1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ y học: Sự tăng trưởng thể chất và sức khỏe của trẻ dưới 2 tuổi có mẹ được bổ sung vi chất dinh dưỡng trước và trong quá trình mang thai tại Thái Nguyên

205 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 5,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài là công trình đầu tiên trong nước nghiên cứu về sự tăng trưởng và sức khỏe của trẻ em từ 0 đến 24 tháng tuổi có mẹ được bổ sung vi chất trước và trong mang thai tại Thái Nguyên. Nghiên cứu đã đưa ra được các số liệu về tăng trưởng thể chất và sức khỏe của trẻ từ 0 – 24 tháng tuổi tại Thái Nguyên và đã tìm ra một số yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng thể chất và sức khỏe của trẻ tại Thái Nguyên.

Trang 1

NGUYỄN THỊ XUÂN HƯƠNG

SỰ TĂNG TRƯỞNG THỂ CHẤT VÀ SỨC KHỎE

CỦA TRẺ DƯỚI 2 TUỔI CÓ MẸ ĐƯỢC BỔ SUNG

VI CHẤT DINH DƯỠNG TRƯỚC VÀ TRONG QUÁ TRÌNH

MANG THAI TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN - NĂM 2019

Trang 2

NGUYỄN THỊ XUÂN HƯƠNG

SỰ TĂNG TRƯỞNG THỂ CHẤT VÀ SỨC KHỎE

CỦA TRẺ DƯỚI 2 TUỔI CÓ MẸ ĐƯỢC BỔ SUNG

VI CHẤT DINH DƯỠNG TRƯỚC VÀ TRONG QUÁ TRÌNH

MANG THAI TẠI THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành : Nhi khoa

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Thị Xuân Hương, Nghiên cứu sinh khóa 9, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, chuyên ngành Nhi khoa, xin cam đoan:

1 Đây là luận án do bản thân tôi trực tiếp thực hiện với sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thành Trung và TS Nguyễn Hồng Phương

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Thái Nguyên, ngày 26 tháng 11 năm 2019

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Xuân Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Phòng đào tạo bộ phận Sau đại học Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Bộ môn Nhi trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, khoa Nhi Tổng hợp Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi

và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận án này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thành Trung và TS Nguyễn Hồng Phương là những người thầy kính mến đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian tâm huyết giúp tôi hoàn thành luận

án này

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới GS.TS Nguyễn Văn Sơn và các bạn trong nhóm nghiên cứu của Dự án Emory đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu, theo dõi và giám sát nghiên cứu này

Tôi xin cảm ơn các cháu và gia đình các cháu đã tham gia vào nghiên cứu, các cộng tác viên nghiên cứu, các nhân viên y tế 20 xã thuộc 4 huyện Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương,Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã giúp tôi thực hiện nghiên cứu này

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với cha, mẹ, chồng, con, người thân trong gia đình và bạn bè đã dành cho tôi mọi

sự động viên, chia sẻ về tinh thần, thời gian và công sức suốt trong quá trình học tập, nghiên cứu

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Xuân Hương

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ANLT An ninh lương thực

BMI Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)

CI Confidence Interval (Khoảng tin cậy)

IGF -1 Insulin -Like Growth Factor 1

(Yếu tố tăng trưởng giống Insulin 1) IFA Sắt + Acid folic

MM Multiple micronutrient ( Đa vi chất dinh dưỡng)

NKHHC Nhiễm khuẩn hô hấp cấp

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH x

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 5

1.1 TĂNG TRƯỞNG THỂ CHẤT CỦA TRẺ EM 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Tăng trưởng của trẻ dưới 2 tuổi 6

1.1.3 Khuynh hướng thế tục tăng trưởng 10

1.2 SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM 11

1.2.1 Khái niệm 11

1.2.2 Tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ em 12

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG THỂ CHẤT VÀ SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM DƯỚI 2 TUỔI 19

1.3.1 Dinh dưỡng 19

1.3.2 Di truyền và gia đình 26

1.3.3 Các nội tiết 27

1.3.4 Môi trường và xã hội 28

1.3.5 Bệnh tật 31

1.4 Mối liên quan giữa dinh dưỡng của mẹ và sự tăng trưởng của trẻ 32

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới về bổ sung đa vi chất cho phụ nữ mang thai 34 1.4.2 Các nghiên cứu trong nước về bổ sung đa vi chất cho phụ nữ mang thai 36

Trang 7

1.5 Những vấn đề còn tranh luận cần tiếp tục nghiên cứu 38

1.6 Cơ sở nghiên cứu của đề tài 39

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 45

2.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 45

2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 46

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 46

2.2.2 Thời gian nghiên cứu: 46

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 46

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 46

2.3.3 Chọn mẫu 47

2.3.4 Tổ chức triển khai nghiên cứu 49

2.3.5 Các chỉ số và biến số nghiên cứu 51

2.3.6 Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu 56

2.3.7 Phân tích và xử lý số liệu 59

2.3.8 Các biện pháp khống chế sai số 61

2.3.9 Đạo đức nghiên cứu 62

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 63

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 63

3.2 Sự tăng trưởng về thể chất và sức khỏe của trẻ em dưới 2 tuổi 67

3.2.1 Sự tăng trưởng về thể chất của trẻ dưới 2 tuổi 67

3.3 Tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ em dưới 2 tuổi 76

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng thể chất, tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe trẻ em 82

Chương 4: BÀN LUẬN 111

4.1 Sự tăng trưởng về thể chất và sức khỏe của trẻ em dưới 2 tuổi 113

Trang 8

4.1.1 Sự tăng trưởng về thể chất của trẻ dưới 2 tuổi 113 4.1.2 Tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ em 118 4.1.3 Sự tăng trưởng thể chất, tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của 3 nhóm tham gia nghiên cứu 125 4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và sức khỏe ở trẻ em 127 4.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng của trẻ em 127 4.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ em 132 4.3 Những hạn chế của đề tài 141

KẾT LUẬN 138 KHUYẾN NGHỊ 141 NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ MẶT KHOA HỌC VÀ GIÁ TRỊ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 142 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 143 TÀI LIỆU THAM KHẢO 127 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Mức tăng trưởng cân nặng, chiều dài và vòng đầu của trẻ em từ

0-2 tuổi 7

Bảng 1.2 Tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi theo vùng sinh thái năm 2015 14

Bảng 1.3 Tỉ lệ SDD theo nhóm tháng tuổi 15

Bảng 1.4 Tóm tắt các nghiên cứu bổ sung đa vi chất ở PNMT trên thế giới 35 Bảng 1.5 Thiết kế nghiên cứu mẹ 41

Bảng 2.2 Thời điểm và các số liệu cần thu thập 51

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của các bà mẹ tham gia nghiên cứu 64

Bảng 3.2 Đặc điểm của nhóm trẻ tham gia nghiên cứu 65

Bảng 3.3 Đặc điểm hộ gia đình của nhóm trẻ tham gia nghiên cứu 66

Bảng 3.4 Các chỉ số nhân trắc của trẻ ngay sau sinh 67

Bảng 3.5 Cân nặng trung bình của trẻ từ 1 – 24 tháng tuổi 67

Bảng 3.6 Chiều dài trung bình của trẻ từ 1 – 24 tháng tuổi 68

Bảng 3.7 Mức tăng cân trung bình tích lũy theo dõi theo chiều dọc từ 0 đến 24 tháng tuổi 68

Bảng 3.8 Mức tăng chiều dài trung bình tích lũy theo chiều dọc từ 0 đến 24 tháng tuổi 69

Bảng 3.9 Vòng đầu trung bình của trẻ từ 1 – 24 tháng tuổi 70

Bảng 3.10 Vòng cánh tay trung bình của trẻ từ 1 – 24 tháng tuổi 71

Bảng 3.11 Cân nặng trung bình của 3 nhóm trẻ từ 0 – 24 tháng tuổi (kg) 72

Bảng 3 12 Chiều dài trung bình của 3 nhóm trẻ từ 0 – 24 tháng tuổi (cm) 73

Bảng 3.13 Vòng đầu trung bình của 3 nhóm trẻ từ 0 – 24 tháng tuổi (cm) 74

Bảng 3.14 Vòng cánh tay trung bình của 3 nhóm trẻ từ 0 – 24 tháng tuổi (cm) 75

Bảng 3.15 Tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật theo lứa tuổi 76

Trang 10

Bảng 3.16 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 0 -24 tháng tuổi của 3 nhóm

nghiên cứu 80 Bảng 3.17 Tỷ lệ thiếu máu của trẻ từ 0 - 24 tháng tuổi của 3 nhóm nghiên cứu 81 Bảng 3.18 Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp của trẻ từ 1-

24 tháng giữa 3 nhóm nghiên cứu 82 Bảng 3.19 Ảnh hưởng của bổ sung vi chất cho bà mẹ trước khi mang thai lên

cân nặng trẻ sơ sinh, cân nặng lúc 12 tháng và 24 tháng 82 Bảng 3.20 Phân tích hồi qui các yếu tố liên quan đến cân nặng trẻ sơ sinh, cân

nặng lúc 12 tháng và 24 tháng 83 Bảng 3.21 Ảnh hưởng của bổ sung vi chất cho bà mẹ trước khi mang thai lên

chiều dài trẻ sơ sinh, lúc 12 tháng và 24 tháng 87 Bảng 3.22 Phân tích hồi qui các yếu tố liên quan đến chiều dài trẻ sơ sinh, lúc

12 tháng và 24 tháng 88 Bảng 3.23 Ảnh hưởng của bổ sung vi chất cho bà mẹ trước khi mang thai lên

tình trạng trẻ SDD thể nhẹ cân lúc sinh, lúc 12 tháng và 24 tháng 92 Bảng 3.24 Phân tích hồi qui các yếu tố liên quan đến tình trạng nhẹ cân khi

sinh, lúc 12 tháng và 24 tháng 93 Bảng 3.25 Ảnh hưởng của bổ sung vi chất cho bà mẹ trước khi mang thai lên

tình trạng trẻ SDD thể thấp còi lúc sinh, lúc 12 tháng và 24 tháng 96 Bảng 3.26 Phân tích hồi qui các yếu tố liên quan đến tình trạng SDD thể thấp còi

khi sinh, lúc 12 tháng và 24 tháng 97 Bảng 3.27 Ảnh hưởng của bổ sung vi chất cho bà mẹ trước khi mang thai lên

tình trạng trẻ thiếu máu lúc sinh, lúc 12 tháng và 24 tháng 102 Bảng 3.28 Phân tích hồi qui các yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu khi

sinh, lúc 12 tháng và 24 tháng 103 Bảng 3.29 Ảnh hưởng của bổ sung vi chất cho bà mẹ trước khi mang thai lên

tình trạng trẻ NKHHC lúc sinh, lúc 12 tháng và 24 tháng 106

Trang 11

Bảng 3.30 Phân tích hồi qui các yếu tố liên quan đến tình trạng NKHHC, lúc

12 tháng và 24 tháng 107 Bảng 3.31 Ảnh hưởng của bổ sung vi chất cho bà mẹ trước khi mang thai lên

tình trạng trẻ TCC lúc sinh, lúc 12 tháng và 24 tháng 109 Bảng 3.32 Phân tích hồi qui các yếu tố liên quan đến tình trạng TCC, lúc 12

tháng và 24 tháng 109 Bảng 4.1 Cân nặng lúc đẻ của trẻ em theo một số tác giả 113 Bảng 4.2 Chiều dài lúc đẻ của trẻ em theo một số tác giả 115 Bảng 4.3 Cân nặng, chiều dài của trẻ em tại Thái Nguyên với một số nghiên

cứu khác 116 Bảng 4.4 Vòng đầu lúc đẻ (cm) của trẻ em theo một số tác giả 117

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Số liệu thống kê về tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi Việt

Nam 2008 - 2015 13

Hình 1.2 Các hormon tác động tăng trưởng trong thời kỳ trẻ em và lứa tuổi chịu ảnh hưởng nhiều nhất 28

Hình 1.3 Khung lý thuyết các giai đoạn và can thiệp dinh dưỡng tiềm năng để cải thiện kết quả thai nghén 38

Hình 2.1 Danh sách địa bàn nghiên cứu 46

Hình 2.2 Sơ đồ tóm tắt nghiên cứu 48

Hình 3.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em theo tuổi và giới 77

Hình 3.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân ở trẻ em theo tuổi và giới 77

Hình 3.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng gầy còm ở trẻ em theo tuổi và giới 78

Hình 3.4 Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ theo tuổi và giới 78

Hình 3.5 Tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp theo tuổi và giới 79

Hình 3.6 Tỷ lệ tiêu chảy cấp theo tuổi và giới 79

Hình 3.7 Ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của bổ sung vi chất cho bà mẹ trước khi mang thai lên cân nặng của trẻ 86

Hình 3.8 Ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của bổ sung vi chất cho bà mẹ trước khi mang thai lên chiều dài của trẻ 91

Hình 3.9 Ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của bổ sung đa vi chất cho bà mẹ trước khi mang thai lên tình trạng nhẹ cân của trẻ 96

Hình 3.10 Ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của bổ sung đa vi chất cho bà mẹ trước khi mang thai lên tình trạng thấp còi của trẻ 101

Hình 3.11 Ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của bổ sung đa vi chất cho bà mẹ trước khi mang thai lên tình trạng thiếu máu của trẻ 106

Trang 13

bị suy dinh dưỡng (SDD) và thiếu máu trong 2 năm đầu của cuộc đời sau này thường kém phát triển cả về thể lực và trí tuệ Nếu trẻ bị suy dinh dưỡng nặng trong thời gian này sẽ để lại hậu quả rất nghiêm trọng ảnh hưởng đến khả năng lao động, học tập, sáng tạo, tăng chi phí chăm sóc sức khỏe và gây tổn thất lớn về mặt kinh tế trong tương lai [60]

Mặc dù SDD trẻ em đã giảm nhanh trong hai thập kỷ qua, song tỷ lệ thấp còi vẫn còn cao, tỷ lệ trên 40% ở một số quốc gia ở một số khu vực trên thế giới [109], [110]

Tại Việt Nam, tỷ lệ SDD trẻ em còn ở mức cao Theo số liệu thống kê năm 2015 của Viện Dinh dưỡng quốc gia, tỷ lệ SDD thể nhẹ cân chiếm 14,1%, thể thấp còi chiếm 24,6%, đặc biệt cao ở các vùng miền núi và Tây Nguyên Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu máu dinh dưỡng là 29,2% [56] Tình trạng dinh dưỡng bà mẹ trước và trong khi mang thai còn kém, đặc biệt

là thiếu máu khi mang thai còn phổ biến [11], [21], [28], [32] Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy tình trạng dinh dưỡng của người mẹ, đặc biệt là tình trạng vi chất dinh dưỡng khi mang thai là nhân tố quyết định chính về cân nặng

Trang 14

sơ sinh và tiềm năng phát triển chiều cao của trẻ Điều đó có nghĩa là tình trạng dinh dưỡng của người mẹ cần phải được chuẩn bị từ trước khi có thai và cần được duy trì tốt trong suốt thời kỳ mang thai [131], [132]

WHO khuyến cáo bổ sung sắt- acid folic hàng ngày từ khi bắt đầu có thai cho tới sau sinh 1 tháng ở những cộng đồng thiếu máu trung bình Nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng khuyến cáo này từ 2006 đến nay [166] Một số nghiên cứu đã chứng minh được các lợi ích của bổ sung sắt và acid folic khi mang thai như giảm thiếu máu mẹ và con, cải thiện kết quả thai nghén như tăng cân nặng sơ sinh, giảm đẻ non [122] Tuy nhiên nhiều nhà khoa học cho rằng bổ sung sắt và acid folic đơn thuần không bù đắp được sự thiếu hụt nhiều

vi chất khác cũng có vai trò trong dinh dưỡng và sức khỏe như nhóm các vitamin B, vitamin A, kẽm, vv Bổ sung đa vi chất thay cho bổ sung sắt- acid folic đã và đang được tiến hành nghiên cứu ở một số quốc gia, nhưng chủ yếu dành cho các phụ nữ đang mang thai [99]

Trên thực tế có rất nhiều phụ nữ mang thai khi cơ thể ở trong tình trạng suy dinh dưỡng và hoặc có lượng dự trữ sắt rất thấp Hơn nữa họ thường phát hiện có thai muộn vào quí II của thai kỳ Vì vậy việc bổ sung vi chất trong mang thai thường muộn và không là phương pháp tối ưu để bù đắp nhu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng của sản phụ và thai nhi Bổ sung vi chất cho các

bà mẹ trước khi mang thai được cho là ưu việt hơn vì nó cải thiện được dinh dưỡng của người mẹ trước khi mang thai sẽ cải thiện được sức khỏe bà mẹ và kết quả của thai nghén

Trên thế giới và trong nước đã có nhiều tác giả nghiên cứu tìm hiểu về vai trò của dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng lên sự phát triển thể chất của trẻ trong giai đoạn 1000 ngày vàng, tuy nhiên nghiên cứu về vai trò của việc bổ sung vi chất dinh dưỡng cho bà mẹ trước và trong thời kỳ mang thai ảnh

Trang 15

hưởng như thế nào tới sự phát triển thể chất và sức khỏe của trẻ sau sinh còn hạn chế

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, dân cư khoảng hơn một triệu người (70% sống ở khu vực nông thôn) Là địa bàn sinh sống của 8 dân tộc; nhóm dân tộc Kinh chiếm khoảng 81%, các dân tộc thiểu số khác bao gồm Tày, Nùng, Sán Dìu, Hmông, Sán Cháy, Hoa và Dao chiếm khoảng 19% tổng số dân cư Các huyện: Đại Từ, Phú Lương và Định Hóa nằm ở phía Tây Bắc, huyện Võ Nhai nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên Các huyện này đều là các huyện miền núi xa trung tâm thành phố, điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn lạc hậu, cũng là nơi có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng và thiếu máu còn ở mức cao so với mặt bằng chung của thành phố

Chính vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “ Sự tăng trưởng thể chất và sức khỏe của trẻ dưới 2 tuổi có mẹ được bổ sung vi chất dinh dưỡng trước và trong quá trình mang thai tại Thái Nguyên” nhằm mục tiêu

như sau:

Trang 16

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Đánh giá sự tăng trưởng thể chất và sức khỏe của trẻ dưới 2 tuổi có mẹ được bổ sung vi chất dinh dưỡng trước và trong mang thai tại Thái Nguyên

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới sự tăng trưởng thể chất và sức khỏe của trẻ dưới 2 tuổi có mẹ được bổ sung vi chất trước và trong mang thai tại Thái Nguyên

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN

Khái niệm tăng trưởng thường được dùng để chỉ thay đổi về thể chất hoặc thể xác, còn phát triển thường dùng cho các quá trình phát triển về tâm sinh lý xã hội Hai quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ em bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi trẻ trưởng thành Quá trình tăng trưởng và phát triển trẻ em theo chiều hướng đi lên theo quy luật tiến hoá chủng loài và

cá thể tiến hoá Tuy nhiên sự tăng trưởng và phát triển của các bộ phận và hệ thống trong cơ thể rất khác nhau về thời điểm bắt đầu, kết thúc cũng như tốc

độ Từ phôi thai đến người trưởng thành là một quá trình thay đổi vừa liên tục vừa không liên tục Theo duy vật biện chứng những thay đổi về lượng đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất [102], [157] Do đó trong chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em cần có những cách tiếp cận khác nhau tùy theo giai đoạn hoặc thời kỳ phát triển của trẻ em

Trang 18

1.1.2 Tăng trưởng của trẻ dưới 2 tuổi

tuy nhiên tốc độ tăng trưởng

cơ thể (chiều cao, cân nặng)

và từng cơ quan không giống

nhau trong mỗi giai đoạn phát

triển tạo nên những quỹ đạo

1.1.2.1 Tăng trưởng về cân nặng

Cân nặng là số đo thường được tiến hành trong tất cả các công trình điều tra cơ bản cũng như thường ngày Một phần vì đó là kích thước tổng hợp

cơ bản không thể thiếu để đánh giá về mặt thể lực, dinh dưỡng và sự tăng trưởng Mặt khác, đó cũng là kích thước phổ cập, đơn giản, dễ đo [18]

Cân nặng của người nói lên khối lượng và trọng lượng hay độ lớn tổng hợp của toàn bộ cơ thể, nó có liên quan đến mức độ và tỷ lệ giữa sự hấp thu và tiêu hao Trẻ được nuôi dưỡng tốt sẽ tăng cân Do đó cân nặng phần nào nói lên tình trạng thể lực, dinh dưỡng và sự tăng trưởng của trẻ nhất là khi được theo dõi trong nhiều tháng

Trang 19

Trong thời kỳ bào thai, cân nặng tăng nhiều nhất vào 3 tháng cuối của thai kỳ Mức độ tăng cân của thai nhi phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng thể chất và dinh dưỡng của bà mẹ trước sinh, mức độ tăng cân trong thai kỳ của

bà mẹ cũng như chức năng của rau thai và tử cung của bà mẹ

Cân nặng trung bình khi sinh của trẻ là 3000 gram, trẻ nam thường nặng hơn trẻ nữ từ 100-150 g, con so thường nhẹ cân hơn con rạ Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến (2004) có cân nặng khi đẻ trẻ trai 3114 gram, trẻ nữ

3100 gram [59], nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Hương (2011) cho thấy cân nặng sơ sinh của trẻ nam 3100 gram, trẻ nữ 3000 gram [16] Cân nặng tăng gấp đôi khi trẻ được 4-5 tháng và tăng gấp 3 lúc trẻ tròn 1tuổi Từ 2-10 tuổi, cân nặng của trẻ tăng bình quân 2kg/năm [47] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến cho thấy trong 3 tháng đầu cân nặng của trẻ tăng rất nhanh, cân nặng tăng gấp đôi so với lúc đẻ đối với trẻ nam vào lúc 3 tháng, đối với trẻ nữ vào lúc 4 tháng tuổi Trẻ nam cân nặng tăng gấp 3 so với lúc đẻ khi trẻ được 12 tháng Nhưng ở thời điểm này trẻ nữ chỉ tăng gấp 2,5 lần so với lúc đẻ Từ năm thứ 2 trở đi cân nặng vẫn tiếp tục tăng nhưng tăng chậm hơn so với năm đầu [59] Nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Hương (2011) cho thấy cân nặng trung bình của trẻ nam cao hơn trẻ nữ ở hầu hết các lứa tuổi [16]

Bảng 1.1 Mức tăng trưởng cân nặng, chiều dài và vòng đầu của trẻ em từ 0-2 tuổi [102]

Tháng tuổi Mức tăng cân

(g/ngày)

Mức tăng chiều

cao (cm/tháng)

Mức tăng vòng đầu (cm/tháng) 0-3 tháng

2,0 1,0 0,5 0,5 0,25

Trang 20

Có thể ước tính cân nặng của trẻ em theo công thức [102]:

 Trẻ từ 1-6 tuổi: cân nặng (Kg) = 2 x tuổi (năm) + 8

1.1.2.2 Tăng trưởng về chiều cao (Chiều dài)

Chiều cao là một trong những kích thước cơ bản nhất trong các cuộc điều tra

về nhân trắc [18] Chiều cao dùng để đánh giá sức lớn của trẻ em, hình thái tầm vóc của người trưởng thành Chiều cao là số đo trung thành của tăng trưởng, chiều dài phản ánh tốt cuộc sống quá khứ và là bằng chứng phản ánh chế độ dinh dưỡng Trẻ thiếu dinh dưỡng kéo dài sẽ làm chậm phát triển chiều cao

Tốc độ tăng trưởng tăng nhanh nhất trong giai đoạn bào thai, tăng nhanh nhưng giảm nhanh trong giai đoạn nhũ nhi Trong thời kỳ bào thai, chiều dài

từ đỉnh đầu đến mông hoặc gót tăng nhanh nhất trong 3 tháng giữa của thai

kỳ, còn cân nặng tăng nhiều nhất vào 3 tháng cuối thai kỳ

Trẻ sơ sinh khi mới đẻ có chiều dài trung bình khoảng 48-50 cm Trong năm đầu sau sinh, chiều dài tăng gấp rưỡi (từ 50 cm lúc sinh tăng lên 75 cm lúc tròn 1 năm), đặc biệt trong 3 tháng đầu mỗi tháng chiều dài tăng lên từ 3,5- 3,8 cm, sau đó mỗi tháng tăng thêm từ 1-1,2 cm Sang năm thứ hai, chiều dài tăng thêm 12 cm Năm thứ ba tăng thêm 8 cm [47] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến (2004) cho thấy chiều dài khi sinh ở trẻ trai 49,84cm, trẻ gái 49,27cm, chiều dài của trẻ tăng rất nhanh trong 3 tháng đầu, mỗi tháng tăng trung bình 3- 4 cm, hết năm thứ nhất chiều dài tăng thêm 24,9cm ở trẻ thành phố và 24,2 cm ở trẻ nông thôn, chiều dài ở trẻ trai cao hơn trẻ gái [59]

1.1.2.3 Vòng đầu (hay chu vi chẩm- trán)

Vòng đầu là một kích thước hay được dùng trong nhân trắc học, tương quan với khối lượng của não và chức năng nhận thức [65] Đo vòng đầu cho phép gián tiếp đánh giá có thể phát hiện sự bất thường thứ phát của não do các quá trình bệnh lý Vì vậy Hội Nhi khoa Hoa Kỳ khuyến cáo đo vòng đầu khi thăm khám cho trẻ, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi [167]

Trang 21

Trong thời kỳ bào thai, não là cơ quan được hình thành rất sớm và phát triển nhanh nhất Ở thai nhi 2 tháng, chiều cao đầu bằng một nửa chiều cao đỉnh – mông Lúc mới sinh, trọng lượng não nặng khoảng 370-390g, chiếm 10-12% trọng lượng cơ thể, chu vi vòng đầu trung bình 34 cm (33-37 cm) Trong năm đầu, vòng đầu phát triển nhanh, nhất là 3 tháng đầu, mỗi tháng tăng trung bình 2 cm; sau đó mức độ tăng trưởng chậm dần, trẻ 2 tuổi vòng đầu khoảng 46- 47 cm [102] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến tại Hà Nội cho thấy vòng đầu đẻ trẻ trai 33,34 cm, trẻ gái 32,40 cm, vòng đầu tăng nhanh trong 3 tháng đầu tiên, sau đó tốc độ tăng chậm lại, vòng đầu trẻ trai lớn hơn trẻ gái [59] WHO đã công bố chuẩn tăng trưởng cho trẻ em từ 0-5 tuổi vào năm 2006; nhưng qua khảo sát hệ thống các nghiên cứu lớn từ 55 nước và chủng tộc trên toàn thế giới cho thấy sự khác biệt giữa chuẩn tăng trưởng chiều dài, cân nặng của WHO 2006 là không đáng kể, nhưng với vòng đầu là đáng kể và có thể đưa đến nguy cơ chẩn đoán sai các trường hợp đầu to hoặc đầu bé [70], [152] Vì vậy mỗi quốc gia cần có số liệu tham chiếu vòng đầu trẻ em của nước mình

1.1.2.4 Vòng cánh tay

Vòng cánh tay (VCT) là một trong những chỉ tiêu nhân trắc thường được sử dụng trong các cuộc điều tra thực địa Nó cho phép đánh giá khối lượng các bắp thịt và nó cũng phản ánh tình trạng dinh dưỡng của trẻ Dựa vào chỉ số VCT có thể phân loại nhanh tình trạng dinh dưỡng tại cộng đồng WHO đã đưa ra ngưỡng đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em từ 1 -5 tuổi theo VCT: Bình thường: VCT ≥ 13,5 cm, VCT 11,5 đến dưới 12,5 cm: SDD cấp tính vừa, VCT < 11,5 cm: SDD cấp tính nặng [161] Những nghiên cứu cho thấy những trẻ được nuôi dưỡng tốt VCT tăng nhanh, nhất là trong những năm đầu tiên của cuộc đời Vòng cánh tay lúc mới đẻ của trẻ trai là 10,14 ± 0,99 cm, trẻ gái là 9,98 ± 0,86 cm Trong năm đầu VCT phát triển nhanh, đến

Trang 22

cuối năm thứ nhất đạt 13,5 – 14,0 cm, sau đó tăng chậm dần và thay đổi rất ít, đến 5 tuổi thì đạt 15 -16 cm [102] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến cho thấy VCT lúc mới sinh trẻ trai là 10,35 cm, trẻ gái là 10,05 cm, VCT phát triển nhanh trong năm đầu, đến cuối năm thứ nhất VCT đạt 13,76 – 14,08 cm, sau

đó tăng chậm lại [59]

1.1.3 Khuynh hướng thế tục tăng trưởng

Mô hình tăng trưởng của cơ thể không đứng yên mà thay đổi theo thời gian thông qua nhiều thế hệ, người ta gọi đó là biến đổi thế tục về tăng trưởng Có thể quan sát các biến đổi thế tục về tăng trưởng thông qua biến đổi tầm vóc (chiều cao, cân nặng), ở trẻ em theo tuổi, biến đổi thời điểm trưởng thành tính dục Mức tăng trưởng trong thời thơ ấu đã tăng lên đáng kể trong thời gian 50

- 100 năm qua Nguyên nhân là thời kỳ tăng trưởng liên quan đến giai đoạn trước tuổi trưởng thành, do đó các nghiên cứu tập trung vào lứa tuổi đang phát triển Xu hướng thế tục đang có biểu hiện gia tăng lớn trong tỷ lệ tăng trưởng và trưởng thành đã xảy ra ở tất cả các nước phát triển và đang phát triển Sự gia tăng thế tục

về chỉ số chiều cao ở trẻ em đã khác biệt rõ rệt, khoảng 1,5 cm/ thập kỷ Tương tự,

xu hướng thế tục trong cân nặng cũng theo chiều hướng tích cực, tỷ lệ trẻ sơ sinh

có trọng lượng sinh ra ngày càng tăng Chiều cao, cân nặng của trẻ em tăng đồng nghĩa với sự xuất hiện sớm tuổi dậy thì Trẻ em ngày nay có chiều dài thân, vòng ngực, độ dày lớp mỡ dưới da, khối lượng cơ, đặc biệt là chiều dài của đùi đã tăng lên rõ rệt ở cả hai giới [47]

Tuy nhiên, mỗi quốc gia có xu hướng thế tục khác nhau, điều này là do

sự tăng trưởng kinh tế xã hội, cải thiện điều kiện sống, đặc biệt về dinh dưỡng

và chăm sóc sức khỏe Như Tanner 1999 đã viết “tăng trưởng là tấm gương phản chiếu điều kiện xã hội” Tóm lại, sự quan tâm tới trẻ em của mỗi quốc gia thể hiện mức độ tăng trưởng trung bình của trẻ em ở quốc gia đó Còn yếu

Trang 23

tố di truyền, đặc biệt là ưu thế lai cũng đóng một vai trò nhỏ trong việc gây ra

xu hướng thế tục

Một nghiên cứu về xu hướng thế tục trong kích thước khi sinh của trẻ

sơ sinh Việt Nam trong giai đoạn 1975- 2000 cho thấy, có một sự gia tăng đáng kể trọng lượng sơ sinh (100 g) và chiều dài (1,7 cm) của trẻ sơ sinh Việt Nam ở năm 1995 so với những trẻ sơ sinh của những năm 1975 Chiều cao trung bình của trẻ trai và trẻ gái ở thời điểm 1995 tăng hơn năm 1975 một cách rõ rệt, tăng ở mọi lứa tuổi Mức tăng trung bình đạt 4 cm đối với nữ và 3,28 cm đối với nam cho mỗi lứa tuổi Những thay đổi về cân nặng cũng tương tự như các thay đổi về chiều cao khi so sánh giữa 2 thời điểm 1975 và

1995, sự tăng cân trung bình đạt 1,7kg/ năm đối với trẻ gái và trẻ trai [45] Hiện nay ở các nước phát triển, xu hướng tăng trưởng đã chậm dần và đã có tình trạng ngừng lại Các nghiên cứu tăng trưởng thế tục ở 16 nước thuộc châu Âu, các tác giả đã cho thấy đến cuối thế kỷ XX, khuynh hướng tăng trưởng thế tục về chiều cao ở trẻ em đã ngừng lại hoặc tăng rất ít ở một số nước châu Âu [45] Ở Hoa Kỳ, thế tục tăng chiều cao của các học sinh được cho là chấm dứt ở giữa những năm 1900, tuy nhiên một xu thế tăng trưởng chiều cao có thể được tái lập [81]

1.2 SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM

1.2.1 Khái niệm

Theo WHO, sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần

và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh và tật

Sức khỏe trẻ em là một vấn đề quan trọng có tính toàn cầu, là mối quan tâm của mọi quốc gia, của mọi gia đình vì “Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai” Sức khỏe trẻ em còn là một trong các yếu tố quyết định của sức khỏe người trưởng thành trong tương lai

Trang 24

Đánh giá sức khỏe của một cá nhân hay của một cộng đồng là một thách thức, là một việc rất khó khăn, vì sức khỏe là một khái niệm trừu tượng, không thể đo lường được Trong phạm vi của đề tài chúng tôi chỉ đề cập đến một khía cạnh về sức khỏe trẻ em đó là một số bệnh thường gặp ở trẻ em tại cộng đồng: Tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu, nhiễm khuẩn hô hấp cấp và tiêu chảy ỏ trẻ dưới 2 tuổi

1.2.2 Tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ em

1.2.2.1 Suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức

độ khác nhau, nhưng ít nhiều ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ

Hai năm đầu sau sinh là giai đoạn phát triển cơ thể nhanh nhất, đồng thời cũng là giai đoạn có nguy cơ SDD cao nhất Mặc dù có nhiều chuyển biến tích cực trong những năm gần đây, tình hình SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi hiện đang còn là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng tại các nước đang phát triển trong

đó có Việt Nam

Tình hình SDD trẻ em ở Việt Nam

Theo kết quả điều tra về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em, tỷ lệ trẻ em SDD nhẹ cân ở Việt Nam tuy đã giảm nhưng vẫn ở mức cao, năm 2012 là 16,2%, năm 2013 là 15,3%, năm 2014 là 14,5%, năm 2015 là 14,1% và năm

2017 là 13,4% Tuy nhiên tỷ lệ SDD thấp còi chung toàn quốc vẫn ở mức 26,7% năm 2012, 25,9% năm 2013, 24,9% năm 2014, 24,6% năm 2015 và năm 2017 là 23,8% [56]

Trang 25

Hình 1.1 Số liệu thống kê về tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi Việt

Nam 2008 – 2015 (Cập nhật ngày: 06/10/2016)

Trang 26

* Phân bố SDD theo khu vực:

SDD ở nước ta phân bố không đồng đều giữa các vùng sinh thái Tỉ lệ SDD ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên cao hơn ở vùng đồng bằng SDD ở những vùng nông thôn cao hơn ở thành thị

Bảng 1.2 Tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi theo vùng sinh thái năm 2015

Bắc bộ duyên hải miền

* Phân bố SDD theo nhóm tháng tuổi:

Theo số liệu của Viện Dinh Dưỡng và Quỹ Nhi đồng liên hợp quốc (United Nations Childen„s Fun: UNICEF) về tình hình dinh dưỡng Việt Nam năm 2009 – 2010, tỷ lệ SDD nhẹ cân và SDD thấp còi của trẻ tăng dần theo lứa tuổi Tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi thấp nhất, sau đó tăng dần, tăng nhanh từ 6 đến 23 tháng tuổi [58]

Trang 27

1990 xuống 17% năm 2013 Trong gian đoạn này châu Á giảm từ 32% xuống 18% và châu mỹ La Tinh và vùng Caribe từ 8% xuống 3% [148]

Theo thống kê của UNICEF,WHO và Ngân hàng thế giới năm 2016, trên toàn thế giới có 154,8 triệu trẻ em dưới 5 tuổi SDD thấp còi chiếm (22,9%), ở châu Phi (32,1%), châu Á (23,9%), châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê (11%) và ở châu Đại dương (38,3%) SDD nhẹ cân của toàn thế giới (7,7%), ở châu Phi (7,4%), ở châu Á (9,9%), châu mỹ La Tinh và vùng Caribe (1,3%) và ở châu Đại dương (9,4%) [149]

Trang 28

1.2.2.2 Thiếu máu

Tình hình thiếu máu ở trẻ em tại Việt Nam

Theo kết quả tổng điều tra và giám sát dinh dưỡng 2009 - 2010, tỷ lệ thiếu máu ở các vùng sinh thái hầu hết vẫn còn ở mức trung bình, vùng núi Tây Bắc ở mức nặng Nhóm tuổi càng nhỏ trẻ càng có nguy cơ thiếu máu cao,

và trẻ lớn có ít nguy cơ thiếu máu hơn: nhóm trẻ 0 - 12 tháng và 12 - 24 tháng

có tỷ lệ thiếu máu cao nhất đạt 45,3% và 44,4%; trong khi đó ở nhóm 24 - 35 tháng tỷ lệ này chỉ còn 27,5% Tỷ lệ thiếu máu trung bình của trẻ em ở mức trung bình về YNSKCĐ là 36,7%, cao nhất ở Bắc Kạn 73,4%, thấp nhất ở An Giang 17%, Bắc Ninh và Đắk Lắk 25,6%, Hà Nội 32,5%, Huế 38,6% Tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở nhóm 6 - 12 tháng tuổi 56,9%; có xu hướng giảm khi tuổi của trẻ tăng lên: 45% ở nhóm 12 - 24 tháng tuổi, 38% ở nhóm 24 - 36 tháng tuổi, 29% ở nhóm 36 - 48 tháng tuổi; 19,7% ở nhóm 48 - 59 tháng tuổi [57]

Điều tra tình hình thiếu vi chất ở 6 tỉnh miền núi phía Bắc của Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự (CS) năm 2010 thấy tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em là 29,1%, thuộc mức trung bình về YNSKCĐ Tỷ lệ dự trữ sắt thấp (Ferritin

<30ng/mL) là 49,1% Tương tự, tỷ lệ thiếu máu do thiếu sắt (cả Hemoglobin

và Ferritin thấp) là 52,9% [29] Theo kết quả điều tra năm 2014-2015 của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam là 27,8%,

tỷ lệ này cao hơn ở miền núi 31,2%, nông thôn (28,4%) và thấp hơn ở thành thị (22,2%) [55]

Tình hình thiếu máu ở trẻ em trên thế giới

Theo World Bank 2016, trên toàn cầu tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi (42%) Nơi có tỷ lệ thiếu máu cao nhất là ở khu vực châu Phi (60%), sau

đó đến Nam Á (55%), vùng Trung Đông và Nam Phi (35%), Châu Mỹ Latinh

và vùng Caribbean (28%), Đông Á và Thái Bình Dương (26%), Châu Âu và Trung Á (22%), thấp nhất ở Bắc Mỹ (9%) [150]

Trang 29

Các nước đang phát triển có tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi rất cao,

Ấn Độ (57,3%), Pakistan (59%), Indonesia (36,8%), Malaysia (30,8%), Thái Lan (28,3%) Trong khi đó các nước đã phát triển tỷ lệ này tương đối thấp Nhật Bản (13,2%), Ý (13,3%), Pháp (12,9%), Đức (12,4%), Ireland (12,5%), Canada (9,4) [150]

Tỷ lệ thiếu máu của trẻ dưới 6 tuổi ở châu Mỹ La Tinh và vùng Caribbean (2015) Chile 4%, Costa Rica 4%, Argentina 7,6%, Mexico 19,9%,

ở Cuba, Colombia, Cộng hòa Dominica, Peru từ 20,1% đến 37,3% [112]

1.2.2.3 Nhiễm khuẩn hô hấp cấp

Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em tại Việt Nam

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) là nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng, bệnh tật cho trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam [115], [116]

Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Hữu Kỳ (2003) đã tiến hành nghiên cứu tình hình và một số yếu tố nguy cơ chủ yếu của NKHHC trẻ em dưới 5 tuổi tại Thủy Dương - Hương Thủy- Thừa Thiên Huế cho thấy: tỷ lệ mắc NKHHC tại cộng đồng ở đây còn cao (39,7 %), vượt trội hơn so với các bệnh khác cùng thời điểm nghiên cứu và tăng cao ở nhóm trẻ dưới 1 tuổi, tỷ lệ NKHHC

ở trẻ dưới 1 tuổi là 53,3 % ; 2 đến 3 tuổi là 35,9 % và 4 đến 5 tuổi là 28,3 % Tần suất mắc NKHHC cao nhất từ 4 - 6 lần/năm chiếm 47,5 %, từ 3 lần trở xuống/năm chiếm 36,4 %, trên 6 lần/năm chiếm 16,1 % [39]

Nghiên cứu tỷ lệ NKHHC trẻ dưới 5 tuổi tác giả Đàm Thị Tuyết (2010) tại Chợ Mới – Bắc Kạn là 43,9% [53], Nguyễn Văn Danh (2011) tại Định Quán, Đồng Nai là 34,9% [4], Nguyễn Phương Hoa (2012) tại Ba Vì,

Hà Nội là 72% [13], Hoàng Văn Thìn (2013) tại Hiệp Hòa, Bắc Giang là 39,5% [40], Võ Thanh Tâm (2016) tại Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị là 23,5% trong đó nhóm tuổi 0-11 tháng là 23,3%, 12 – 23 tháng là 26,3% [33]

Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em trên thế giới

Trang 30

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trong đó có viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi [106]

Nghiên cứu tỷ lệ NKHHC trẻ dưới 5 tuổi tác giả Bipin Prajapati và CS tại Ahmedabad, Gujarat (2012) là 22%, vùng nông thôn (26,8%), thành thị (17,2%) [125]

Tác giả Selvaraj K và CS cho biết tại bang Rajasthan (2013) là 11,5% [135], Angela Maria Pinzon-Rondon và CS (2016) phân tích dữ liệu từ các cuộc khảo sát về nhân khẩu học và sức khỏe ở 40 quốc gia đang phát triển tỷ lệ NKHHC tính ở trẻ dưới 5 tuổi là 13% [62] Ekram M Abdel Khalek và CS (2016) nghiên cứu 4,745 trẻ dưới 5 tuổi sống tại Ai Cập là 18,8% [77] Maharjan

PL và CS nghiên cứu tại Gorkha Municipality, Gorkha là 21,5% [107]

1.2.2.4 Tiêu chảy cấp

Tình hình tiêu chảy cấp ở trẻ em tại Việt Nam

Tại Việt Nam khu vực có tỷ lệ mắc tiêu chảy cấp (TCC) cao nhất là vùng Tây Bắc bộ, Tây Nguyên, Đồng bằng Sông Hồng, thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ và Bắc Trung Bộ [37]

Nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc và CS tại huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi (2009) tỷ lệ TCC là 33.71% Nhóm trẻ dưới 12 tháng tuổi hiện mắc tiêu chảy cao nhất chiếm 70,97%, ở nam mắc tiêu chảy cao hơn nữ (35,80% và 31,61%) [25] Theo số liệu điều tra MICS 2014, có 8,6% trẻ em dưới 5 tuổi được khai báo có triệu chứng tiêu chảy cấp trong vòng 2 tuần trước thời điểm phỏng vấn Tỷ lệ này cao hơn ở vùng Tây nguyên, vùng trung du-miền núi phía Bắc, ở nhóm trẻ nhỏ 0-11 tháng tuổi, nhóm trẻ sống trong các hộ gia đình nghèo nhất, nhóm trẻ thuộc dân tộc thiểu số [42]

Tình hình tiêu chảy cấp ở trẻ em trên thế giới

Tiêu chảy cấp là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong cho trẻ

em ở các nước đang phát triển, ước tính có khoảng 8% số ca tử vong ở trẻ em

Trang 31

dưới 5 tuổi trên toàn thế giới trong năm 2016 tương đương khoảng hơn 1.300 trẻ em tử vong mỗi ngày, hoặc khoảng 480.000 trẻ em mỗi năm Hầu hết các trường hợp tử vong do tiêu chảy xảy ra ở trẻ em dưới 2 tuổi sống ở Nam Á và cận Sahara châu Phi [145]

Nghiên cứu của Chilambwe và CS tại Zambia (2015), tỷ lệ tiêu chảy cấp

ở trẻ dưới 5 tuổi là 44,6% [71], Ayuk Betrand Tambe và CS tại cận sa mạc châu Phi (2015) tỷ lệ tiêu chảy cấp ở trẻ dưới 2 tuổi là 23,8% [64], Asnakew và

CS tại vùng Tây Bắc Ethiopia (2017) là 20% [76], Sokhna Thiam và CS tại Mbour, Senegal (2017) tỷ lệ tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi là 26% [138]

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG THỂ CHẤT VÀ SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM DƯỚI 2 TUỔI

Quá trình tăng trưởng của trẻ từ khi còn là bào thai cho đến khi sinh ra, lớn lên và trưởng thành chịu sự tác động qua lại của rất nhiều yếu tố: dinh dưỡng, di truyền, môi trường và xã hội Cũng giống như tăng trưởng, có nhiều yếu ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ: Điều kiện kinh tế xã hội, dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường, yếu tố di truyền và sinh học Tác động của mỗi yếu tố đến tăng trưởng và sức khỏe khác nhau tùy theo giai đoạn phát triển của trẻ, có yếu tố thúc đẩy, có yếu tố gây hạn chế Các yếu tố này không phải tác động một cách riêng rẽ mà chúng có liên quan chặt chẽ với nhau và quyết định tính chất phát triển [47]

1.3.1 Dinh dưỡng

Dinh dưỡng đóng một vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng thể chất

và sức khỏe trẻ em, đặc biệt trong 1000 ngày đầu tiên của cuộc đời (từ giai đoạn trước sinh đến 2 tuổi) [123] Dinh dưỡng đúng và đủ trong giai đoạn này giúp trẻ phát triển tối đa tiềm năng về thể chất và trí tuệ Tình trạng suy dinh dưỡng làm chậm quá trình tăng trưởng, đặc biệt thiếu dinh dưỡng mạn tính dẫn đến trẻ bị

Trang 32

thấp còi Ngược lại dinh dưỡng quá mức và giảm hoạt động thể chất sẽ dẫn tới béo phì [123]

1.3.1.1 Giai đoạn bào thai

Ở giai đoạn bào thai, tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe và tuổi của người

mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi [142], [147], [169] Đứa trẻ cảm nhận, giao tiếp và đặc biệt là với thế giới bên ngoài thông qua người mẹ Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ bị thiếu năng lượng trường diễn cao dẫn đến tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân cũng cao Khẩu phần ăn của bà mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển bào thai Những bà mẹ có tình trạng dinh dưỡng trước

và trong thời kỳ mang thai tốt, chế độ ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng (đặc biệt

là protein và các vi chất dinh dưỡng) một cách đầy đủ sẽ sinh ra những đứa con khỏe mạnh, thông minh Những bà mẹ có tình trạng dinh dưỡng trước và trong thời kỳ mang thai không tốt, thường sinh con nhỏ, nhẹ cân Kết quả nhiều nghiên cứu cũng cho thấy cân nặng, chiều cao của mẹ khi bắt đầu mang thai và mức tăng cân của bà mẹ trong thời kỳ mang thai cũng ảnh hưởng tới cân nặng sơ sinh [14], [93] Những bà mẹ tăng cân thấp có nguy cơ sinh con nhẹ cân [14], [117], [147], [169] Những người mẹ mang thai quá sớm ở tuổi

vị thành niên, khi có sự cạnh tranh về các chất dinh dưỡng giữa bào thai và cơ thể đang phát triển của mẹ cũng có nguy cơ cao sinh con nhẹ cân [89], [169]

Gần đây, nhiều nghiên cứu đã cho thấy nếu can thiệp cung cấp vi chất dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai có thể cải thiện cân nặng khi sinh và giảm

tử vong ở trẻ sơ sinh non ở các nước đang phát triển [15], [48], [99] Một nghiên cứu từ Nepal cho thấy rằng bổ sung đa vi chất dinh dưỡng được cung cấp trong thời kỳ mang thai dẫn đến sự gia tăng bền vững trọng lượng trẻ sơ sinh, vòng đầu, vòng ngực và chu vi cánh tay Việc bổ sung vi chất có nhiều công thức nhưng sự phối hợp giữa sắt cùng acid folic và kẽm cho là có hiệu quả kích thích tăng trưởng hơn cả [139]

Trang 33

1.3.1.2 Giai đoạn trẻ nhỏ < 24 tháng

Trong những năm đầu của cuộc sống tốc độ phát triển của trẻ là nhanh nhất Trẻ có cân nặng gấp đôi trong vòng 4 -5 tháng đầu và gấp 3 lần cân nặng sơ sinh vào cuối năm thứ nhất [102] Cuối năm thứ nhất, chiều dài tăng 50% so với chiều dài sau khi sinh Nhu cầu đối với tất cả các chất dinh dưỡng đối với trẻ nhỏ là rất cao so với kích thước cơ thể trẻ Tốc độ phát triển nhanh

là đặc trưng của trẻ nhỏ dưới 1 tuổi do vậy cần được đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng Nhu cầu dinh dưỡng trong năm đầu tiên của trẻ là rất cao nhưng

dạ dày của trẻ lại nhỏ, điều này giải thích tại sao trẻ nhỏ cần phải được ăn nhiều bữa, những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng bên cạnh bú sữa mẹ Bên cạnh năng lượng khẩu phần, các chất dinh dưỡng đặc biệt là protein và các chất dinh dưỡng (vitamin A, sắt, kẽm, vitamin D, Iod ) rất cần cho sự phát triển chiều cao và cân nặng của trẻ [102] Trong giai đoạn này, sữa mẹ và thức ăn bổ sung vô cùng quan trọng đối với trẻ Sữa mẹ đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho trẻ phát triển trong 6 tháng đầu [146] Nhiều bằng chứng cho thấy trẻ được bú mẹ hoàn toàn, đầy đủ trong 6 tháng đầu đời, sẽ phát triển tốt hơn và ít mắc các bệnh nhiễm khuẩn hơn so với trẻ không được bú mẹ [27] Sữa mẹ có

đủ các chất kháng thể giúp cơ thể trẻ phòng được các bệnh nhiễm khuẩn Sữa

mẹ phát triển trí thông minh, tăng cường thị lực Kết quả nhiều nghiên cứu đã cho thấy trẻ được nuôi bằng sữa mẹ có tình trạng phát triển thể lực tốt hơn, ít bị SDD, giảm nguy cơ mắc bệnh nhiễm khuẩn và tử vong [27], [102]

Sau 6 tháng tuổi, ngoài sữa mẹ cần cho trẻ ăn bổ sung, vì sau 6 tháng tuổi, có sự thiếu hụt giữa nhu cầu dinh dưỡng của trẻ và lượng chất dinh dưỡng cung cấp từ sữa mẹ Đó là sự thiếu hụt về năng lượng và các vi chất dinh dưỡng như sắt, kẽm, vitamin A, canci Thức ăn bổ sung sẽ cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng bị thiếu hụt cho trẻ Cho trẻ ăn bổ sung cũng giúp trẻ làm quen dần với thức ăn mới, các thực phẩm khác nhau đồng

Trang 34

thời giúp bộ máy tiêu hóa của trẻ hoàn thiện dần, thích ứng từ chế độ ăn lỏng đến đặc và cứng Thời điểm bắt đầu ăn bổ sung tốt nhất là từ 6 tháng tuổi, không nên cho trẻ ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn Nếu cho trẻ ăn bổ sung sớm, trẻ sẽ ít bú sữa mẹ, như vậy sẽ tăng nguy cơ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn, tiêu chảy ở trẻ nhỏ Mặt khác thực phẩm thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ khi ăn bổ sung sớm thường cung cấp ít năng lượng và chất dinh dưỡng hơn so với sữa mẹ, do đó không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của trẻ Ngược lại cho trẻ ăn bổ sung quá muộn sẽ không tốt vì trẻ không nhận được đủ thức ăn

bổ sung cần thiết để bù đắp sự thiếu hụt năng lượng và các chất dinh dưỡng khi sữa mẹ không cung cấp đủ Như vậy trẻ ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn đều làm cho trẻ có nguy cơ bị SDD và thiếu vi chất dinh dưỡng [102]

Vai trò của vi chất dinh dưỡng đối với tăng trưởng và sức khỏe của trẻ

Ngoài các nhóm chất dinh dưỡng chính thì các vi chất dinh dưỡng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng đối với cơ thể Vi chất dinh dưỡng là những thành phần có mặt trong cơ thể với hàm lượng rất nhỏ nhưng có vai trò rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của cơ thể Vi chất dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong việc tham gia xây dựng các mô, tế bào, hệ thống miễn dịch của cơ thể và tham gia vào các hoạt động như hô hấp, chuyển hóa, bài tiết của tế bào cùng nhiều hoạt động khác của các cơ quan trong cơ thể Vi chất dinh dưỡng còn tham gia duy trì sự cân bằng của hệ thống nội mô, giúp phục hồi các tế bào, các mô bị tổn thương và là thành phần chủ yếu để cơ thể sản xuất các enzyme, hormone và những chất cần thiết khác cho sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể Tuy cơ thể chỉ cần một lượng nhỏ vi chất dinh dưỡng nhưng khi thiếu những vi chất này sẽ gây rất nhiều hậu quả trầm trọng Thiếu vi chất dinh dưỡng được xem là “ nạn đói tiềm ẩn” ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi đồng thời là nguy cơ đối với sức khỏe của trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ tuổi sinh đẻ Theo các nhà dinh dưỡng có khoảng 40 loại vi chất dinh dưỡng cần

Trang 35

thiết cho cơ thể Tuy nhiên liên quan đến phát triển cơ thể trẻ em, các vi chất: Sắt, vitamin A, kẽm, iod, vitamin D và acid folic đóng vai trò quan trọng

Vai trò của sắt

Sắt là thành phần quan trọng trong cấu trúc phân tử hemoglobin, có tác dụng giúp vận chuyển ôxy từ phổi đến tất cả các bộ phận khác trong cơ thể Sắt cùng với protein tạo thành huyết sắc tố, là yếu tố vận chuyển O2 và CO2 Sắt cũng tham gia vào biệt hóa hồng cầu từ tế bào non trong tủy xương Khi hồng cầu chết, sắt được thu giữ ở ferritin và hemosiderin ở gan và lách được chuyển đến tủy xương để tạo hồng cầu mới [143] Thiếu sắt dẫn tới thiếu máu dinh dưỡng là bệnh phổ biến ở trẻ em [162] Thiếu sắt ở phụ nữ khi mang thai làm giảm việc cung cấp oxy cho thai nhi, gây chậm phát triển trong tử cung, làm tăng nguy cơ sinh non và giảm cân Con của các bà mẹ được bổ sung sắt khi mang thai có cân nặng sơ sinh cao hơn con của các bà mẹ không được bổ sung sắt [111] Bổ sung sắt cho bà mẹ khi mang thai sẽ làm giảm nguy cơ sinh con nhẹ cân [85]

Vai trò của acid folic

Acid folic cần cho quá trình tổng hợp AND, chuyển hóa protein và quá trình tạo hemoglobin Acid folic cần thiết cho sự phát triển và phân chia tế bào của người và cần cho sự hình thành của tế bào máu Khi thiếu acid folic, các giai đoạn tổng hợp của sự phân chia tế bào bị kéo dài, sự trưởng thành của

tế bào phôi bị đình trệ, dẫn tới việc tạo thành các tế bào nguyên hồng cầu bất thường có kích thước và đường kính nhân lớn hơn tế bào bình thường Các tế bào khổng lồ sẽ gây rối loạn hệ thống sản sinh tế bào trầm trọng, cả những tế bào trưởng thành sẽ bị thực bào và bị phân huỷ bởi những đại thực bào tủy xương Kết quả là quá trình tạo hồng cầu sẽ mất tính hiệu quả, tỷ lệ phân phát các tế bào hồng cầu mới vào vòng tuần hoàn sẽ sụt giảm và bệnh thiếu máu tế bào khổng lồ sẽ tiếp tục phát triển Về huyết học sẽ dẫn đến tăng thể tích tế

Trang 36

bào trung bình và nồng độ Hb thấp Thiếu acid folic gây bệnh thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, tăng nguy cơ sinh con có khuyết tật ống thần kinh bẩm sinh Thiếu acid folic gây nên chậm tăng trưởng, viêm lưỡi, viêm lợi, kém ăn, tiêu chảy, hay quên Phụ nữ có thai cần nhiều acid folic để giảm thiểu nguy cơ khuyết tật ống thần kinh ở trẻ bao gồm khe hở hàm ếch, tật nứt đốt sống, tổn thương não Phụ nữ có thai không được cung cấp đầy đủ acid folic

có nguy cơ cao sinh ra trẻ bị dị tật bẩm sinh Nhưng việc bổ sung acid folic cho phụ nữ từ trước khi có thai và trong 3 tháng đầu tiên của thai nghén có thể giảm nguy cơ sinh trẻ bị khuyết tật ống thần kinh từ 72 đến 100% [85] Thiếu acid folic thường làm tăng tỷ lệ trẻ sơ sinh không đủ cân và thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ của người mẹ Bổ sung acid folic làm giảm tỷ lệ sinh non [88] Nghiên cứu về phát triển của trẻ còn cho thấy, bổ sung acid folic cho phụ nữ có thai ở thời điểm bắt đầu thụ thai làm giảm nguy cơ hội chứng tự kỷ

ở trẻ em [155]

Vai trò của kẽm:

Kẽm có trong thành phần của nhiều enzym tham gia rất nhiều hoạt động chức năng của cơ thể và có vai trò trong sự trưởng thành của hồng cầu Kẽm giúp tăng tổng hợp protein, phân chia tế bào, thúc đẩy sự tăng trưởng, tăng cảm giác ngon miệng, giúp phát triển và duy trì hoạt động của hệ thống miễn dịch Thiếu kẽm có thể gây nặng thêm tình trạng thiếu máu, giảm sức đề kháng của tế bào máu đối với quá trình gây oxy hóa, làm trẻ biếng ăn, thấp còi, chậm lớn [143] Bổ sung kẽm cho phụ nữ mang thai sẽ cải thiện được cân nặng và vòng đầu sơ sinh [86], giảm tỷ lệ sinh non [85]

Vai trò của iod

Chức năng quan trọng nhất của iod là tham gia tạo hormone tuyến giáp

T3 (tri- iodothyronin) và T4 (thyroxin) Hormone tuyến giáp làm tăng quá trình biệt hóa của tế bào và tham gia vào chức năng hoạt động của não bộ

Trang 37

Tác động của iod trong mô vú liên quan đến phát triển của bào thai và sơ sinh Ngoài ra iod còn tham gia việc chuyển đổi beta-caroten thành vitamin A, tổng hợp protein [143] Iod cũng có tác dụng quan trọng trong quá trình phát triển của bào thai cũng như cả quá trình phát triển của cơ thể, đặc biệt phát triển biệt hóa hệ thống thần kinh và xương Thiếu iod ở phụ nữ mang thai dễ gây sảy thai, thai chết lưu, sinh non [143] Bổ sung đủ iod trong thời kỳ mang thai

sẽ làm giảm tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh, giảm tỷ lệ sinh non và giảm tỷ lệ đẻ thấp cân ở trẻ sơ sinh [136], [144]

Vai trò của Vitamin A

Vitamin cần thiết cho chức năng thị giác, sinh sản, phát triển, phân bào, sao chép gen và chức năng miễn dịch, tổng hợp các protein của cơ thể, trưởng thành của tế bào, hồng cầu Vitamin A tham gia làm tăng nồng độ Hb trong máu cùng với vitamin C, E và B9, B12 [143] Vitamin A: giúp tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể Vitamin A giúp tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể Vitamin A có tác dụng qua trung gian tế bào, hơn là qua đáp ứng miễn dịch dịch thể Thiếu Vitamin A làm giảm sức đề kháng với bệnh tật,

dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn, dễ bị nhiễm khuẩn nặng, đặc biệt là sởi, tiêu chảy, viêm đường hô hấp làm tăng nguy cơ tử vong ở trẻ nhỏ Mới đây, người ta thấy vitamin A có khả năng làm tăng sức đề kháng với bệnh nhiễm khuẩn, uốn ván, lao, sởi, phòng ngừa ung thư [105]

Vai trò của Vitamin D

Tác động của vitamin D đối với sức khoẻ và bệnh tật trẻ em bắt đầu ngay từ thời kỳ bào thai cho đến suốt quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ về sau Trong suốt thai kỳ, vitamin D tham gia vào quá trình khoáng hoá

và tăng trưởng hệ xương Mẹ thiếu vitamin D trong thời kỳ mang thai có liên quan đến tăng nguy cơ tiền sản giật, tăng tỷ lệ sinh non và nhẹ cân [158] Tình trạng vitamin D của trẻ sơ sinh phụ thuộc vào tình trạng vitamin D của mẹ

Trang 38

Bổ sung vitamin D cho bà mẹ trong thời gian mang thai đạt được nồng độ tối

ưu 25(OH)D trong huyết thanh, có thể làm tăng trọng lượng và chiều dài của trẻ lúc sinh [158], giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng bào thai [108] Thiếu vitamin

D ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa canci phospho trong cơ thể làm giảm quá trình khoáng hóa xương dẫn đến còi xương ở trẻ em Trẻ bị còi xương sẽ ảnh hưởng đến phát triển chiều cao và tầm vóc của trẻ sau này Bổ sung đủ vitamin D và canxi sẽ cải thiện được còi xương ở trẻ em [22]

Yếu tố di truyền: cũng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển và

bệnh tật của trẻ em Ở bình diện từng cá thể, các yếu tố di truyền đóng một vai trò quan trọng đến tình trạng sức khỏe, tuy nhiên ở bình diện dân số thì có

ít bằng chứng về ảnh hưởng của các yếu tố di truyền đến sức khỏe nói chung

Trang 39

Rõ ràng có một sự khác biệt về tần suất mắc một số bệnh di truyền đơn gen ở

các quần thể dân tộc khác nhau, chẳng hạn các bệnh huyết sắc tố thường gặp

nhiều hơn ở các dân tộc ít người ở nước ta [44]

1.3.2.2 Yếu tố gia đình: tác động lên sự tăng trưởng của trẻ khá lớn Tầm vóc

tối đa, tốc độ tăng trưởng, thời gian dậy thì, sự trưởng thành xương và răng phụ

thuộc đáng kể vào yếu tố di truyền Tầm vóc tối đa của trẻ liên quan đến tầm

vóc của cả cha và mẹ, chiều cao của trẻ có thể được dự đoán qua chiều cao của

cha và mẹ Chiều cao của trẻ không được tính bằng chiều cao trung bình của

cha và mẹ, mà nó phụ thuộc vào trẻ được thừa kế gen qui định chiều cao như

thế nào Một cách tính ước lượng chiều cao có thể đạt của trẻ như sau [133]:

Trẻ trai áp dụng công thức: (Chiều cao bố + chiều cao mẹ + 13 cm)/ 2

Trẻ gái áp dụng công thức: (Chiều cao bố + chiều cao mẹ - 13 cm)/ 2

Lý do phải cộng hoặc trừ 13 cm vì nam giới cao hơn nữ giới trung bình

khoảng 13 cm Tuy nhiên, chiều cao đạt được của trẻ thường lệch so với phép

tính này, vì không chỉ có yếu tố di truyền về chiều cao của bố và mẹ quyết định

chiều cao tối đa của trẻ như đã trình bày ở trên Hầu hết trẻ em sẽ đạt được chiều

cao trưởng thành chênh lệch trong vòng khoảng 10cm so với cách tính này

Hình dáng của trẻ mập hay gầy cũng phụ thuộc vào thể trạng của bố,

mẹ và các thành viên trong gia đình Nếu trẻ được sinh ra trong gia đình có

các thành viên bị béo phì, sẽ có khả năng bị béo phì cao gấp bốn lần so với trẻ

được sinh ra từ bố, mẹ bình thường [140]

1.3.3 Các nội tiết

Có nhiều nội tiết tố và yếu tố tăng trưởng tham gia vào quá trình tăng trưởng,

nhưng vai trò của từng loại tiết tố khác nhau tùy theo giai đoạn phát triển của trẻ

(hình 1.2)

Trang 40

Hình 1.2 Các hormon tác động tăng trưởng trong thời kỳ trẻ em và lứa tuổi

chịu ảnh hưởng nhiều nhất (theo Hughes, 1984)

Trong giai đoạn bào thai, sự tăng trưởng của thai nhi phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố của người mẹ và rau thai Các hormone GH, Insulin và IGF của mẹ không qua được hàng rào rau thai, do đó không ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng của thai Rau thai đóng vai trò quan trọng kiểm soát sự tăng trưởng của thai nhi Insulin đóng vai trò quan trọng trong điều hòa sự tăng trưởng trong giai đoạn trước sinh Trong giai đoạn sau sinh, GH là hormone chính tham gia vào sự tăng trưởng thể xác và thành phần cơ thể, tác động trực tiếp hoặc qua các tác dụng trên IGF-I, protein gắn IGF và các tiểu đơn vị acid yếu Trong giai đoạn dậy thì các hormon hướng sinh dục (LH, FSH) và các steroid giới tính (estrone, estradiol trẻ gái, testosterone ở trẻ trai) đều tăng, gây nên sự nhảy vọt tăng trưởng và thay đổi thành phần cơ thể [47]

1.3.4 Môi trường và xã hội

Bên cạnh yếu tố di truyền, yếu tố môi trường sống ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển chiều cao, cân nặng của trẻ Yếu tố môi trường tương tác với yếu tố di truyền trong suốt thời kỳ tăng trưởng của trẻ Nếu trẻ em có các kiểu gen tương tự nhau, có trẻ sẽ đạt được một chiều cao trưởng thành lý tưởng trong điều kiện tối ưu, nhưng cũng có thể có được chiều cao hạn chế hơn nếu bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh bất lợi

Ngày đăng: 22/06/2020, 09:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w