệ này trong câu có thể được chỉ dẫn bằng những từ ngữ
thích hợp như: trước hết, trước đó, sau này, sau đó, rồi chỉ quan hệ thời gian;
vì, nên chỉ quan hệ nguyên nhân; vì, nên, nhưng, tuy…chỉ quan hệ lập luận
*Trật tự giữa các câu (mệnh đề) diễn đạt quan hệ thời gian
Quan hệ thời gian có thể được phân chia thành: quan hệ thời gian vật lí,
Trang 26quan hệ thời gian tâm lí,…(Dẫn theo Diệp Quang Ban [11])
Ở đây, luận văn chỉ bàn đến quan hệ thời gian vật lí, vì nó xuất hiện trong nhiều văn bản truyện Mạch lạc theo thời gian vật lí được xác định bằng
ba chiều đo: trình tự, thời hạn, tần số
Quan hệ thời gian theo trình tự trước – sau thường được biểu hiện bằng các từ ngữ như: rồi, tiếp theo, sau đó, trước đó,…Ngoài ra, nếu không dùng từ ngữ đánh dấu quan hệ đó thì trật tự bắt buộc là sự việc diễn ra trước phải được trình bày trước, sự việc diễn ra sau phải trình bày sau Trường hợp không dùng từ ngữ để làm rõ quan hệ thời gian và nếu trật tự của các câu diễn đạt hai sự việc trước – sau không được tuân thủ thì có thể xảy ra hai trường hợp:
- Biến đổi trật tự vế câu sẽ tạo ra các chuỗi câu vô nghĩa
- Biến đổi trật tự vế câu sẽ làm thay đổi vai trò của các yếu tố trong quan hệ
Ví dụ:
Hôm nay, kì nghỉ hè của chúng tôi kết thúc (1) Từ ngày mai chúng tôi
sẽ bước vào năm học mới (2)
Các câu (1), (2) quan hệ với nhau theo trình tự thời gian trong thực tế
Sự việc xảy ra trước được kể trước, sự việc xảy ra sau được kể sau Nếu thay đổi trật tự thì câu sẽ trở nên vô nghĩa, phi logic
*Trật tự giữa các câu diễn đạt quan hệ nguyên nhân
Quan hệ nguyên nhân là quan hệ giữa hai sự kiện, hiện tượng này là nguyên nhân của sự kiện, hiện tượng khác Theo Diệp Quang Ban, mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân từ góc độ tâm lí học còn có một dạng biểu hiện khác là suy luận quy kết
Ví dụ:
Một hòn đá ném lên Một quả xoài rơi xuống
Theo trật tự này, “hòn đá ném lên” là nguyên nhân dẫn đến hệ quả “quả xoài rơi xuống” Nếu thay đổi vị trí của câu (1) và câu (2) thì chuỗi câu sẽ trở nên vô nghĩa Quan hệ nguyên nhân - hệ quả của hai câu trên sẽ được biểu
hiện rõ hơn khi ta thêm cặp từ chỉ quan hệ “vì….nên”: Vì có một hòn đá ném
lên nên một quả xoài rơi xuống”
Trang 27Nguyên tắc của quan hệ nguyên nhân là sự việc chỉ nguyên nhân phải xuất hiện trước sự việc chỉ hệ quả Nếu trật tự này không được tuân thủ thì sẽ xảy ra hai trường hợp, hoặc là tạo ra chuỗi câu vô nghĩa hoặc sẽ làm thay đổi vai trò của các yếu tố trong quan hệ
Ví dụ:
Cậu bé lười làm bài tập toán(1), nên cậu bé kém toán(2)
Theo trật tự này, vế câu (1) là nguyên nhân dẫn đến hệ quả là vế câu
(2) Nhưng khi thay đổi trật tự các vế câu thành: Cậu bé kém toán, nên cậu bé
lười làm bài tập toán thì câu vẫn đảm bảo được tính logic song vai trò của hai
mệnh đề có sự thay đổi
(5) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ ngoại chiếu
Mạch lạc có được trong mối quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản với tình huống bên ngoài văn bản được gọi là quan hệ ngoại chiếu (quy chiếu ra bên ngoài văn bản) Đó là sự quy chiếu cáctừ trong văn bản với các vật, việc, hiện tượng bên ngoài văn bản Sự quy chiếu trong trường hợp này được gọi là chỉ thị Những cách chỉ thị thường dùng là: chỉ thị bằng tên riêng, bằng miêu tả đặc trưng, chỉ thị nhân xưng, chỉ thị thời gian và chỉ thị không gian
- Chỉ thị bằng tên riêng, bằng miêu tả đặc trưng
Ví dụ:
My là một cô gái đẹp – một vẻ đẹp thánh thiện, trong sáng
- Chỉ thị nhân xưng
Dùng đại từ nhân xưng ở ba ngôi khác nhau như: tôi, mày, nó, trong đó
“tôi” là trung tâm của sự chỉ thị hay cái mốc để chỉ thị
Ví dụ:
"…Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự
hy sinh của bạn bè Nó dám đi cũng là biết tự trọng"
Trang 28Ví dụ:
“…Nhiều năm đã trôi qua Tôi sống ở thành phố Hồ Chí Minh thỉnh
thoảng có việc phải ra Hà Nội đều ghé lại thăm cô Hiền.”
(Một người Hà Nội)
- Chỉ thị không gian
Là sự liên quan đến xác định vị trí có những đại từ chỉ định như: đây,
đó, đấy, kia để chỉ không gian
Ví dụ:
Hỡi cô cắt cỏ bên sông
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây
Tính mạch lạc trong văn bản được thể hiện rõ hơn qua sự quy chiếu các
từ ngữ trong văn bản với các vật, các việc, các hiện tượng như bên ngoài văn bản Nói cách khác, phải đặt văn bản trong cả ngữ cảnh như vậy mới hiểu hết nội dung, ý nghĩa văn bản
(6) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thích hợp giữa các hành động ngôn ngữ
Hành động ngôn ngữ là hành động được thực hiện trong khi giao tiếp, gồm: hành động hỏi, hứa, ra lệnh, cam kết, trả lời, cảm ơn, xin lỗi,…Chúng tạo ra được mạch lạc khi đi đôi với nhau Ví dụ, hành động hỏi thường kéo hành động trả lời, hành động cầu khiến thường kéo theo hành động chấp nhận hoặc từ chối,…Và có thể gọi khả năng đi cùng với nhau của các hành động ngôn ngữ là khả năng dung hợp nhau, chúng tạo ra mạch lạc cho nội dung
trong chuỗi phát ngôn
Ví dụ:
Cô Hiền hỏi:
- Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá thế nào, dân tình thế nào?
Tôi vừa cười vừa nói:
- Chưa bao giờ Hà Nội vui như bây giờ Phố xá vui, mặt người vui
- Nhiều người nói Hà Nội đã sống lại
(Một người Hà Nội)
Các lượt lời của nhân vật cô Hiền và “tôi” trong đoạn thoại bao gồm:
Trang 29+ Nhân vật cô Hiền trong lượt lời thứ nhất thực hiện một hành động ngôn ngữ đó là hành động hỏi
+ Trong lượt lời của nhân vật “tôi” có 3 hành động ngôn ngữ: trả lời, khen, kể
Như vậy, các hành động ngôn ngữ tương hợp với nhau sẽ tạo nên mạch lạc
(7) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ lập luận
Khi chúng ta trình bày ý kiến, việc đưa ra luận cứ (căn cứ để lập luận)
nhằm đạt đến một kết luận nào đó (mang tính thuyết phục) được gọi là lập luận Khái niệm lập luận được hiểu theo hai cách: một là quá trình thực hiện
sự lập luận hay là việc lập luận, hai là sản phẩm của quá trình lập luận, tức là chỉ toàn bộ cái kiến trúc gồm các bộ phận cấu thành có quan hệ với nhau theo cách suy lý lập luận tạo ra, đây là cái lập luận Lập luận có ba bộ phận: luận
cứ, kết luận (hay luận đề) và quan hệ lập luận
Luận cứ là những căn cứ, cơ sở để từ đó rút ra kết luận Luận cứ có hai
loại: lí lẽ và bằng chứng Kết luận là mệnh đề hay lý thuyết được chứng minh trong các luận cứ
Quan hệ lập luận là quan hệ giữa luận cứ với kết luận Một kết luận
phải dựa trên những luận cứ đúng và được rút ra bằng những quan hệ lập luận đúng Ngoài quan hệ lập luận, trong một lập luận có nhiều luận cứ, giữa các luận cứ cũng có nhiều kiểu quan hệ khác
Có hai kiểu lập luận khái quát thường gặp: lập luận giản đơn và lập luận phức tạp Lập luận giản đơn là lập luận trong đó chỉ có một luận cứ hay một số luận cứ đồng hạng với nhau (không phân biệt lớn nhỏ) và một kết luận Lập luận phức tạp là lập luận trong đó có hai luận cứ không ngang nhau
về tính khái quát: một luận cứ là cái chung làm tiền đề lớn, một luận cứ là cái riêng, là tiền đề nhỏ và một kết luận Kiểu lập luận này gồm có ba “đoạn” như vậy nên còn được gọi là “tam đoạn luận” Hai kiểu lập luận trên có thể gặp trong khoa học và đời sống hàng ngày, trong đó tam đoạn luận là kiểu tiêu biểu của lập luận
Ví dụ:
Đàn bà thích được chiều chuộng (đại tiền đề - lẽ thường, chung cho
Trang 30nữ giới)
Mai là đàn bà (tiểu tiền đề - sự thật hiển nhiên đối với Mai)
Mai thích được chiều chuộng (Kết luận)
1.2 Vài nét về tác giả Nguyễn Khải và tác phẩm Một người Hà Nội
1.2.1 Về tác giả Nguyễn Khải
Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 03/12/1930 tại
Hà Nội Quê nội ở thành phố Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiều nơi Đang học trung học thì gặp Cách mạng tháng Tám Trong Kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Khải gia nhập tự vệ chiến đấu ở thị xã Hưng Yên, sau đó vào
bộ đội, làm y tá rồi làm báo Bắt đầu viết văn từ những năm 1950, được chú ý
từ tiểu thuyết Xung đột (phần I năm 1959, phần II năm 1962)
Sau năm 1975, Nguyễn Khải chuyển vào sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh Ông rời quân đội năm 1988 với quân hàm đại tá để về làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Khải từng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa 2, 3 và là Phó tổng thư ký khóa 3 Ông là Đại biểu Quốc hội khóa VII
Nguyễn Khải mất ngày 15/01/2008 tại thành phố Hồ Chí Minh do bệnh tim
Chủ đề các tác phẩm của Nguyễn Khải khá phong phú: về nông thôn trong quá trình xây dựng cuộc sống mới, về bộ đội trong những năm chiến tranh chống Mỹ, về những vấn đề xã hội-chính trị có tính thời sự và đời sống
tư tưởng, tinh thần của con người hiện nay trước những biến động phức tạp của đời sống
Sáng tác của Nguyễn Khải thể hiện sự nhạy bén và cách khám phá riêng của nhà văn với các vấn đề xã hội, năng lực phân tích tâm lý sắc sảo, sức mạnh của lý trí tỉnh táo Năm 1982, Nguyễn Khải nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm Năm 2000, nhà văn được phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II về Văn học nghệ thuật
Ông sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký sự, kịch Trong
đó, Nguyễn Khải để dấu ấn qua nhiều tác phẩm như: Xung đột (1959-1962),
Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960), Thời gian của người (1985) Tác phẩm tiểu
Trang 31thuyết Thượng đế thì cười (2003) mang giọng văn hồi ký về cuộc đời viết lách của ông Tác phẩm cuối cùng của ông là tùy bút Đi tìm cái tôi đã mất (2006)
ghi lại những trăn trở của Nguyễn Khải vào những năm cuối đời
Tác phẩm Mùa lạc của Nguyễn Khải được trích dạy trong sách giáo
khoa phổ thông môn Văn học cũ Trong bộ sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành
(lớp 12), tác phẩm này được thay bằng Một người Hà Nội, cũng là một truyện
ngắn xuất sắc của ông
1.2.2 Về truyện ngắn Một người Hà Nội
Truyện Một người Hà Nội sáng tác năm 1990, in trong tập truyện Hà Nội trong mắt tôi, Nhà xuất bản Hà Nội năm 1995 Một người Hà Nội tiêu
biểu cho các tác phẩm của Nguyễn Khải sau giai đoạn 1978, vẻ đẹp của hình tượng của cô Hiền tiêu biểu cho nét đẹp và sức sống bất diệt của Hà thành Qua nhân vật này, nhà văn Nguyễn Khải đã nói lên biết bao nhiêu điều có tính triết lý về sự thay đổi của thời gian, không gian nhưng vẻ đẹp của con người
và vốn văn hóa cùng tính cách người Hà Nội mãi là giá trị tinh thần không thay đổi
Tiểu kết chương 1
Phân tích diễn ngôn là một phân môn mới, có vị trí riêng trong ngôn ngữ học Trong khuôn khổ chương 1, chúng tôi tập trung nghiên cứu hai khía cạnh ngữ vực và mạch lạc Cụ thể là:
- Lí thuyết về bình diện ngữ vực theo quan điểm của M.A.K Halliday dẫn theo Diệp Quang Ban với ba yếu tố: trường, phương thức và không khí diễn ngôn
- Lí thuyết mạch lạc dựa trên quan điểm của Diệp Quang Ban với 7 biểu hiện cụ thể Trong chương 3 của luận văn, chúng tôi tập trung khai thác, phân tích bốn biểu hiện: (1) mạch lạc biểu hiện trong tính thống nhất giữa đề tài và chủ đề, (2) mạch lạc biểu hiện theo quan hệ thời gian, (3) mạch lạc biểu hiện theo quan hệ không gian và (4) mạch lạc biểu hiện qua sự tương hợp các hành động ngôn ngữ Đây là bốn biểu hiện chủ yếu tạo nên tính mạch lạc cho
diễn ngôn Một người Hà Nội
Trang 32CHƯƠNG 2
TIẾP CẬN TÁC PHẨM “MỘT NGƯỜI HÀ NỘI” TỪ GÓC ĐỘ NGỮ VỰC
Trong chương 1, chúng tôi đã nêu những vấn đề chung về cơ sở lí luận của PTDN Dựa vào đó, trong chương 2 này, chúng tôi tiến hành giải mã tác
phẩm Một người Hà Nội trên bình diện ngữ vực với ba khía cạnh: trường,
phương thức và không khí của diễn ngôn này
2.1 Trường diễn ngôn trong tác phẩm Một người Hà Nội
2.1.1 Các phân cảnh (lớp) trong tác phẩm Một người Hà Nội
Chúng tôi sử dụng văn bản Một người Hà Nội in trong tuyển tập “Hà
Nội trong mắt tôi” năm 2001, Nxb Hội nhà văn làm ngữ liệu nghiên cứu Truyện bắt đầu từ trang 112 đến trang 130 Đây là một truyện ngắn không có cốt truyện Nhà văn sử dụng nhân vật “tôi” kể lại cuộc đời và những lần gặp
gỡ, trò chuyện, suy nghĩ về một người cô họ – Một người Hà Nội chính gốc
Qua đó nhà văn phát hiện vẻ đẹp trong chiều sâu nhân cách của con người thủ
đô nói riêng, người Việt Nam nói chung qua bao biến động thăng trầm của đất nước Tác phẩm mang đậm đặc điểm văn phong của Nguyễn Khải
Trong diễn ngôn Một người Hà Nội, ngoài các phân đoạn đối thoại giữa
các nhân vật còn có những đoạn độc thoại (hay lời trần thuật, phân tích, bình luận của người kể chuyện) Vì vậy có thể chia thành những phân cảnh (lớp) khác nhau để việc phân tích được sát hơn với văn bản Chúng tôi chia tác phẩm thành các lớp như sau:
- Lớp 1: Từ câu 1 đến câu 18: Giới thiệu gia cảnh, cách ăn, cách mặc của nhân vật cô Hiền
- Lớp 2: Từ câu 19 đến câu 46: Cô Hiền thời trẻ và hoàn cảnh xuất thân của cô
- Lớp 3: Từ câu 47 đến câu 76: Những năm đầu ở Hà Nội vừa giải phóng, nhân vật “tôi” từ chiến khu về Hà Nội, đến thăm cô Hiền
- Lớp 4: Từ câu 77 đến câu 119: Thời kì đầu xây dựng CNXH ở miền Bắc, cuộc sống còn nhiều khó khăn Cô Hiền tìm việc làm phù hợp với chủ trương, chính sách của chế độ mới, khéo chèo chống con thuyền gia đình vượt
Trang 33qua những biến đổi của xã hội
- Lớp 5: Từ câu 120 đến câu 163: Miền Bắc bước vào thời kì đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ Cô Hiền dạy con cách biết sống đúng với bản chất người Hà Nội
- Lớp 6: Từ câu 164 đến câu 224: Đất nước tràn đầy niềm vui với đại
thắng mùa xuân năm 1975 Vợ chồng nhân vật tôi đến dự buổi liên hoan mừng
Dũng - người con đầu của cô Hiền trở về
- Lớp 7: Từ câu 225 đến câu 280: Xã hội trong thời kì đổi mới với đủ cái phải - trái, tốt - xấu Nhân vật “tôi” từ Hồ Chí Minh ra Hà Nội, ghé thăm
cô Hiền Cô vẫn là Một người Hà Nội của hôm nay, thuần túy Hà Nội, không
pha trộn
Ranh giới giữa các lớp trước và lớp sau có sự chuyển biến về tiểu chủ
đề, nội dung song tất cả đều phục vụ cho chủ đề tư tưởng chính của tác phẩm
Kết quả phân chia này sẽ giúp chúng tôi nghiên cứu diễn ngôn Một người Hà
Nội ở góc độ ngữ vực được dễ dàng và chi tiết hơn
2.1.2 Các trường cụ thể trong tác phẩm Một người Hà Nội
- Trường rộng: Bối cảnh văn hóa và không gian nghệ thuật của tác phẩm diễn ra trọn vẹn ở Hà Nội Với tuổi đời hơn 1000 năm văn hiến, có điều kiện tự nhiên, đất đai trù phú, địa hình thuận lợi, khí hậu ôn hòa, Hà Nội là “chốn hội
tụ của bốn phương đất nước”, “muôn vật phong phú tốt tươi”, Hà Nội trở thành
đô thi lớn bậc nhất của nước ta: “Thứ nhất kinh kì, thứ nhì phố Hiến”, là sự phồn vinh về kinh tế, phát triển về văn hóa Đây cũng là nơi hội tụ các tài năng tinh hoa trí tuệ tiêu biểu của dân tộc Việt Nam để tạo nên những nét đẹp truyền thống mang màu sắc riêng của thủ đô ngàn năm văn hiến Bản sắc văn hóa Thăng Long – Hà Nội đặc biệt thể hiện đậm nét ở vùng văn hóa dân cư Có thể thấy chân dung văn hóa của con người Hà Nội với những giá trị nổi bật như sự lịch lãm, tinh tế, hào hoa, trí tuệ, có nghĩa khí, giàu lòng yêu nước, tinh thần nhân ái, yêu chuộng hòa bình; người Hà Nội trang nhã, nền nã, hướng nội sâu sắc, quan hệ rộng mở, có bản lĩnh và tự trọng
- Trường hẹp: Hà Nội chuyển mình từ xã hội tư sản trước cách mạng
thành Hà Nội theo mẫu hình xã hội chủ nghĩa Những cơn trở dạ của lịch sử
Trang 34đã hằn dấu vào tâm tư những người Hà Nội với tất cả những tác động vào nếp sinh hoạt, nhưng dường như nét bảo thủ trong tâm hồn Hà Nội không dễ gì chấp nhận sự thay đổi phá vỡ đi nếp sống ngàn năm văn vật ấy
2.1.2.1 Trường của lớp 1
Trường lớp 1 là lời giới thiệu của nhân vật “tôi” về gia cảnh, nếp sống
tư sản và sự gắn bó máu thịt với mảnh đất Hà Nội của cô Hiền - nhân vật trung tâm của diễn ngôn Gia đình cô Hiền thuộc tầng lớp trí thức thượng lưu, chồng cô làm nghề giáo - một ông giáo cấp tiểu học Không gian sống của gia
đình cô là một tòa nhà lớn tọa lạc ngay tại một đường phố lớn, hướng nhìn
thẳng ra cây si cổ thụ và hậu cung đền Ngọc Sơn Nếp sinh hoạt của gia đình
cô Hiền đậm chất tư sản, chất lịch lãm, sang trọng của người Hà thành được
thể hiện qua cách ăn, cách mặc: Mùa đông ông mặc áo ba-đờ-xuy, đi giày da,
cô mặc áo măng-tô cổ lông, đi giày nhung đính hạt cườm, Bàn ăn trải khăn trắng, giữa bàn có một lọ hoa nhỏ, bát úp trên đĩa, đũa bọc trong giấy bản và từng người ngồi đúng chỗ đã quy định Xuất phát từ tình yêu Hà Nội, từ tính
chất công việc của những thành viên trong gia đình (có thể thích nghi với mọi chế độ), trong suốt chín năm kháng chiến chống Pháp, gia đình cô Hiền vẫn ở lại Hà Nội
Bên cạnh việc giới thiệu gia cảnh, nếp sống văn hóa của nhân vật cô Hiền, nhân vật “tôi” bày tỏ thái độ nghi ngại về thành phần giai cấp, sự thích nghi, hòa nhập với chế độ mới của cô Hiền
Như vậy trường của lớp 1 khắc họa được một số nét chính sau:
- Đề tài: gia cảnh và nếp sống sang trọng, lịch lãm của nhân vật cô
Hiền, đề tài này còn được duy trì ở các lớp sau của diễn ngôn
- Nhân vật: nhân vật trung tâm là cô Hiền và nhân vật “tôi”, ngoài ra
tác giả còn nhắc đến chồng của cô Hiền và vợ của mình
- Không gian: Không gian rộng là toàn cảnh Hà Nội sau chiến thắng,
không gian hẹp là nhà của gia đình cô Hiền và gia đình nhân vật “tôi”
2.1.2.2 Trường của lớp 2
Nếu như ở lớp 1, tác giả mới chỉ giới thiệu khái quát về nhân vật cô Hiền qua lối sống, cách ăn, cách mặc và sự gắn bó máu thịt của cô với Hà
Trang 35Nội, đồng thời bày tỏ sự hoài nghi, băn khoăn về lối sống tư sản của cô Hiền khó thích ứng được với chế độ mới, thì ở lớp 2 tác giả dần lật mở, có cái nhìn đúng đắn về nhân vật cô Hiền Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, giàu có và lương thiện Cô Hiền thuở trẻ được cha mẹ cho mở phòng tiếp khách văn chương (gọi là sa lông văn học) để mở mang tầm mắt, để hấp thụ cái tao nhã của văn chương nghệ thuật Cô Hiền thuộc thế hệ tân tiến trong lớp thanh niên thành thị thời trước cách mạng
Nhìn tổng thể trường của lớp 2 đã thể hiện rõ một số vấn đề sau:
- Đề tài: Nguồn gốc xuất thân căn bản, gia giáo và vẻ ngoài xinh đẹp,
nét phong nhã hào hoa trong con người cô Hiền
- Không gian, thời gian: Hà Nội trước cách mạng
- Nhân vật: cô Hiền và “tôi” vẫn là nhân vật chính của diễn ngôn, xuất
hiện những nhân vật phụ có mối liên quan đến nhân vật chính như cụ Tú Dâu, cụ bà Tú Dâu, mẹ cô Hiền, bà ngoại nhân vật “tôi”, ông Lê Văn Trương – văn sĩ đất Hà Thành
2.1.2.3 Trường của lớp 3
Trong trường lớp 3, nhà văn tập trung khắc họa một cô Hiền có bản lĩnh sống, có lập trường tư tưởng vững vàng trước biến chuyển của lịch sử, của xã hội Nét tính cách này được thể hiện qua chi tiết nhân vật “tôi” đến thăm gia đình cô Hiền sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Hà Nội được giải phóng Trong khi nhân vật “tôi” nói riêng và nhân dân cả nước nói chung đang say sưa tận hưởng niềm vui đất nước được độc lập, đắm chìm trong hào quang chiến thắng thì riêng cô Hiền tỏ ra tỉnh táo, bản lĩnh hơn người Cô nhanh chóng bước ra khỏi vinh quang quá khứ để hướng về thực tại, khuyên người cháu nên nghĩ đến việc làm ăn để tạo dựng kinh tế cho gia đình, góp phần nhỏ bé vào công cuộc khôi phục, kiến thiết đất nước Trong lớp này, người đọc còn nhận thấy sự tinh tế, sắc sảo và tấm lòng nhân ái của
cô Hiền thể hiện thông qua mối quan hệ với chồng, với con và với anh bếp, chị vú - những người giúp việc trong gia đình cô
Như vậy trường của lớp 3 tập trung phản ánh những nội dung sau:
- Đề tài: tính cách sắc sảo, tế nhị và bản lĩnh sống của cô Hiền
Trang 36- Nhân vật: cô Hiền, nhân vật “tôi”, chồng và con cô Hiền Ngoài ra
còn xuất hiện các nhân vật mới như: chị vú, anh cán bộ cách mạng
- Không gian, thời gian: Hà Nội năm đầu vừa giải phóng
2.1.2.4 Trường của lớp 4
Như chúng tôi đã phân tích ở trường lớp 1, tác giả tập trung giới thiệu gia cảnh, nếp sinh hoạt thượng lưu của gia đình cô Hiền với một thái độ đầy nghi ngại, thì đến lớp 4 này, một lần nữa nhà văn lại đề cập đến vấn đề đó Vẫn là sự hoài nghi của nhân vật “tôi” về thành phần gia cấp của cô Hiền Thái độ đó được thể hiện qua cuộc thoại giữa nhân vật “tôi” với cô Hiền, giữa
cô Hiền với các bà bạn của mình Và cũng thông qua các cuộc thoại đó mà nhân vật “tôi” dần nhận ra bản chất thực của bà cô mình Quá trình nhân vật
“tôi” thay đổi cách nhìn nhận đánh giá về con người thực của cô Hiền được tái hiện qua các chi tiết:
Thứ nhất khi nhà nước có chủ trương xóa bỏ giai cấp tư sản, xóa bỏ tư hữu thì cô Hiền nhanh chóng quyết định bán một căn nhà ở phố Hàng Bún,
Thứ hai không đồng ý cho chồng mua máy in mở hiệu kinh doanh mà chọn nghề làm hoa giấy Công việc làm hoa giấy rất nhẹ nhàng mà lợi nhuận cao, có thể nuôi sống được cả gia đình
Hai chi tiết này cho thấy một cô Hiền rất thức thời, hiểu biết thời thế, giỏi tính toán, giỏi làm kinh tế Từ thái độ kiêng dè, nghi ngại khi tiếp xúc trong việc xác nhận mối quan hệ họ hàng với cô Hiền, nhân vật “tôi” đã thầm
tỏ ra ngưỡng mộ và kính nể cô
Như vậy có thể khái quát trường của lớp 4 như sau:
- Sự việc: Sự thích ứng nhanh nhạy của cô Hiền với chế độ mới
- Nhân vật: cô Hiền, “tôi” là nhân vật chính của diễn ngôn Các bà bạn,
ông Giáo, anh cán bộ cách mạng là những nhân vật phụ, xuất hiện trong diễn ngôn để làm rõ tính cách của nhân vật trung tâm
- Không gian, thời gian: Hà Nội trong những năm miền Bắc tiến hành
công cuộc xây dựng CNXH
2.1.2.5 Trường của lớp 5
Khi đã xác minh rõ được thành phần giai cấp, hiểu được sự thông minh,
Trang 37nhanh nhạy, khéo léo của cô Hiền trong việc giỏi làm kinh tế ở lớp 4, đến lớp
5, trường diễn ngôn tập trung phản ánh những phẩm chất cao quý ẩn sâu trong
con người cô Chi tiết chọn chồng của cô Hiền Gần ba chục tuổi cô mới đi lấy
chồng, không lấy một ông quan nào hết, cũng chẳng hứa hẹn gì với đám nghệ
sĩ văn nhân, đùa vui một thời còn son trẻ thế là đủ, bây giờ phải làm vợ làm
mẹ, cô chọn bạn trăm năm là một ông giáo cấp tiểu học hiền lành, chăm chỉ khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc., cho thấy đây là một cô gái có suy nghĩ rất
nghiêm túc, chín chắn trong chuyện hôn nhân Điều này khác với những cô gái cùng thời, họ thích sự lãng mạn viển vông Rồi chuyện sinh con, giáo dục con cái của cô Hiền Cô Hiền luôn nhắc nhở các con sống giữ trọn nề nếp, khuôn phép của gia đình, sống đúng chuẩn mực của người Hà Nội Đặc biệt,
cô nhấn mạnh lòng tự trọng là phầm chất phải có trong mỗi người Hà Nội Qua chi tiết này, một mặt người đọc nhận thấy lòng tự trọng trong con người
cô Hiền là phẩm chất cốt lõi nhất, nó là hệ quy chiếu cho mọi ứng xử, hành động của cô, mặt khác chứng tỏ cô Hiền là một người mẹ rất thành công Các con của cô đều là những người rất giàu lòng tự trọng Thành quả đó được thể hiện qua chi tiết người con trai đầu, người con trai thứ hai của cô tình nguyện, xung phong vào Nam chiến đấu và cả trong lời giãi bày của cô Hiền với nhân vật “tôi” về câu chuyện tình nguyện xin đi chiến đấu của các con Một lần nữa nhà văn khắc sâu lòng tự trọng - phẩm cách cao quý trong con người Hà Nội
Qua việc phân tích trên chúng tôi khái quát lại trường của lớp 5 như sau:
- Đề tài: Tập trung vào việc khắc họa một cô Hiền – bà chủ gia đình
đảm đang, quyết đoán, bản lĩnh và giàu lòng tự trọng
- Nhân vật: cô Hiền, ông giáo, các con và nhân vật “tôi”
- Thời gian, không gian: Hà Nội trong thời kì chiến tranh phá hoại miền Bắc
2.1.2.6 Trường của lớp 6
Diễn ngôn lớp 6 tập trung miêu tả bữa tiệc liên hoan do cô Hiền tổ chức vào cuối năm 1975 để mừng sự trở về của Dũng – con trai của cô Xây dựng chi tiết này, tác giả đã cho người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về tính cách cô Hiền, vừa có nét riêng của người Hà Nội, vừa có nét chung của người Việt Nam: giản dị mà lịch lãm, thiết thực mà sang trọng, cần mẫn mà tài hoa, chân
Trang 38thực mà tinh tế, sâu sắc Ngày thường cô ăn mặc giản dị như bao người phụ
nữ khác, nhưng trong bữa tiệc mừng con trai lớn bình yên trở về sau chiến
tranh, cô xuất hiện trước khách mời như diễn viên trên sân khấu lược giắt,
trâm cài, hoa hột lấp lánh… Trong niềm vui đoàn tụ của cô còn có niềm tự
hào to lớn của một người mẹ có đứa con xứng đáng với gia đình, xã hội vì đã làm tròn bổn phận công dân đối với đất nước
Nếu như trường ở các lớp trước, nhà văn chỉ tập trung miêu tả, làm nổi bật tính cách của nhân vật cô Hiền thì ở lớp 6 nhà văn vẫn duy trì đề tài đó, song đột nhiên có một khúc rẽ Sự chuyển hướng này đã mang đến người đọc một câu chuyện đầy xúc động của Dũng khi anh kể về sự hy sinh của Tuất – người bạn cùng chiến đấu suốt mười năm, về nghị lực sống của mẹ Tuất Tuy chỉ là một khúc đoạn, nhưng tác giả đã tái hiện rất chân thực, đầy đủ về sự tàn khốc của chiến tranh, về tinh thần yêu nước nồng nàn của những con người
Hà Nội, về nỗi đau mà họ phải âm thầm chịu đựng mà không có phương thuốc thời gian nào xoa dịu
Tựu trung lại, trường của lớp 6 tập trung phản ánh những nội dung sau:
- Sự việc: sau khi kết thúc chiến tranh chống Mỹ, gia đình cô Hiền mở
tiệc ăn mừng người con trai đầu (Dũng) từ chiến trường trở về
- Nhân vật: Dũng, các vị khách, “tôi”, cô Hiền
- Không gian, thời gian: Hà Nội sau giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước
2.1.2.7 Trường của lớp 7
Tác giả kể về lần từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội công tác đến thăm cô Hiền Nhiều năm trôi qua, gia đình cô Hiền đã có nhiều thay đổi Chồng cô đã mất, các con đã lập gia đình riêng Cô Hiền ngoài bảy mươi tuổi, tuy đã già yếu nhưng vẫn là người của hôm nay, thuần túy Hà Nội, không pha
trộn Phòng khách của gia đình cô Hiền được tác giả miêu tả khá tỉ mỉ: bộ sa
lông cổ bằng gỗ gụ, cái sập gụ chân quỳ chạm trổ rất đẹp cùng nhiều đồ gia bảo khác Nhìn bà lão tóc bạc đang chăm chú lau cái bát thủy tiên men đỏ trong khung cảnh ngoài trời mưa rốt, tác giả cảm thấy Tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội Cô Hiền đã nâng niu trân
Trang 39trọng những gì tốt đẹp của truyền thống văn hóa Thăng Long Tính cách của
cô Hiền khiến cho tác giả nghĩ về tâm lí sống ồ ạt, xô bồ của đám đông vừa thoát khỏi cái chết, cái khổ Họ dễ gì có được sự bình tĩnh đế thưởng thức vẻ đẹp trang trọng của một giò hoa thủy tiên
Cô Hiền than thở về tuổi già hay nghĩ ngợi lan man mọi chuyện y hệt một bà già nhà quê Cô kể cho người cháu nghe chuyện gió bão làm cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn bật gốc đổ nghiêng, tán đè lên hậu cung… Lúc đầu, cô nghĩ đó là sự dời đổi, điềm xấu, là sự ra đi của một thời Nhưng cây si không chết mà được cứu sống, sau một tháng nó lại trổ ra lá non Từ chuyện ấy, cô
Hiền suy ngẫm: Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường
trước được
Sự khác biệt giữa lối sống của người Hà Nội xưa với người Hà Nội thời hiện đại gợi lên nhiều suy nghĩ khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Có người cho là thời thế đổi thay, đương nhiên con người cũng đổi thay Có người thất vọng trước thực tại và hoài vọng quá khứ Tác giả cũng không khỏi
lo âu khi thấy Hà Nội đang giàu lên, náo nhiệt hơn trước nhiều nhưng đó chỉ
là phần xác Ông không tin rằng lớp trẻ đang hăm hở làm giàu còn có ý thức biết giữ gìn, yêu cái đẹp, còn giữ nét thanh lịch, hào hoa của người Hà Nội Ông tức và đau vì gặp một số người thiếu văn hóa đến mức đáng giận và đáng thương như người mà ông hỏi đường, anh chàng đi xe đạp, cô con gái …
Nhưng cô Hiền không bình luận một lời nào về những nhận xét có phần bực bội của người cháu mà cô lại kể cho người cháu nghe chuyện cây si sống lại nhờ nỗ lực của thành phố Đấy là bằng chứng cho thấy người Hà Nội hôm nay không phải chỉ coi trọng vật chất mà vẫn còn quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần Chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn bị bão đánh bật rễ rổi lại hồi sinh gợi nhiều suy nghĩ về lẽ đời, về quy luật bất diệt của sự sống Sức sống, vẻ đẹp truyền thống văn hóa của người Hà Nội cũng mạnh mẽ, trường tồn như vậy
Diễn ngôn Một người Hà Nội chân thực và sinh động một phần là do
tác giả đóng vai người kể chuyện để kể về những nét đặc trưng trong tính cách của người Hà Nội Chất Hà Nội ẩn chứa trong chiều sâu tâm hồn và tính
Trang 40cách của nhân vật cô Hiền Cô Hiền luôn ý thức rằng mình là người Hà Nội,
từ trong cách ăn mặc cho đến những thú chơi thanh cao đòi hỏi sự kiên trì, tì mẩn như gọt củ thủy tiên sao cho hoa nở đúng giao thừa Cô không chỉ là biểu tượng của một thời vàng son đã qua mà còn là hiện thân của truyền thống văn hóa Tràng An vững vàng qua bao biến thiên của lịch sử
Tóm lại trường diễn ngôn lớp 7 tập trung vào những nội dung sau:
- Sự việc: Người cháu (nhân vật “tôi”) từ thành phố HCM ra công tác ở
Hà Nội, nhân tiện ghé thăm cô Hiền và các bạn chiến đấu của mình
- Nhân vật: cô Hiền, “tôi”, người dân trên đường phố Hà Nội, cô gái
trẻ…
- Không gian, thời gian: Hà Nội những năm 1990
*Như vậy, trường diễn ngôn của Một người Hà Nội giúp chúng ta hình
dung được bối cảnh xã hội Việt Nam trên con đường đổi mới đang biến chuyển mau lẹ, nhiều cuộc “đụng độ” gay gắt giữa hai hệ giá trị cũ – mới xảy
ra khi cơ chế kinh tế thị trường phát huy ảnh hướng rộng khắp và quan hệ giao lưu đa chiều đem đến nhiều kinh nghiệm mới mẻ, làm mất giá nhiều kinh
nghiệm cũ Một người Hà Nội là nơi tác giả gửi gắm những điểu mình chiêm
ngẫm và trăn trở về khả năng bảo tồn những giá trị mà ông tin là tinh tuý nhất của người Việt: văn hoá Thăng Long, Tràng An Liệu mảnh đất ngàn năm văn hiến ấy trước cơn lốc kinh tế thị trường có đánh mất gương mặt tinh thần sang trọng, hào hoa được hun đúc suốt trường kì lịch sử ? Ma Văn Kháng khi viết
Mùa lá rụng trong vườn (1985) cũng đã ít nhiều chạm đến câu hỏi này Cùng
thời điểm đó, đạo diễn Trần Văn Thuỷ làm bộ phim tài liệu nghệ thuật Hà Nội
trong mắt ai đã không giấu cái nhìn phê phán có tính cảnh báo đối với những
biểu hiện phi văn hoá của thủ đô đang hàng ngày bày ra ngay trước mắt du
khách (bộ phim đem lại những tiếp nhận đa chiều) Một người Hà Nội có thể
xem như một tiếng nói đối thoại sắc sảo Nguyễn Khải góp vào mối quan tâm chung của những ai nặng lòng với vẻ đẹp kinh kì (ý hướng đối thoại rất rõ vì
nhà văn đã đưa truyện này vào một tập truyện có tên Hà Nội trong mắt tôi, in
năm 1995) Người đọc dễ dàng nhận ra Nguyễn Khải dành cho Hà Nội một tình yêu và niềm tự hào sâu sắc đến thế nào và ông cũng coi trọng truyện