Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ vấn đề lý luận trong việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng hoạt động nghề nghiệp của người bán lẻ thuốc tại một số nhà thuốc và quầy thuốc đạt chuẩn GPP. Đã lựa chọn thiết kế nghiên cứu, phương pháp thực hiện và xây dựng mô hình can thiệp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của một số nhà thuốc, quầy thuốc đạt chuẩn GPP.
Trang 1HỌC VIỆN QUÂN Y
TRỊNH HỒNG MINH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHÀ THUỐC, QUẦY THUỐC TẠI TỈNH ĐỒNG NAI – GIAI ĐOẠN
2012 - 2014
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI-2018
Trang 2HỌC VIỆN QUÂN Y
TRỊNH HỒNG MINH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHÀ THUỐC, QUẦY THUỐC TẠI TỈNH ĐỒNG NAI – GIAI ĐOẠN 2012 – 2014
Chuyên ngành: TỔ CHỨC QUẢN LÝ
DƯỢC
Mã số: 9 72 02 12
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
Người hướng dẫn khoa học
1 PGS.TS PHẠM ĐÌNH LUYẾN
2 TS PHAN VĂN BÌNH
HÀ NỘI-2018
Trang 3Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình nghiên cứu của riêngtôi với sự hướng dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn.
Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và được công bố một phầntrong các bài báo khoa học Luận án chưa từng được công bố Nếu có điều gìsai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trang 41.1 Cơ sở lý luận của nội dung nghiên cứu 31.1.1 Lý luận về mối quan hệ giữa nhận thức - hoạt động thực tiễn và mối quan hệ giữa nhận thức – hành vi 31.1.2 Lý luận về sự phù hợp của các văn bản quy phạm pháp luật 41.1.3 Lý luận về sự đáp ứng của hoạt động quản lý nhà nước 41.1.4 Lý luận về nhận thức những lợi ích trong hoạt động kinh doanh bán lẻ thuốc 51.1.5 Lý luận về mối liên hệ giữa người bán và người mua trong
hoạt động bán lẻ thuốc 71.1.6 Cơ sở lý luận về tiêu chuẩn “GPP: Thực hành tốt nhà thuốc”
của thế giới 71.1.7 Cơ sở lý luận về lộ trình thực hiện và vai trò của người quản
lý chuyên môn trong tiêu chuẩn GPP ở nước ta 171.2 Cơ sở thực tiễn liên quan đến nội dung nghiên cứu 221.2.1 Một số đề tài nghiên cứu về hoạt động bán lẻ thuốc trên thế giới .221.2.2 Một số đề tài nghiên cứu về hoạt động bán lẻ thuốc ở nước ta 261.2.3 Vận dụng cơ sở thực tiễn vào nội dung nghiên cứu của đề tài 271.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
Trang 51.3.2 Hoạt động bán lẻ thuốc trên địa bàn 28
1.3.3 Hoạt động kiểm tra, thanh tra hành nghề dược tư nhân trên địa bàn .30 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 35
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 35
2.2 Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1 Cỡ mẫu nghiên cứu 35
2.2.2 Xác định biến số nghiên cứu 40
2.2.3 Thiết kế nghiên cứu 50
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu 52
2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu 56
2.3 Các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 58
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59
3.1 Kết quả thực hiện hoạt động nghề nghiệp của các dược sĩ đại học và dược sĩ trung cấp 59
3.1.1 Kết quả thực hiện hoạt động bán thuốc không theo đơn 59
3.1.2 Kết quả thực hiện hoạt động bán thuốc trong bệnh phải có chẩn đoán của thầy thuốc 61
3.1.3 Kết quả thực hiện hoạt động bán thuốc theo đơn 61
3.1.4 Kết quả thực hiện hoạt động bán thuốc đúng giá đã niêm yết 63
3.1.5 Kết quả thực hiện quy định về bao bì đựng thuốc 64
3.1.6 Kết quả thực hiện một số hoạt động chuyên môn khác của người bán lẻ 64
Trang 6dược sĩ đại học và dược sĩ trung cấp 66
3.2 Kết quả xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng hoạt động nghề nghiệp 68
3.2.1 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng thuộc về nhận thức của người bán lẻ thuốc 68
3.2.2 Đánh giá mối liên quan giữa tỷ lệ có hiểu biết, có quan tâm và có thực hiện hành vi của người mua thuốc đến hoạt động nghề nghiệp của người bán lẻ 86
3.3 Kết quả can thiệp bán thực nghiệm 104
3.3.1 Kết quả thay đổi nhận thức của người bán lẻ về những lợi ích trong hoạt động nghề nghiệp 104
3.3.2 Kết quả thay đổi các hoạt động nghề nghiệp 107
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 115
4.1 Bàn luận về kết quả hoạt động nghề nghiệp của người bán lẻ 115
4.1.1 Về thực hiện quy định bán thuốc không kê đơn 115
4.1.2 Về thực hiện quy định bán thuốc trong bệnh phải có sự chẩn đoán của thầy thuốc 117
4.1.3 Về thực hiện quy định bán thuốc theo đơn 118
4.1.4 Về thực hiện quy định bán thuốc đúng giá đã niêm yết 119
4.1.5 Về thực hiện quy định bao bì đựng thuốc 120
4.1.6 Về thực hiện một số hoạt động chuyên môn khác của người bán lẻ 121
4.2 Bàn luận về một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng hoạt động nghề nghiệp của người bán lẻ thuốc 123
Trang 7bán lẻ thuốc 124
4.2.2 Về sự liên quan giữa tỷ lệ có kiến thức, tỷ lệ có thái độ quan tâm và tỷ lệ thực hiện thường xuyên một số hành vi của người mua thuốc đến hoạt động nghề nghiệp của người bán lẻ 142
4.3 Bàn luận về kết quả can thiệp bán thực nghiệm 143
4.4 Bàn luận về một số hạn chế của đề tài nghiên cứu 145
KẾT LUẬN 148
KIẾN NGHỊ 150
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐKẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8TT Phần viết tắt Phần viết đầy đủ
12 GCNĐĐKKD Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh
13 GPP Good pharmacy practice (Thực hành tốt nhà thuốc)
Trang 91.1 Số lượng các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến tháng 06
năm 2014 29
1.2 Kết quả kiểm tra, thanh tra hoạt động hành nghề dược tư nhân năm 2012 và 2013 theo báo cáo tổng hợp của Thanh tra Sở Y tế Đồng Nai 30
2.1 Quy định bán nhóm thuốc thuộc nhóm không kê đơn theo thang điểm GPP ban hành kèm theo Thông tư 46/2011/TT-BYT 32
2.2 Quy định bán các thuốc thuộc nhóm kê đơn theo thang điểm GPP ban hành kèm theo Thông tư 46/2011/TT-BYT 33
2.3 Quy định về nhãn thuốc, sắp xếp thuốc và giá thuốc theo thang điểm GPP ban hành kèm theo Thông tư 46/2011/TT-BYT 34
2.4 Quy định bao bì đựng thuốc theo thang điểm GPP ban hành kèm theo Thông tư 46/2011/TT-BYT 34
2.5 Một số quy định về thực hành nghề nghiệp khác của người bán lẻ thuốc theo thang điểm GPP ban hành kèm theo Thông tư 46/2011/TT-BYT 35
2.6.Số lượng quầy thuốc phân chia theo địa bàn 40
3.1.Kết quả thực hiện quy định bán thuốc không theo đơn 60
3.2.Kết quả thực hiện hoạt động bán thuốc trong bệnh phải có chẩn đoán của thầy thuốc 61
3.3.Kết quả người bán lẻ thực hiện hoạt động bán thuốc theo đơn 62
3.4.Kết quả người bán lẻ thực hiện các quy định về giá thuốc bán lẻ 63
3.5.Kết quả người bán lẻ thực hiện các quy định về bao bì đựng thuốc 64
3.6.Kết quả thực hiện những quy định trong các hoạt động chuyên môn khác của người bán lẻ 65
3.7.Kết quả thực hiện 06 hoạt động nghề nghiệp của 32dược sĩ đại học 66
3.8.Kết quả thực hiện 06 hoạt động nghề nghiệp của 148dược sĩ trung cấp 67
Trang 103.9 Kết quả so sánh sự nhận định của các dược sĩ đại học và dược sĩ trung
cấp về sự phù hợp của 07 quy định quản lý nhà nước 683.10 Kết quả so sánh tỷ lệ phù hợp của 07 quy định quản lý nhà nước của các
dược sĩ đại học và dược sĩ trung cấp 703.11 Sự ảnh hưởng giữa tỷ lệ phù hợp của 07 quy định quản lý và tỷ lệ thực
hiện đúng các hoạt động nghề nghiệp của các dược sĩ đại học 713.12 Sự ảnh hưởng giữa tỷ lệ phù hợp của 07 quy định quản lý và tỷ lệ thực
hiện đúng các hoạt động nghề nghiệp của các dược sĩ trung cấp 723.13 Kết quả so sánh sự nhận định của các dược sĩ đại học và dược sĩ trung
cấp về sự đáp ứng của 08 hoạt động quản lý nhà nước 733.14 Kết quả so sánh tỷ lệ đáp ứng của 08 hoạt động quản lý nhà nước của
các dược sĩ đại học và dược sĩ trung cấp 753.15 Sự ảnh hưởng giữa tỷ lệ đáp ứng của 08 hoạt động quản lý và tỷ lệ
thực hiện đúng các hoạt động nghề nghiệp của các dược sĩ đại học 763.16 Sự ảnh hưởng giữa tỷ lệ đáp ứng của 08 hoạt động quản lý và tỷ lệ thực
hiện đúng các hoạt động nghề nghiệp của các dược sĩ trung cấp 773.17 Kết quả nhận định của các dược sĩ đại học và dược sĩ trung cấp về
những lợi ích khi thực hiện đúng các hoạt động nghề nghiệp 783.18 Kết quả so sánh tỷ lệ đồng ý của 08 lợi ích khi thực hiện đúng các hoạt
động nghề nghiệp của các dược sĩ đại học và dược sĩ trung cấp 803.19 Sự ảnh hưởng giữa 5 mức độ nhận định của 08 lợi ích và tỷ lệ thực
hiện đúng các hoạt động nghề nghiệp của các dược sĩ đại học 823.20 Sự ảnh hưởng giữa 5 mức độ nhận định của 08 lợi ích và tỷ lệ thực hiện
đúng các hoạt động nghề nghiệp của các dược sĩ trung cấp 833.21 Kết quả ảnh hưởng giữa tỷ lệ nhận thức đúng về những lợi ích và tỷ lệ
thực hiện đúng các hoạt động nghề nghiệp của các dược sĩ đại học .84
Trang 113.22 Kết quả ảnh hưởng giữa tỷ lệ nhận thức đúng về những lợi ích vàtỷ lệ
thực hiện đúng các hoạt động nghề nghiệp của các dược sĩ trung cấp 853.23 Xác định mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học với tỷ lệ hiểu
biếtvề hoạt động bán lẻ thuốc của người mua thuốc 903.24 Xác định mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học với tỷ lệ quan
tâm đến hoạt động bán lẻ thuốc của người mua thuốc 933.25 Xác định mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học với tỷ lệ thực
hiện hành vi của người mua thuốc khi tiến hành mua thuốc 963.26 So sánh kết quả người mua thuốc có kiến thức, thái độ và hành vi khi
tiến hành mua thuốc tại cơ sở bán lẻ của các dược sĩ đại học và dược
sĩ trung cấp 1003.27 Sự liên quan giữa kiến thức, thái độ và hành vi của người mua thuốc đến
tỷ lệ thực hiện đúng các hoạt động nghề nghiệp của cácdược sĩ đại học 1023.28 Sự liên quan của kiến thức, thái độ và hành vi của người mua thuốc đến tỷ lệ
thực hiện đúng các hoạt động nghề nghiệp của cácdược sĩ trung cấp 1033.29 Kết quả sự thay đổi nhận thức về những lợi ích trước - sau can thiệp của
22 dược sĩ đại học 1043.30 Kết quả sự thay đổi nhận thức về những lợi ích trước - sau can thiệp của
38 dược sĩ trung cấp 1063.31 Kết quả thực hiện hoạt động bán thuốc không theo đơn trong bệnh đơn
giản trước – sau can thiệp 1083.32 Kết quả thực hiện hoạt động bán thuốc theo đơn trước – saucan thiệp 1103.33 Kết quả thực hiện hoạt động cung cấp bao bì đựng thuốc trước – sau can
thiệp 1123.34 Kết quả thực hiện một số hoạt động chuyên môn khác trước – sau can
thiệp 113
Trang 12Hình Tên hình Trang
2.1 Quy trình nghiên cứu 51
2.2 Mô hình can thiệp 55
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 3.1 Tỷ lệ người mua thuốc phân chia theo địa bàn sinh sống 86
3.2.Tỷ lệ người mua thuốc phân chia theo lứa tuổi 87
3.3.Tỷ lệ người mua thuốc phân chia theo trình độ học vấn 87
3.4.Tỷ lệ người mua thuốc phân chia theo nghề nghiệp 88
3.5.Tỷ lệ người mua thuốc phân theo số người trong gia đình 89
3.6 Tỷ lệ người mua thuốc phân chia theo tần suất mua thuốc trung bình trong 01 tháng 89
3.7: Kết quả thay đổi hoạt động từ chối bán thuốctrong bệnh lý cần sự chẩn đoán của thầy thuốc 109
3.8: Kết quả thay đổi hoạt động bán thuốcđúng giá đã niêm yết 111
3.9: So sánh kết quả sau can thiệp giữa hai nhóm người bán lẻ 114
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt nên hoạt động bán lẻ thuốc là mộtlĩnh vực kinh doanh luôn được sự quan tâm của toàn xã hội Nhà nước đã banhành đạo đức hành nghề dược và các quy định quản lý, các cơ quan quản lýnhà nước tiến hành giám sát hoạt động bán lẻ thuốcnhằm đảm bảo thống nhấthoạt động bán lẻ thuốc trên phạm vi cả nước, thực hiện mục tiêu: “Sử dụngthuốc an toàn, hiệu quả, phục vụ sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sứckhỏe nhân dân, đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới” được nêu
trong đề án “Phát triển công nghiệp Dược và xây dựng mô hình hệ thống cung ứng thuốc của Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020” [1] Kinh doanh thuốc còn là loại hình kinh doanh có điều kiện nên
mối quan hệ giữa người bán và người mua cũng không hoàn toàn là mối quan
hệ “thuận mua, vừa bán” như những loại hàng hóa khác mà phải thực hiệntheo các quy định do nhà nước ban hành Chính vì vậy, việc người tham giakinh doanh bán lẻ thuốc tuân thủ chặt chẽ những quy định sẽ góp phần nângcao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người mua thuốc nói riêng và toàn xãhội nói chung
Để thực hiện mục tiêu nêu trên, từ năm 2007, nước ta cũng đã triển khai
áp dụng tiêu chuẩn GPP (thực hành tốt nhà thuốc) [2] cho hai loại hình bán lẻthuốc là nhà thuốc và quầy thuốc nhằm đưa hoạt động bán lẻ thuốc vào nhữngchuẩn mực chung của thế giới Trong tiêu chuẩn GPP, hoạt động nghề nghiệpđóng vai trò quan trọng vì ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu sử dụng thuốc antoàn, hiệu quả cho người dùng thuốc Từ khi áp dụng tiêu chuẩn GPP ở nước
ta đến nay, qua một số đề tài nghiên cứu cho thấy cơ sở vật chất của các cơ sởbán lẻ thuốc đã có sự thay đổi đáng kể, tuy nhiên hoạt động nghề nghiệp củangười bán lẻ thuốc tại các cơ sở này vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đượcđánh giá một cách cụ thể
Trang 14Cùng với sự phát triển chung của cả nước, các cơ sở bán lẻ thuốc tại tỉnhĐồng Nai cũng phát triển nhanh chóng về số lượng để đáp ứng cho nhu cầudùng thuốc của người dân trên địa bàn.Theo thống kê của Sở Y tế Đồng Nai,tính đến cuối năm2013, đã có gần 2.000 cơ sở hành nghề dược tư nhân bán lẻthuốc chữa bệnh đã được cấp phép hoạt động với các loại hình khác nhau,trong đó hai loại hình chủ yếu là nhà thuốc và quầy thuốc [3].Kết quả thanh,kiểm tra cũng đã cho thấy một số hạn chế trong hoạt động nghề nghiệp tại các
cơ sở bán lẻ thuốc nhưng chưa được thể hiện một cách đầy đủ Chúng tôi chorằng cần tiến hành một nghiên cứu nhằm đánh giá việc chấp hành những quyđịnh trong hoạt động nghề nghiệp của các cơ sở bán lẻ thuốc từ đó tìm ranhững yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động,thực hiện bước can thiệp bánthử nghiệm ban đầu để làm cơ sở kiến nghị với cấp thẩm quyền có những tácđộng phù hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động nghề nghiệp của các cơ sở
bán lẻ thuốc.Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của một số nhà thuốc, quầy thuốc tại tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2012 - 2014”nhằmđạt các
mục tiêu như sau:
1 Đánh giá thực trạng và xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạtđộng nghề nghiệp của người quản lý chuyên môn tại một số nhà thuốc vàquầy thuốc đạt tiêu chuẩn GPP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ tháng 11/2012 -9/2014
2 Đánh giá kết quả can thiệp bán thực nghiệm và đề xuất giải phápnhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các nhà thuốc và quầy thuốc đạt tiêuchuẩn GPP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ tháng 10 -12/2014
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Cơ sở lý luận của nội dung nghiên cứu
1.1.1 Lý luận về mối quan hệ giữa nhận thức - hoạt động thực tiễn và mối quan hệ giữa nhận thức – hành vi
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định khái niệm về nhận thức:
Về bản chất, nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thếgiới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn Khái niệm về thực tiễn:Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử
- xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội Hoạt động thực tiễnrất đa dạng, phong phú và luôn luôn phát triển Giữa nhận thức và thực tiễn cómối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau Thực tiễn là cơ sở của nhận thức, làđộng lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểmtra chân lý Lý luận tích cực sẽ thúc đẩy thực tiễn Lý luận, nhận thức xácđịnh mục tiêu, phương hướng cho hoạt động thực tiễn Nếu lý luận đúng đắn,khoa học thì sẽ tạo điều kiện để định hướng, chỉ đạo, điều chỉnh hoạt độngthực tiễn, làm cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả [4]
Cùng với mối liên hệ giữa nhận thức và hoạt động thực tiễn, có mốiliên hệ giữa nhận thức và hành vi Khái niệm về hành vi theo từ điển tiếngViệt: Hành vi con người là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện rabên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định.Theothuyết nhận thức – hành vi thì hành vi của con người không phải được tạo rabởi môi trường, hoàn cảnh mà là do cách thức con người nhìn nhận vấn đề tácđộng lên hành vi đó [5]
Xuất phát từ lý luận trên, khi xem xét sự tác động của nhận thức lênhoạt động nghề nghiệp của người bán lẻ thuốc chính là xem xét sự tác độngnhận thức của họ về những yếu tố ảnh hưởng lên các hành vi cụ thể của bảnthân người bán lẻ thuốc
Trang 161.1.2 Lý luận về sự phù hợp của các văn bản quy phạm pháp luật
Tính phù hợp của các văn bản quy phạm pháp luật được xem xét trênmột số lĩnh vực như sau:
- Trước hết, các quy định pháp luật phải tạo ra được những điều kiệnthuận lợi cho sự phát triển nhanh, bền vững của kinh tế đất nước
-Thứ hai là văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với đường lối,chính sách của Đảng
- Thứ ba, nội dung của các quy định pháp luật phải đảm bảo sự tươngquan giữa các loại lợi ích của các tầng lớp xã hội khác nhau có được sự hàihoà và có thể chấp nhận được, lợi ích hợp pháp của tầng lớp xã hội này khôngxung đột với lợi ích của các tầng lớp khác Nếu không quan tâm tới sự thốngnhất, hài hoà giữa các loại lợi ích của các lực lượng khác nhau trong quá trìnhxây dựng và thực hiện pháp luật thì có thể dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cựctrong xã hội
- Thứ tư, không chỉ phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội của đấtnước, hệ thống pháp luật quốc gia còn phải phù hợp với pháp luật quốc tế [6]
Từ cơ sở lý luận về sự phù hợp của các văn bản quy phạm pháp luật,khi nghiên cứu hoạt động của các cơ sở bán lẻ thuốc, đây là hoạt động kinhdoanh có điều kiện được quản lý bằng văn bản pháp luật của nhà nước Việcđánh giá sự phù hợp của các quy định quản lý nhà nước hiện hành đối vớinhững người nhận sự tác động trực tiếp từ các quy định đó đến hoạt động bán
lẻ thuốc của bản thân họ và so với những đối tượng khác trong cùng một lĩnhvực hoạt động là cần thiết
1.1.3 Lý luận về sự đáp ứng của hoạt động quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quanhành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động củacon người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụquản lý nhà nước [7] Bắt đầu từ thập niên 1990, thuật ngữ “Quản trị nhànước” bắt đầu được sử dụng Mô hình “Quản trị nhà nước tốt” có tám đặc tính
Trang 17cơ bản là: Mở rộng sự tham gia của công dân vào hoạt động quản lý nhànước; hoạch định chính sách trên nguyên tắc đồng thuận xã hội; nền hànhchính có trách nhiệm giải trình; minh bạch; đáp ứng; hiệu quả và hiệu lực;công bằng và thu hút; nhà nước pháp quyền Trong đó hai vấn đề có liên quantrực tiếp đến nội dung nghiên cứu của đề tài là:
+ Mở rộng sự tham gia của công dân vào hoạt động quản lý nhà nước:Quản trịnhà nước tốt phải huy động được sựtham gia của các chủthểtrong xãhội vào hoạt động quản lýnhà nước, cụthểlà việc ban hành các quyết địnhhành chính, các chính sách, biện pháp hành động Thực tếcải cách của nhiềunước cho thấy, việc gia tăng sựtham gia của người dân vào hoạt động quảnlýhành chính, cung cấp dịch vụcông đem lại nhiều lợi ích Thứnhất, các quyếtđịnh và chính sách của nhà nước được ban hành sát với thực tếhơn nên hiệuquảvà hiệu lực được cải thiện hơn Thứhai, thông qua sựtham gia vào hoạtđộng quản lý của nhà nước, lòng tin của người dân đối với nhà nước đượctăng lên
+ Đáp ứng: Các thiết chếtổ chức và các quy trình hành chính phải phụcvụtổ chức và công dân trong khoảng thời gian thích hợp Các quy định củapháp luật phải được ban hành kịp thời, đúng đắn theo yêu cầu của thựctiễnđời sống Các cá nhân, tổ chức thực thi pháp luật cần sáng tạo, linh hoạttrong quá trình thực thi nhiệm vụ để đáp ứng tốt các yêu cầu của công dân [8]
Với cơ sở lý luận trên, trong luận án này, chúng tôi nghiên cứu sự đápứng của các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước đối với những ngườinhận sự tác động trực tiếp từ các hoạt động đó đến hoạt động kinh doanh bán
lẻ thuốc của bản thân họ
1.1.4 Lý luận về nhận thức những lợi ích trong hoạt động kinh doanh bán lẻ thuốc
Hiện nay, ở nước ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước và coi đó là mô hìnhphát triển kinh tế phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển kinh tế
Trang 18của thế giới Nhưng rõ ràng là, cho đến nay, khi nước ta đã trải qua gần 30năm tiến hành đổi mới nhưng nền kinh tế thị trường vẫn đang trong tiến trìnhhoàn thiện cả về cơ chế thị trường lẫn thể chế xã hội Vì thế, phương thứckinh doanh và hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh vẫn còn chưahoàn toàn đầy đủ Do đó, hoạt động kinh doanh còn nhiều lĩnh vực chưa tuânthủ theo pháp luật và chưa được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật và ngay cảnhững chuẩn mực đạo đức kinh doanh cũng chưa hình thành một cách đầy đủ,thậm chí cả các chuẩn mực, các giá trị đạo đức đã có cũng không được nhiềudoanh nghiệp quan tâm [9]
Vì thuốc là hàng hóa đặc biệt, hoạt động kinh doanh mặt hàng thuốcảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người bệnh, vì vậy kinh doanh thuốckhác với một số ngành nghề kinh doanh khác, đó là ngành nghề kinh doanh
có điều kiện, với các tiêu chí cơ bản sau đây:
- Cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự có trình độ chuyên môn cần thiếtcho từng loại hình
- Người quản lý chuyên môn và nhân sự hoạt động tuân thủ theo nhữngquy định hiện hành
- Người hành nghề dược có trách nhiệm thực hiện 12 điều quy định về
Y đức, đồng thời phải có những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp riêng – Đạođức hành nghề dược –để rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu góp phần thực hiện sựnghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân [10]
Mặc dù đã có quy định rất cụ thể về đạo đức hành nghề dược, nhưngtrong hoạt động bán lẻ thuốc không phải người hành nghề nào cũng nhận thứcđược nhữnglợi ích mà họ nhận được cho bản thân cũng như cho cộng đồng (lànhững người mua thuốc tại cơ sở của họ) thông qua quá trình hoạt động nghềnghiệp và tuân thủ đạo đức hành nghề Vì vậy, việc nghiên cứu và giúp chongười hành nghề hiểu rõ những lợi ích mà họ nhận được trong quá trình hoạtđộng sẽ góp phần thúc đẩy họ tuân thủ các quy định quản lý cũng như nhữngquy định trong đạo đức hành nghề dược
Trang 191.1.5 Lý luận về mối liên hệ giữa người bán và người mua trong hoạt động bán lẻ thuốc
Trong hoạt động bán lẻ thuốc, mối quan hệ giữa người bán và ngườimua không chỉ đơn thuần là mối quan hệ “thuận mua – vừa bán” mà phải thựchiện theo những quy định cụ thể như sau:
+ Người bán lẻ thuốc: Thực hiện những quy định được nêu rõ trongLuật Dược, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật [11] và trong tiêu chuẩnGPP (trong phần hoạt động nghề nghiệp) [2]
+ Người sử dụng thuốc: Có quyền lựa chọn cơ sở bán lẻ thuốc để muathuốc; thực hiện theo đúng hướng dẫn đã ghi trong đơn thuốc, tờ hướng dẫn
sử dụng thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc của người bán lẻ thuốc[11]
Từ những quy định trên, để người mua thuốc có thể chọn lựa được cơ
sở bán lẻ thuốc đạt chuẩn theo quy định để mua thuốc cũng như cùng với hoạtđộng của cơ quan quản lý nhà nước góp phần giám sát hoạt động của ngườibán thì người mua thuốc cũng cần có kiến thức, thái độ và những hành viđúng khi thực hiện hoạt động mua thuốc của họ
1.1.6 Cơ sở lý luận về tiêu chuẩn “GPP: Thực hành tốt nhà thuốc” của thế giới
1.1.6.1 Khái niệm về “Thực hành tốt nhà thuốc”
GPP là thực hành của nhà thuốc nhằm đáp ứng nhu cầu của nhữngngười sử dụng dịch vụ dược để cung cấp tối ưu, chăm sóc sức khỏe dựa trênbằng chứng Để hỗ trợ hoạt động này thì điều cần thiết là phải thiết lập mộttiêu chuẩn quốc gia về chất lượng và hướng dẫn (FIP và WHO)[12]
1.1.6.2 Lịch sử hình thành và phát triển của tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc”
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chiến lược sửa đổi về thuốc đượcthông qua tại Đại hội Y tế thế giới trong năm 1986, WHO đã tổ chức hai cuộchọp ở Delhi- Ấn Độ vào năm 1988và tại Tokyo- Nhật Bản vào năm 1993 để
Trang 20thảo luận và ban hành các Nghị quyết về vai trò của các dược sĩ vào năm
1994 [13]
Năm 1996, FIPphát triển các tiêu chuẩn chodịch vụ nhà thuốc với tiêu
đề “thực hành tốt nhà thuốc trong cộng đồng vàthiết lập nhà thuốc bệnh viện”
và phối hợp với WHO ban hành [14] Đến năm 1997, FIP và WHO đã chỉnhsửa và ban hành tài liệu “Thực hành tốt nhà thuốc- (GPP)” và chính thứcđược xuất bản vào năm 1997 [15]
Phối hợp với WHO, năm 2006,FIP đã xuất bản cuốn cẩm nang tựa đề
“Phát triển nhà thuốc thực hành – tập trung vào chăm sóc bệnh nhân” [16]
Năm 2009, phiên bản GPP đã được chỉnh sửa lần đầu trong tháng 10năm 2009[17]
Tiếp theo, năm 2011, WHO đã cùng với FIP xây dựng lại tiêu chuẩnGPP của thế giới [12]
1.1.6.3 Những yêu cầu của tiêu chuẩn“Thực hành tốt nhà thuốc”
- Mối quan tâm đầu tiên trong tất cả các hoạt động là phúc lợi của bệnhnhân
- Yêu cầu cốt lõi trong hoạt động của nhà thuốc là: cung cấp thuốc vàcác sản phẩm chăm sóc sức khỏe có chất lượng đảm bảo, thông tin và tư vấnthích hợp
- Có chương trình khuyến mãi hợp lý theo quy định
- Mọi hoạt động cung cấp thuốc cho bệnh nhân phải được quy định rõràng và tất cả mọi người tham gia đều phải nắm vững
- Có sự hợp tác đa ngành giữa các chuyên gia chăm sóc sức khỏe [12]
GPP cũng đặt ra yêu cầu cho mỗi quốc gia phải thiết lập:
- Một khung pháp lý:
+ Xác định những người có thể tham gia thực hành dược;
+ Xác định phạm vi hành nghề dược;
+ Đảm bảo tính toàn vẹn của chuỗi cung ứng và chất lượng thuốc
- Một khuôn khổ lực lượng lao động:
Trang 21+ Đảm bảo năng lực của các nhân viên nhà thuốc thông qua quá trìnhtiếp tục đào tạo chuyên nghiệp
+ Xác định các nguồn nhân lực cần thiết để cung cấp GPP
- Các dược sĩ phải có kiến thức chuyên môn sâu về thuốc
- Thiết lập được mối quan hệ tin cậy lẫn nhau giữa dược sĩ với cácchuyên gia y tế khác, đặc biệt là bác sĩ
- Thiết lập mối quan hệ đồng nghiệp giữa các dược sĩ để cải thiện dịch
vụ dược phẩm, không phải là đối thủ cạnh tranh
- Trong quá trình vận hành, các nhà quản lý dược phải có trách nhiệmxây dựng các chính sách, các biện pháp đánh giá và nâng cao chất lượng
- Dược sĩ cần phải nhận thức cần thiết về thông tin y tế và dược phẩmcủa mỗi bệnh nhân Thu thập thông tin như vậy được thực hiện dễ dàng hơnnến bệnh nhân chỉ chọn một nhà thuốc để mua thuốc hoặc nếu hồ sơ về thuốccủa bệnh nhân có lưu trữ sẵn tại nhà thuốc
- Dược sĩ cần dựa trên bằng chứng, không thiên vị, toàn diện, kháchquan và thông tin hiện tại về trị liệu, trong sử dụng thuốc và các sản phẩmchăm sóc sức khỏe khác, bao gồm cả nguy cơ môi trường từ thuốc
- Các dược sĩphải tự xây dựng trách nhiệm cá nhân cho việc duy trì vàđánh giá năng lực chuyên môncủa mình trong công việc Trong khi tự giámsát là rất quan trọng, cũng cần phải có các tổ chức chuyên nghiệp quốc gia vềdược chịu trách nhiệm cũng trong việc bảo đảm dược sĩduy trì các tiêu chuẩn
và tuân thủ yêu cầu phát triển nghề nghiệp liên tục
Trang 22- Các chương trình giáo dục cho người nhập cư liên quan đến hànhnghề dược nên giải quyết một cách hợp lý cả hai cho hiện tại và tương laitrong thực hành dược.
- Chuẩn quốc gia về GPP phải được quy định và phải được tôn trọngbởi tất cả những người tham gia trong lĩnh vực hành nghề [12]
1.1.6.5 Các vai trò chính của dược sĩ trong tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc”năm 2011
* Vai trò 1: Chuẩn bị, thu thập, lưu trữ, bảo mật, phân phối, quản lý,phân phát và xử lý các sản phẩm y tế, gồm 6 chức năng
* Vai trò 2: Quản lý quá trình cung cấp thuốc điều trị một cách hiệuquả, gồm 4 chức năng
* Vai trò 3: Duy trì và cải thiện hoạt động của bản thân, 01 chức năng
* Vai trò 4: Góp phần cải thiện hiệu quả của hệ thống chăm sóc sứckhỏe và y tế công cộng, gồm 4 chức năng
Tóm lại:Những vai trò này có thể thay đổi cho mỗi cá nhân phụ thuộc
vào trách nhiệm của mỗi dược sĩ hành nghề.Các tiêu chuẩn cụ thể của GPPchỉ có thể được phát triển trong một nhà thuốc có cơ cấu tổ chức đúng theoquy định[12]
Hướng dẫn này được khuyến cáo như là một tập hợp các mục tiêunghề nghiệp nhằm đáp ứng sự quan tâm của bệnh nhân và các bên liên quankhác trong ngành dược phẩm Trách nhiệm này thuộc về các hiệp hội chuyênnghiệp về thuốc ở mỗi quốc gia Đạt được các tiêu chuẩn cụ thể của GPPcho mỗi quốc gia theo các khuyến nghị có thể đòi hỏi thời gian và nỗ lựcđáng kể Theo các chuyên gia y tế, các quốc gia và dược sĩ có nhiệm vụ phảibắt đầu quá trình không được chậm trễ.Tài liệu cũng hướng dẫn mỗi quốcgia nên xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng cho quốc gia của mình theo tìnhhình thực tế[12]
Trang 231.1.6.6.Hoạt động của người quản lý chuyên môn tại các nhà thuốc cộng đồng đạt tiêu chuẩn GPP của một số khu vực và các nước trên thế giới
-Khu vực Châu Âu
Tỷ lệ và số lượng trung bình dược sĩ có mặt tại nhà thuốc khác nhaugiữa các nước trong khu vực Châu Âu:
+ Tại nước Đức:Số lượng dược sĩtrung bình tại nhà thuốc là 2,3; ngoàidược sĩchủ nhà thuốc,còn có các nhân viên khác, trung bình một nhà thuốc có
7 người cả chủ nhà thuốc và nhân viên; thời gian thực tập nghề một năm [18],[19]
+ Tại nước Pháp: Số lượng dược sĩ trung bình tại nhà thuốc 2,4; mỗinhà thuốc thường có 01 dược sĩ làm chủ và một hoặc hai dược sĩ là nhân viên;thời gian thực tập nghề bốn năm[20], [21]
+ Tại nước Anh: Số lượng dược sĩ trung bình tại nhà thuốc là 2; thờigian thực tập nghề bốn năm [22]
+ Tại nước Hà Lan: Số lượng dược sĩ trung bình tại nhà thuốc là 2; thờigian thực tập nghề hai năm [23]
Mỗi nước trong Châu Âu có những quy định về hành nghề riêng và tiêuchuẩn GPP riêng, nhưng về cơ bản tuân thủ tiêu chuẩn GPP theo hướng dẫncủa WHO và FIP Tiêu chuẩn GPP của Châu Âu cũng rất quan tâm đến vaitrò của dược sĩ trong lĩnh vực chăm sóc dược phẩm
Các hoạt động nâng cao vai trò của dược sĩ: Chuyển mô hình hoạt độngchủ yếu là từ cung cấp dịch vụ dược phẩm sang mô hình dịch vụ và tư vấn:
+ Giám sátbệnh nhân sử dụng thuốc theo đơn của bác sĩ;
+ Ngăn chặn và sửa chữa các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc;+ Chăm sóc thuốc cho những bệnh nhân đặc biệt: Hen suyễn, tiểuđường, nhiễm HIV, cao huyết áp và người già;
+ Cải thiện quá trình tuân thủ điều trị bằng cách thúc đẩy việc nâng caosức khỏe, thực hiện đúng các quy định và sử dụng thuốc hợp lý [24];
+ Duy trì và phát triển hệ thống liên lạc: Điện thoại / Internet
Trang 24+ Tối ưu hóa các khía cạnh tài chính trong khi vẫn đảm bảo hiệuquảđiều trị [24].
- Chăm sóc dược phẩm: Cung cấp các dịch vụ điều trị bằng thuốc vàdược phẩm khác nhằm hỗ trợ trong việc chữa trị hoặc ngăn ngừa bệnh tật, loại
bỏ hoặc giảm các triệu chứng của bệnh nhân hoặc làm chậm quá trình pháttriển của bệnh, đặc biệt một số bệnh thần kinh như trầm cảm [27]
-Đánh giá việc kê đơn thuốc của bác sĩ [28]
- Tư vấn cho bệnh nhân: Chế độ ăn uống, tập luyện, kiểm tra đườnghuyết, sử dụng các dạng thuốc bằng miệng, cai thuốc lá…[28]
- Chịu trách nhiệm trong toàn bộ hoạt động của nhà thuốc gồm:
+ Cung cấp thuốc theo đơn: Vai trò này của dược sĩ sẽ giúp người sửdụng thuốc tuân thủ theo đúng những chỉ dẫn trong đơn;dược sĩ được phépthay thế một số thuốc trong đơn theo quy định [28]
+ Phân phát thuốc không kê đơn; cung cấp các thuốc thuộc nhóm bệnhmãn tính (tiểu đường, huyết áp, tim mạch, hen suyễn ) không có đơn của bác
sĩ với điều kiện dược sĩ phải tham gia học tập và có chứng chỉ cho việc bánthuốc chuyên khoa [29]
+ Cung cấp các thiết bị y tế thông thường (que thử bệnh tiểu đường,chân tay giả,…);pha chế thuốc theo đơn gồm các chuyên khoa da liễu, ungbướu, nhi khoa…;chăm sóc cho 40,2 triệu người trong các nhà dưỡng lão vàchăm sóc tại nhà; tham gia cung cấp thuốc bảo hiểm;bảo quản thuốc đúng quyđịnh và an toàn;quản lý hồ sơ liên quan đến thuốc [30]
Trang 25+ Tham gia đào tạo các kỹ thuật viên tại nhà thuốc thời gian từ 120 giờđến không quá 06 tháng, mỗi dược sĩ được hướng dẫn một học viên và phảichịu trách nhiệm về kết quả học tập của họ[31].
Năng lực chuyên nghiệp 1: Thực hành chăm sóc bệnh nhân
Năng lực chuyên nghiệp 2: Cung cấp thông tin thuốc
Năng lực chuyên nghiệp 3: Giáo dục
Năng lực chuyên nghiệp 4: Quản lý phân phối thuốc
Năng lực chuyên nghiệp 5: Áp dụng nguyên tắc quản lý
Năng lực chuyên nghiệp 6: Thực hiện hoạt động nghiên cứu [34]
- Nước Nam Phi
Số lượng trung bình dược sĩ tại nhà thuốc là 2,03 [35]
Hoạt động của dược sĩ tại nhà thuốc do Hội đồng Dược Nam Phi banhành lần đầu vào năm 1997, điều chỉnh năm 2004, 2008 và 2010
Các yếu tố chính của GPP được đề cập:
(a) Các tiêu chuẩn chuyên nghiệp cho các cơ sở;
(b) Các tiêu chuẩn chuyên nghiệp cho các dịch vụ;
(c) Các tiêu chuẩn chuyên nghiệp cho nguồn nhân lực dược;
(d) Tiêu chuẩn chuyên nghiệp để quản lý nhà thuốc
1 Mặt bằng và các điều kiện cơ bản: Nơi bán thuốc phải độc lập, có đủ
diện tích để bố trí phù hợp các khu vực, sạch sẽ, đảm bảo an ninh, ngườikhông có nhiệm vụ không được ra vào nhà thuốc Thiết kế đảm bảo vệ sinh dễdàng Có khu vực rửa tay Có hệ thống xử lý an toàn của tất cả các chất thảinguy hại
Trang 262 Trang thiết bị:Thiết bị đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm Bình chữa cháy.
Phải có tủ lạnh
3 Điều kiện trang phục:Các dược sĩ đang làm nhiệm vụ phải đeo bảng
tên hoặc huy hiệu cho thấy tên mình để cho người dân biết
5 Pha chế theo đơn: Có khu vực pha chế riêng đảm bảo yêu cầu.
6 Trách nhiệm nhân sự trong quá trình bán thuốc: Dược sĩ phải chịu
trách nhiệm về mọi hành vi liên quan đến việc bán thuốc
7 Đào tạo: Dược sĩ phải đóng góp tích cực vào các chương trình giáo
dục sức khỏe trong trường học, trạm y tế cộng đồng, các nhóm hỗ trợ bệnhnhân và bất kỳ nhiệm vụ nào khi có yêu cầu
8 Chăm sóc bệnh nhân theo khía cạnh dược:
Đảm bảo chất lượng của dược phẩm; có hệ thống giám sát thuốc bántheo toa đảm bảo an toàn và có hiệu quả; hoạt động tư vấn cho bệnh nhânphải đảm bảo sử dụng chính xác và an toàn của thuốc; hoạt động thông tinthuốc phải được cung cấp để thúc đẩy việc sử dụng an toàn, hiệu quả và kinh
tế của các loại thuốc[36]
-Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (United Arab UAE)
Emirates-Số lượng trung bình dược sĩ tại nhà thuốc là 2,6 [37]
Trang 27Hoạt động của dược sĩ tại nhà thuốc thực hiện theo tiêu chuẩn GPP do
Bộ Y tế ban hành năm 2003:
1 Khung pháp lý và đạo đức nghề nghiệp: Dược sĩ và trợ lý dược sĩ phải
tuân thủ luật Dược và các quy định của Bộ Y tế ban hành
2 Nhân sự: Tất cả nhân viên nhà thuốc đều phải đăng ký và được Bộ Y
tế phê duyệt; phải đeo thẻkhi hành nghề
3 Môi trường và trang thiết bị: Nhà thuốc không được thay đổi thiết kế
sau khi đã được phê duyệt; phải có điều hòa nhiệt độ, phải có máy tính;khuyến cáo có internet, máy fax, bắt buộc có điện thoại, tủ lạnh; tuân thủ chặtchẽ “Không được hút thuốc”
4 Tài liệu: Giấy phép hành nghề để ở chỗ mọi người có thể nhìn thấy;
có các văn bản củaBộ Y tế về quản lý thuốc; lưu trữ riêng các văn bản liênquan đến các thuốc đòi hỏi quản lý đặc biệt: Thuốc hướng tâm thần, thuốcbán theo đơn,
5 Bán thuốc: Tất cả các thuốc và các sản phẩm y tế bán tại nhà thuốc
phải được Bộ Y tế thông qua; các thuốc phải bán theo đơn không được bàytrong tủ kính và không được quảng cáo; phải ghi giá thuốc mới nhất do Bộ Y
tế quy định trên mỗi sản phẩm bán ra[38]
- Quy trình bán thuốc:Thông tin trên nhãn: Ngày bán, hướng dẫn bảo
quản, ngôn ngữ dễ hiểu, tránh dùng số thập phân.Tư vấn: Khả năng tương tác
có thể giữa thuốc và thức ăn/các loại thuốc khác Phát tờ rơi về thuốc đượcbán
- Trách nhiệm nhân sự trong quá trình bán thuốc: Dược sĩ phải chịu
trách nhiệm về mọi hành vi liên quan đến việc bán thuốc
Trang 28- Giáo dục sức khỏe: Kiểm tra cholesterol, đường huyết, huyết áp
- Đào tạo liên tục:Qua đồng nghiệp; tự học, đào tạo từ xa; tham dự hội
thảo, các khóa học ngắn hạn [40]
- Chăm sóc bệnh nhân theo khía cạnh dược:Thiết lập mối quan hệ giữa
bệnh nhân và dược sĩ; theo dõi việc sử dụng thuốc của bệnh nhân; phát hiệnđược những vấn đề có thể do dùng thuốc sinh ra, hướng dẫn bệnh nhân xử lýcác vấn đề đó hoặc chuyển đến bác sĩ[41]
- Nước Thái Lan
Số lượng trung bình của dược sĩ tại nhà thuốc là 0,27; thời gian thựctập nghề nghiệp ba tháng[26], [42]
Hoạt động của dược sĩ tại nhà thuốc thực hiện theo tiêu chuẩn GPP củaThái Lan ban hành năm 2007
-Sắp xếp thuốc:Phân nhóm không kê đơn và kê đơn (phải cách xa tầm
tay người mua thuốc)
- Pha chế thuốc theo đơn: Có phòng pha chếđúng quy định, có đủ trang
thiết bị và nhân viên
- Hoạt động cung ứng thuốc:Thuốc theo đơn: Dược sĩ bán thuốc theo
đơn sau khi đã kiểm tra tính hợp pháp và chính xác Thuốc không theo đơn vàcác mặt hàng khác: Hướng dẫn và tư vấn dùng thuốc
-Hoạt động thông tin thuốc: Nội dung thông tin: Tên thuốc, mục đích
sử dụng, số lượng, thời gian, cách dùng, liều dùng, biện pháp phòng ngừa, tác
dụng phụ và cách xử lý, lưu trữ thuốc tại nhà Cách thức thông tin: Bằng lời,
văn bản, các hình thức tài liệu khác.Vị trí thông tin: Tại khu vực bán lẻ hoặckhu vực tư vấn.Khu vực tư vấn (nếu đủ diện tích thì thiết kế phòng tư vấn):Trang bị ghế ngồi, tài liệu, thiết bị như máy đo huyết áp, que thử tiểu đường
-Các hoạt động khác:Kiểm tra sức khỏe; Thực hiện phát hiện sớm các
bệnh như hen suyễn, tiểu đường, béo phì, tăng huyết áp, tăng lipid máu, loãngxương Tư vấn về tiêm chủng cho trẻ em, phụ nữ mang thai, khách dulịch.Hướng dẫn sử dụng các thiết bị hen suyễn, sử dụng insulin Giới thiệu
Trang 29bệnh nhân cho các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác.Duy trì theo dõi việc
sử dụng thuốc của bệnh nhân
- Đào tạo liên tục:Tự học, đào tạo từ xa;tham dự hội thảo, các khóa học
ngắn hạn[43], [44]
1.1.7 Cơ sở lý luận về lộ trình thực hiện và vai trò của người quản lý chuyên môn trong tiêu chuẩnGPP ở nước ta
1.1.7.1 Lộ trình thực hiện GPP ở nước ta
Từ năm 2007, nước ta đã chính thức thực hiện tiêu chuẩn GPP
Văn bản quy định tiêu chuẩn GPP đầu tiên ở nước ta là Quyết định số11/2007/QĐ-BYT ngày 24/01/2007 của Bộ Y tế [2], lộ trình phải đạt cho cácnhà thuốc là ngày 01/01/2011 và quầy thuốc là ngày 01/01/2013
Tiếp theo là Quyết định số 29/2007/QĐ-BYT ngày 11/05/2007 của Bộ
Y tế [45] ban hành mẫu Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn GPP
Đến cuối năm 2010, do tình hình thực hiện tiêu chuẩn GPP không đạtnhư lộ trình đặt ra, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 43/2010/BYT ngày15/12/2010 gia hạn lộ trình đạt GPP của các nhà thuốc đến ngày 01/01/2012
và quầy thuốc vẫn giữ lộ trình là ngày 01/01/2013 [46] Thông tư43/2010/BYT quy định rõ hơn phạm vi hoạt động của các loại hình bán lẻ,đặc biệt nếu nhà thuốc và quầy thuốc chưa đạt GPP theo lộ trình chỉ đượcphép bán lẻ thuốc thuộc danh mục thuốc không kê đơn ban hành kèm theoThông tư số 08/2009/TT-BYT ngày 01/6/2009 của Bộ Y tế (đã được thay thếbằng Thông tư số 23/2014/TT-BYT ngày 23/6/2014) [47]
Ngày 21 tháng 12 năm 2011, Bộ Y tế ban hành Thông tư BYT ban hành nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc” [48] Thông
46/2011/TT-tư này có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2012 và thay thế Quyết định số11/2007/QĐ-BYT ngày 24/01/2007 và Quyết định 29/2007/QĐ-BYT Lộtrình thực hiện vẫn theo quy định của Thông tư số 43/2010/BYT
Trang 301.1.7.2 Vai trò của người quản lý chuyên môn trong tiêu chuẩn GPP ở nước ta
Tiêu chuẩn GPP của nước ta không quy định rõ vai trò của người quản lýchuyên môn tại các cơ sở bán lẻ, vì vậy người bán lẻ thuốc tại cơ sở thực hiệnnhiệm vụ của mình theo các quy định trong mục III trong thông tư 46 là: Cáchoạt động chủ yếu của cơ sở bán lẻ thuốc, bao gồm 4 nhóm hoạt động chính:
1 Mua thuốc
a) Nguồn thuốc được mua tại các cơ sở kinh doanh thuốc hợp pháp;b) Có hồ sơ theo dõi, lựa chọn các nhà cung cấp có uy tín, đảm bảochất lượng thuốc trong quá trình kinh doanh;
c) Chỉ mua các thuốc được phép lưu hành (thuốc có số đăng ký hoặcthuốc chưa có số đăng ký được phép nhập khẩu theo nhu cầu điều trị) Thuốcmua còn nguyên vẹn và có đầy đủ bao gói của nhà sản xuất, nhãn đúng quyđịnh theo quy chế Có đủ hoá đơn, chứng từ hợp lệ của thuốc mua về;
d) Khi nhập thuốc, người bán lẻ kiểm tra hạn dùng, kiểm tra các thôngtin trên nhãn thuốc theo quy chế ghi nhãn, kiểm tra chất lượng (bằng cảmquan, nhất là với các thuốc dễ có biến đổi chất lượng) và có kiểm soát trongsuốt quá trình bảo quản;
2 Bán thuốc
a) Các bước cơ bản trong hoạt động bán thuốc, bao gồm:
- Người bán lẻ hỏi người mua những câu hỏi liên quan đến bệnh, đếnthuốc mà người mua yêu cầu;
- Người bán lẻ tư vấn cho người mua về lựa chọn thuốc, cách dùngthuốc, hướng dẫn cách sử dụng thuốc bằng lời nói Trường hợp không có đơnthuốc kèm theo, người bán lẻ phải hướng dẫn sử dụng thuốc thêm bằng cáchviết tay hoặc đánh máy, in gắn lên đồ bao gói;
- Người bán lẻ cung cấp các thuốc phù hợp, kiểm tra, đối chiếu thuốcbán ra về nhãn thuốc, cảm quan về chất lượng, số lượng, chủng loại thuốc
b) Các quy định về tư vấn cho người mua, bao gồm:
Trang 31- Người mua thuốc cần nhận được sự tư vấn đúng đắn, đảm bảo hiệuquả điều trị và phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng;
- Người bán lẻ phải xác định rõ trường hợp nào cần có tư vấn của người
có chuyên môn phù hợp với loại thuốc cung cấp để tư vấn cho người muathông tin về thuốc, giá cả và lựa chọn các thuốc không cần kê đơn;
- Đối với người bệnh đòi hỏi phải có chẩn đoán của thầy thuốc mới cóthể dùng thuốc, người bán lẻ cần tư vấn để bệnh nhân tới khám thầy thuốcchuyên khoa thích hợp hoặc bác sĩ điều trị;
- Đối với những người mua thuốc chưa cần thiết phải dùng thuốc, nhânviên bán thuốc cần giải thích rõ cho họ hiểu và tự chăm sóc, tự theo dõi triệuchứng bệnh;
- Đối với bệnh nhân nghèo, không đủ khả năng chi trả thì người bán lẻcần tư vấn lựa chọn loại thuốc có giá cả hợp lý, đảm bảo điều trị bệnh và giảmtới mức thấp nhất khả năng chi phí;
- Không được tiến hành các hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc tạinơi bán thuốc trái với quy định về thông tin quảng cáo thuốc; khuyến khíchngười mua coi thuốc là hàng hoá thông thường và khuyến khích người muamua thuốc nhiều hơn cần thiết
c) Bán thuốc theo đơn:
- Khi bán các thuốc theo đơn phải có sự tham gia trực tiếp người bán lẻ
có trình độ chuyên môn phù hợp và tuân thủ theo các quy định, quy chế hiệnhành của Bộ Y tế về bán thuốc theo đơn
- Người bán lẻ phải bán theo đúng đơn thuốc Trường hợp phát hiệnđơn thuốc không rõ ràng về tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, số lượng, hoặc cósai phạm về pháp lý, chuyên môn hoặc ảnh hưởng đến sức khoẻ người bệnh,người bán lẻ phải thông báo lại cho người kê đơn biết
- Người bán lẻ giải thích rõ cho người mua và có quyền từ chối bánthuốc theo đơn trong các trường hợp đơn thuốc không hợp lệ, đơn thuốc cósai sót hoặc nghi vấn, đơn thuốc kê không nhằm mục đích chữa bệnh
Trang 32- Người bán lẻ là dược sĩ đại học có quyền thay thế thuốc bằng mộtthuốc khác có cùng hoạt chất, dạng bào chế, cùng liều lượng khi có sự đồng ýcủa người mua
- Người bán lẻ hướng dẫn người mua về cách sử dụng thuốc, nhắc nhởngười mua thực hiện đúng đơn thuốc
- Sau khi bán thuốc gây nghiện, nhân viên nhà thuốc phải vào sổ, lưuđơn thuốc bản chính
3 Bảo quản thuốc
a) Thuốc phải được bảo quản theo yêu cầu ghi trên nhãn thuốc;
b) Thuốc nên được sắp xếp theo nhóm tác dụng dược lý;
c) Các thuốc kê đơn nếu được bày bán và bảo quản tại khu vực riêng cóghi rõ “Thuốc kê đơn” hoặc trong cùng một khu vực phải để riêng các thuốcbán theo đơn Việc sắp xếp đảm bảo sự thuận lợi, tránh gây nhầm lẫn
4 Yêu cầu đối với người bán lẻ trong thực hành nghề nghiệp
a) Đối với người làm việc trong cơ sở bán lẻ thuốc:
- Có thái độ hoà nhã, lịch sự khi tiếp xúc với người mua thuốc, bệnh nhân;
- Hướng dẫn, giải thích, cung cấp thông tin và lời khuyên đúng đắn vềcách dùng thuốc cho người mua hoặc bệnh nhân và có các tư vấn cần thiếtnhằm đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả;
- Giữ bí mật các thông tin của người bệnh trong quá trình hành nghềnhư bệnh tật, các thông tin người bệnh yêu cầu;
- Trang phục áo blu trắng, sạch sẽ, gọn gàng, có đeo biển ghi rõ tên,chức danh;
- Thực hiện đúng các quy chế dược, tự nguyện tuân thủ đạo đức hànhnghề dược;
- Tham gia các lớp đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn và phápluật y tế;
b) Đối với người quản lý chuyên môn hoặc chủ cơ sở bán lẻ thuốc:
Trang 33- Phải thường xuyên có mặt trong thời gian hoạt động và chịu tráchnhiệm trước pháp luật về mọi mặt hoạt động của cơ sở; trong trường hợp vắngmặt phải uỷ quyền cho nhân viên có trình độ chuyên môn tương đương trở lênđiều hành theo quy định;
- Trực tiếp tham gia việc bán các thuốc phải kê đơn, tư vấn cho người mua
- Liên hệ với bác sĩ kê đơn trong các trường hợp cần thiết để giải quyếtcác tình huống xảy ra
- Kiểm soát chất lượng thuốc mua về, thuốc bảo quản tại nhà thuốc
- Thường xuyên cập nhật các kiến thức chuyên môn, văn bản quy phạmpháp luật về hành nghề dược và không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụcung ứng thuốc
- Đào tạo, hướng dẫn các nhân viên tại cơ sở bán lẻ về chuyên môncũng như đạo đức hành nghề dược
- Cộng tác với y tế cơ sở và nhân viên y tế cơ sở trên địa bàn dân cư,phối hợp cung cấp thuốc thiết yếu, tham gia truyền thông giáo dục về thuốccho cộng đồng và các hoạt động khác
- Theo dõi và thông báo cho cơ quan y tế về các tác dụng không mongmuốn của thuốc
c) Các hoạt động cơ sở bán lẻ cần phải làm đối với thuốc bị khiếu nạihoặc thu hồi:
- Phải có hệ thống lưu giữ các thông tin, thông báo về thuốc khiếu nại,thuốc không được phép lưu hành, thuốc phải thu hồi;
- Có thông báo thu hồi cho khách hàng Kiểm tra và trực tiếp thu hồi,biệt trữ các thuốc phải thu hồi để chờ xử lý;
- Có hồ sơ ghi rõ về việc khiếu nại và biện pháp giải quyết cho ngườimua về khiếu nại hoặc thu hồi thuốc;
- Nếu huỷ thuốc phải có biên bản theo quy chế quản lý chất lượng thuốc;
- Có báo cáo các cấp theo quy định [48]
Trang 34* So sánh tiêu chuẩn GPP của Việt Nam với tiêu chuẩn GPP của một số nước và khu vực trên thế giới
- Về cơ bản tiêu chuẩn GPP của một số nước trên thế giới và nước tađều dựa trên nền tảng GPP của WHO và FIP, nhưng có khác nhau giữa cácnước và có được điều chỉnh trong quá trình thực hiện
- Tiêu chuẩn GPP ở các nước đa số do Hội đồng Dược quốc gia soạnthảo và ban hành, mang tính khuyến khích thực hiện nhiều hơn là bắt buộc,không quy định thời hạn bắt buộc phải thực hiện như ở nước ta
- Các nước như Mỹ, Canada, khu vực Châu Âu… tiêu chuẩn GPP có
xu hướng đề cập sâu hơn về nhân sự, đặc biệt là vai trò của người dược sĩtạicác nhà thuốc, dược sĩ tham gia vào nhóm chuyên gia chăm sóc sức khỏe
Cơ sở vật chất của nhà thuốc đối với các khu vực này không gặp khó khăn khithực hiện Đa số nhà thuốc tư nhân rộng, có phòng pha chế theo đơn, một sốnhà thuốc có phòng khám, kho dự trữ thuốc… Các nước thuộc khu vực này
đã thực hiện GPP rất sớm, ngay từ năm 1997 khi WHO và FIP ban hành tiêuchuẩn GPP lần đầu tiên
- Các nước thuộc khu vực Châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á(trong đó có nước ta) quan tâm nhiều đến cơ sở vật chất ở quy mô nhỏ, vai tròcủa dược sĩtại nhà thuốc chưa được quan tâm đúng mức Các nước thuộc khuvực này thực hiện GPP từ năm 2003 và 2007
1.2 Cơ sở thực tiễn liên quan đến nội dung nghiên cứu
1.2.1.Một số đề tài nghiên cứu về hoạt động bán lẻ thuốc trên thế giới
Một số đề tài nghiên cứu về hoạt động bán lẻ thuốc ở một số nước trênthế giới đã tìm hiểu từ năm 1995 đến nay:
- Ở khu vực Châu Âu:
+ Ở nước Anh: Khả năng tiếp cận của các nhà thuốc cộng đồng tạinước Anh đối với người dân rất cao, vai trò của dược sĩ tại nhà thuốc rộng,các dược sĩ được phép bán những thuốc thuộc nhóm kê đơn với điều kiệnđược đào tạo ở mức cao hơn về kiến thức và trong một số điều kiện cụ thể
Trang 35Các kiến nghị được nêu ra là: Tiếp tụcphát triển hệ thống công nghệ thông tin,các quy định bổ sung và sự phát triển về số lượng dược sĩ tham gia tại các nhàthuốc để đảm bảo các bệnh nhân tiếp tục được chăm sóc tốt hơn từ các nhàthuốc tư nhân [49], [50] Việc nghiên cứu kiến thức và thái độ trong việc sửdụng kháng sinh của cộng đồng đã được nghiên cứu và với mục đích xâydựng các kế hoạch tuyên truyền cho cộng đồng một cách phù hợp [51].
+ Ở nước Pháp: Tình trạng các dược sĩ không muốn làm việc tại nhàthuốc hoặc không muốn làm chủ một nhà thuốc độc lập mà tham gia với vaitrò là nhân viên Những nguyên nhân đã được đề cập là: Các dược sĩ chưa đạtđược mức độ nghề nghiệp trong hoạt động chăm sóc sức khỏe [52]; thời gianlàm việc; tiền lương Kiến nghị được nêu ra là cần tăng cường mức độ nghềnghiệp trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cho dược sĩ, việc mở rộng phạm vihoạt động của các nhà thuốc tư nhân phải đi cùng với những quy định về thờigian làm việc, thù lao và các vấn đề tổ chức khác, đặc biệt là cần thiết để tạo
ra một địa điểm tư vấn để tôn trọng sự riêng tư của bệnh nhân [53]
- Ở nước Mỹ: Mặc dù đã có nhiều tiến bộ đạt được trong lĩnh vực phânphối dược phẩm, nước Mỹ vẫn có những thách thức để giải quyết Ví dụ, làmthế nào để nâng cao vai trò của dược sĩ trong việc hướng dẫn người bệnh dùngthuốc theo đơn; làm thế nào để giúp những người nhập cư để họ đưa ra quyếtđịnh tốt nhất cho sức khỏe của họ; tình trạng thiếu dược sĩ ở nông thôn, nhậnthức của dược sĩ về vai trò của họ trong việc chăm sóc bệnh nhân và các dịch
vụ y tế công cộng [30], [54] Có nhiều kiến nghị đã được nêu ra, trong đó haikiến nghị được quan tâm là: Phải giám sát chặt chẽ các nhà thuốc tư nhân trongquá trình hoạt động nhằm giúp dược sĩ thực hiện khả năng của họ; các quy định
về hành nghề luôn được cập nhật và cải tiến ngày càng hoàn thiện hơn [55]
- Ở nước Canada: Hoạt động tư vấn tại các nhà thuốc chưa được cácdược sĩ quan tâm Vai trò của các dược sĩ trong việc bán các thuốc thuộcnhóm kê đơn đã được mở rộng nhưng chưa có sự thống nhất trong các bang.Nguyên nhân là do mỗi bang tại Canada có các quy định khác nhau về vai trò
Trang 36của dược sĩ tại nhà thuốc [56]; các dược sĩ thiếu thời gian, thiếu sự phối hợpvới các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, thiếu lực lượng nhân viên hoặc cácnguồn lực khác; tài chính và kiến thức lâm sàng Có nhiều kiến nghị đã đượcnêu ra, trong đó ba kiến nghị được quan tâm là: Cần thống nhất các quy địnhquản lý nhà nước; tăng cường kỹ năng thực hành nghề nghiệp cho dược sĩ;điều chỉnh quá trình đào tạo và đào tạo liên tục [57], [58]
- Ở nước Úc: Vai trò của dược sĩ được mở rộng, dược sĩ tham gia trongnhóm chăm sóc sức khỏe, thực hiện tốt vai trò tư vấn Các nhà thuốc đượctham gia vào các chương trình bảo hiểm của nhà nước Nước Úc đang có tìnhtrạng thiếu nhân viên nhà thuốc có trình độ cao được đào tạo kiến thức rộng
về sản phẩm thuốc, pháp luật và các quy định để làm việc hiệu quả [50], [59]
- Khu vực các nước đang phát triển:
+ Đề tài nghiên cứu về hành vi bán lẻ thuốc (bán thuốc trị tiêu chảy chotrẻ em) ở các cơ sở bán lẻ thuốc tư nhân ở các nước đang phát triển (trong đó
có Việt Nam) đã cho thấy có nhiều hạn chế (tình trạng sử dụng kháng sinh,chất hấp phụ đã được bán thay cho bù nước oresol và các thuốc trị tiêu chảyphù hợp) Đề tài đã xác định được bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vibán lẻ thuốc đó là: Yếu tố của chính cơ sở bán lẻ, khách hàng, bác sĩkê đơn vànhững quy định pháp lý Đề tài cũng sử dụng bốn loại can thiệp nhằm thayđổi hành vi của người bán lẻ đó là: Thông tin, thuyết phục, khuyến khích vàbắt buộc Hạn chế của đề tài là không phân biệt được người quản lý và nhânviên tại một cơ sở bán lẻ, cũng như chỉ tập trung vào phân tích việc bán thuốcđiều trị trong bệnh tiêu chảy cho trẻ em, kế hoạch hóa gia đình [60]
+ Đề tài nghiên cứu về Luật, những quy định đối với hoạt động bán lẻthuốc và quá trình hợp nhất lĩnh vực bán lẻ thuốc tại các quốc gia có thu nhậpthấp và trung bình (trong đó có Việt Nam): Kết quả nghiên cứu cho thấy ở cácnước này Luật và các quy định tập trung vào các lĩnh vực: Quy định quyền sởhữu, nhân sự, thuốc, kê đơn và giá thuốc Luật và các quy định trong lĩnh vựcbán lẻ thuốc chưa có sự đồng bộ và việc thực thi các quy định gặp khó khăn
Trang 37do năng lực của Chính phủvà do sự phân tán của thị trường bán lẻ dược phẩm.Việc cho phép thành lập các chuỗi nhà thuốc tại các khu vực này đang cókhuynh hướng mở rộng phạm vi hoạt động cho các nhà thuốc và góp phần ổnđịnh hoạt động cho các nhà thuốc [61].
- Ở Ấn Độ: Không có sự phân biệt rõ ràng giữa nhà thuốc của dược sĩ(02 năm) và dược sĩ (04 năm) Hoạt động của nhà thuốc chủ yếu là cung ứngthuốc (theo đơn và không theo đơn), vai trò tư vấn hầu như không thực hiện,50% các nhà thuốc hoạt động mà không có dược sĩ Nguyên nhân được đề cập
là chương trình đào tạo chưa phù hợp cho các dược sĩ làm việc tại nhà thuốc,tiền lương thấp, sự đánh giá của xã hội và người dân đối với vai trò của dược
sĩ tại nhà thuốc thấp và những vấn đề này cần phải điều chỉnh[62], [63], [64]
- Ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE): Tình trạng nhàthuốc không đảm bảo nhiệt độ theo quy định để bảo quản thuốc là phổ biến[65] Thực trạng bán các thuốc không kê đơn (trong đó có kháng sinh) cũngrất phổ biến tại nhà thuốc (96,3%), việc hướng dẫn bệnh nhân về tương tácthuốc và tác dụng phụ của thuốc có tỷ lệ là 0% Kiến nghị được đề ra là tăngcường công tác giám sát của cơ quan nhà nước và công tác giáo dục cho dược
sĩ [66] Nghiên cứu vai trò của dược sĩ ở nước này cho thấy còn nhiều hạnchế, sự hài lòng của dược sĩ về vai trò của họ chưa cao [37] Nghiên cứu thái
độ của côngchúng về nhà thuốc cộng đồng từ đó kiến nghị cần phải tuyêntruyền để người dân hiểu rõ hơn vai trò của các dược sĩ tại các nhà thuốc [67]
- Ở Singapore: Hoạt động của dược sĩtại các nhà thuốc chủ yếu là báncác sản phẩm khác không phải là thuốc, thuốc theo toa rất ít Vai trò tư vấncòn hạn chế, các dược sĩ cung cấp lời khuyên về điều trị những bệnh đơngiản, nâng cao sức khỏe Yếu tố chính làm cản trở sự phát triển của nhà thuốc
tư nhân là: Dược sĩ chưa đủ khả năng trong việc điều trị bệnh nhân, mối quan
hệ còn hạn chế giữa cácdược sĩ và các bác sĩ, không được tiếp cận kịp thờithông tin bệnh nhân, hạn chế về thời gian và kinh phí; việc sử dụng công nghệthông tin tại các nhà thuốc nhằm hạn chế thời gian chờ đợi của bệnh nhân,
Trang 38đây là những vấn đề đã được đề xuất để cải thiện trong tương lai [50],[68].Dược sĩ được cử đi tu nghiệp tại Mỹ để có những kinh nghiệm trong việcquản lý nhà thuốc cộng đồng [69].
- Ở Nhật Bản: Vai trò của dược sĩ tại nhà thuốc đang được mở rộngtrong việc chăm sóc sức khỏe bệnh nhântại nhà thuốc và chăm sóc sức khỏetại nhà, tuy nhiên hoạt động tư vấn tại các nhà thuốc ở Nhật Bản vẫn còn hạnchế [70] Việc duy trì và mở rộng chương trình đào tạo từ 4 năm sang 6 năm,trong đó có 6 tháng đào tạo lâm sàng trong các bệnh viện và nhà thuốc tưnhân Sự thay đổi này sẽ cung cấp cơ hội cho các dược sĩ chăm sóc sức khỏebệnh nhântốt hơn tại nhà thuốc và chăm sóc sức khỏe tại nhà [71]
- Ở Malaysia: Hoạt động của các nhà thuốc vẫn chủ yếu là bán thuốckhông kê đơn, số lượng đơn thuốc rất ít, hoạt động tư vấn chưa phát triển[72],[73] Nghiên cứu kiến thức và thái độ của người dân về việc sử dụng khángsinh còn thấp và có mối liên quan giữa kiến thức và thái độ [74]
- Ở Thái Lan:Hoạt động của các dược sĩ tại các nhà thuốc tư nhân cònhạn chế như vấn đề tự ý dùng thuốc của bệnh nhân, bán thuốc thuộc nhóm kêđơn không có đơn, mặc dù Thái Lan đã triển khai tiêu chuẩn GPP nhưng có tỷ
lệ các dược sĩ không hài lòng với những hướng dẫn đã ban hành Những yếu
tố ảnh hưởng đã được nghiên cứu đó là: giá cả cạnh tranh, thiếu các công cụ
để hỗ trợ các dịch vụ thực hành, khối lượng công việc, thái độ và ý địnhcủadược sĩ, nhận thức của các bác sĩ và bệnh nhân đối với các dịch vụ này[75].Việc xây dựng các năng lực cần thiết cho người dược sĩ làm việc tại nhàthuốc cộng đồng đã được tiến hành [76]
1.2.2 Một số đề tài nghiên cứu về hoạt động bán lẻ thuốc ở nước ta
Các đề tài nghiên cứu từ năm 2010 đến nay cho thấy thực trạng hoạtđộng tại các cơ sở đã đạt tiêu chuẩn GPP vẫn còn nhiều hạn chế, một số viphạm thường gặp như:
+ Tỷ lệ DSĐH có mặt tại nhà thuốc: Tại tỉnh Quảng Ninh năm 2010(20,9%) [77], Hà Nội năm 2010 (20%) [78]; Thái Nguyên năm 2010 (25,7%)
Trang 39[79]; Ninh Bình năm 2013 (36,6%) [80]; thành phố Hải Phòng năm 2014(6,7%) [81] Tại Đà Nẵng năm 2013 (36,7%) [82].
+ Tỷ lệ không mang bảng tên tương ứng là: Hà Nội (90%); TháiNguyên (93,6%); Ninh Bình (100%); Hải Phòng (63,3%)
+ Tỷ lệ vi phạm quy định bán thuốc thuộc nhóm kê đơn khi không cóđơn: Thái Nguyên (96,3%); Ninh Bình (75,6%); Hải Phòng (75%)
+ Một số vi phạm khác như: Tỷ lệ không hướng dẫn người mua thuốc
về tương tác thuốc là 97,9%, tỷ lệ không hướng dẫn người mua thuốc về tácdụng không mong muốn của thuốc là 84,1% (Quảng Ninh); không có bao bìđựng thuốc là 97% (Hà Nội);
+ Hoạt động bán lẻ thuốc của nhân viên nhà thuốc trong trường hợp bịbệnh tiêu chảy ở Việt Nam: Nghiên cứu can thiệp bằng biện pháp tập huấn,cung cấp tài liệu và giám sát đã được tiến hành nhằm thay đổi hành vi củangười bán lẻ thuốc Một số hành vi đã có sự thay đổi nhưng vẫn có khoảngcách giữa kiến thức và thực hành nghề nghiệp chưa thay đổi [83]
Một số kiến nghị với Bộ Y tế đã được nêu lên trong các đề tài trên: + Cần bổ sung tiêu chí về kỹ năng tư vấn, hướng dẫn sử dụng thuốc chocộng đồng của người bán thuốc nhằm đảm bảo đánh giá được toàn bộ cáchoạt động của cơ sở đạt chuẩn GPP
+ Cần sớm ban hành thông tư hướng dẫn về: “Thực hành tốt kê đơnthuốc –GPP”
+ Nghiên cứu mô hình quản lý phù hợp cho các địa phương để thuậnlợi cho công tác quản lý
1.2.3 Vận dụng cơ sở thực tiễn vào nội dung nghiên cứu của đề tài
- Sự kế thừa: Đề tài đã kế thừa những nghiên cứu trong lĩnh vực bán lẻ
thuốc (đặc biệt là ở các nước đang phát triển) đó là đánh giá các hoạt độngcủangười bán lẻ thuốc tại các cơ sở của họ, xem xét sự tác động của các yếu tố liênquan, bao gồm sự ảnh hưởng của quy định quản lý nhà nước, hoạt động của cơquan quản lý nhà nước, những lợi ích khi người bán lẻ có được khi thực hiện
Trang 40đúng các hoạt đồng nghề nghiệp và người mua thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc.
Đề tài cũng đã sử dụng hai biện pháp can thiệp là thông tin và tuyên truyền chonhững người bán lẻ thuốc đồng ý tham gia tiến trình can thiệp
- Điểm mới của đề tài: Nghiên cứu của đề tài không đi sâu phân tích
các hành vi cụ thể của người bán lẻ thuốc (trị bệnh tiêu chảy, hướng dẫn dùngthuốc tránh thai…) mà tập trung đánh giá việc chấp hành các quy định chuyênmôn trong hoạt động nghề nghiệp của người bán lẻ thuốc, những quy địnhnày người bán lẻ phải thực hiện theo những tiêu chuẩn đã được xâydựng.Đồng thời việc xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghềnghiệp được tiếp cận theo hướng xem xét mối quan hệ giữa nhận thức vàhành vi (đó là giữa nhận thức về các yếu tố tác động ảnh hưởng đến hành vi)
và mối quan hệ giữa kiến thức, thái độ, hành vi của người mua thuốc đếnhành vi của người bán thuốc Đề tài cũng đã khắc phục được điểm hạn chếcủa một số đề tài nghiên cứu trên thế giới và trong nước khi không xác định
rõ ràng giữa người chủ cơ sở và nhân viên Bản chất của quá trình nghiên cứu
là một nghiên cứu định tính, việc sử dụng các phép kiểm thống kê với mụcđích để giải thích rõ hơn lý luận mà đề tài đã tiếp cận
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
Đồng Nai là một tỉnh thuộc khu vực miền Đông Nam bộ Đồng Naigồm 01 thành phố loại II, 01 thị xã và 09 huyện [84]
Khí hậu Đồng Nai là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa tương phảnnhau là mùa khô và mùa mưa Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng
4 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 Nhiệt độ trung bìnhnăm 25 –33oC, nhiệt độ cao nhất khoảng 37oC, số giờ nắng trong năm: 2.500– 2.700 giờ, độ ẩm trung bình: 80 – 82% [84]
1.3.2.Hoạt động bán lẻ thuốc trên địa bàn
Đồng Nai có số lượng cơ sở hành nghề phát triển khá nhanh, số cơ sở
đã vượt tiêu chí 01 cơ sở /2000 dân theo hướng dẫn của Bộ Y tế Đồng Nai