DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Bảng 1.1 Đặc trưng thành phần nước thải của một số ngành Bảng 1.2 Phân loại các nhóm ngành sản xuất có khả năng gây ô Bảng 1.4 So sánh thông số thiết kế của MB
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ THANH TRÀ
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
TẠI KHU VỰC KHU CÔNG NGHIỆP
DỊCH VỤ THỦY SẢN THỌ QUANG - ĐÀ NẴNG
VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành : Kỹ thuật môi trường
Mã số : 60.52.03.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ PHƯỚC CƯỜNG
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Trà
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 6
1.1 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KCN VIỆT NAM 6
1.1.1 Ô nhiễm nước mặt do nước thải KCN 7
1.1.2 Ô nhiễm môi trường không khí do khí thải KCN 8
1.1.3 Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn của KCN 10
1.2 TÁC HẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KCN 11
1.2.1 Tổn thất hệ sinh thái 11
1.2.2 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người 14
1.3 TỔNG QUAN VỀ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG 17
1.3.1 Khái niệm sức khoẻ môi trường 17
1.3.2 Lịch sử phát triển của thực hành SKMT 18
1.3.3 Quan hệ giữa ô nhiễm môi trường và sức khỏe con người 21
1.4 GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ MBBR 23
1.5 KHU CÔNG NGHIỆP DVTS THỌ QUANG - ĐÀ NẴNG 27
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 29
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 29
Trang 42.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 29
2.2.1 Điều kiện tự nhiên tại KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng 29
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tại KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng 30
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 31
2.3.1 Khảo sát, đánh giá HTMT tại khu vực KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng 31
2.3.2 Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý SKMT tại khu vực KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng 31
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.4.1 Phương pháp thống kê 31
2.4.2 Phương pháp khảo sát bằng phiếu câu hỏi 32
2.4.3 Phương pháp lấy mẫu, phân tích 32
2.4.4 Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường đất bằng kỹ thuật ảnh điện 2D 35
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 43
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI KCN DVTS THỌ QUANG - ĐÀ NẴNG 45
3.1.1 HTMT không khí tại KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng 45
3.1.2 HTMT nước thải tại KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng 50
3.1.3 HTMT nước mặt tại KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng 52
3.1.4 HTMT đất tại khu vực KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng 54
3.2 TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI DÂN TẠI KCN DVTS THỌ QUANG - ĐÀ NẴNG 59
3.2.1 Dựa vào phiếu điều tra khảo sát 59
3.2.2 Kết quả phân tích kim loại nặng trong mẫu tóc 62
Trang 53.2.3 Ứng dụng phần mềm STATISTICA 12.0 trong khoanh vùng ô nhiễm tại ranh giới hai khu vực: Khu dân cư KCN - âu thuyền Thọ
quang và âu thuyền Thọ Quang - khu dân cư Vũng Thùng 66
3.3 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SKMT TẠI KCN DVTS THỌ QUANG - ĐÀ NẴNG 73
3.3.1 Lập kế hoạch quản lý SKMT tại địa phương 73
3.3.2 Đề xuất ứng dụng công nghệ MBBR trong XLNT thủy sản 77
3.3.3 Đề xuất thực hiện vệt cây xanh cách ly 82
3.3.4 Một số biện pháp giảm thiểu hàm lượng Pb trong cơ thể 85
3.3.5 Giám sát môi trường tại KCN DVTS Thọ Quang – Đà Nẵng 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
COD Nhu cầu oxy hoá học
BOD Nhu cầu oxy sinh hoá
DVTS Dịch vụ thủy sản
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
XLNT Xử lý nước thải
Trang 7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Bảng 1.1 Đặc trưng thành phần nước thải của một số ngành
Bảng 1.2 Phân loại các nhóm ngành sản xuất có khả năng gây ô
Bảng 1.4 So sánh thông số thiết kế của MBBR với các công
64
Bảng 3.6 Kết quả hàm lượng kim loại nặng (Cd, Pb, Hg) trong
mẫu tóc của người dân tại âu thuyền Thọ Quang - khu 65
Trang 8dân cư Vũng Thùng
Bảng 3.7 Dữ liệu hàm lượng hoá chất trong tóc người dân
Bảng 3.8 Kết quả phân tích thống kê mối liên hệ giữa độ tuổi và
Bảng 3.9 Kết quả phân tích thống kê mối liên hệ giữa khu vực
Bảng 3.10 Thành phần và tính chất nước thải của trạm XLNT
Bảng 3.11 Số lượng khí độc trong môi trường không khí được
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cá chết và ao nuôi trồng thủy sản bị ô nhiễm do
Hình 1.2 Nước ruộng bị ô nhiễm gây lở loét, ghẻ ngứa cho
Hình 1.3 Sơ đồ quan hệ ô nhiễm môi trường và sức khỏe con
Hình 1.5 Các loại giá thể K1, K2, K3, Biofilm Chip M và
Hình 2.7
Cách bố trí điện cực và quy trình thực hiện các phép
đo dể xây mặt cắt ảnh điện 2D cho hệ thiết bị Wenner- Schlumberger
42
Trang 10Hình 3.2 Biểu đồ so sánh nồng độ NH3 điểm K1 và K4 tại hai
54
Hình 3.6 Kết quả ảnh điện 2D tại khu vực ranh giới giữa KCN
Hình 3.7 Kết quả ảnh điện 2D tại ranh giới âu thuyền Thọ
Hình 3.8 Biểu diễn kết quả hai tuyến đo trên cùng một hệ trục 56
Hình 3.9 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ người bị mắc các bệnh của
Hình 3.14 Sơ đồ Box & Wisker thể hiện sự khác biệt trong
phân bố giữa độ tuổi và hàm lượng kim loại nặng 1
Hình 3.15
Sơ đồ Box & Wisker thể hiện sự khác biệt trong phân bố giữa khu vực sống và hàm lượng kim loại nặng
73
Trang 11Hình 3.16 Sơ đồ kế hoạch quản lý SKMT 75
Hình 3.19 Sơ đồ dây chuyền công nghệ trạm XLNT tập trung
Hình 3.23 Cây xanh trồng tại trạm XLNT KCN DVTS Thọ
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh của nền kinh tế - xã hội
đã ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường Ô nhiễm môi trường đang diễn biến ngày càng trầm trọng, đặc biệt là những thành phố lớn với nhiều KCN, CSSX nằm trong khu dân cư Tình trạng xả chất thải ra môi trường chưa qua
xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu đã tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe người dân Vì vậy, việc đánh giá HTMT và đặc biệt là HTMT ở các khu chế xuất công nghiệp là việc hết sức cần thiết
Đà Nẵng là một trong số 28 thành phố ven biển của cả nước và là một trong số 14 tỉnh, thành phố có bờ biển của khu vực miền Trung, có 6/8 quận, huyện của thành phố tiếp giáp với biển, trong đó có huyện đảo Hoàng Sa Thành phố có hơn 92 km bờ biển, với 80% dân số đang sinh sống tại các quận, huyện ven biển Đà Nẵng có trữ lượng thủy sản khoảng 1.140.000 tấn, chiếm 43% tổng trữ lượng của cả nước, gồm trên 670 giống, loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao là 110 loài Vì vậy, thành phố Đà Nẵng đã xác định biển đã và sẽ tạo ra vị thế phát triển lĩnh vực công nghiệp khai thác và chế biến thủy sản
Tuy nhiên, các cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ kinh tế biển được Đà Nẵng tập trung đầu tư như: KCN dịch vụ thủy sản, cảng cá, âu thuyền Thọ Quang trú bão, chợ đầu mối thủy sản đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người dân phường Thọ Quang xung quanh tại địa bàn xây dựng
Với mục tiêu phát triển Thành phố Đà Nẵng theo định hướng “Thành phố môi trường”, tạo sự an toàn cho sức khỏe của người dân và môi trường, đồng thời để ngăn ngừa, từng bước giảm dần và loại trừ ô nhiễm và suy thoái môi trường tại khu dân cư, KCN thì vấn đề đánh giá HTMT và đưa ra biện
Trang 132
pháp SKMT là vấn đề cấp thiết cần được quan tâm giải quyết Từ những vấn
đề thực tế nêu trên, tôi đề xuất đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường tại khu vực khu công nghiệp dịch vụ thủy sản Thọ Quang - Đà Nẵng và đề xuất biện pháp quản lý sức khỏe môi trường”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát hiện trạng sức khỏe người dân tại khu dân cư lân cận
- Đánh giá và chẩn đoán tình trạng sức khỏe của người dân tại khu vực
- Đề xuất biện pháp nâng cao và bảo vệ sức khỏe của người dân tại khu vực khỏi những yếu tố nguy cơ từ môi trường
- Đề xuất biện pháp kỹ thuật nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm tại khu vực
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Môi trường không khí, đất, nước tại khu vực KCN
- Sức khoẻ người dân tại khu vực KCN
- Các giải pháp quản lý sức khỏe người dân tại khu vực KCN
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khu vực KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
Trang 144.2 Phương pháp khảo sát bằng phiếu câu hỏi
Lập phiếu điều tra, phỏng vấn người dân tại khu vực KCN về tình hình sức khỏe và đánh giá của họ về môi trường nơi họ đang sống
Tiến hành phỏng vấn 60 cá nhân tại ba phường (phường Mân Thái, phường Nại Hiên Đông, phường Thọ Quang) tiếp giáp xung quanh khu vực KCN và 20 phiếu công nhân làm việc tại KCN
4.3 Phương pháp lấy mẫu, phân tích
a Lấy mẫu và phân tích mẫu nước một số điểm tại khu vực KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng
Tiến hành lấy mẫu nước thải tại một số nhà máy trong KCN và trạm XLNT tập trung của KCN
b Lấy mẫu và phân tích mẫu khí một số điểm tại khu vực KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng
Tiến hành lấy mẫu không khí xung quanh tại một số điểm xung quanh KCN
c Lấy mẫu và phân tích mẫu tóc của người dân tại khu vực KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng
Tiến hành lấy mẫu tóc của một số người dân ba phường (phường Mân Thái, phường Nại Hiện Đông, phường Thọ Quang) ranh giới khu vực KCN DVTS Thọ Quang Đà Nẵng - âu thuyền Thọ Quang và âu thuyền Thọ Quang
- khu dân cư Vũng Thùng
Trang 154
4.4 Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường đất bằng kỹ thuật
ảnh điện 2D
Khảo sát chất lượng môi trường đất bằng phương pháp ảnh điện 2D:
- Nghiên cứu thuyết ảnh điện 2D
- Nghiên cứu cấu hình thiết bị Wenner - Schlumberger đo điện trở suất biểu kiến
- Nghiên cứu quy trình đo ngoài thực địa của cấu hình thiết bị Wenner - Schlumberger tại các vị trí cơ bản ranh giới khu vực KCN - âu thuyền Thọ Quang và âu thuyền Thọ Quang - khu dân cư Vũng Thùng
4.5 Phương pháp xử lý số liệu
-Để đánh giá các thông số theo dõi được cần so sánh với các quy chuẩn Việt Nam (QVCN 05:2013/BTNMT, QCVN 06:2009/BTNMT, QCVN 40:2011/BTNMT, QCVN 11:2008/BTNMT, QCVN 10:2008/BTNMT, quy chuẩn WHO)
- Kết quả phỏng vấn người dân được thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel, các ý kiến riêng lẻ được ghi lại và tổng hợp từ đó được dùng một phần để đánh giá và đề xuất các giải pháp
-Kết quả phân tích mẫu nước, mẫu không khí được thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel
-Tiến hành xử lý, phân tích dữ liệu hàm lượng kim loại nặng trong tóc người dân tại khu vực KCN trên phần mềm STATISTICA 12.0 nhằm mục đích xác định tình hình ô nhiễm môi trường và đánh giá tình trạng sức khỏe của người dân theo khu vực sống và theo độ tuổi
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương sau:
Chương 1: Tổng quan
Trang 165
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và thảo luận
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu:
-Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo môi trường quốc gia 2011
-Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014 của Quốc hội Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
-Lê Thành Tài (2009), Sức khỏe môi trường, NXB Lao động - Xã hội
-Các tài liệu khác
Trang 176
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KCN VIỆT NAM
Tính đến tháng 9 năm 2012, theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
cả nước đã có 283 KCN (bao gồm cả khu chế xuất) được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 80.000 ha trên phạm vi 58 tỉnh, thành phố, trong
đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 52.000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên Kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 là giai đoạn đầu
và thí điểm phát triển KCN, số lượng các KCN được thành lập trong giai đoạn này là 12 KCN với tổng diện tích tự nhiên 2.360 ha Sau giai đoạn này, việc thành lập các KCN được đẩy nhanh Bên cạnh đó, còn có khoảng 878 Cụm công nghiệp do địa phương thành lập, trong đó 614 Cụm công nghiệp đang hoạt động Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trong thời gian qua, việc phát triển các KCN cũng diễn ra mạnh mẽ
Các KCN phân bố rải rác khắp các tỉnh thành trên cả nước và tập trung nhiều nhất tại khu kinh tế trọng điểm Phía Nam
Tuy nhiên, công tác quy hoạch phát triển các KCN hiện tại không tuân theo một quy hoạch thống nhất, một số nơi thiếu cơ sở khoa học[1];chưa được giải quyết đồng bộ với việc đầu tư cơ sở hạ tầng về môi trường Nhiều khu, cụm công nghiệp vừa thu hút đầu tư, vừa xây dựng cơ sở hạ tầng, không tuân thủ thiết kế dự án đầu tư, dẫn đến không xây dựng nhà máy xử
lý nước thải tập trung, việc đầu tư cho hệ thống thoát nước còn manh mún, chắp vá, không hiệu quả Hầu hết các địa phương đều có KCN riêng với các chức năng giống nhau, tạo ra sự cạnh tranh không cần thiết Nhiều KCN đã giảm mức đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật KCN bao gồm cả hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung Việc lựa chọn địa điểm cho KCN thường không tuân thủ theo những quy định liên quan Quá trình thiết kế và thực
Trang 187
hiện các quy hoạch phát triển công nghiệp có nhiều đơn vị cùng tham gia, nhưng còn thiếu sự điều phối chung và chịu trách nhiệm đến cuối cùng Trong giai đoạn phát triển hiện nay, sự phát triển của KCN đã tạo sức
ép không nhỏ đối với môi trường, đặc biệt gây ra ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí, ô nhiễm môi trường từ chất thải rắn
1.1.1 Ô nhiễm nước mặt do nước thải KCN
a Đặc trưng nước thải KCN
Thành phần nước thải các KCN phụ thuộc vào ngành nghề của các CSSX trong KCN Thành phần nước thải của các KCN chủ yếu bao gồm các chất lơ lửng (SS), chất hữu cơ (thể hiện qua hàm lượng BOD, COD), các chất dinh dưỡng (biểu hiện bằng hàm lượng tổng Nitơ và tổng Phốtpho) và kim loại nặng
Bảng 1.1 Đặc trưng thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp
(trước xử lý)
Ngành công nghiệp Chất ô nhiễm chính Chất ô nhiễm
(có thể có) Chế biến đồ hộp, thủy
sản, rau quả, đông lạnh BOD, COD, pH, SS Màu, P tổng, N tổng Chế biến nước uống có
cồn, bia, rượu BOD, pH, SS, N, P TDS, màu, độ đục Chế biến thịt BOD, pH, SS, độ đục NH4+, P, màu
Trang 19Nguồn [3]
b Ô nhiễm nước mặt do nước thải KCN
Cùng với nước thải sinh hoạt, nước thải từ các KCN đã góp phần làm cho tình trạng ô nhiễm tại các sông, hồ, kênh, rạch trở nên trầm trọng hơn Những nơi tiếp nhận nước thải của KCN bị ô nhiễm nặng nề, nhiều nguồn nước không thể sử dụng được cho bất kỳ mục đích nào
Tình trạng ô nhiễm không chỉ dừng lại ở hạ lưu con sông mà lan lên tới
cả phần thượng lưu theo sự phát triển của các KCN
Tại một số khu vực, do việc đầu tư hàng loạt các KCN không đi kèm hoặc chậm triển khai các biện pháp kiểm soát ô nhiễm tại nguồn, chất lượng nước mặt của nguồn tiếp nhận đã diễn biến theo chiều hướng xấu đi Theo báo cáo giám sát của Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỷ lệ các KCN
có hệ thống xử lý nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc Một số khu có xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng hầu như không vận hành để giảm chi phí Đến tháng 9/2011, mới có 107 khu có trạm XLNT tập trung, chiếm khoảng 62%
số KCN đang hoạt động; 34 khu khác đang xây dựng trạm xử lý Vẫn còn nhiều KCN xả thải thẳng vào môi trường không qua xử lý [1]
Thực trạng trên đã dẫn đến việc phần lớn nước thải của các KCN khi xả thải ra môi trường đều có các thông số ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
1.1.2 Ô nhiễm môi trường không khí do khí thải KCN
a Đặc trưng khí thải của các KCN
Trang 209
Mỗi ngành sản xuất phát sinh các chất gây ô nhiễm không khí đặc trưng theo từng loại hình công nghệ Rất khó xác định tất cả các loại khí gây ô nhiễm, nhưng có thể phân loại theo từng nhóm ngành sản xuất tại các KCN
Bảng 1.2 Phân loại các nhóm ngành sản xuất có khả năng gây ô nhiễm
Tất cả các ngành lò hơi, lò sấy hay máy
phát điện đốt nhiên liệu nhằm cung cấp
hơi, điện, nhiệt cho quá trình sản xuất
Bụi, CO, SO2, NO2, muội khói, …
Nhóm ngành may mặc: phát sinh từ công
đoạn cắt may, giặt tẩy, sấy
Nhóm ngành sản xuất hóa chất như:
- Ngành sản xuất sơn hoặc có sử dụng sơn
- Ngành cơ khí (công đoạn làm sạch bề
mặt kim loại)
- Ngành sản xuất hóa nông dược, hóa chất
bảo vệ thực vật, sản xuất phân bón
- Dung môi hữu cơ bay hơi, bụi sơn
(Nguồn: Trung tâm quan trắc môi trường và kiểm soát ô nhiễm công nghiệp,
2009, Đại học Bách khoa Hà Nội)
Trang 2110
b Ô nhiễm môi trường không khí do khí thải KCN
Chất lượng môi trường không khí tại các KCN, đặc biệt là các KCN cũ, tập trung các nhà máy có công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư
hệ thống xử lý khí thải, đã và đang bị suy giảm Ô nhiễm không khí tại các KCN chủ yếu bởi bụi, một số KCN có biểu hiện ô nhiễm CO, SO2 và tiếng
ồn Các KCN mới với các cơ sở có đầu tư công nghệ hiện đại và hệ thống quản lý thường có hệ thống xử lý khí thải trước khi xả ra môi trường nên thường ít gặp các vấn đề về ô nhiễm không khí hơn
Tình trạng ô nhiễm bụi ở các KCN diễn ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa khô và đối với các KCN đang trong quá trình xây dựng Hàm lượng bụi
lơ lửng trong không khí xung quanh của các KCN qua các năm đều vượt QCVN
Tại các KCN, bên cạnh những ô nhiễm thông thường như SO2, NO2, CO, còn phải quan tâm và kiểm soát đến một số khí ô nhiễm đặc thù do loại hình sản xuất sinh ra như hơi axit, hơi kiềm, NH3, H2S
Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm không khí bên trong CSSX của các KCN lại đang là vấn đề cần quan tâm Một số loại hình sản xuất trong KCN (chế biến thủy sản, sản xuất hóa chất, ) đang gây ô nhiễm không khí tại chính các CSSX và tác động không nhỏ đến sức khỏe của người lao động bên trong và dân cư gần các CSSX
1.1.3 Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn của KCN
Hoạt động sản xuất tại các KCN đã phát sinh một lượng không nhỏ
chất thải rắn và chất thải nguy hại Thành phần, khối lượng chất thải rắn phát sinh tại mỗi KCN tùy thuộc vào loại hình công nghiệp đầu tư, quy mô đầu tư và công suất của của các cơ sở công nghiệp trong KCN Theo số liệu tính toán, chất thải rắn phát sinh từ các KCN phía Nam chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các vùng khác trong toàn quốc, lên tới gần 3.000 tấn/ngày
Trang 2211
Lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nhiều gấp 3 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và nhiều gấp khoảng 20 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh
ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung [1]
Do hầu hết các KCN chưa có điểm tập trung thu gom chất thải rắn nên các doanh nghiệp trong KCN thường ký hợp đồng với các Công ty môi trường đô thị tại địa phương hoặc một số doanh nghiệp có giấy phép hành nghề để thu gom và xử lý Việc đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại cũng do các doanh nghiệp chủ động đăng ký với các Sở Tài nguyên và Môi trường
1.2 TÁC HẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KCN
Ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp nói chung và KCN nói riêng đã gây tác động xấu tới các hệ sinh thái tự nhiên Mặt khác, ô nhiễm môi trường còn làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, tăng tỷ lệ người mắc bệnh đang lao động tại chính KCN và cộng đồng dân cư sống gần đó Đáng báo động là tỷ lệ này có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây và gây
ra những tổn thất kinh tế không nhỏ
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Việt Nam có thể phải chịu tổn thất do ô nhiễm môi trường lên tới 5,5% GDP hàng năm Như vậy, nền kinh tế mất khoảng 3,9 tỉ USD trong 71 tỉ USD của GDP trong năm
2007 và khoảng 4,2 tỉ USD trong ước tính 76 tỉ USD của GDP trong năm
2008 và ở Việt Nam thiệt hại 780 triệu USD trong các lĩnh vực sức khỏe cộng đồng vì ô nhiễm môi trường [2]
1.2.1 Tổn thất hệ sinh thái
Sông suối là nguồn tiếp nhận và vận chuyển các chất ô nhiễm trong nước thải từ các KCN và các CSSX kinh doanh Nước thải chứa chất hữu cơ vượt quá giới hạn cho phép sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng, làm giảm lượng
Trang 2312
ôxy trong nước, các loài thủy sinh bị thiếu ôxy dẫn đến một số loài chết hàng
loạt Sự xuất hiện các độc chất như dầu mỡ, kim loại nặng, các loại hóa chất
trong nước sẽ tác động đến động thực vật thủy sinh và đi vào chuỗi thức ăn
trong hệ thống sinh tồn của các loài động vật, cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến sức
khỏe con người [1] Dưới đây là một số minh họa tại một số khu vực trong nước
KCN Phố Nối A, Hưng Yên có diện tích 390 ha, đến năm 2009 đã có
77% diện tích được lấp đầy và đi vào hoạt động nhưng việc xử lý thải vẫn bị
xem nhẹ Công suất của hệ thống XLNT tập trung không được đáp ứng được
nhu cầu thực tế Một số doanh nghiệp trong KCN chưa đấu nối hệ thống thoát
nước thải của nhà máy XLNT tập trung mà xả trực tiếp ra môi trường Nguồn
nước thải từ KCN Phố Nối A đã gây ô nhiễm nặng tới các dòng sông: sông
Bần và sông Bắc Hưng Hải Theo đánh giá, nguồn nước trên hai sông này và
hệ thống kênh mương, sông hồ trong khu vực không đạt tiêu chuẩn B1
(QCVN 08:2008/BTNMT), không thể dùng tưới tiêu nông nghiệp Hàng chục
kênh mương đã biến thành dòng nước chết, bốc mùi hôi tanh khó chịu Nước
chảy đến đâu, cá tôm chết nổi đến đó, cây trồng cũng héo rũ Trên địa bàn
Văn Lâm, Mỹ Hào do hệ thống thủy lợi bị ô nhiễm không thể tưới tiêu phục
vụ sản xuất, hàng chục ha đất canh tác phải bỏ hoang [1]
Lưu vực hệ thống sông Đồng nai là khu vực tập trung nhiều KCN của
cả nước Các hoạt động sản xuất từ KCN này đã thải vào môi trường nước
một lượng nước thải với nồng độ ô nhiễm cao, gây hiện tượng các “ đoạn
sông chết”
KCN Điện Nam - Điện Ngọc (huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) với
hơn 34 nhà máy đã và đang đưa vào hoạt động, là KCN lớn nhất của tỉnh
Trong những năm trước đây (2006 - 2007), KCN này cũng đã nổi lên như một
điểm nóng về ô nhiễm môi trường ở miền Trung Cũng như nhiều KCN khác
Trang 2413
ở miền Trung, trong giai đoạn đó, KCN vẫn chưa xây dựng hệ thống XLNT tập trung Toàn bộ nước thải của KCN thải trực tiếp ra môi trường đã khiến người dân tại khu vực xung quanh phải gánh chịu Sông Hoài (chảy qua thành phố du lịch Hội An) và sông Ngân Hà cùng một số con suối khác trong khu vực đã biến thành màu đen do tiếp nhận nước thải của KCN Điện Nam - Điện Ngọc Trạm bơm Tứ Câu gần như ngừng hoạt động vì nguồn nước bị ô nhiễm không thể tưới tiêu cho gần 200 ha ruộng của Điện Ngọc 1 và Điện Ngọc 2
Từ năm 2008, với việc đưa vào sử dụng nhà máy XLNT giai đoạn 1 của KCN, vấn đề ô nhiễm môi trường ở khu vực này đã bước đầu được khắc phục [1]
Ô nhiễm nước sông Thị Vải là một trong những ví dụ điển hình về ô nhiễm môi trường công nghiệp tác động trực tiếp tới hệ sinh thái trong nước sông, gây những tổn hại đáng kể đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp và thủy sản Điển hình là hoạt động xả nước thải trái pháp luât kéo dài của Công
ty Cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam, đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Cả đoạn sông dài khoảng 12km (từ sau hợp lưu suối Cả - sông Thị Vải khoảng 2 km đến khu vực cảng Phú Mỹ, phía sau KCN Mỹ Xuân), các loài tôm, cá, thủy sản hầu như không thể tồn tại và phát triển Hệ sinh thái khu vực này chỉ còn tồn tại một ít loài động thực vật phù du Các loài tảo phát triển chủ yếu cũng là những loài thích nghi với môi trường dinh dưỡng cao và chính sự phát triển của chúng cũng làm tăng nguy cơ gây độc cho môi trường nước.Theo ước tính ban đầu, tổng diện tích nông nghiệp bị thiệt hại là 1.438,5
ha, phần lớn là ao nuôi thủy sản 29,5ha [1]
Trang 2514
Hình 1.1 Cá chết và ao nuôi trồng thủy sản bị ô nhiễm do sông Thị Vải
1.2.2 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người
a Ô nhiễm nguồn nước, đất và những tác hại đến sức khỏe
Nước thải từ các KCN không được xử lý gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng nguồn cấp nước và có thể thông qua chuỗi thức ăn gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người Các bệnh chủ yếu liên quan đến chất lượng nước là bệnh đường ruột, các bệnh do ký sinh trùng, vi khuẩn, virus, nấm mốc…, các bệnh do côn trùng trung gian và các bệnh do vi yếu tố và các chất khác trong nước (bệnh bướu cổ địa phương, bệnh về răng do thiếu hoặc thừa flour, bệnh do nitrat cao trong nước, bệnh do nhiễm độc vởi các độc chất hóa học có trong nước như bệnh Minamata ở Nhật Bản do nước bị nhiễm dimetyl thủy ngân, bệnh Itai - Itai ở Nhật Bản do trong nước có quá nhiều Cadimi,…) [1]
Một nghiên cứu đánh giả ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất tại khu chế biến kim loại màu Thái Nguyên đến sức khỏe dân cư sống xung quanh đã cho thấy hàm lượng chì trong nước thải tại ao thải vượt TCCP nhiều lần; hàm lượng chì và asen trong đất ở vùng nghiên cứu cao hơn 1,2 - 1,5 lần, trong nước sinh hoạt cao hơn 1,5 - 6 lần và thực phẩm từ 6 - 12 lần so với vùng đối chứng Các xét nghiệm máu của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sống liên tục ở
Trang 2615
khu vực nghiên cứu từ 5 năm trở lên đã cho thấy hàm lượng chì và asen trong
máu cũng cao hơn cùng đối chứng 3 - 80 lần (Nguồn: Báo cáo tóm tắt Hội nghị khoa học quốc tế Y học lao động và Vê sinh môi trường lần thứ I, 2003,
Hà Nội)
Một nghiên cứu khác đánh giá ảnh hưởng của kim loại chì (xuất phát từ nước thải công nghiệp dệt nhuộm, sản xuất pin - ác quy, tẩy - mạ, nấu luyện kim loại…) trong nước kênh Thành phố Hồ Chí Minh đến chất lượng rau thủy sinh (rau muống, rau rút, rau ngổ, cần nước, ngó sen,…) cung cấp cho thành phố đã cho thấy: hàm lượng chì trong rau muống tại một số vùng chuyên canh, trồng trên kênh rạch tương đối cao (so sánh với các tiêu chuẩn trong Nghị định số 73/CP ngày 01/11/1995 và Nghị định số 86/CP ngày 08/12/1994 thì có 16/25 mẫu rau có hàm lượng chì cao hơn quy định) Nước trong các ruộng được dẫn từ kênh vào có mức độ ô nhiễm chì cao hơn nước trong kênh rạch và cao hơn so với TCVN 5942: 1995 Việc nước thải thẳng ra kênh rạch
đã làm tăng thêm việc nhiễm kim loại nặng, trong đó có chì và các độc tố khác trong rau và từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, đặc biệt là
trẻ em (Nguồn: Báo cáo tóm tắt" Hội thảo khoa học kỷ niệm 30 năm thực hiện công tác An Toàn Vệ sinh Lao động và Phân viện Bảo hộ Lao động”, 2007, thành phố Hồ Chí Minh)
Vào năm 2007, Đà Nẵng đã có sáu KCN đi vào hoạt động, trong đó chỉ
có KCN Hòa Khánh có nhà máy XLNT tập trung nhưng đang trong giai đoạn vận hành thử Do đó, vấn đề ô nhiễm môi trường do nước thải từ KCN này khá trầm trọng Trong vụ đông xuân năm 2007, hơn 120 ha ruộng của phường Hòa Hiệp Nam (quận Liên Chiểu) không thể gieo cấy vì ô nhiễm do nước thải của KCN Hòa Khánh tràn ra các thửa ruộng Từ ngày KCN hòa Khánh hình thành, toàn bộ đất trên cánh đồng Gia Tròn, đồng Phở, đồng Cửa nằm sát hồ Bàu Tràm bị nước thải nhà máy sản xuất giấy Wei Sen Xin làm ô nhiễm
Trang 2716
Nước thải chảy tràn lâu ngày thấm sâu vào đất khiến đất chuyển sang màu đen đục, môi trường không khí xung quanh bị ô nhiễm mùi nghiêm trọng Nước thải từ KCN tràn ra đồng còn gây hiện tượng gia cầm và thủy sản nuôi trồng trong khu vực chết hàng loạt Người dân làm nông nghiệp cũng bị ảnh hưởng sức khỏe nghiêm trọng Điển hình bệnh lở loét tay chân và một số bệnh da liễu [1]
Hình 1.2 Nước ruộng bị ô nhiễm gây lở loét, ghẻ ngứa cho người nông dân
sống gần KCN
b Ô nhiễm không khí và những tác hại đến sức khỏe
Ô nhiễm không khí từ các KCN không chỉ ảnh hưởng đến người lao động mà còn ảnh hưởng tới cộng đồng dân cư sống ở các khu vực xung quanh, với các bệnh thường gặp như các bệnh về đường hô hấp, rối loạn tiêu hóa, các bệnh về mắt, các bệnh ngoài da
Theo nghiên cứu tại KCN Thượng Đình - Hà Nội, dân cư vùng ô nhiễm không khí (phường Thượng Đình và phường Khương Đình) có tỷ lệ mắc triệu chứng hô hấp cao gấp 6,4 - 9,1 lần; tỷ lệ trẻ em mắc triệu chứng hô hấp cao gấp 4,9 - 5,5 lần; tỷ lệ dân cư mắc rối loạn thông khí phổi cao nhất, gấp 17,7 - 30,8 lần (trong đó có đến 57,1- 64,7% là rối loạn thông khí tắc nghẽn), tỷ lệ mắc các triệu chứng như kích thích mắt, mũi, da, rối loạn thần kinh thực vật cao hơn 9 lần so với vùng đối chứng là xã Định Công, huyện Thanh Trì [8]
Trang 28khác) cao gấp 1,5 - 3,5 lần (Nguồn: Chương trình điều tra, đánh giá tác động sức khỏe môi trường tại thành phố Việt Trì - Phú Thọ, Cục Bảo vệ môi trường, 2007)
1.3 TỔNG QUAN VỀ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG
1.3.1 Khái niệm sức khoẻ môi trường
Môi trường: là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật [6]
Sức khỏe: là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ
không chỉ đơn thuần là không có bệnh hay thương tật (Nguồn: WHO) Mỗi
điều kiện và hiện tượng của môi trường bên trong hay bên ngoài đều có tác động nhất định đến sức khỏe Có sức khỏe là sự thích ứng cơ thể với môi trường, ngược lại bệnh tật là biểu thị sự không thích ứng Như vậy, sức khỏe
là một tiêu chuẩn của sự thích ứng của cơ thể con người và cũng là một tiêu chuẩn của môi trường
Chất lượng môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người
và nó bị chi phối không những bởi điều kiện tự nhiên mà còn bởi điều kiện kinh tế xã hội Ở nông thôn, chất thải chăn nuôi, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón là nguyên nhân chính làm suy giảm chất lượng môi trường sống Tại thành phố và các KCN với mật độ dân số cao, tập trung nhiều loại
Trang 2918
hình sản xuất công nghiệp nên chất lượng môi trường có nguy cơ bị suy giảm
do tác động của bụi, khí thải và nước bị ô nhiễm
SKMT bao gồm tất cả những khía cạnh liên quan tới sức khỏe, tình trạng
ốm, bị bệnh, bị thương tật của con người do phải chịu tác động từ các yếu tố môi trường vật lý, hóa học, sinh học, xã hội và tâm lý Thuật ngữ này đồng thời cũng được dung để gọi chung cho các lý thuyết và thực tiễn về đánh giá, điều chỉnh, kiểm soát, phòng ngừa những yếu tố, thành phần môi trường có khả năng gây nên những tác động có hại cho sức khỏe con người, cả thế hệ
hiện tại và các thế hệ trong tương lai (Nguồn: WHO)
SKMT là trạng thái của những yếu tố vật chất tạo thành môi trường có tác động đến sức khỏe và bệnh tật của con người [6]
1.3.2 Lịch sử phát triển của thực hành SKMT
Mỗi sinh vật trên trái đất đều có môi trường sống của riêng mình, nếu thoát ra khỏi môi trường tự nhiên đó hoặc sự biến đổi quá mức cho phép của môi trường mà chúng đang sống thì chúng sẽ bị chết và bị tiêu diệt Do đó, đảm bảo sự ổn định môi trường sống là điều cơ bản để duy trì sự sống của mọi sinh vật trên trái đất Môi trường và sức khỏe con người có mối liên quan mật thiết với nhau Không phải đến bây giờ con người mới biết đến mối quan
hệ này, mà từ hàng ngàn năm trước người Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tư, Ai Cập cổ đại đã biết áp dụng các biện pháp thanh khiết môi trường để ngăn ngừa và phòng chống dịch cho cộng đồng Các tư liệu lịch sử cho thấy từ những năm trước công nguyên, ở thành Athens (Hy Lạp) con người đã xây dựng hệ thống cống ngầm để thải nước bẩn, đã biết dung các chất thơm, diêm sinh để tẩy uế không khí trong và ngoài nhà để phòng các bệnh truyền nhiễm Người La Mã còn tiến bộ hơn đó là khi xây dựng thành La Mã, người ta
đã xây dựng một hệ thống cống ngầm dẫn tới mọi điểm trong thành phố để
Trang 30và các nguy cơ vật lý đã tồn tại trong suốt quá trình phát triển của lịch sử loài người Đồng thời các chất ô nhiễm môi trường do hoạt động của con người sinh ra cũng có quá trình phát triển từ từ và lâu dài
Cuộc khủng hoảng môi trường lần thứ nhất xuất hiện ở Châu Âu lần đầu tiên vào thế kỷ 19, nguyên nhân là do thực phẩm kém chất lượng, nước bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh đã làm cho nước Anh trở thành xứ sở sương mù do ô nhiễm không khí, thời gian này vấn đề ô nhiễm công nghiệp là một vấn đề hết sức nghiêm trọng Trong quá trình phát triển công nghiệp, ô nhiễm kéo dài cho đến thế kỷ
20 và hàng loạt những ô nhiễm mới song song với ô nhiễm công nghiệp là ô nhiễm hóa học, hóa chất tổng hợp, nhất là trước và sau chiến tranh thế giới thứ 2 Những tiến bộ của kỹ thuật, lĩnh vực hóa học, đăc biệt là ngành công nghiệp hóa chất đã tạo ra các hóa chất tổng hợp như cao su tổng hợp, nhựa, các dung môi, thuốc trừ sâu v.v… đã tạo ra nhiều chất khó phân hủy và tồn dư lâu dài trong môi trường như DDT, 666, dioxin v.v… gây ra ô nhiễm môi trường nặng nề, dẫn tới sự phản đối kịch liệt của cộng đồng nhiều nước trên thế giới trong suốt thời kỳ những năm 60 và 70 của thế kỷ 20 [9]
Làn sóng thứ hai về các vấn đề môi trường xảy ra vào những năm giữa của thế kỷ 20 với hai phong trào lớn là môi trường và sinh thái Phong trào môi trường là việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là những tài nguyên không tái tạo Kết quả là động vật trên đất liền ở nhiều vùng thiên nhiên hoang dã, các vùng đất, biển quý hiếm khác, cảnh quan thiên nhiên được bảo
Trang 3120
tồn và tôn tạo Về phong trào sinh thái tập trung vào các chất có thể gây độc cho con người hoặc có khả năng gây hủy hoại môi trường Kết quả của những phong trào này cùng với Hội nghị của Liên hợp quốc tế về môi trường và con người đã được tổ chức vào năm 1972 đã thuyết phục chính phủ các nước thông qua luật lệ hạn chế ô nhiễm công nghiệp và phát thải rác, phòng chống
ô nhiễm hóa học, đảm bảo chất lượng và vệ sinh thực phẩm, thuốc, v.v… Làn sóng lần thứ ba về các vấn đề SKMT là từ những năm 80, 90 đến nay, ngoài những vấn đề ô nhiễm công nghiệp, hóa chất còn có các vấn đề về dioxyd carbon, clorofluocarbon gây thủng tầng ozon, vấn đề cân bằng môi trường, phát triển bền vững, môi trường toàn cầu thay đổi, khí hậu toàn cầu nóng lên v.v…sẽ còn phải giải quyết trong nhiều thập kỷ tới
Tại Việt Nam vấn đề về SKMT được ngành y tế đề cập đầu tiên vào những ngày đầu sau cách mạng Tháng Tám Lúc này Đảng và Chính phủ đã phát động các phong trào vệ sinh phòng chống ô nhiễm môi trường mà nội dung chủ yếu là giữ gìn vệ sinh môi trường sinh hoạt và gia đình Hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường là nhiệm vụ do ngành y tế đảm nhiệm với vai trò chính mãi tới tận thập kỷ 70 Sau đó, ngành công nghệ và môi trường được thành lập và gánh vác với vai trò ngày càng tăng không chỉ ở cấp quốc gia mà còn cả ở các địa phương
Những điểm mốc quan trọng Việt Nam tham gia về vấn đề SKMT toàn cầu [9]:
-Năm 1972, Hội nghị liên hợp quốc về môi trường và con người tại Stockholm, Thụy Điển với 113 nước tham gia đã cùng nhau đưa ra tuyên bố chung, trong đó khẳng định:
+ Hoạt động của con người vừa là nhân tố tích cực song cũng chính là tác nhân phá hủy môi trường sống
Trang 3221
+ Bảo vệ và cải thiện môi trường sống cho con người là các yếu tố tác động trực tiếp tới sức khỏe và sự phát triển kinh tế - xã hội của con người
-Năm 1997, WHO cam kết thực hiện các mục tiêu toàn cầu về sức khỏe, trong đó có 8 mục tiêu tập trung cho các vấn đề SKMT
-Năm 1991, Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về Môi trường và sức khỏe tổ chức tại Thụy Điển có sự tham gia của 81 quốc gia, với mục tiêu kêu gọi toàn thể thế giới chủ động khởi xướng và tham gia các hoạt động vì một môi trường trong lành và có lợi cho sức khỏe con người
-Năm 1992, Chương trình nghị sự 21 được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Môi trường và Phát triển, trong đó xác định “giảm thiểu rủi ro về sức khỏe gây bở ô nhiễm và những ảnh hưởng có hại từ môi trường” là một trong 5 chương trình ưu tiên nhằm bảo vệ SKMT ở cấp toàn cầu
-Tháng 8/1999, UNEP và WHO ký biên bản ghi nhớ về hợp tác để đẩy mạnh các hoạt động quốc tế trong lĩnh vực SKMT
1.3.3 Quan hệ giữa ô nhiễm môi trường và sức khỏe con người
Khoa học môi trường là ngành khoa học nghiên cứu mối quan hệ và tương tác qua lại giữa con người và môi trường xung quanh Con người và môi trường luôn thống nhất với nhau
Cơ thể đáp ứng trước các tác động của môi trường sống bằng các biểu hiện khác nhau: phản xạ, thích ứng, không thích ứng, rối loạn thích ứng v.v… Mặt khác con người can thiệp vào môi trường có mục đích trước hết để cải tạo môi trường Ví dụ như các hoạt động sản xuất, khai thác tài nguyên thiên nhiên, các hoạt động y tế, điều trị v.v… gây nên sự thay đổi mối tương tác giữa cơ thể và môi trường
Trang 33tố hóa học tương ứng trong vỏ Trái Đất và một số bệnh tật có liên quan tới sự thiếu hụt và dư thừa nguyên tố hóa học trong đất đá tại khu vực nghiên cứu Tại Nhật Bản vào năm 1955, ở huyện Phusan phát hiện loại bệnh về xương do thừa Cd Bệnh diễn ra trong thời gian hơn 20 năm, riêng trong giai đoạn từ
1963 - 1967 làm chết 207 người Nguyên nhân của loại bệnh trên là do nồng
độ Cd cao có trong nước thải của hoạt động khai thác một số mỏ Pb, Zn nằm
ở đầu nguồn một con sông cung cấp nước tưới cho các cánh đồng lúa của huyện Phusan [10]
Tóm lại, môi trường và con người phải thống nhất với nhau, sự thay đổi của môi trường trong một giới hạn nhất định kéo theo sự thay đổi thích nghi của cơ thể sống, nhưng sự thay đổi đột ngột hoặc vượt quá giới hạn thích nghi
sẽ dẫn đến những hậu quả xấu Mỗi yếu tố môi trường tác động ở mức độ nhất định đến sức khỏe Sức khỏe tốt là sự thích ứng tốt của cơ thể với môi trường, ngược lại bệnh tật là biểu thị sự không thích ứng Như vậy, sức khỏe
là một tiêu chuẩn về sự thích ứng của cơ thể con người đối với điều kiện môi trường và cũng là một tiêu chuẩn đánh giá môi trường
Con người luôn chịu tác động của ô nhiễm môi trường Các chất ô nhiễm
từ môi trường có thể xâm nhiễm vào cơ thể đặc biệt là các chất lạ độc hại Quá trình xâm nhiễm của các chất ô nhiễm được mô tả theo sơ đồ sau [14]:
Trang 3423
Hình 1.3 Sơ đồ quan hệ ô nhiễm môi trường và sức khỏe con người
1.4 GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ MBBR
MBBR là từ viết tắt của cụm Moving Bed Biofilm Reactor, công nghệ này được phát triển bởi công ty Kaldnes Miljoteknologi
MBBR có thể được thiết kế cho các cơ sở mới để loại bỏ BOD/COD hoặc loại bỏ nitrogen từ các dòng nước thải Hiện tại các nhà máy áp dụng công nghệ bùn hoạt tính có thể được nâng cấp để có thể khử nitrogen và phosphorus hoặc BOD/COD ở lưu lượng lớn Các vi khuẩn nuôi cấy tiêu hóa các chất hữu cơ hòa tan, từng bước trưởng thành trong môi trường đó MBBR
là một dạng của quá trình XLNT bằng bùn hoạt tính bởi lớp màng sinh học (biofilm) Trong quá trình MBBR, lớp màng biofilm phát triển trên giá thể lơ lửng trong lớp chất lỏng của bể phản ứng Những giá thể này chuyển động được trong chất lỏng là nhờ hệ thống sục khí cung cấp oxy cho nước thải [7]
Các nguồn gây ô nhiễm môi trường
Các yếu tố gây ô nhiễm môi trường
Trang 3524
Hình 1.4 Mô tả quá trình xử lý của bể MBBR
Công nghệ MBBR là công nghệ kết hợp giữa các điều kiện thuận lợi của quá trình xử lý bùn hoạt tính hiếu khí và bể lọc sinh học Bể MBBR hoạt động giống như quá trình xử lý bùn hoạt tính hiếu khí trong toàn bộ thể tích bể Đây là quá trình xử lý bằng lớp màng biofilm với sinh khối phát triển trên giá mang mà những giá mang này lại di chuyển tự do trong bể phản ứng và được giữ bên trong bể phản ứng được đặt ở cửa ra của bể Bể MBBR không cần quá trình tuần hoàn bùn giống như các phương pháp xử lý bằng màng biofilm khác, vì vậy nó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xử lý bằng phương pháp bùn hoạt tính trong bể, bởi vì sinh khối ngày càng được tạo ra trong quá trình
xử lý Bể MBBR gồm 2 loại: bể hiếu khí và bể thiếu khí
Trong bể hiếu khí sự chuyển động của các giá thể được tạo thành do sự khuyếch tán của những bọt khí có kích thước trung bình thu được từ máy thổi Trong khi đó ở bể thiếu khí thì quá trình này được tạo ra bởi sự xáo trộn của các giá thể trong bể bằng cánh khuấy Hầu hết các bể MBBR được thiết kế ở dạng hiếu khí có lớp lưới chắn ở cửa ra, ngày nay người ta thường thiết kế lớp lưới chắn có dạng hình trụ đặt thẳng đứng hay nằm ngang
Giá thể di động
Nhân tố quan trọng của quá trình xử lý này là các giá thể động có lớp màng biofilm dính bám trên bề mặt Những giá thể này được thiết kế sao cho
Trang 3625
diện tích bề mặt hiệu dụng lớn để lớp màng biofim dính bám trên bề mặt của giá thể và tạo điều kiện tối ưu cho hoạt động của vi sinh vật khi những giá thể này lơ lửng trong nước
Kaldnes Miljoteknologi đã phát triển những giá thể động có hình dạng và kích thước khác nhau Tùy thuộc vào đặc tính quá trình tiền xử lý, tiêu chuẩn
xả thải và thể tích thiết kế bể thì mỗi loại giá thể có hiệu quả xử lý khác nhau Hiện tại có 5 loại giá thể khác nhau: K1, K2, K3, Natrix và Biofin Chip M
Bảng 1.3 Thông số các loại giá thể Anox Kaldnes
(Nguồn: Kaldnes Miljoteknologi, 2001)
Hình 1.5 Các loại giá thể K1, K2, K3, Biofilm Chip M và Natrix- O
Trang 3726
Điều kiện quan trọng nhất của quá trình xử lý này là mật độ giá thể trong
bể, để giá thể có thể chuyển động lơ lửng ở trong bể thì mật độ giá thể chiếm
từ 25 ÷ 50% thể tích bể và tối đa trong bể MBBR phải nhỏ hơn 67% Trong mỗi quá trình xử lý bằng màng sinh học thì sự khuyếch tán của chất dinh dưỡng (chất ô nhiễm) ở trong và ngoài lớp màng là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình xử lý, vì vậy chiều dày hiệu quả của lớp màng cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý
Ưu nhược điểm công nghệ MBBR
Ưu điểm:
-Giảm chi phí hoạt động, tự động, dễ vận hành và bảo trì
- Đáp ứng nhiều mức độ công suất:
+ Công trình lớn từ 10.000 m3/ngày – 150.000 m3 /ngày
+ Công trình nhỏ từ 40 m3 /ngày - 600 m3 /ngày
-Có thể hoạt động ở nhiệt độ môi trường hạ thấp
-Vật liệu làm giá thể: bền, nhỏ gọn, dễ sử dụng
- Cách vận hành đơn giản, gần giống như quá trình bùn hoạt tính thông thường
- Dễ dàng nâng cấp, thích hợp cho việc cải tạo hệ thống cũ
- Nâng cao hiệu quả xử lý dinh dưỡng (N, P)
- Ổn định theo biến tải
- Phát sinh bùn ít
- Hiệu quả xử lý cao
Trang 381.5 KHU CÔNG NGHIỆP DVTS THỌ QUANG - ĐÀ NẴNG
Hiện nay, thành phố Đà Nẵng đã có 06 KCN tập trung, bao gồm: KCN Hòa Khánh, KCN Đà Nẵng, KCN Liên Chiểu, KCN Hòa Khánh mở rộng, KCN Hòa Cầm và KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng
Ngành thủy sản được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triền kinh tế biển của Đà Nẵng Thành phố đã đầu
tư cơ sở hạ tầng nghề cá theo hướng Trung tâm nghề cá của khu vực miền Trung với hạ tầng kỹ thuật hậu cần nghề cá tương đối hoàn chỉnh Chính vì vậy KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng thành lập theo Quyết định số 5210/QĐ - UB ngày 04/9/2001 trên cơ sở gộp các cụm công nghiệp thủy sản
Trang 3928
hiện có trên địa bàn thành phố và do Sở Thủy sản - Nông lâm làm chủ đầu tư Đến tháng 12/2002 chuyển giao cho Công ty Phát triển và Khai thác hạ tầng KCN Đà Nẵng làm chủ đầu tư
Hình 1.6 Bản đồ thể hiện 06 KCN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Tính đến ngày 20/01/2015, KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng có tổng diện tích đất theo quy hoạch là 50.63 ha và tỷ lệ lấp đầy là 100%
KCN DVTS Thọ Quang
Đà
Nẵng
Trang 4029
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Môi trường không khí, đất, nước tại khu vực KCN
- Sức khoẻ người dân tại khu vực KCN
- Các giải pháp quản lý sức khỏe tại khu vực KCN
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tập trung triển khai tại KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng
(Nguồn: Chi cục Bảo vệ môi trường Đà Nẵng) Hình 2.1 Bản đồ quy hoạch sử dụng đất ở KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng
2.2.1 Điều kiện tự nhiên tại KCN DVTS Thọ Quang - Đà Nẵng
a Vị trí địa lý
KCN DVTS Đà Nẵng thuộc địa phận hành chính của phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng Nằm về phía đông bắc thành phố
Đà Nẵng
- Phía Bắc : giáp với khu dân cư và nhà máy X50 Hải quân
- Phía Nam : giáp với khu quy hoạch tái định cư An Hòa, Nại Hiên 2,
- Phía Đông : giáp với khu tái định cư Thọ Quang, Mân Thái