1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự làm việc của shear key trong liên kết cột ống thép nhồi bê tông với sàn phẳng

66 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 5,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA NGUYỄN DUY VIỆT NGHIÊN CỨU SỰ LÀM VIỆC CỦA SHEAR-KEY TRONG LIÊN KẾT CỘT ỐNG THÉP NHỒI BÊ TÔNG VỚI SÀN PHẲNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT XÂY DỰNG

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

NGUYỄN DUY VIỆT

NGHIÊN CỨU SỰ LÀM VIỆC CỦA SHEAR-KEY TRONG LIÊN KẾT CỘT ỐNG THÉP NHỒI BÊ TÔNG VỚI

SÀN PHẲNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆP

Quảng Ngãi – Năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

NGUYỄN DUY VIỆT

NGHIÊN CỨU SỰ LÀM VIỆC CỦA SHEAR-KEY TRONG LIÊN KẾT CỘT ỐNG THÉP NHỒI BÊ TÔNG VỚI

SÀN PHẲNG

Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp

Mã số: 8580201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐÀO NGỌC THẾ LỰC

Quảng Ngãi – Năm 2019

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Việt

Trang 4

NGHIÊN CỨU SỰ LÀM VIỆC CỦA SHEAR – KEY TRONG LIÊN KẾT

CỘT ỐNG THÉP NHỒI BÊ TÔNG VỚI SÀN PHẲNG

Học viên: Nguyễn Duy Việt Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình DD&CN

Mã số: 8580201 Khóa: 34 Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt - Hệ kết cấu kết hợp sàn phẳng (sàn phẳng bê tông cốt thép hoặc sàn phẳng bê tông ứng

lực trước) và cột ống thép nhồi bê tông cho kết cấu nhà cao tầng sẽ đem lại hiệu quả cao về mặt kinh tế, kĩ thuật Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất khi kết hợp hai loại kết cấu này đấy là liên kết Hiện nay, các nghiên cứu chỉ thực hiện nghiên cứu tổng thể cho liên kết cột giữa với sàn phẳng và chưa có nhiều các nghiên cứu đề cập đến sự đóng góp của từng bộ phận liên kết đến khả năng chịu cắt của sàn phẳng Đối với liên kết sàn phẳng – cột CFST, chi tiết Shear-key đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối sàn và cột đảm sự làm việc chung của hệ kết cấu Trong luận văn này tác giả sử dụng Shear-key là thép hình chữ H làm chi tiết liên kết Kết quả nghiên cứu cho thấy chi tiết liên kết đảm bảo sự sự kết nối sàn – cột và đảm bảo khả năng chịu cắt thủng cho sàn

Từ khóa – CFST, Cột ống thép nhồi bê tông, liên kết, shear-key, khả năng chịu cắt thủng g

RESEARCH EFFECTS ON SHEAR - KEY IN THE CONCRETE FILLED STEEL TUBE

TO FLAT SLAB CONNECTION

Abstract - The structural system combined with flat slab (reinforced concrete flat slab or

pre-stressed concrete floor) and concrete filled steel tube column for high-rise buildings will bring high economic and technical efficiency However, the biggest problem when combining these two types of structures is connection Currently, studies only carry out a general study of the middle column connection with flat slab and there are not many studies mentioning the contribution of each component to the shear resistance of the flat slab For flat slab - CFST columns connection, Shear-key detail is an important role in connecting flat slab and columns to ensure the overall work of the structure In this thesis, the author uses Shear-key as H-shaped steel as a connection The research results show that the connection ensures the connection of the flat slab - CFST column and ensures the puncture resistance for the flat slab

Key words - CFST, Concrete filled steel tube column, Connection, shear-key, Punching shear

strength

Trang 5

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

TRANG TÓM TẮT LUẬN VĂN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

5 KẾT QUẢ DỰ KIẾN 2

6 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KẾT CẤU CỘT CFST, SÀN PHẲNG VÀ MỐI LIÊN KẾT GIỮA CỘT CFST VỚI SÀN PHẲNG 3

1.1 TỔNG QUAN VỀ CỘT ỐNG THÉP NHỒI BÊ TÔNG 3

1.1.1 Khái niệm về cột ống thép nhồi bê tông 3

1.1.2 Phân loại cột ống thép nhồi bê tông 3

1.1.3 Ưu điểm, nhược điểm của cột ống thép nhồi bê tông 6

1.1.4 Khả năng áp dụng 7

1.2 TỔNG QUAN CÁC LOẠI SÀN PHẲNG BTCT 8

1.2.1 Sàn phẳng BTCT thường 8

1.2.2 Sàn phẳng bê tông ứng lực trước 9

1.2.3 Sàn Bubbledeck 10

1.2.4 Sàn U-boot Beton 12

1.3 TỔNG QUAN VỀ LIÊN KẾT GIỮA CỘT ỐNG THÉP NHỒI BÊ TÔNG VỚI SÀN PHẲNG BÊ TÔNG CỐT THÉP 13

1.3.1 Nghiên cứu của Hiroki Satoh 14

1.3.2 Nghiên cứu của Y Su, Y Tian 15

1.3.3 Nghiên cứu của Cheol-Ho Lee 16

1.3.4 Nghiên cứu của Young K.Ju 17

1.3.5 Nghiên cứu của Jin-Won Kim 18

1.3.6 Nghiên cứu của Alessandra L Carvalho 20

Trang 6

1.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

CHƯƠNG 2 SỰ LÀM VIỆC CỦA SHEAR KEY TRONG LIÊN KẾT CỘT ỐNG THÉP NHỒI BÊ TÔNG VỚI SÀN PHẲNG 22

2.1 VAI TRÒ CỦA SHEAR KEY TRONG LIÊN KẾT CỘT CFST VỚI SÀN PHẲNG BTCT 22

2.2 TÍNH TOÁN SỰ ĐÓNG GÓP CỦA SHEAR KEY ĐẾN KHẢ NĂNG CHỊU CẮT THỦNG CHO SÀN 23

2.2.1 Hệ shear key làm việc như một cột kích thước lớn 23

2.2.2 Khả năng chịu cắt thủng của sàn là sự đóng góp của bê tông và shear key 27

2.3 CẤU TẠO SHEAR KEY 28

2.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 29

CHƯƠNG 3 THÍ NGHIỆM KHẢO SÁT SỰ LÀM VIỆC CỦA SHEAR-KEY TRONG LIÊN KẾT CỘT ỐNG THÉP NHỒI BÊ TÔNG VỚI SÀN PHẲNG 30

3.1 CHẾ TẠO MẪU, THIẾT BỊ VÀ THIẾT LẬP THÍ NGHIỆM 30

3.1.1 Cấu tạo liên kết cột CFST với sàn phẳng bê tông ứng lực trước 30

3.1.2 Thiết kế mẫu thí nghiệm 31

3.1.3 Chế tạo mẫu thí nghiệm 33

3.1.4 Thiết bị thí nghiệm 34

3.2 THÍ NGHIỆM XÁC ĐỊNH CƯỜNG ĐỘ CỦA VẬT LIỆU 37

3.2.1 Thí nghiệm bê tông 37

3.2.2 Cốt thép thanh 38

3.2.3 Cáp ứng lực trước 39

3.3 THIẾT LẬP THÍ NGHIỆM 40

3.4 MÔ TẢ KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐO 41

3.4.1 Mô tả kết quả thí nghiệm 41

3.4.2 Đánh giá kết quả thí nghiệm 42

3.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 45 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)

Trang 7

CFST : Concrete filled steel tube (Ống thép nhồi bêtông)

BTCT : Bê tông cốt thép

f' c : Cường độ chịu nén của bêtông

fy : Cường độ chịu kéo của cốt thép

Ec : Môđun đàn hồi của bêtông

Es : Môđun đàn hồi của cốt thép

Is : Mômen quán tính của tấm thép chịu cắt

Ic : Mômen quán tính của tiết diện bê tông bao quanh mũ chịu cắt

wu : Tải trọng phân bố đều trên sàn

chiều dài cánh tay vươn chịu cắt

As : Tổng diện tích cốt thép chịu kéo trên bề rộng b của dải sàn Asm : Diện tích cốt thép post-punching theo mỗi phương của sàn

a : Chiều cao vùng nén bêtông

Mp : Mômen dẻo của tấm thép chịu cắt

Vu : Lực cắt tổng cột tác dụng vào cột

Vn : Lực cắt danh nghĩa tại tiết diện d/2 gồm (BT+tấm thép)

Vc : Khả năng chịu cắt danh nghĩa của bê tông sàn

fwf : Cường độ tính toán chịu cắt quy ước của que hàn

hf : Chiều cao đường hàn

lw : Chiều dài đường hàn

Trang 8

tw : Chiều dày tấm thép

hw : Chiều cao tấm thép

S : Mômen tĩnh của một nữa tiết diện chữ nhật tấm thép

fv : Cường độ tính toán về cắt của vật liệu tấm thép

fws : Cường độ tính toán chịu cắt quy ước của thép cơ bản

βf : Hệ số chiều sâu nóng chảy trên tiết diện qua đường hàn

βs : Hệ số chiều sâu nóng chảy trên tiết diện qua thép cơ bản Awf : Diện tích tính toán của tiết diện đường hàn ứng với tiết diện 1 Aws : Diện tích tính toán của tiết diện đường hàn ứng với tiết diện 2 Wws : Mô men kháng của tiết diện đường hàn ứng với tiết diện 1 Wwf : Mô men kháng của tiết diện đường hàn ứng với tiết diện 2 ldb : Chiều dài neo cơ bản

Ab : Diện tích thanh thép neo

ldh : Chiều dài neo thép có móc neo tiêu chuẩn

ld : Chiều dài neo thép thẳng

Vmax : Lực cắt lớn nhất trên dầm

Vp : Lực cắt truyền vào một tấm thép

η : Số lượng tấm thép chịu cắt

 : Hệ số độ tin cậy của bê tông chịu cắt

γc : Hệ số điều kiện làm việc

μ : Hệ số ma sát trên khe nứt nghiêng

Δs : Độ trượt của vết nứt

dg : Đường kính cốt liệu lớn nhất

ρk : Tổng thể tích cốt liệu trên đơn vị thể tích bê tông

Trang 9

Bảng 3.1 Kết quả thí nghiệm nén mẫu bê tông 38

Bảng 3.2 Số liệu thí nghiệm kéo cốt thép thanh 10 39

Bảng 3.3 Số liệu thí nghiệm kéo cốt thép thanh 14 39

Bảng 3.4 Đặc tính kỹ thuật của cáp dự ứng lực 39

Trang 10

Hình 1.1 Cấu tạo cột ống thép nhồi bê tông 3

Hình 1.2 Mặt cắt điển hình cột ống thép nhồi bê tông 4

Hình 1.3 Cột ống thép nhồi bê tông với hai lớp ống thép 4

Hình 1.4 Cột CFST được bao bê tông (Concrete-encased CFST) 4

Hình 1.5 Cột CFST tăng cường kết cấu thép và cốt thép gia cường 5

Hình 1.6 CFST với sườn tăng cứng 5

Hình 1.7 Ví dụ về công trình nhà cao tầng được xây dựng bằng kết cấu CFST 7

Hình 1.8 Ví dụ về cầu sử dụng kết cấu CFST 8

Hình 1.9 Sàn phẳng bê tông cốt thép 9

Hình 1.10 Sàn bê tông ứng lực trước 10

Hình 1.11 Thi công sàn Bubble Deck 11

Hình 1.12 Các chốt liên kết các hộp U-boot theo hai phương 12

Hình 1.13 Thi công sàn U-Boot Beton 13

Hình 1.14 Liên kết cột CFST - sàn BTCT đề xuất bởi Hiroki Satoh (2004)[1] 14

Hình 1.15 Quá trình thiết lập thí nghiệm của Hiroki Satoh (2004)[1] 14

Hình 1.16 Mẫu liên kết của Y Su, Y Tian (2010)[2] 15

Hình 1.17 Mô phỏng quá trình thí nghiệm - Y Su, Y Tian (2010) [2] 15

Hình 1.18 Liên kết đề xuất bởi Cheol-Ho Lee (2007) [3] 16

Hình 1.19 Liên kết đề xuất bởi Young K Ju (2013)[4] 18

Hình 1.20 Thí nghiệm liên kết cột CFST-sàn BTCT Jin-Won Kim(2014)[5] 18

Hình 1.21 Sự phá hoại sàn BTCT - thí nghiệm của Jin-Won Kim (2014)[5] 19

Hình 1.22 Nghiên cứu của Thibault Clément (2014) [7] 20

Hình 2.1 Cơ chế truyền lực cắt qua khe nứt nghiêng 22

Hình 2.2 Xác định chu vi tiết diện tới hạn 24

Hình 2.3 Chu vi tại tiết diện tới hạn sử dụng thép mũ chịu cắt 25

Hình 2.4 Tiết diện tới hạn và nội lực trong thép mũ chịu cắt 25

Hình 2.5 Ý tưởng đóng góp khả năng chịu cắt tại trạng thái tới hạn của Shear key27 Hình 3.1 Mặt cắt dọc bố trí liên kết cột CFST- sàn phẳng BTCT 30

Hình 3.2 Cấu tạo chi tiết liên kết 31

Hình 3.3 Cấu tạo chi tiết liên kết và bố trí cốt thép sàn 32

Hình 3.4 Bố trí cốt thép đai 32

Hình 3.5 Chế tạo liên kết cột CFST- sàn phẳng BTCT 33

Hình 3.6 Lắp đặt cốt thép và cáp dự ứng lực 33

Hình 3.7 Đổ bê tông sàn và dưỡng hộ mẫu 34

Hình 3.8 Cảm biến đo biến dạng bê tông (strain gauges) 34

Hình 3.9 Cảm biến đo chuyển vị LVDT 35

Hình 3.10 Máy bơm dầu 35

Hình 3.11 Kích thủy lực 250T 36

Hình 3.12 Data logger 36

Trang 11

Hình 3.14 Thiết bị ứng lực trước 36

Hình 3.15 Kích kéo cáp 37

Hình 3.16 Máy bơm vữa 37

Hình 3.17 Đúc mẫu bê tông mẫu trụ 150×300mm và dưỡng hộ 37

Hình 3.18 Thí nghiệm nén mẫu bê tông 38

Hình 3.19 Thí nghiệp ép chẻ 38

Hình 3.20 Mẫu thép, thí nghiệm kéo thép 38

Hình 3.21 Lắp đặt thiết bị và thiết bị đo cho mẫu thí nghiệm 40

Hình 3.22 Strain gauge đo biến dạng bề mặt cánh trên của Shear-head 40

Hình 3.23 Vết nứt trên sàn tại cấp tải P=1080kN 41

Hình 3.24 Vết nứt trên sàn tại cấp tải P=1530kN 42

Hình 3.25 Sự phá hoại sàn tại P=1780kN 42

Hình 3.26 Đồ thị tải trọng - biến dạng cánh trên của Shear key 43

Hình 3.27 Đồ thị tải trọng - biến dạng ở bụng của Shear key 43

Hình 3.28 Mặt phá hoại của sàn có bố trí shear key 44

Hình 3.29 Mặt cắt sàn 44

Hình 3.30 Kết quả quan sát phá hoại bên trong sàn 45

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Các công trình nhà cao tầng ngày càng được sử dụng nhiều ở Việt Nam Một giải pháp kết cấu mới và hợp lý hơn các kết cấu truyền thống sẽ đem lại ý nghĩa lớn về mặt

kĩ thuật và hiệu quả sử dụng cho công trình Hệ kết cấu cột ống thép nhồi bê tông (Concrete Filled Steel Tube - CFST) và sàn phẳng (sàn phẳng bê tông cốt thép hoặc sàn phẳng bê tông ứng lực trước) là sự lựa chọn thích hợp vì:

Kết cấu cột ống thép nhồi bê tông (CFST) được sử dụng phổ biến trong kết cấu nhà cửa ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và là giải pháp hiệu quả thay thế cho cột bê tông cốt thép truyền thống vì những tính năng vượt trội về mặt kỹ thuật như có độ cứng lớn, cường độ cao, độ dẻo, khả năng phân tán năng lượng tốt và độ chống cháy cao Về mặt công nghệ cột ống thép nhồi bê tông dễ thi công, không cần hệ thống coffa nên rút ngắn được thời gian thi công xây dựng công trình, đặc biệt loại cột này sẽ phát huy hiệu quả trong thi công tầng hầm bằng phương pháp top – down Do đó, kết cấu cột ống thép nhồi bê tông có tiềm năng lớn cho việc thay thế cột bê tông cốt thép truyền thống trong kết cấu nhà cao tầng

Kết cấu sàn phẳng được xem là giải pháp sàn hiệu quả vì nó làm giảm được chiều cao tầng, tăng số tầng sử dụng cũng như thuận tiện cho thi công đẩy nhanh tiến

độ xây dựng, thuận lợi cho việc bố trí đường ống thiết bị kĩ thuật, dễ dàng thông gió và linh hoạt bố trí mặt bằng so với kết cấu sàn có dầm

Như vậy, việc kết hợp hai loại kết cấu sàn phẳng (sàn phẳng bê tông cốt thép hoặc sàn phẳng bê tông ứng lực trước) và cột ống thép nhồi bê tông cho kết cấu nhà cao tầng sẽ đem lại hiệu quả cao về mặt kinh tế, kĩ thuật Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất khi kết hợp hai loại kết cấu này đấy là liên kết Cơ chế ứng xử của liên kết giữa cột ống thép nhồi bê tông và kết cấu sàn phẳng phức tạp và chưa được hiểu rõ Hiện nay, các nghiên cứu chỉ thực hiện nghiên cứu tổng thể cho liên kết cột giữa với sàn phẳng

và chưa có nhiều các nghiên cứu đề cập đến sự đóng góp của từng bộ phận liên kết đến khả năng chịu cắt của liên kết Đối với liên kết sàn phẳng – cột CFST, chi tiết Shear-key đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối sàn và cột để đảm sự làm việc chung của hệ kết cấu Ứng xử của shear-key chưa được hiểu rõ do đó cần khảo sát các yếu tố ảnh hưởng của shear-key như tương quan độ cứng, ảnh hưởng của chiều dài, sự phân

bố mô men trong shear-key đến khả năng chịu lực của liên kết để từ đó đưa ra các giải pháp cấu tạo, tính toán hợp lý nhằm áp dụng hiệu quả hệ kết cấu sàn phẳng và cột ống thép nhồi bê tông trong xây dựng nhà cao tầng hiện nay Đấy là lý do để thực hiện luận văn với đề tài: “NGHIÊN CỨU SỰ LÀM VIỆC CỦA SHEAR – KEY TRONG

LIÊN KẾT CỘT ỐNG THÉP NHỒI BÊ TÔNG VỚI SÀN PHẲNG”

Trang 13

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu tổng quan về cột CFST, sàn phẳng (sàn phẳng bê tông cốt thép hoặc sàn phẳng bê tông ứng lực trước) và liên kết giữa cột CFST và sàn phẳng, sự làm việc của Shear-key;

Nghiên cứu thực nghiệm ứng xử của Shear-key trong liên kết cột giữa CFST với sàn phẳng;

Đưa ra các lưu ý khi thiết kế, tính toán, cấu tạo cho Shear - key

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Mối liên kết giữa cột CFST và sàn phẳng (sàn phẳng bê tông cốt thép hoặc sàn phẳng bê tông ứng lực trước)

Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát sự làm việc của Shear-key

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu lý thuyết;

Nghiên cứu thực nghiệm

5 KẾT QUẢ DỰ KIẾN

Kết quả ứng xử thực tế của Shear-key từ mô hình thí nghiệm;

Đưa ra các lưu ý khi thiết kế, tính toán, cấu tạo cho Shear - key

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KẾT CẤU CỘT CFST, SÀN PHẲNG

VÀ MỐI LIÊN KẾT GIỮA CỘT CFST VỚI SÀN PHẲNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ CỘT ỐNG THÉP NHỒI BÊ TÔNG

1.1.1 Khái niệm về cột ống thép nhồi bê tông

Cột ống thép nhồi bê tông (Concrete Filled Steel Tube, viết tắt CFST) là một kết cấu liên hợp bao gồm vỏ ống thép và lõi bê tông cùng làm việc chung với nhau (Hình 1.1)

Hình 1.1 Cấu tạo cột ống thép nhồi bê tông

Như đã biết, cường độ chịu nén của bê tông lớn hơn rất nhiều so với cường độ chịu kéo và cường độ chịu nén của bê tông sẽ được tăng lên khi bê tông bị hạn chế nở hông Đối với kết cấu thép, cường độ chịu kéo cao nhưng dễ bị mất ổn định cục bộ dưới tải trọng nén Trong loại kết cấu cột CFST, cốt thép và bê tông được sử dụng kết hợp để có thể phát huy hết bản chất tự nhiên và các đặc điểm nổi trội tạo ra kết cấu có nhiều ưu điểm Loại kết cấu này hiện đang được nghiên cứu áp dụng cho công trình nhà, xưởng, các công trình cầu đường ở Việt Nam

1.1.2 Phân loại cột ống thép nhồi bê tông

Cột ống thép nhồi bê tông về mặt cấu tạo rất đa dạng Dưới đây là một số dạng cấu tạo cho họ cột này

Dạng tiết diện phổ biến nhất của cột CFST là tiết diện mà bê tông được nhồi vào phần rỗng bên trong ống thép có dạng hình tròn (Circular Hollow Section - CHS), hay cột có tiết diện rỗng hình vuông (Square Hollow Section - SHS) hoặc cột có tiết diện

Trang 15

rỗng hình chữ nhật (Rectangular Hollow Section - RHS) Đối với tiết diện CHS sự hạn chế biến dạng ngang của lõi bê tông là lớn nhất và bất ổn định cục bộ hầu như xuất hiện đối với tiết diện hình vuông và chữ nhật Tuy nhiên cột CFST với các tiết diện SHS và RHS vẫn tiếp tục được sử dụng nhiều trong xây dựng với những ưu điểm riêng của nó Những dạng tiết diện ngang khác cũng được sử dụng cho mục đích nghệ thuật như dạng đa giác, dạng elip… (Hình 1.2)

Hình 1.2 Mặt cắt điển hình cột ống thép nhồi bê tông

Một dạng khác của cột CFST là cột có tiết diện với hai lớp ống thép trong và ngoài được gọi là cột ống thép nhồi bê tông với hai lớp ống thép Tiết diện cột bao gồm ống thép trong và ống thép ngoài, bê tông được nhồi vào giữa hai ống thép (Hình 1.3) Với cấu tạo mặt cắt như thế này, cột sẽ có độ cứng chống uốn lớn, cường độ cao, khả năng chống cháy tốt hơn và tránh được sự bất ổn định đối với cấu kiện khi chịu tác động của áp lực bên ngoài Dạng cột này có thể là lựa chọn tối ưu khi thiết kế những cấu kiện với tiết diện ngang lớn

Hình 1.3 Cột ống thép nhồi bê tông với hai lớp ống thép

Hình 1.4 Cột CFST được bao bê tông (Concrete-encased CFST)

Trang 16

Một trường hợp khác của kết cấu CFST là sử dụng bê tông cốt thép truyền thống

để bao bọc CFST như Hình 1.4 Cấu tạo tiết diện gồm ống thép bên trong được lắp đặt trước tiếp theo là lắp đặt các hệ thép gia cường, lớp bê tông bên trong và bên ngoài được đổ sau đó Việc nhồi bê tông vào trong ống sẽ làm tăng tối đa khả năng giam hãm bê tông nâng cao cường độ tới hạn của tiết diện Bê tông cốt thép bao bọc bên ngoài tạo thành một lớp chống cháy cho lõi bên trong, do đó khả năng chống cháy của loại cột này được tăng đáng kể so với cột CFST truyền thống Ngoài ra, loại cột này còn có khả năng kháng bất ổn định cục bộ, chống ăn mòn đối với ống thép rất tốt và dễ liên kết với những dầm bê tông cốt thép hoặc dầm thép trong hệ kết cấu công trình Kết cấu thép và kết cấu thép gia cường luôn luôn được sử dụng để tăng sức kháng tải của cấu kiện CFST mô tả ở Hình 1.5 Mặt cắt kết cấu thép đóng góp lớn vào khả năng chịu lực của cột mà không làm thay đổi dạng tiết diện cột Sự đóng góp đến khả năng chịu lực của cột có thể được xem xét như khả năng kết hợp của kết cấu thép với những phần của cột CFST

Hình 1.5 Cột CFST tăng cường kết cấu thép và cốt thép gia cường

Trong cột CFST thông thường, bất ổn định cục bộ của ống thép thông thường xuất hiện sau khi tiết diện liên hợp đạt đến cường độ tới hạn Điều này có thể là một vấn đề quan trọng cho sự phát triển và ứng dụng ống thành mỏng với thép cường độ cao Những sườn tăng cứng ngang và dọc có thể được hàn vào ống thép để cải thiện cường độ và độ dẻo của cột liên hợp Đối với cột có tiết diện ngang lớn, các sườn tăng cứng có thể hàn vào mặt trong của ống Các thanh nối cũng có thể được hàn nối các sườn gia cường như Hình 1.6 Hiệu quả của sườn tăng cứng trong việc trì hoãn bất ổn định cục bộ của ống thép đã được kiểm tra bằng những nghiên cứu thực nghiệm

Hình 1.6 CFST với sườn tăng cứng

Ngoài ra, với các kết cấu yêu cầu khả năng chịu lực lớn, độ cứng lớn có thể tổ hợp các cột CFST riêng lẻ thành các dạng kết cấu CFST tổ hợp để phát huy các ưu điểm của kết cấu thép bê tông liên hợp

Trang 17

1.1.3 Ưu điểm, nhược điểm của cột ống thép nhồi bê tông

Việc nhồi bê tông vào trong ống thép làm nâng cao độ chống ăn mòn bên trong ống thép, làm giảm độ mảnh, làm tăng độ ổn định cục bộ của thành ống và làm tăng khả năng chống móp méo của vỏ ống thép khi va đập [9];

Giá thành tổng thể của công trình làm bằng kết cấu ống thép nhồi bê tông nói chung nhỏ hơn nhiều so với giá thành của công trình tương tự làm bằng kết cấu bê tông cốt thép hay kết cấu thép thông thường Khối lượng của kết cấu ống thép nhồi bê tông nhỏ hơn so với kết cấu bê tông do đó việc vận chuyển và lắp ráp dễ dàng hơn đồng thời làm giảm tải trọng xuống móng Kết cấu ống thép nhồi bê tông kinh tế hơn

so với kết cấu bê tông cốt thép vì không cần ván khuôn, giá vòm, đai kẹp và các chi tiết đặt sẵn, nó có sức chịu đựng tốt hơn ít hư hỏng do va đập Do không có cốt chịu lực và cốt ngang nên có thể đổ bê tông với cấp phối hỗn hợp cứng hơn (tỉ lệ N/X có thể lấy nhỏ hơn) và sẽ dễ dàng đạt chất lượng bê tông cao hơn [9],[8]

b) Nhược điểm

Một cấu kiện CFST bao gồm hai vật liệu với sự khác nhau về đường cong ứng suất-biến dạng và ứng xử cũng có sự khác biệt rõ rệt Sự tương tác giữa hai vật liệu này đặt ra một bài toán khó trong việc xác định thuộc tính kết hợp như mô men quán tính, môdul đàn hồi;

Cơ chế phá hoại cấu kiện phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hình dạng, chiều dài, đường kính, chiều dày ống thép, cường độ thép và cường độ bê tông cùng với các thông số về sự kết dính giữa hai mặt tiếp xúc của vật liệu thép và bê tông, sự giam hãm của bê tông ứng suất dư, hiện tượng từ biến, sự co ngót và các dạng tải trọng làm phức tạp thêm sự phân tích và thiết kế đối với cấu kiện CFST [8];

Một hạn chế nữa ảnh hưởng đến việc sử dụng rộng rãi loại kết cấu này đó là cấu tạo liên kết giữa cột CFST và sàn bê tông cốt thép, dầm bê tông cốt thép hay dầm thép Các ứng xử, cơ chế làm việc, trạng thái phá hoại liên kết chưa được hiểu rõ do đó gây

Trang 18

ra không ít những khó khăn cho tính toán thiết kế cấu tạo liên kết;

Hiện nay, các hạn chế tồn tại của loại kết cấu CFST tiếp tục được nghiên cứu để dần hoàn thiện các yêu cầu về mặt cấu tạo, lý thuyết tính toán cũng như nhận thức sâu hơn về ứng xử của loại kết cấu này

1.1.4 Khả năng áp dụng

Kết cấu ống thép nhồi bê tông được ứng dụng rộng rãi cho rất nhiều lĩnh vực như nhà dân dụng và công nghiệp, cầu đường, giàn khoan dầu

Trong lĩnh vực xây dựng dân dụng, loại kết cấu này được áp dụng khá nhiều cho cấu kiện chịu lực chính như hệ móng cọc, các cột đỡ của toà nhà cao tầng Hiện nay, việc xây dựng cầu qua các sông rộng và sâu, có nhu cầu lưu thông đường thuỷ lớn và điều kiện địa chất phức tạp đang đòi hỏi phải sử dụng các loại nhịp lớn khẩu

độ hàng trăm mét Với các kích thước như vậy, cấu kiện sẽ nặng và trở thành một nguyên nhân làm giảm khả năng chịu lực của kết cấu, làm tăng chi phí xây dựng cũng như tạo thêm nhiều phức tạp cho việc vận chuyển, lắp ráp, thi công kết cấu Với việc sử dụng kết cấu CFST cho cấu kiện chịu lực nén chính như vòm chính của cầu vòm, thanh mạ cong trong cầu dàn, hệ móng cọc của kết cấu trụ, thân trụ sẽ đáp ứng được yêu cầu về chịu lực cao, độ cứng lớn vừa đáp ứng được việc giảm trọng lượng bản thân kết cấu

Hình 1.7 Ví dụ về công trình nhà cao tầng được xây dựng bằng kết cấu CFST

Trang 19

Hình 1.8 Ví dụ về cầu sử dụng kết cấu CFST

Trong lĩnh vực xây dựng dầu khí, năm 1989 tại 2 dàn khoan dầu ở biển Đen và biển Azov của Liên Xô đã sử dụng cấu kiện mặt cắt rỗng tổ hợp 3 loại vật liệu thép

- bêtông làm các trụ đỡ chính của dàn khoan, nhờ đó giảm được 30% lượng thép so với dần khoan bằng thép cùng loại; hơn nữa, phần rỗng còn được dùng để lắp các thiết bị công nghệ và cáp thông tin

1.2 TỔNG QUAN CÁC LOẠI SÀN PHẲNG BTCT

Với xu hướng phát triển của công nghệ cũng như yêu cầu về mặt kiến trúc, thẩm

mỹ kinh tế cho công trình thì hệ kết cấu sàn sườn truyền thống dần dần được thay thế bởi hệ sàn phẳng không dầm với nhiều ưu điểm nổi trội như tạo ra không gian sử dụng linh hoạt, dễ dàng cho việc bố trí không gian sử dụng phù hợp với công năng của công trình, giảm số lượng cột, chiều cao thông thuỷ hợp lý, dễ dàng đáp ứng các yêu cầu bố trí hệ kĩ thuật Dưới đây sẽ giới thiệu tổng quan về một số loại sàn phẳng được sử dụng

ở Việt Nam

1.2.1 Sàn phẳng BTCT thường

Là hệ thống chịu lực theo một hoặc hai phương được kê trực tiếp lên cột hoặc tường chịu lực như Hình 1.10 Nó là một trong những dạng kết cấu sàn phổ biến nhất trong các tòa nhà Điểm đặc biệt của loại sàn này là chiều dày không đổi hoặc gần như không đổi tạo ra mặt phẳng phía dưới của sàn dẫn tới sự đơn giản trong việc làm cốt pha và thi công Sàn này cho phép linh hoạt trong việc tạo vách ngăn và có thể không cần phải sử dụng trần giả Nhịp kinh tế của sàn phẳng với tải trọng từ nhỏ tới trung bình thường bị giới hạn bởi việc kiểm soát độ võng dài hạn và có thể cần phải tạo độ vồng tường hợp lý (không quá lớn) hoặc sử dụng sàn bê tông ứng lực trước Nhịp kinh

tế đối với sàn phẳng BTCT là 6m đến 8m Nhịp L của sàn phẳng BTCT xấp xỉ 28D

đối với nhịp đơn,30D đối với nhịp biên và32D đối với nhịp trong của sàn nhiều nhịp trong đó D là chiều dày sàn

Trang 20

Hình 1.9 Sàn phẳng bê tông cốt thép

Ưu điểm:

+ Cốt pha đơn giản, thi công nhanh;

+ Tạo không gian linh hoạt, dễ dàng bố trí mặt bằng;

+ Không dầm, tạo khoảng thông thủy lớn ở dưới sàn;

+ Chiều dày kết cấu nhỏ và từ đó giảm được chiều cao tầng

Nhược điểm:

+ Nhịp trung bình, khả năng chịu tải ngang hạn chế;

+ Cần có cốt thép chống chọc thủng ở xung quanh cột hoặc cột cần có kích thước lớn hơn;

+ Cần kiểm soát độ võng dài hạn;

1.2.2 Sàn phẳng bê tông ứng lực trước

Trong cấu kiện bê tông ứng lực trước, bằng cách đặt vào một lực nén trước tạo bởi lực kéo cốt thép, nhờ tính đàn hồi, cốt thép có xu hướng co lại tạo nên lực nén trước và gây ra ứng lực trước trong bê tông Ứng suất nén trước trong bê tông sẽ triệt tiêu hay làm giảm ứng suất kéo do tải trọng sử dụng gây ra Do đó, khả năng chịu kéo của bê tông được nâng cao và hạn chế sự phát triển vết nứt Ứng lực trước chính là việc tạo cho kết cấu một cách có chủ ý các ứng suất tạm thời nhằm tăng cường sự làm việc của vật liệu trong các điều kiện sử dụng khác nhau Nói cách khác trước khi cấu kiện chịu tải trọng sử dụng cốt thép đã bị căng trước còn bê tông đã bị nén trước [12] Trong bê tông ứng lực trước do có thể khống chế sự xuất hiện khe nứt bằng lực căng trước nên cần thiết và có thể dùng cốt thép cường độ cao Mặt khác để có thể giảm được kích thước tiết diện và từ đó giảm trọng lượng bản thân của cấu kiện, đồng

Trang 21

thời tăng ứng suất tập trung ở vùng neo cần phải sử dụng bê tông cường độ cao Bê tông ứng lực trước đã trở thành một sự kết hợp lý tưởng giữa hai loại vật liệu hiện đại

có cường độ cao [12]

Sử dụng sàn bê tông ứng lực trước có nhiều ưu điểm như có khả năng vượt nhịp lớn, khả năng chịu uốn, chịu cắt cao hơn so với sàn bê tông cốt thép thường có cùng tiết diện, hạn chế được biến dạng, khe nứt, tăng độ bền của kết cấu, do sử dụng được vật liệu có cường độ cao nên giảm được kích thước tiết diện, tiết kiệm được khối lượng vật liệu, làm giảm trọng lượng bản thân, giảm chi phí cho nền móng …

Hình 1.10 Sàn bê tông ứng lực trước

Về lý thuyết tính toán, nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu và cho ra đời các tiêu chuẩn, quy phạm về bê tông ứng lực trước như tiêu chuẩn FIP của Liên đoàn quốc tế về bê tông ứng lực trước; Tiêu chuẩn AASHTO cho cầu đường, tiêu chuẩn ACI cho xây dựng dân dụng của Mỹ; Quy phạm Eurocode của khối liên hiệp châu Âu; Tiêu chuẩn Anh BS; Quy phạm BPEL của Pháp; Quy phạm CHII của Liên

Xô (cũ)… Các tiêu chuẩn, quy phạm kể trên không ngừng được cải tiến, hoàn thiện và luôn được sửa đổi, cập nhật từ hai đến bốn năm một lần Tại Việt Nam tiêu chuẩn TCVN 5574-2012 cũng đã có những chỉ dẫn để thiết kế loại kết cấu này

1.2.3 Sàn Bubbledeck

Sàn Bubbledeck là loại sàn sử dụng các quả bóng rỗng từ nhựa tái chế để thay thế phần bê tông không hoặc ít chịu lực ở giữa chiều cao tiết diện sàn Ở bên trên và bên dưới của quả bóng được gia cường bằng các lớp lưới thép được tính toán cụ thể Các quả bóng nhựa có vai trò giảm thiểu phần bê tông không cần thiết đối với khả năng chịu lực của kết cấu sàn, giảm nhẹ trọng lượng của sàn, cải thiện các khả năng cách

âm, cách nhiệt

Trang 22

Hình 1.11 Thi công sàn Bubble Deck

Công nghệ này thi công không quá phức tạp, cho phép giảm 35% khối lượng bê tông so với sàn truyền thống Từ đó góp phần giảm được trọng lượng tổng thể của công trình và tăng khả năng vượt nhịp Sàn có khả năng chịu lực theo hai phương, không dùng dầm nên giảm chiều cao xây dựng mỗi tầng, cải thiện khả năng cách âm, cách nhiệt cho sàn

Công nghệ lắp ghép, bán lắp ghép cho phép công xưởng hóa và cơ giới hóa các quá trình chế tạo, vận chuyển, lắp đặt nên thi công nhanh, sử dụng ít lao động, sản phẩm làm ra có độ chuẩn hóa cao Do sử dụng các vật liệu tái chế trong sản xuất và thi công nên công nghệ này giúp giảm chi phí vật liệu và thân thiện với môi trường

Năm 2007, Bubbledeck đã có mặt tại Việt Nam với tên giao dịch là Bubble Deck Viet Nam Joint Venture Company và Việt Nam là quốc gia thứ 15 trên thế giới tiếp cận công nghệ này Trong thời gian từ 2007 đến 2009, công ty TADITS đã đầu tư công sức để thử nghiệm thiết kế, thi công sàn Bubbledeck sao cho phù hợp với điều kiện tại Việt Nam

Quá trình xác định nhịp lớn nhất mà Bubbledeck có thể vượt qua dựa trên tiêu chuẩn Anh BS 8100 và Eurocode 2 có bổ sung hệ số 1,5 để kể đến việc giảm nhẹ bản thân sàn so với sàn đặc truyền thống

Với cùng một khả năng chịu lực, sàn Bubbledeck chỉ sử dụng 50% khối lượng bê tông so với sàn đặc hoặc cùng độ dày thì sàn Bubbledeck có thể chịu tải gấp đôi tấm

Trang 23

sàn đặc nhưng chỉ sử dụng 65% lượng bê tông

Khi thiết kế chống uốn, bề dày của phần bê tông có ứng suất nén tập trung ở phần

bê tông đặc, nằm giữa phần ngoài cùng của quả cầu và bề mặt tấm sàn Đôi khi, với những tấm sàn chịu ứng suất lớn, khối ứng suất sẽ hơi lấn sang vùng quả cầu rỗng nhưng nó tác động không đáng kể đến khả năng chịu lực của sàn

Các nghiên cứu và thí nghiệm cho thấy, nếu như cùng khả năng chịu lực thì sàn Bubbledeck có độ cứng chống uốn xấp xỉ 87% so với sàn đặc Khả năng chịu cắt đo được từ 72-91% so với sàn đặc Để tính toán khả năng chịu cắt của sàn Bubbledeck, người ta đưa vào hệ số 0,6 sử dụng cho khả năng chịu cắt của tấm sàn đặc với cùng chiều cao Điều này đảm bảo được sự an toàn, khả năng chịu lực của sàn Tại những vị trí có lực cắt lớn khu vực xung quanh cột, vách, lõi có thể bỏ bớt bóng để tăng khả năng chịu cắt của sàn

Ngoài ra, bằng việc loại bỏ lượng bê tông ở thớ giữa bản sàn, Bubbledeck đã góp phần đáng kể vào việc tác động có lợi đến môi trường

1.2.4 Sàn U-boot Beton

U-Boot Beton là một giải pháp công nghệ do hãng Deliform của Italia phát triển,

sử dụng các khối rỗng dạng hình chop cụt bằng nhựa polypropylen tái chế để thay thế phần bê tông không tham gia chịu lực ở thớ giữa của bản sàn, giúp giảm trọng lượng kết cấu, giảm kích thước hệ cột, vách, móng, tường, vách chịu lực và tăng khoảng cách lưới cột

U-Boot Beton có cấu tạo đặc biệt với 4 chân hình côn và phụ kiện liên kết giúp tạo ra một hệ thống dầm vuông góc nằm giữa lớp sàn bê tông trên và dưới Có 2 dạng

là hộp đơn và hộp đôi Ngoài ra, giữa các hộp còn có các chốt liên kết với nhau theo cả

2 phương vuông góc như hình

Hình 1.12 Các chốt liên kết các hộp U-boot theo hai phương

Sàn U-Boot Beton có cấu tạo gồm: Một lớp thép trên, một lớp thép dưới, và ở giữa các khoảng hở là các thép gia cường

Trang 24

Hình 1.13 Thi công sàn U-Boot Beton

Sử dụng U-Boot Beton trong kết cấu sàn rất phù hợp với những công trình có yêu cầu kết cấu sàn nhẹ, tiết kiệm vật liệu U-Boot Beton là giải pháp lý tưởng để tạo sàn với nhịp lớn và khả năng chịu tải cao, đặc biệt phù hợp với những kết cấu có yêu cầu về không gian mở như trung tâm thương mại, nhà công nghiệp, bệnh viện, trường học cũng như các công trình công cộng và nhà ở U-Boot Beton giúp bố trí cột thuận tiện hơn vì không cần dùng dầm Trong trường hợp những công trường khó vận chuyển

và thi công thì U-Boot Beton với tính năng linh hoạt, nhẹ nhàng, thuận tiện rất thuận lợi cho điều kiện thi công, không cần các thiết bị vận chuyển, nâng phức tạp Khi sử dụng U-Boot Beton cho móng bè thì móng có thể có độ dày lớn hơn mà vẫn giảm lượng bê tông sử dụng

1.3 TỔNG QUAN VỀ LIÊN KẾT GIỮA CỘT ỐNG THÉP NHỒI BÊ TÔNG VỚI SÀN PHẲNG BÊ TÔNG CỐT THÉP

Việc sử dụng cột ống thép nhồi bê tông với sàn bê tông cốt thép ngày càng phổ biến ở nhiều nước như Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản Với sự kết hợp giữa cột CFST và sàn phẳng BTCT tạo ra hệ thống kết cấu tối ưu hơn, hiệu quả hơn Tuy nhiên, tồn tại lớn nhất để sử dụng loại kết cấu này trong kết cấu công trình là giải

quyết vấn đề liên kết giữa cột và sàn phẳng Hiện có rất ít các nghiên cứu về liên kết

giữa cột CFST với sàn phẳng BTCT Do đó, phần tổng quan dưới đây sẽ tổng hợp các nghiên cứu về liên kết giữa cột CFST với sàn phẳng BTCT để làm cơ sở cho việc đề xuất liên kết cho cột

Trang 25

1.3.1 Nghiên cứu của Hiroki Satoh

Tại hội nghị thế giới về kĩ thuật động đất lần thứ 13 tại Vancouver B.C., Canada, Hiroki Satoh (2004) [1] đã công bố kết quả về nghiên cứu thực nghiệm khả năng chịu tải của liên kết giữa cột CFST và sàn phẳng BTCT Tác giả đã thực hiện 3 nhóm thí nghiệm; (1) thí nghiệm tải trọng ngang cho liên kết cột sàn bên trong; (2) nhóm mẫu thí nghiệm về cường độ chọc thủng; (3) nhóm mẫu thí nghiệm về cường độ chịu xoắn Liên kết được tác giả đề xuất gồm vách ngăn được chế tạo trước và nối với dầm thép tiết diện I tại hiện trường bằng bu lông cường độ cao Hình 1.20

Hình 1.14 Liên kết cột CFST - sàn BTCT đề xuất bởi Hiroki Satoh (2004)[1]

Hình 1.15 Quá trình thiết lập thí nghiệm của Hiroki Satoh (2004)[1]

Qua kết quả thí nghiệm với nhóm mẫu chịu tải trọng ngang thì thấy được vị trí tới hạn của tiết diện do lực cắt và mô men uốn xuất hiện tại mặt trước và sau của cột,

mô men xoắn nằm trên các cạnh của cột Với nhóm mẫu thứ 2 thí nghiệm về chọc

Trang 26

thủng thì bê tông sàn, các tấm thép liên kết và các đinh sẽ tham gia chịu cắt trong đó cường độ chịu cắt của bê tông có thể được tính theo tiêu chuẩn ACI 318-14 Với nhóm mẫu thứ 3 thí nghiệm về cường độ chịu xoắn thì độ cứng ban đầu và cường độ xuất hiện vết nứt đầu tiên có thể được tính toán bằng lý thuyết đàn hồi với bề rộng cột như

là bề rộng hiệu quả Độ cứng sau khi nứt được tính toán với hệ số giảm độ cứng Bề rộng ảnh hưởng của sự xoắn tăng, sau vết nứt và bề rộng hiệu quả có thể áp dụng tính toán độ cứng và cường độ Từ kết quả thí nghiệm một phương thức thiết kế được đề xuất dựa trên tiêu chuẩn Nhật Bản AIJ

1.3.2 Nghiên cứu của Y Su, Y Tian

Y Su, Y.Tian (2010) [2] nghiên cứu thực nghiệm liên kết giữa cột ống thép nhồi

bê tông và sàn phẳng bê tông cốt thép dưới tác dụng của tải trọng động như Hình 1.16

và Hình 1.17

Hình 1.16 Mẫu liên kết của Y Su, Y Tian (2010)[2]

Hình 1.17 Mô phỏng quá trình thí nghiệm - Y Su, Y Tian (2010) [2]

Mục đích của nghiên cứu là tạo một liên kết chủ yếu chịu tải trọng ngang để giảm biến dạng ngang do động đất và đảm bảo khả năng chịu tải trọng đứng Mấu chốt vấn đề mà tác giả đưa ra để thiết lập liên kết là liên kết phải giảm ứng suất tập trung gây ra bởi mô men âm trong sàn do tải trọng ngang gây ra đồng thời vẫn duy trì được khả năng chịu tải trọng đứng Từ nhận định trên một liên kết được đề xuất là tấm sàn BTCT được đở bởi một tấm thép tròn được hàn vào cột Do cốt thép chịu mô men uốn

Trang 27

không xuyên qua cột nên ứng xử của liên kết như một liên kết khớp dẫn đến hạn chế

mô men âm do tải trọng đứng và tải trọng ngang Thêm vào đó tấm thép tròn đỡ sàn chuyển toàn bộ lực cắt vào trong cột đồng thời đẩy tiết diện tới hạn chịu cắt thủng ra

xa khỏi mặt cột với mong muốn sự phá hoại do cắt thủng xảy ra sau khi liên kết chịu được biến dạng ngang do động đất [2]

Qua phân tích kết quả thí nghiệm cho thấy việc sử dụng liên kết khớp cho liên kết giữa sàn bê tông và cột CFST có thể đạt được chuyển vị ngang mong muốn [2] Tuy nhiên, liên kết đề xuất này vẫn còn tồn tại là không xác định rõ độ vươn của tấm thép để đảm bảo sàn không bị chọc thủng Liên kết giữa sàn và cột là khớp nên sàn sẽ

có chuyển vị lớn Sự phân phối mô men trong sàn không hợp lý

1.3.3 Nghiên cứu của Cheol-Ho Lee

Cheol-Ho Lee (2007) [3] đã nghiên cứu cường độ chịu cắt thủng và ứng xử sau chọc thủng của liên kết giữa cột CFST và sàn phẳng BTCT Hai mục tiêu nghiên cứu

là đề xuất mô hình bán giải tích (semi-analytical) về ứng xử chọc thủng của liên kết đề xuất và áp dụng mô hình tĩnh phi tuyến thu gọn để phân tích tiến trình phá hoại

Chi tiết liên kết được tác giả đề xuất dựa trên quan điểm: (1) đó là tính nguyên vặn của liên kết và dễ dàng cho thi công; (2) đảm bảo tính toàn khối của liên kết, điều

đó có nghĩa là một loại chốt chịu cắt được yêu cầu để tăng tính toàn khối và độ siêu tĩnh cho vùng liên kết Lúc đó cường độ chịu cắt thủng của liên kết sử dụng chốt chịu cắt cao hơn so với liên kết với sàn bê tông cốt thép thường; (3) để đảm bảo độ tin cậy của liên kết cần phải chế tạo và thí nghiệm mẫu

Hình 1.18 Liên kết đề xuất bởi Cheol-Ho Lee (2007) [3]

Trang 28

Từ những yêu cầu nêu trên tác giả đề xuất các dạng liên kết như hình Hình 1.18 với chốt chịu cắt đề xuất là tiết diện chữ T và tiết diện chữ I Việc bố trí các đinh hàn vào bề mặt bên ngoài của ống thép với mục đích ngăn cản sự phân tách sớm của bê tông ra khỏi bề mặt cột

Kết quả thí nghiệm cho thấy các vết nứt xuất hiện trên vùng kéo của sàn, sau đó xảy ra phá hoại do chọc thủng Mô hình phá hoại dự định trong thiết kế là; (1) cốt thép chịu uốn chảy dẻo trước chốt chịu cắt; (2) Phá hoại thủng xảy ra sau cùng và sự tách

bê tông ra khỏi mặt cột không xảy ra sớm Thí nghiệm còn cho thấy với mẫu có bố trí thép hậu chọc thủng (post-punching) thì khả năng chịu cắt thủng của mẫu tăng từ 20%-40% so với mẫu không có vì cốt thép này bố trí ở vùng nén và trì hoãn sự ép vỡ

bê tông vùng nén

Khi chọc thủng khả năng chịu tải của các mẫu giảm mạnh cường độ còn lại của các mẫu sau chọc thủng khoảng 1/6-1/3 tải trọng đỉnh Độ cứng cát tuyến của các mẫu

có thép post-punching được nâng lên, tăng khoảng 40%-80% , lúc đó sẽ hạn chế được chuyển vị của sàn Với việc bố trí cốt thép post-punching thì cường độ chịu cắt thủng tăng 14% so với cường độ chịu cắt riêng của bê tông tại tiết diện tới hạn Sau khi phá hoại cắt thủng thì góc gấp khúc của cốt thép chịu kéo và cốt thép hậu chọc thủng tương ứng là 90,100 điều đó có nghĩa là các cốt thép chịu kéo tham gia như nhau trong việc chống lại tải trọng ngoài sau chọc thủng Phương pháp bán giải tích (semi-analytical) thể hiện ứng xử của cột CFST với sàn phẳng Các thông số cho mô hình đề xuất được hiệu chuẩn bằng cách sử dụng các dữ liệu thí nghiệm hạn chế của nghiên cứu này, và ứng dụng của nó để thu gọn tiến trình phân tích sụp đổ cũng đã được chứng minh [3]

1.3.4 Nghiên cứu của Young K.Ju

Young K Ju (2013) [4] dựa trên cơ sở phân tích ưu nhược điểm các liên kết giữa cột CFST và sàn BTCT mà các tác giả trước đó đã nghiên cứu và thí nghiệm Tác giả

đã đề xuất một liên kết mới với tấm thép được hàn vào cột và có chừa các lổ ren để nối với thép chờ, các thép chờ này được nối ren với cốt thép thường của sàn và sau đó đổ

bê tông Hình 1.19 Phương pháp phần tử hữu hạn với việc sử dụng phần mềm ANSYS được sử dụng để phân tích mô hình Các thông số được đưa vào phân tích bao gồm kích thước cột, chiều dày ống thép, chiều dài và chiều dày của tấm thép, cường độ của thép và số lượng thép dọc liên kết với tấm thép [4]

84 mẫu được phân tích để tìm ra công thức thiết kế cho liên kết Cường độ của liên kết phụ thuộc vào nhiều yếu tố: bề rộng ống thép bc, chiều dày ống thép tc, kích thước tấm thép hàn vào cột lp× tp, khoảng cách từ cốt thép neo vào tấm đến cạnh tấm thép ls, và tỉ số cường độ chảy dẻo của ống thép với tấm thép cfy/pfy Trạng thái giới hạn của liên kết khi thành ống thép biến dạng ra ngoài mặt phẳng 5mm

Trang 29

Qua kết quả phân tích thấy cường độ liên kết giảm tương ứng với sự tăng của bề rộng ống thép Tuy nhiên ảnh hưởng bề rộng của ống thép không quá quan trọng vì trong thực tế khi tăng kích thước ống thì chiều dày thành ống cũng tăng thêm Khi chiều dày thành ống thép, độ vươn của tấm thép từ mặt cột tăng thì cường độ của liên kết cũng tăng Bên cạnh đó cường độ của liên kết tỉ lệ thuận với cường độ của ống thép và tỉ lệ nghịch với cường độ của tấm thép liên kết với khoảng cách đặt lực trên tấm thép [4]

Hình 1.19 Liên kết đề xuất bởi Young K Ju (2013)[4]

Sử dụng kết quả phân tích phần tử hữu hạn, bằng phương pháp hồi quy tuyến tính, cường độ thiết kế của liên kết được xác định theo công thức (1.1)

0.108 0.065 0.944 0.563 0.374 0.232 f 3.45

1.3.5 Nghiên cứu của Jin-Won Kim

Jin-Won Kim (2014) [5] tiến hành nghiên cứu thực nghiệm liên kết cột CFST và sàn phẳng BTCT dựa trên các điều khoản thiết kế của tiêu chuẩn ACI 318-14 [10] Mục tiêu của nghiên cứu là đề xuất ra mô hình liên kết có tính thực thi dựa trên quan sát ứng xử và các dữ liệu đo được trong thí nghiệm Tác giả tiến hành thí nghiệm với

10 mẫu có kích thước thật

Hình 1.20 Thí nghiệm liên kết cột CFST-sàn BTCT Jin-Won Kim(2014)[5]

Trang 30

Các thông số thay đổi trong các mẫu là chiều dài vươn của mũ chịu cắt, cường độ

bê tông, kích thước của ống thép, chiều dày sàn Trong 10 mẫu có 8 mẫu có bố trí thép

mũ chịu cắt (thép hình chữ I được hàn vào bề mặt ống thép) và 2 mẫu không bố trí với chiều dày sàn là 200mm và 300mm Hàm lượng cốt thép chịu uốn lấy từ 0,52% - 1,32% Chiều dày thành ống thép là 40mm và 2 mẫu có chiều dày 19mm Việc bố trí thép mũ chịu cắt nhằm tạo ra một vùng cứng để đưa chu vi tiết diện tới hạn dịch chuyển ra xa khỏi mặt cột khi đó khả năng chịu cắt của bản sàn tăng lên và lực cắt tại tiết diện tới hạn giảm xuống [5]

Trang 31

lớn tại vị trí cột thì sự ma sát không ảnh hưởng đến khả năng chịu cắt Kết quả thí nghiệm còn chỉ ra rằng, bê tông lõi chỉ có tác dụng ngăn cản biến dạng móp thành ống thép ở phía cánh dầm I chịu nén [5]

Qua kết quả thí nghiệm tác giả đề xuất công thức tính toán cường độ chịu cắt thủng riêng cho từng phần bê tông và thép mũ chịu cắt điều này không được đề cập trong các điều khoản thiết kế của tiêu chuẩn ACI 318-14 Ở đây tác giả còn đưa ra hệ

số  hiệu chỉnh ảnh hưởng của chiều dài cánh tay vươn đến khả năng chịu cắt thủng của liên kết [5]

1.3.6 Nghiên cứu của Alessandra L Carvalho

Nghiên cứu thực nghiệm khả năng chịu cắt thủng của sàn bê tông ứng lực trước căng sau không bám dính có bố trí các Stub chịu cắt trong sàn (Punching Shear in Post-Tensioned Flat Slabs with Stud Rail Shear Reinforcement – 2011) [6]

1.3.7 Nghiên cứu của Thibault Clément

Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của ứng lực trước đến khả năng chịu cắt của sàn [7] Trong nghiên cứu này, các tác giả trình bày kết quả thử nghiệm trên 15 tấm sàn kích thước 3000x3000x250mm, được thử nghiệm phá hoại trong các điều kiện tải khác nhau Mục đích của các thí nghiệm là tìm ra sự ảnh hưởng của ứng lực trước đến nhiều yếu tố liên quan sức kháng thủng của sàn

Hình 1.22 Nghiên cứu của Thibault Clément (2014) [7]

1.3.8 Nhận xét

Các tác giả đã đề xuất các kiểu liên kết khác nhau cho cột giữa CFST với sàn phẳng BTCT Nhìn chung các liên kết đều đảm bảo về khả năng chịu lực và các hình thức liên kết này sẽ là gợi ý để đề xuất liên kết cho cột CFST với sàn phẳng BTCT Liên kết đề xuất sẽ đảm bảo được sự liên tục của cột, cốt thép neo vào cột không ảnh hưởng đến vấn đề đổ bê tông cột, chi tiết liên kết đảm bảo được cơ chế truyền lực từ sàn vào cột

Trang 32

Trong chương 2 của luận văn sẽ trình bày vai trò của Shear key trong liên kết cột CFST với sàn phẳng BTCT

Trang 33

2.1 VAI TRÒ CỦA SHEAR KEY TRONG LIÊN KẾT CỘT CFST VỚI SÀN PHẲNG BTCT

Trên những vị trí đầu cột nơi có lực cắt lớn ứng suất tiếp do lực cắt và ứng suất pháp do mômen sẽ gây ra những ứng suất kéo chính nghiêng với trục 1 góc nào đó Khi ứng suất kéo chính vượt qua cường độ chịu kéo của bê tông sẽ gây ra các khe nứt nghiêng Theo đó tại vị trí vết nứt nghiêng hình thành sẽ xuất hiện các thành phần lực

để chống lại lực cắt đó Các thành phần lực kháng cắt bao gồm: Sự cài khóa của các cốt liệu, Vagg - Aggregate interlock; Sự kháng cắt của bê tông vùng nén, Vch - Concrete compressive zone; Sự kháng cắt của cốt dọc, Vdow - Dowel action ; Sự làm việc của cốt đai, Vsw,i - Transverse reinforcement ; Sự làm việc của Shear – key, V (Hình 2.1)

L/2

VÕt nøt c¾t chÝnh Cét CSFT

Hình 2.1 Cơ chế truyền lực cắt qua khe nứt nghiêng

Như vậy, khả năng chịu cắt trên khe nứt nghiêng là tổng các sự kháng cắt trong từng cơ chế được thể hiện qua công thức tổng quát sau:

Trong liên kết cột CFST với sàn phẳng BTCT, Shear key đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối sàn cột đảm bảo cho sàn cột được liên tục và làm việc đồng thời với nhau Với cấu tạo của Shear key là đoạn thép hình tiết diện H được hàn cứng vào thành ống thép thì cánh dưới của Shear - key đóng vai trò như gối đỡ cho thanh chống phát triển Trong từng trường hợp cụ thể, độ dài shear-key ảnh hưởng đến hình dáng của thanh chống Khi lực tác dụng tăng lên tạo ra ứng suất lớn trong thanh chịu nén sẽ

Ngày đăng: 22/06/2020, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w