1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHÁT HUY GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

194 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và những bất cập nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng h

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU THỦY

PHÁT HUY GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA

Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

NGUYỄN THỊ THU THỦY

PHÁT HUY GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA

Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Thủy

Trang 4

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT HUY GIÁ TRỊ

GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA

2.2 Nội dung, phương thức, chủ thể và sự cần thiết phát huy giá trị gia đình

truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng

2.3 Những yếu tố tác động đến phát huy giá trị gia đình truyền thống trong

xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay 51

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT HUY GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN

THỐNG TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG

3.1 Thực trạng phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình

văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay 72 3.2 Những vấn đề đặt ra từ việc phát huy giá trị gia đình truyền thống trong

xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay 101

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY

GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH

4.1 Những quan điểm cơ bản phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây

dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay 114 4.2 Những giải pháp chủ yếu phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây

dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay 122

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Trang 5

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng GĐTT : Gia đình truyền thống GĐVH : Gia đình văn hóa

HTCT : Hệ thống chính trị KTTT : Kinh tế thị trường

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, là một xã hội thu nhỏ, trong đó hiện diện đầy đủ các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục, quan hệ văn hoá, quan hệ tổ chức… Gia đình chính là cơ sở để kiến tạo nên một xã hội rộng lớn Do đó, sự trường tồn của mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại và trình độ phát triển của mỗi gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “… Nhiều gia đình cộng lại mới thành

xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình” [78, tr.111]

Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Để đạt được mục tiêu trên, Đảng, Nhà nước yêu cầu các cấp, ngành, cộng đồng và nhân dân phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, trong đó chú trọng xây dựng “Gia đình văn hóa” là nhiệm vụ hết sức cơ bản Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ:

“Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách… con người và nền văn hóa Việt Nam” [32, tr.77]

Quán triệt quan điểm của Đảng, ngày 4 tháng 5 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Quyết định số

72/2001/QĐ-TTg lấy ngày 28 tháng 6 hàng năm là Ngày Gia đình Việt Nam Ngày

29 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 629/QĐ-TTg “phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”, trong đó nêu rõ: “… Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc là một trong các mục tiêu quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011

- 2020, đồng thời cũng là trách nhiệm của mọi gia đình trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [127, tr.1] Đồng thời, Chiến lược cũng

đã chỉ ra việc xây dựng gia đình văn hóa (GĐVH) ở Việt Nam hiện nay không thể không kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống đã được hình thành, chắt lọc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Bời vì, văn hoá của một dân tộc nói chung, văn hoá gia đình nói riêng là một dòng chảy lịch sử, xuyên suốt từ truyền thống đến hiện đại

Trang 7

Đồng bằng sông Hồng là một trong những cái nôi văn hóa của Việt Nam, là quê hương giàu truyền thống cách mạng, nơi cư trú và sinh sống của nhiều gia đình truyền thống (GĐTT) Trong giai đoạn hiện nay, đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có tiềm năng

to lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, điều kiện tự nhiên, truyền thống văn hóa… tạo ra lợi thế phát triển cao hơn so với nhiều vùng khác trong cả nước Theo đó, việc phát huy những giá trị của GĐTT trong xây dựng GĐVH cũng có những thuận lợi đáng kể: tăng trưởng kinh tế cao, trình độ dân trí tốt, nhận thức xã hội của người dân khá cao, vị trí địa lý thuận lợi cho giao lưu văn hóa…

Tuy nhiên, trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH cũng có nhiều vấn đề đang đặt ra cần phải được nghiên cứu làm sáng tỏ Nổi bật như: chưa có sự thống nhất, tường minh trong nhận thức về giá trị GĐTT; chưa được cụ thể hóa đầy đủ các giá trị của GĐTT thành các tiêu chuẩn, tiêu chí của danh hiệu GĐVH; hoạt động của các chủ thể phát huy, nhất là của các cơ quan quản lý Nhà nước chưa đủ mạnh; nhận thức của người dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát huy các giá trị GĐTT chưa đầy đủ, sâu sắc… Những hạn chế này dẫn đến tình trạng một bộ phận gia đình, người dân trong vùng chưa phân biệt rõ những giá trị nào của GĐTT cần phát huy, những nội dung nào không còn giá trị, không phù hợp với yêu cầu mới hiện nay, phát huy những giá trị GĐTT bằng cách nào, v.v

Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và những bất cập nêu trên, tác giả chọn

đề tài: “Phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở

vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” làm luận án tiến sĩ với mong muốn góp phần

tìm ra những giải pháp khả thi để phát huy các giá trị tốt đẹp của GĐTT trong xây

dựng GĐVH ở vùng ĐBSH trong bối cảnh mới hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và phân tích làm rõ thực trạng phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH, luận án đề xuất một số quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài liên quan đến luận án

- Khái quát cơ sở lý luận phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu giá trị GĐTT và phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng

GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận án nghiên cứu phát huy giá trị GĐTT Việt Nam, trong đó

chủ yếu là giá trị văn hoá truyền thống của gia đình trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay, bao gồm giá trị đạo đức, giá trị giáo dục, giá trị tâm lý, tình cảm và giá

trị ý thức cộng đồng của GĐTT

- Về không gian: Luận án nghiên cứu việc phát huy giá trị GĐTT trong xây

dựng GĐVH ở vùng ĐBSH thông qua nghiên cứu thực trạng ở một số tỉnh có tính chất đại diện cho vùng như: Hà Nội - trung tâm vùng, thủ đô của cả nước; Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên - phía Bắc vùng ĐBSH; Thái Bình, Nam Định - phía Nam vùng ĐBSH

- Về thời gian: Luận án nghiên cứu việc phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng

GĐVH ở vùng ĐBSH thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết Trung ương 5, khoá VIII (1998) về xây dựng văn hoá, GĐVH đến nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận

- Luận án thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

về vấn đề gia đình và xây dựng GĐVH ở Việt Nam hiện nay

- Luận án cũng kế thừa tài liệu, công trình của các nhà nghiên cứu, các hoạt động thực tiễn ở Việt Nam và thế giới liên quan đến vấn đề gia đình và xây dựng GĐVH

- Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp cụ thể để giải quyết nhiệm vụ, mục tiêu nghiên cứu đã đề ra

Trang 9

4.2 Phương pháp cụ thể

Luận án sử dụng nhiều phương pháp trong nghiên cứu chuyên ngành triết học - chính trị xã hội như: lôgic - lịch sử, phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp… Ngoài ra

luận án đã sử dụng phương pháp thu thập thông tin, gồm:

Thông tin thứ cấp: thu thập tư liệu, tài liệu, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, báo cáo, thống kê của các cơ quan chức năng có thẩm quyền và kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố về vấn đề gia đình, giá trị GĐTT và xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH, ở Việt Nam hiện nay

Luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội học thông qua phiếu hỏi đối với một số chỉ tiêu đánh giá như: thực trạng nội dung, cách thức tuyên truyền, giáo dục và chủ thể phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay… Đối tượng hỏi là những người đã qua giáo dục phổ thông, đủ điều kiện nhìn nhận, đánh giá quá trình nhận thức những giá trị GĐTT của bản thân từ khi sinh ra đến tuổi trưởng thành ở vùng ĐBSH Điều tra 06 tỉnh đại diện cho vùng như đã nêu trong phạm vi nghiên cứu Tổng số 900 phiếu chia đều cho 6 tỉnh, mỗi tỉnh 150 phiếu hỏi Thời gian thực hiện khảo sát từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2016

5 Đóng góp mới của luận án

- Góp phần làm rõ thực trạng phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH và những vấn đề đang đặt ra hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu, khả thi nhằm thực hiện tốt phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH trong giai đoạn hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Góp phần cung cấp một số luận cứ lý luận, thực tiễn cho việc hoạch định các chính sách liên quan đến xây dựng GĐVH ở Việt Nam nói chung và vùng ĐBSH nói riêng

- Làm tư liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy những chuyên đề liên quan đến vấn đề gia đình, xây dựng GĐVH ở Việt Nam trong chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học và các chuyên ngành liên quan như: xã hội học, chính trị học, văn hoá học, phụ nữ học…

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương, 9 tiết

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

William J Goode, World Revolution and Family Patterns (Cách mạng thế

giới và các dạng thức gia đình), The Free Press [164] Tác giả đã đề cập đến sự

thay đổi trong mô hình gia đình ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Tiểu vùng Sahara và các nước Ả rập trong nửa thế kỷ 20 với những thay đổi của thể chế chính trị của mỗi quốc gia cũng như sự biến đổi trong khu vực Theo đó, tác giả đã khảo sát, nghiên cứu quá trình công nghiệp hóa (CNH), đô thị hóa tác động đến mọi mặt của đời sống gia đình, làm biến đổi về quy mô, cấu trúc, vấn đề hôn nhân

và các mối quan hệ trong gia đình… từ đó, đưa ra các mô hình gia đình mới phù hợp với từng quốc gia, khu vực

Michael Anderson, Family structure in nineteeth century Lancashir (Hình

thái gia đình người Lancashir thế kỷ 19), Cambridge University press [163] Nội

dung cuốn sách đề cập đến tác động của CNH, đô thị hóa đến mối quan hệ họ hàng của các tầng lớp lao động thế kỷ 19 ở Lancashir và tại sao mọi người nên quan tâm, duy trì mối quan hệ họ hàng hơn là đối với những người khác trong đời sống xã hội của họ Tác giả đã trình bày về cơ cấu hộ gia đình, mô hình cư trú, doanh thu dân số trong các thị trấn, mô hình di cư, tỷ lệ đói nghèo, vai trò của gia đình trong tìm nhà và việc làm cho người thân Ông cũng đề cập đến tuổi kết hôn, xung đột giữa cha mẹ và con cái, chăm sóc trẻ con khi các bà mẹ đi làm Ông đã tiến hành khảo sát, so sánh các tình huống cụ thể tại vùng nông thôn Lancashire trước và trong khi xảy ra nạn đói ở Ai Len, đồng thời đưa ra phát hiện của mình về

sự biến đổi gia đình trong bối cảnh văn hóa, lịch sử đa dạng ấy Ông cũng khẳng định, cuộc sống của các cư dân Lancashire được đáp ứng tốt nhất khi có sự giúp

đỡ của họ hàng

Trang 11

Jessie Bernard, The future of marriage (Tương lai của hôn nhân), Yale

University Press [162] Cuốn sách luận bàn về hôn nhân, giới tính, những thay đổi trong hành vi hôn nhân, quan điểm, kiến thức, sự chênh lệch giữa hôn nhân của nam giới và nữ giới Jessie Bernard cũng đưa ra dự đoán các cặp vợ chồng ngày nay đang phải đấu tranh để cải thiện cuộc sống hôn nhân bằng cách cùng nhau làm việc, chia sẻ việc nuôi dạy con cái, kết hợp hài hòa trách nhiệm liên kết trong gia đình với quyền tự chủ cá nhân…

Janet Finch, Family obligations and social change (Gia đình và đời sống

gia đình), Cambrige: Polity Press [161] Cuốn sách luận bàn về bản chất của cuộc

sống gia đình, đặc biệt là các khái niệm về trách nhiệm, nhiệm vụ và nghĩa vụ Tác giả đã xem xét các cuộc tranh luận chính trị phổ biến trong lĩnh vực này từ tập hợp các tài liệu nghiên cứu trong các khoa học xã hội Bà dựa vào quan điểm lịch sử,

sử dụng các bằng chứng thực nghiệm về các gia đình đương đại, nêu bật những khoảng trống trong nghiên cứu về những chủ đề này Toàn bộ luận bàn được đặt ra trong bối cảnh những thay đổi kinh tế, xã hội ở thế kỷ 20 bao gồm chính sách xã hội, các điều khoản về an sinh xã hội đã tạo ra áp lực bên ngoài đối với cuộc sống gia đình Tác giả cho rằng điều này ảnh hưởng đến nhu cầu hỗ trợ và năng lực của các thành viên trong gia đình để thực hiện chúng

Charles L.Jones, Lorne Tepperman, Susannach J.Wilson, The futures of

the Family (Tương lai của gia đình) [20] Nội dung cuốn sách bàn về sự biến đổi

của gia đình, những vấn đề của gia đình đương đại và dự báo gia đình trong tương lai dựa vào sự nghiên cứu vấn đề hôn nhân, vấn đề nữ quyền, bình đẳng giới Các tác giả đã chỉ ra rằng, gia đình dựa trên cơ sở hôn nhân nhưng không chỉ dừng lại ở đó, nó còn bao gồm cả mối liên hệ với các thế hệ trong gia tộc, dòng họ Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa (TCH) và hội nhập quốc tế đã tác động ngày càng sâu, rộng đến gia đình, làm biến đổi cấu trúc, thậm chí là bản chất của nhiều gia đình trên thế giới Qua nghiên cứu, các tác giả cũng dự báo tương lai sẽ tồn tại nhiều loại mô hình gia đình khác nhau, trong đó đáng lưu ý là gia đình đồng tính (phá vỡ bản chất, chức năng của GĐTT)

Trang 12

Elaine Leeder, The Family in Global Prespective - A Gendered Journey

(Gia đình theo quan điểm toàn cầu - Hành trình giới tính), Sage Publications

[160] Tác giả Elaine Leeder đã sử dụng nhiều quan điểm lịch sử, lý luận, so sánh khác nhau để mở rộng sự hiểu biết liên văn hóa về cuộc sống gia đình Cuốn sách khảo sát sự đa dạng cuộc sống gia đình ở các nước phương Tây đối chiếu chúng với những câu chuyện gia đình ở các vùng của Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh Sau khi so sánh lịch sử của gia đình ở nhiều nơi trên thế giới, Elaine Leeder

đã phân tích sự tác động của TCH đến cấu trúc gia đình, hành vi giới tính, các mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình, dân tộc, tôn giáo, sắc tộc và các vấn đề về giáo dục, bạo lực, chính sách xã hội liên quan đến đời sống gia đình Cuốn sách đã được đánh giá là một cuốn sách giáo khoa hỗ trợ, bổ sung lý tưởng cho các khóa học về hôn nhân, gia đình, đồng thời là nguồn tài liệu quý phục vụ cho nghiên cứu gia đình, công tác xã hội, xã hội học, tâm lý và nghiên cứu phụ nữ…

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu về gia đình và giá trị gia đình truyền thống

Mai Huy Bích, Xã hội học gia đình [8] Tác giả tiếp cận gia đình từ góc độ

nghiên cứu xã hội học với những nội dung chia làm bảy chương bàn về: định nghĩa gia đình; quan điểm xã hội học về gia đình; sự đa dạng của các hình thái gia đình; hôn nhân và gia đình theo quan điểm giới; đường đời và sự phát triển, biến đổi của gia đình theo đường đời; biến đổi gia đình và các cách tiếp cận lý thuyết

về gia đình Qua nội dung cuốn sách, có thể thấy tác giả đã luận giải nhiều vấn đề vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn quan trọng về gia đình Cuốn sách

đã góp phần làm cho việc nghiên cứu bức tranh về gia đình ngày càng mang tính

tổng thể, khái quát nhưng lại rõ nét và sáng tỏ hơn

Lê Trọng Ân, Tìm hiểu tác phẩm: Nguồn gốc gia đình của chế độ tư hữu và

của nhà nước [3] Tác giả đã giới thiệu, định hướng cho người đọc nghiên cứu

một cách toàn diện, có kết quả về tác phẩm kinh điển quan trọng này Trên cơ sở phân tích tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả đã khẳng định: những chỉ dẫn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin chính là lý luận cơ sở và cần

thiết cho việc nghiên cứu gia đình hiện đại, GĐVH ở Việt Nam hiện nay

Trang 13

Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý, Gia đình học [60] Cuốn sách là một công

trình nghiên cứu khoa học công phu, hệ thống Các tác giả đã làm nổi bật một số nội dung nghiên cứu lý thuyết hướng vào việc xây dựng, phát triển chuyên ngành gia đình học; làm rõ được những đặc điểm của gia đình Việt Nam trong truyền thống và những đặc trưng của quá trình hình thành, phát triển của gia đình Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại; làm rõ được khía cạnh giới trong gia đình và xã hội; những vấn đề về quản lý nhà nước về gia đình và nêu lên những định hướng, giải pháp cũng như điều kiện để thực hiện những giải pháp xây dựng gia đình Việt

Nam phù hợp với yêu cầu của giai đoạn hiện nay

Cuốn sách của Lê Thị Quý, Quản lý nhà nước về gia đình: lý luận và thực

tiễn [101] đã viết và tập hợp bài viết của một số nhà nghiên cứu về lĩnh vực quản

lý Nhà nước về gia đình Đây là tài liệu hữu ích, cung cấp cho tác giả luận án những kiến thức cơ bản của lý luận quản lý nhà nước về gia đình, đồng thời nó là tài liệu thực địa ở một số địa phương để phục vụ cho việc nghiên cứu, xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH trong giai đoạn hiện nay, cụ thể như: nghiên cứu mô hình can thiệp và địa chỉ tin cậy phòng chống bạo lực gia đình tại tỉnh Thái Bình [101, tr.317, 326]; nghiên cứu vấn đề quản lý gia đình ở huyện Kiến Thụy, Hải

Phòng…[101, tr.338]

Gia đình truyền thống và giá trị GĐTT là vấn đề được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Qua tổng quan các công trình nghiên cứu, có thể chia thành ba nhóm nghiên cứu sau:

Thứ nhất, nhóm nghiên cứu về các nghi thức, nghi lễ, những tập tục, ứng

xử trong gia đình cụ thể: thờ cúng tổ tiên trong gia đình, cưới xin truyền thống, giao tiếp vợ chồng… chủ yếu với mục đích hướng dẫn thực hiện, thực hành Ví

dụ như:

Lê Minh, Những tình huống ứng xử trong gia đình [85] Cuốn sách đề cập

đến những điều thường gặp trong gia đình như ứng xử giữa vợ chồng, cha mẹ với con cái, giữa ông bà với cháu chắt, giữa anh chị em với nhau và giữa gia đình với dòng họ, cộng đồng, xã hội Tác giả phân tích những tình huống ứng xử diễn ra trong gia đình của người Việt Nam trong lịch sử đã tác động rất lớn, quyết định đến việc hình thành nhân cách trẻ thơ Từ đó, giúp người đọc rút ra

Trang 14

bài học, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho con người trong mỗi gia đình hiện nay

Vũ Văn Khiếu, Đất lề quê thói (phong tục Việt Nam) [64] Tác giả đã thông

qua 12 chương viết với các phân đoạn nhỏ và sử dụng nhiều câu ca dao, tục ngữ, thơ, vè… để thể hiện về văn hoá, phong tục Việt Nam Cuốn sách đã được các nhà nghiên cứu đánh giá cao Nội dung của nó thể hiện khá đầy đủ và sâu sắc về phong tục của Việt Nam Cuốn sách được coi như một bách khoa toàn thư thu nhỏ

về văn hóa và phong tục cổ truyền Việt Nam Thông qua nội dung cuốn sách, người đọc sẽ thấy đất lề, quê thói còn tồn tại lâu dài, nó đã ăn sâu vào tiềm thức, tâm thức của người Việt

Bùi Xuân Mỹ, Lễ tục trong gia đình người Việt Nam [90] Cuốn sách được

kết cấu thành 9 chương nội dung bao gồm: Chương 1 - Sơ sinh, thơ ấu; chương 2 - Trưởng thành; chương 3 - Hôn nhân; chương 4 - Về già; chương 5 - Tang ma; chương 6 - Quan hệ; chương 7 - Thờ phụng tổ tiên; chương 8 - Tín ngưỡng dân gian và chương 9 - Các lễ tết trong năm Cuốn sách đã phân tích các lễ tục trong gia đình Việt Nam để thấy rõ được cách lý giải thế giới, những suy nghĩ, khát vọng vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn của con người Việt Nam trong lịch sử để

từ đó tiếp tục kế thừa những điểm hợp lý, đồng thời xoá bỏ được những hủ tục, mê tín dị đoan trong thực hiện lễ tục của gia đình người Việt Nam hiện nay

Thứ hai, nhóm nghiên cứu đầy đủ về văn hoá GĐTT trên tất cả các phương

diện, điển hình như:

Toan Ánh, Nếp cũ, con người Việt Nam, phong tục cổ truyền - Thành phố

Hồ Chí Minh [2] Cuốn sách đã giúp người đọc tìm hiểu phong tục Việt Nam qua

những tục lệ trong gia đình như sinh con, nuôi nấng, dạy dỗ con, việc gây dựng tương lai cho con cái…, đồng thời thông qua lễ, tết, hội hè tác giả góp phần tô đậm thêm bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam

Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam của tập hợp tác giả Đặng Văn

Lung, Nguyễn Sông Thao và Hoàng Văn Thụ [71] Cuốn sách giúp người đọc biết

và hiểu sâu hơn về các phong tục, tập quán thông qua lễ, tết, tục hội, tang ma, hôn nhân… của dân tộc Việt và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Trang 15

Thứ ba, nhóm nghiên cứu về văn hoá truyền thống của người Việt, trong đó

văn hoá gia đình là thành tố cấu thành quan trọng nhất Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Chương trình KX-07-02: Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam

hiện nay của Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang [67] Ở công trình này, dưới quan

điểm khách quan, tinh thần khoa học, các tác giả đã nghiên cứu và trình bày một cách cụ thể về quá trình hình thành, phát triển và sự biến đổi của các giá trị truyền thống Việt Nam trong lịch sử Đồng thời, với quan điểm lịch sử cụ thể, công trình

đã nêu lên những truyền thống của con người Việt Nam (bao gồm cả truyền thống của gia đình), ở đó có cả những mặt mạnh và mặt yếu Từ đó, các tác giả đã mạnh dạn đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm phát huy những giá trị, khắc phục những hạn chế của truyền thống Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới

Công trình: Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam của Trần Văn Giàu

[42] Nội dung của cuốn sách đã khái quát cơ bản các khái niệm về giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc như: tinh thần yêu nước, đoàn kết, tấm lòng nhân ái, đức tính trung thực, cần cù, sự sáng tạo, lạc quan, khiêm tốn, giản dị… trong cuộc sống và những ảnh hưởng của lịch sử đối với sự phát triển các giá trị ấy trong quá khứ, hiện tại Thông qua cuốn sách, giúp tác giả có cái nhìn toàn diện, chính xác hơn về cơ sở hình thành, cũng như nội dung, biểu hiện của những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam trong đó có giá trị GĐTT Những giá trị tinh thần ấy, đều thấm đượm trong các mối quan hệ từ trong gia đình, dòng họ, làng xã đến cộng đồng, xã hội và trở thành sức mạnh của dân tộc Việt Nam

Trần Quốc Vượng, Văn hoá Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm [157] Cuốn

sách là một trong những công trình mang tính tổng hợp, “tập đại thành” đối với những người làm công tác nghiên cứu văn hóa Mỗi chương sách thực sự là một khám phá chứa đựng những ý tưởng khoa học mới, độc đáo, khác lạ và sâu sắc giúp gợi mở những hướng nghiên cứu mang tính liên ngành, đa ngành cho văn hóa học hiện nay nói chung và cho các nhà nghiên cứu văn hóa khi tiếp cận nghiên cứu văn hóa Việt Nam xưa - nay, giá trị GĐTT… nói riêng cả về nội dung lẫn

Trang 16

phương pháp tiếp cận Trong cuốn sách, tác giả luận án quan tâm đến phần “những vấn đề chung”, “văn hóa dân gian”, “ứng xử” và đặc biệt là nội dung “tâm thức văn hóa cư dân châu thổ Bắc Bộ” từ trang 487 đến trang 500 Ở phần nội dung này, Giáo sư đã lý giải việc gọi châu thổ Bắc Bộ, phân tích những điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, xã hội để hình thành nên văn hóa ứng xử của cư dân vùng châu thổ Bắc Bộ trong xã hội nông nghiệp cổ truyền

Phạm Xuân Nam, Gia đình Việt Nam - các giá trị truyền thống [92] Trong

cuốn sách này, tác giả đã khẳng định: trải qua nhiều thế hệ gia đình Việt Nam đã được hình thành, phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng nên bản sắc văn hoá dân tộc Đồng thời, trên cơ sở phân tích thực tiễn đất nước, tác giả cũng đưa ra dự báo về xu hướng vận động, biến đổi của các giá trị truyền thống trước sự tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường (KTTT) và quá trình hội nhập quốc tế

Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên, Giá trị truyền thống trước

thách thức của toàn cầu hóa [22] Cuốn sách đã đề cập đến các giá trị truyền

thống (trong đó có cả giá trị truyền thống trong gia đình) và những vấn đề liên quan đến TCH Qua đó, luận bàn đến những thách thức, khó khăn cũng như những

cơ hội do TCH mang đến với việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam

Đặng Cảnh Khanh, Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống

[59] Tác giả Đặng Cảnh Khanh đã biên soạn cuốn sách với mục đính cung cấp kiến thức và nhận thức lại một cách nghiêm túc, sâu sắc đối với người học, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến gia đình, đặc biệt là tầm quan trọng của gia đình

và cộng đồng trong việc giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp, phát huy tính ưu việt của tinh hoa văn hóa dân tộc, xây dựng GĐVH, hạnh phúc trên cơ sở gìn giữ, tiếp thu các giá trị văn hóa trong GĐTT Việt Nam Nội dung cuốn sách đã giải quyết được các vấn đề cơ bản như: khái quát cơ sở lý luận về vai trò của gia đình

và cộng đồng trong việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống; Phân tích thực trạng việc giáo dục các giá trị truyền thống trong gia đình và cộng đồng; rút ra một

số nhận định và khuyến nghị Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả

Trang 17

luận án khi tiến hành nghiên cứu, phân tích thực trạng giáo dục các giá trị văn hóa GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

Đặng Phương Kiệt, Gia đình Việt Nam những giá trị truyền thống và các

vấn đề tâm - bệnh lý xã hội [65] Cuốn sách tập hợp nhiều bài viết đánh giá xác

thực về những truyền thống quý giá của gia đình Việt Nam, những biến đổi của gia đình Việt Nam trong thời hiện đại, vấn đề giáo dục gia đình… được các tác giả nghiên cứu từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như: văn hoá, tâm lý, giáo dục, mỹ học, lịch sử… Ngoài những nội dung về gia đình nêu trên, cuốn sách cũng đã khắc họa được bức tranh hiện thực về một số vấn đề “bệnh lý xã hội” đã và đang xuất hiện trong một bộ phận các gia đình Việt Nam hiện nay như: những bất hòa trong đời sống vợ chồng, ly thân, ly hôn, quan hệ cha mẹ - con cái, các vấn đề liên quan đến bạo lực gia đình, bạo hành trẻ em… cùng những thách thức mà gia đình phải vượt qua để phát huy tốt các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam trong xây dựng gia đình mới, GĐVH

Nguyễn Thế Long, Gia đình - Những giá trị truyền thống [70] Dưới góc độ

của nhà giáo dục và xã hội học, tác giả Nguyễn Thế Long đã trình bày những bài tiểu luận ngắn các quan điểm của mình về những giá trị truyền thống văn hóa của gia đình và dân tộc mà ngày nay cần phải kế thừa, phát huy trong xây dựng gia đình mới, GĐVH Trong cuốn sách, tác giả cho rằng, giáo dục con em tiếp thu và phát huy giá trị truyền thống lâu đời của gia đình là việc làm cần thiết và rất quan trọng trong xây dựng gia đình và đất nước hiện nay Nội dung giáo dục bao gồm các giá trị truyền thống như: truyền thống hiếu học và “Tôn sư trọng đạo”; truyền thống đạo đức; truyền thống tâm linh và truyền thống thẩm mỹ Theo ông, những nội dung giáo dục trên chính là giá trị truyền thống lâu đời của một gia đình, một dòng họ, nó có một sức mạnh vô hình thúc giục, động viên mọi người trong gia đình, dòng họ vươn lên thực hiện những hoài bão lớn đồng thời, góp phần tạo nên truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Tóm lại, ở cả ba nhóm công trình nghiên cứu về GĐTT và giá trị GĐTT như trên, mặc dù có cách tiếp cận khác nhau nhưng về cơ bản đều nhìn nhận văn

Trang 18

Nguyễn Hữu Minh, Gia đình Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa,

hiện đại hóa và hội nhập từ cách tiếp cận so sánh [88] Cuốn sách bao gồm 31 bài

viết khoa học có chất lượng, hàm lượng khoa học cao của cả các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài khi tham dự hội thảo khoa học cùng tên tại Viện nghiên cứu Gia đình và Giới Nội dung cuốn sách giúp cho người đọc có cái nhìn khách quan, đang dạng về những vấn đề cụ thể như:

Thứ nhất, nghiên cứu gia đình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

(CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế từ cách tiếp cận so sánh Các tác giả nhấn mạnh đến tầm quan trọng của gia đình trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập Luận bàn

về vai trò của người phụ nữ trong gia đình, về sự phân hóa chức năng giáo dục trong quá trình biến đổi cấu trúc xã hội và về vị thế kinh tế, xã hội của gia đình

Thứ hai, nghiên cứu sự biến đổi nhanh chóng cơ cấu, chức năng gia đình

Việt Nam từ sự giảm quy mô, tăng tỷ lệ gia đình hạt nhân, giảm tỷ số phụ thuộc trong gia đình đến những thay đổi về chức năng gia đình trong quá trình thực hiện CHN, HĐH và hội nhập Thông qua các bài viết, có thể thấy chức năng xã hội hóa của gia đình có nhiều biến đổi: cha mẹ ít có thời gian quan tâm đến giáo dục con cái hơn trước trong khi con cái của họ lại đang dành nhiều thời gian vui chơi, đàn đúm với bạn bè, tham gia các mạng xã hội Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài gia đình như sự du nhập, tác động của văn hóa ngoại lai, các hành vi tệ nạn xã hội, internet, games… đến việc giáo dục đạo đức, lối sống, nhân cách cho con cái ngày càng tăng lên Sự bảo lưu thậm chí là rập khuôn đậm nét các quan niệm truyền thống của người dân về hôn nhân và gia đình Mối quan hệ tâm lý, tình cảm gắn kết giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái trong gia đình, chức năng tái sinh sản của gia đình… cũng thay đổi rõ rệt

Thứ ba, nghiên cứu về giá trị gia đình Ở mảng nghiên cứu này, các bài viết

đã cung cấp thông tin phong phú đa dạng về sự biến đổi mạnh mẽ các giá trị gia đình như: sự thay đổi về quan niệm hôn nhân, quan niệm thủy chung, bình đẳng

Trang 19

giới, chữ hiếu… trong gia đình Đồng thời, đề cập đến xu hướng thích con trai của

xã hội cũ vẫn còn tồn tại dẫn đến chênh lệch giới tính khi sinh, nam nhiều hơn nữ gia tăng nhanh trong những năm gần đây Mặt trái của sự tác động đẩy nhanh quá trình đô thị hóa nông thôn khiến cho việc giáo dục giới tính, sức khỏe vị thành niên gặp nhiều khó khăn và suy giảm ý thức cộng đồng ở nông thôn - một trong những nét đặc trưng cơ bản của xã hội truyền thống

Thứ tư, nghiên cứu về tính đa dạng của gia đình Các bài viết đã cung cấp

những thông tin phong phú về đặc điểm gia đình ở các khu vực, các dân tộc, tôn giáo và các loại hình gia đình khác nhau Dưới sự tác động của kinh tế thị trường, CNH, HĐH và hội nhập quốc tế đã làm cho quy mô, mức sinh, tuổi kết hôn, việc chăm sóc gia đình, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, mối quan hệ gia đình, dòng họ…ở các gia đình có sự biến đổi Đáng lưu ý, trong phần IV, là sự xuất hiện và đang tăng lên nhanh chóng một loại gia đình mới - gia đình quốc tế, trong đó nổi bật là các cô dâu Việt Nam lấy chồng nước ngoài thông qua môi giới…

Thứ năm, nghiên cứu về chính sách và hành động đối với sự phát triển của

gia đình Nội dung các bài viết đề cập đến nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng và

vị trí của gia đình trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước của Đảng, của Nhà nước Nhiều văn bản pháp luật, chính sách, đề án, chương trình, kế hoạch cụ thể nhằm xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc… đã được ban hành và triển khai Tuy nhiên, hoạt động triển khai và thực thi chính sách gia đình vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập và gặp không ít khó khăn

Những bài viết đã có cách đánh giá khách quan, khoa học về những biến đổi trên các khía cạnh khác nhau của gia đình Đây chính là nguồn tài liệu tham khảo quý góp phần quan trọng trong việc hình thành luận cứ khoa học cho việc xây dựng luật pháp, các nghị định, chính sách xã hội nhằm phát huy tối đa vai trò,

vị thế to lớn của gia đình trong công cuộc CNH, HĐH đất nước

Nguyễn Linh Khiếu, Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hoá xã hội ở

nông thôn [63] Trong nội dung cuốn sách, tác giả khẳng định được vị trí, vai trò

to lớn của gia đình đối với sự phát triển cá nhân và xã hội cũng như vai trò của phụ nữ nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời chỉ ra

Trang 20

được đặc điểm cơ bản của gia đình Việt Nam cùng những yếu tố tác động đến gia đình, đến vai trò của người phụ nữ trong quá trình đô thị hoá Từ đó, tác giả đã đưa ra những dự báo về những biến đổi về gia đình trong mối quan hệ biến đổi đời sống kinh tế, văn hoá ở nông thôn Việt Nam hiện nay

Lê Thi, Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới [122] Cuốn

sách đã đề cập đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới với những nội dung: khái quát biến đổi về gia đình nói chung, sau đó đi sâu vào nghiên cứu sự biến đổi của hôn nhân, vấn đề xã hội hóa trẻ em và việc thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội đảng lần thứ IX (chương 1); Nghiên cứu mối quan hệ trong gia đình từ cách tiếp cận giới, bất bình đẳng trong thực hiện chiến lược dân số và phát triển bền vững ở Việt Nam, bạo lực gia đình, phân biệt đối xử giữa con trai, con gái, ly thân, ly hôn, tâm trạng phụ nữ đơn thân…(chương 2), để

từ đó nghiên cứu xây dựng văn hóa gia đình và GĐVH

Dương Thị Minh, Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong

giai đoạn hiện nay [89], cũng đã bàn sâu về vấn đề nêu trên Cuốn sách đã đề cập

đến các nhân tố tác động đến sự biến đổi gia đình và vai trò người phụ nữ trong gia đình Chỉ ra đặc điểm cơ bản của gia đình Việt Nam và xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở phân tích thực tiễn, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của người phụ nữ trong việc xây dựng gia đình mới, GĐVH ở Việt Nam

Lê Ngọc Văn, Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam [154] Cuốn sách

được chia làm ba phần, cụ thể: Phần 1, tác giả đã khái quát và hệ thống hoá về những vấn đề cơ bản của gia đình và biến đổi gia đình; Phần 2, phân tích thực trạng biến đổi gia đình Việt Nam hiện nay ở nội dung biến đổi chức năng gia đình

và cấu trúc gia đình Trên cơ sở phân tích thực trạng ở phần 2, tác giả đã đưa ra quan điểm về gia đình đồng thời đề cập đến những vấn đề đặt ra từ sự biến đổi gia đình và đề xuất năm nhóm giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng gia đình trong thời

kỳ CNH, HĐH ở nước ta trong phần 3

Ngoài những cuốn sách nêu trên còn có một số Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng, xu hướng biến đổi của gia đình do tác động của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa như:

Trang 21

Nguyễn Thanh Bình, Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con ở lứa tuổi

thiếu niên trong gia đình thành phố hiện nay [11] Tác giả đã phân tích, làm rõ vai

trò của giáo dục gia đình, những vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay trong giáo dục gia đình, nhất là giáo dục con ở lứa tuổi thiếu niên ở gia đình thành phố trong bối cảnh KTTT, mở cửa và hội nhập quốc tế Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp phù hợp góp phần tăng cường vai trò, chức năng giáo dục gia đình đối với con cái, lứa tuổi thiếu niên ở thành phố

Nghiêm Sĩ Liêm, Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước

ta hiện nay [68] Luận án đã làm rõ các khái niệm “Gia đình”, “Giáo dục gia

đình”, “Vai trò của giáo dục gia đình”, “Thế hệ trẻ”, chỉ ra đặc điểm cũng như nội dung của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ Luận án đã xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục gia đình, đánh giá thực trạng giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ ở nước ta và phân tích được những nguyên nhân cơ bản của thực trạng cũng như những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết như: vẫn còn nhiều bất cập trong việc giáo dục đạo đức, học tập văn hóa, giáo dục lao động và rèn luyện tính

tự lập cho trẻ giữa các vùng, miền, các giới; giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ chưa được các gia đình quan tâm đúng mực… Từ đó, đề xuất phương hướng và giải pháp góp phần nhằm nâng cao vai trò của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ ở nước ta trong thời kỳ đổi mới

Nguyễn Thị Thọ, Đạo đức gia đình trong điều kiện kinh tế thị trường ở

nước ta hiện nay [125] Luận án đã phân tích, làm rõ vai trò của đạo đức gia đình,

tác động của KTTT đến đạo đức gia đình trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm góp phần xây dựng, hoàn thiện đạo đức gia đình theo hướng tiến bộ, tích cực

Phạm Thị Bình, Tác động của kinh tế thị trường đến chức năng gia đình ở

Việt Nam hiện nay [12] Luận án đã làm rõ được vai trò, chức năng của gia đình và

phân tích thực trạng tác động của KTTT đến chức năng gia đình để từ đó đề ra các giải pháp phù hợp, khả thi nhằm củng cố và phát huy những mặt tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực trong thực hiện chức năng gia đình ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thị Minh Phương, Định hướng giáo dục cho con trong các gia

đình nông thôn ngày nay [98] Luận án phân tích, làm rõ đặc điểm gia đình nông

Trang 22

thôn hiện nay và tập trung phân tích quá trình tương tác trong giáo dục con cái, những tác động của gia đình đến quá trình học tập, kết quả học tập của học sinh Luận án chỉ rõ đường hướng lựa chọn giáo dục của gia đình trong bối cảnh chuyển đổi của làng xã hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy, gia đình tiếp tục giữ chức năng giáo dục con cái, nhưng yếu kém trong khả năng kiểm soát kiến thức mà các con được dạy ở trường Từ đó, đề ra giải pháp góp phần nâng cấp, cải thiện giáo dục nhằm đáp ứng xu hướng nguyện vọng và mong đợi giáo dục đối với con cái ở gia đình nông thôn trong bối cảnh hiện nay

Đoàn Thị Thanh Huyền, Giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình

hiện nay [54] Luận án đã nghiên cứu tình hình người chưa thành niên vi phạm

pháp luật và nhận thức của các bậc cha mẹ về vấn đề này nhằm nhận diện thực trạng giáo dục pháp luật cho con cái lứa tuổi Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trong các gia đình tại tỉnh Quảng Ninh hiện nay Từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình hiện nay

Lê Văn Hùng, Sự biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay [52]

Luận án đã góp phần làm rõ quan niệm về văn hóa gia đình và biến đổi văn hóa gia đình Phân tích những yếu tố chủ yếu tác động chủ yếu đến sự biến đổi văn hóa gia đình như: TCH, CNH, đô thị hóa, KTTT hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự biến đổi của quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình Đánh giá thực trạng sự biến đổi văn hóa gia đình Việt Nam và nêu ra bốn vấn đề đang đặt ra hiện nay cần giải quyết: nhiều mâu thuẫn mới phát sinh trong gia đình do việc đề cao thái quá các giá trị, chuẩn mực văn hóa của gia đình hiện đại làm giảm tính bền vững của gia đình Việt Nam; bạo lực gia đình diễn biến phức tạp, khó kiểm soát phá vỡ giá trị, chuẩn mực hòa thuận, yêu thương trong gia đình Việt Nam hiện nay; sự gia tăng các hiện tượng ngoại tình, ly thân, ly hôn và xuất hiện một bộ phận giới trẻ coi thường các giá trị, chuẩn mực văn hóa của GĐTT, cổ xúy cho văn hóa, lối sống phương Tây Từ đó, luận án đề xuất bốn giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay, cụ thể: đẩy mạnh phát triển kinh tế và các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ gia đình; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính sách, pháp luật về gia đình; tôn trọng và đề cao các

Trang 23

giá trị, chuẩn mực trong quan hệ hôn nhân, gia đình; đẩy mạnh hoạt động xây dựng GĐVH nhằm tôn vinh các giá trị, chuẩn mực tốt đẹp của văn hóa gia đình Việt Nam

1.1.2.3 Các công trình nghiên cứu về gia đình văn hóa và xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam

Trần Hữu Tòng, Trương Thìn, Xây dựng Gia đình văn hóa trong sự nghiệp

đổi mới [135] Cuốn sách bao gồm tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu

khác nhau về gia đình, xây dựng GĐVH trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

Trong bài Gia đình Việt Nam và xây dựng văn hóa gia đình trong công cuộc đổi

mới ở nước ta của Lê Thi, tác giả đã chỉ ra rằng: gia đình Việt Nam chịu sự tác

động mạnh của điều kiện kinh tế, xã hội đương thời nhưng lại có tính ổn định và độc lập tương đối trong sự phát triển Nó có tính quy luật vận động riêng, trong đó, các “quan hệ kinh tế không đóng vai trò yếu tố cơ bản quyết định cuối cùng mà là các quan hệ máu mủ, tình cảm và trách nhiệm” [122] Chúng ta không thể đơn giản chỉ lấy yếu tố kinh tế, sự biến động của xã hội để giải thích mọi hiện tượng xảy ra trong đời sống tinh thần, tình cảm và biến đổi các mối quan hệ trong gia đình Phải xem xét, nghiên cứu sự biến đổi cấu trúc, chức năng, các mối quan hệ trong gia đình

từ cả hai phía: nội tại trong mỗi gia đình và sự tác động của yếu tố kinh tế, xã hội Cũng trong bài viết, tác giả đã phân tích sự tác động của yếu tố khoa học kỹ thuật, kinh tế, xã hội làm biến đổi văn hóa trong gia đình theo cả hướng tích cực và tiêu cực Vì vậy, xây dựng GĐVH hiện nay cần thiết phải kết hợp hài hòa văn hóa GĐTT với các giá trị văn hóa hiện đại Việc tiếp thu các giá trị tinh thần mới của gia đình hiện đại không mâu thuẫn với việc giữ gìn, phát huy giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, vốn có của gia đình Việt Nam

Hoàng Bích Nga, Để có một gia đình văn hóa [93] Cuốn sách đã phân tích

tương đối hoàn chỉnh các yếu tố để có một gia đình văn hóa như: tình yêu và hôn nhân, các giai đoạn phát triển của gia đình; sự giáo dục của cha mẹ đối với con cái, các mối quan hệ trong gia đình như làm chồng, làm vợ, làm ông, làm bà, làm con, làm cháu… và quan hệ với láng giềng, quê hương, đất nước Thông qua nội dung cuốn sách, người đọc có thể rút ra câu trả lời “để có một gia đình văn hóa”, bản thân mỗi người trong gia đình phải thực hiện tốt bổn phận, trách nhiệm của

Trang 24

mình đối với gia đình, sống giản dị, không tham những thú vui thiếu lành mạnh, không xa vào các tệ nạn xã hội… Cuốn sách cũng chỉ rõ vai trò quan trọng của cuộc vận động xây dựng GĐVH đối với sự hình thành, phát triển gia đình Việt Nam trong thời đại mới, đồng thời, khẳng định cần phải tiếp tục duy trì thực hiện

“Phong trào xây dựng gia đình văn hóa” không chỉ ở chiều rộng mà cần thực hiện theo chiều sâu để đạt kết quả, hiệu quả cao nhất

Vũ Ngọc Khánh, Văn hoá gia đình Việt Nam [61] Nội dung cuốn sách đã

phân tích, bao quát các khía cạnh: lịch sử gia đình Việt Nam từ cơ sở tâm linh để tạo nên văn hóa; nề nếp và tập tục; những nét riêng, những hình ảnh đậm đà bản sắc văn hóa; lễ thức gia đình… Tác giả đã đề cập đến vấn đề văn hoá gia đình và phân tích những ảnh hưởng của nó từ khuynh hướng của tôn giáo, triết học, văn học - nghệ thuật… thông qua đó để tìm hiểu, gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc được

ẩn chứa trong các gia đình

Đỗ Thị Thạch, Về xây dựng Gia đình văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng Đại

hội XI của Đảng [119] Ở bài viết này, tác giả đã phân tích những điểm mới trong

Văn kiện Đại hội XI của Đảng về vấn đề gia đình và xây dựng gia đình văn hóa như: phân tích về vị trí, vai trò của gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới, đồng thời

từ vị trí, vai trò đó tác giả đã đưa ra các phương hướng, giải pháp để xây dựng thành công GĐVH trong tương lai theo ánh sáng của Đại hội XI

An Thị Ngọc Trinh, Giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc trong xây

dựng văn hoá gia đình Việt Nam hiện nay [140] Trong luận án này, tác giả tiếp

cận từ những giá trị văn hoá của dân tộc để phân tích, đánh giá và rút ra việc giữ gìn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc trong việc xây dựng văn hoá gia đình Việt Nam hiện nay

Ngoài ra, còn có các bài báo như: Trần Thị Tuyết Mai, Văn hoá gia đình và

xây dựng Gia đình văn hóa trong thời kỳ hội nhập [77] Nội dung bài viết đã: đề

cập đến vai trò của gia đình và văn hóa gia đình trong đó có văn hóa GĐTT; chỉ ra những thuận lợi, khó khăn của gia đình và văn hóa gia đình trước thách thức của tiến trình hội nhập; rút ra những nội dung giá trị gia đình văn hóa và xây dựng giá

trị văn hóa gia đình trong thời kỳ mới; Phan Văn Phờ có bài, Vận dụng tư tưởng

Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng Gia đình văn hóa [96] Bài viết đã làm rõ

Trang 25

được tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình, chỉ ra được tác động của đổi mới và hội nhập đến gia đình Việt Nam hiện nay làm cho nhiều giá trị đạo đức trong gia đình

bị mai một, những chuẩn mực tình nghĩa, thủy chung, hòa thuận bị đảo lộn… từ

đó, đề xuất các giải pháp khả thi nhằm xây dựng gia đình Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh

1.1.2.4 Các công trình nghiên cứu về gia đình vùng đồng bằng sông Hồng

Mai Huy Bích, Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng [7] Tác giả

nghiên cứu đặc điểm, cấu trúc, chức năng của các gia đình vùng ĐBSH từ góc độ dân tộc học và xã hội học Trên cơ sở đó, làm rõ giữa tính cộng đồng và chức năng tái sinh sản, chức năng xã hội hoá trẻ em, mục đích của hôn nhân trong gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại

Khuất Thu Hồng, Gia đình truyền thống - Một số tư liệu nghiên cứu xã hội

học [49] Cuốn sách đã làm rõ vấn đề hôn nhân truyền thống ở Đồng bằng sông

Hồng, đồng thời hướng dẫn một số phương pháp phỏng vấn cá nhân và đưa ra kết quả nghiên cứu vấn đề này tại Đại Đồng - Hà Tây cũ và Hà Nội

Tô Duy Hợp, Sự biến đổi của làng - xã Việt Nam hiện nay (ở Đồng bằng

sông Hồng) [50] Tác giả đã phân tích sự biến đổi của làng liên quan đến nhiều

vấn đề, trong đó có đề cập đến biến đổi văn hóa gia đình và dòng họ Cũng trong cuốn sách, tác giả cho rằng, gia đình nông thôn ở vùng đồng bằng sông Hồng đang

có một số biến đổi như: tính bình đẳng giữa vợ chồng được khẳng định hơn so với truyền thống; tính áp chế của các thế hệ trước đối với thế hệ sau có xu hướng giảm trong các quyết định quan trọng; xu hướng thống nhất những giá trị chung trong gia đình được duy trì nếu nó không lệch chuẩn…

Phan Hồng Giang, Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và

sông Cửu Long [40] Cuốn sách đã phân tích rất nhiều vấn đề trong đó có phân

tích thực trạng một số lĩnh vực của đời sống văn hóa nông thôn (qua nghiên cứu định lượng), thực trạng các thiết chế và hoạt động văn hóa mới, vai trò truyền thông đại chúng, dư luận xã hội trong đời sống văn hóa nông thôn ở vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long

Lê Thị Thanh Hương, Ứng xử của người dân vùng Đồng bằng sông Hồng

trong gia đình [56] Các tác giả cho rằng, việc ứng xử trong quan hệ gia đình ở

Trang 26

Nguyễn Hữu Minh, Đời sống văn hóa của cư dân Hà Nội [87] Nội dung

cuốn sách gồm tám chương tập trung phân tích về thực trạng và xu hướng phát triển một số khía cạnh trong đời sống văn hóa của người dân Hà Nội hiện nay, trong đó

có mức độ hưởng thụ các hoạt động văn hóa và giải trí Thực trạng đời sống văn hóa của người dân Hà Nội được trình bày chủ yếu trên các bình diện: loại hình văn hóa giải trí; phong tục, tập quán liên quan đến việc hiếu, hỷ; quan hệ trong gia đình

và họ hàng; sinh hoạt tín ngưỡng và tôn giáo; sinh hoạt cộng đồng…

Vũ Thị Huệ, Sự biến đổi của văn hóa gia đình đô thị ở Hà Nội từ 1986 đến

nay [51] Tác giả đã phân tích sự biến đổi văn hóa gia đình ở các khía cạnh như:

biến đổi về giá trị; về quy mô và loại hình gia đình; về thể chế - lối sống; về hệ thống biểu hiện của văn hóa gia đình Trong luận án, tác giả cũng chỉ ra bốn yếu tố tác động đến văn hóa gia đình cần nghiên cứu kỹ là yếu tố chính trị - xã hội, yếu

tố kinh tế, yếu tố văn hóa và yếu tố quốc tế…

Nguyễn Thị Ngân, Sự biến đổi của chức năng gia đình ở vùng Đồng bằng

sông Hồng trong bối cảnh hiện nay [94] Đề tài đã làm rõ thực trạng biến đổi các

chức năng của gia đình ở vùng ĐBSH và phân tích các yếu tố tác động đến sự biến đổi các chức năng của gia đình như: chức năng sinh đẻ; chức năng nuôi dưỡng và giáo dục; chức năng kinh tế; chức năng tổ chức đời sống, cân bằng tâm-sinh lý Trên cơ sở phân tích đó, tác giả đã đưa ra những khuyến nghị về việc thực hiện chức năng gia đình vùng ĐBSH trong bối cảnh hiện nay

Lê Văn Thư, Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn

hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay [134] Luận án góp phần làm rõ khái niệm,

nội dung và phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy ĐBSH đối với sự phát triển văn

Trang 27

Như vậy, có thể thấy, qua thu thập tài liệu tổng quan nghiên cứu và theo hiểu biết của cá nhân, Tác giả nhận thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp việc phát huy giá trị gia đình truyền thống trong việc xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng và Việt Nam nói chung hiện nay

1.2 GIÁ TRỊ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC TỔNG QUAN VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN

1.2.1 Giá trị của các công trình nghiên cứu luận án cần tham khảo

Thứ nhất, những tác phẩm nước ngoài nghiên cứu về gia đình như trên đã

nêu, giúp cho tác giả luận án có thêm nguồn tài liệu phong phú để hiểu sâu hơn về gia đình, cấu trúc gia đình, hôn nhân cũng như sự tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa tới đời sống gia đình, các quan hệ họ hàng và xu hướng biến đổi của gia đình trong tương lai Các kiến thức thu được góp phần giúp tác giả luận án có cách nhìn khách quan, tương đối toàn diện khi nghiên cứu về gia đình và các nhân tố ảnh hưởng đến phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH vùng ĐBSH hiện nay

Thứ hai, đối với tài liệu nghiên cứu trong nước

(i) Những công trình nghiên cứu về gia đình và gia đình truyền thống về cơ

bản các tác giả đã làm rõ được cơ sở lý luận chung về gia đình và những vấn đề liên quan đến hôn nhân gia đình, gia đình truyền thống Kết quả của các công trình nghiên cứu này sẽ là những cơ sở lý luận chỉ dẫn cho tác giả luận án nghiên cứu

về vấn đề liên quan đến gia đình trên thực tiễn tốt hơn

Trang 28

(ii) Những công trình nghiên cứu về thực trạng và xu hướng biến đổi của

gia đình đã mang lại cho chúng ta cái nhìn tổng thể, khách quan về bức tranh gia

đình Việt Nam hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng

về gia đình và biến đổi gia đình cùng những dự báo xu hướng vận động, biến đổi gia đình trong tương lai của các nhà nghiên cứu, giúp cho Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan cũng như toàn thể nhân dân ta thấy được việc xây dựng gia đình văn hóa trong giai đoạn hiện nay là công việc tất yếu, thường xuyên, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành, các đơn vị cơ quan, đoàn thể và

cá nhân, của mọi gia đình nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống có văn hoá, phát triển con người toàn diện, góp phần xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Đây

là những tài liệu quan trọng để luận án tham khảo đi sâu phân tích thực trạng phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng ĐBSH hiện nay

(iii) Những công trình nghiên cứu về gia đình văn hóa và xây dựng gia đình văn hóa, các tác giả đã làm cho bức tranh về GĐVH và xây dựng GĐVH ở Việt Nam hiện nay dần sáng hơn cả về mặt lý luận và thực tiễn Các kết quả nghiên cứu theo hướng này sẽ tiếp tục làm cho công cuộc tuyên truyền, vận động xây dựng GĐVH trên thực tiễn phát triển mạnh, đồng thời thông qua tổng kết thực tiễn lại quay trở lại bổ sung và làm sáng tỏ lý luận về xây dựng GĐVH Việt Nam trong thời gian tới; Nghiên cứu tài liệu theo hướng này, giúp cho luận án có

cơ sở để đưa ra đề xuất, kiến nghị, giải pháp có tính khoa học và có thể thực thi

Trang 29

đã đề ra

1.2.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo đặt ra cho luận án

Ngoài mặt giá trị của những công trình nghiên cứu nêu trên, tác giả nhận thấy, các công trình vẫn còn có những khoảng trống bỏ ngỏ nhất định do cách tiếp cận khác nhau, cụ thể như:

Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về việc phát huy giá trị GĐTT trong xây

dựng GĐVH ở Việt Nam hiện nay vẫn còn mang tính riêng biệt, chưa hệ thống

Thứ hai, chưa làm rõ, đầy đủ và thống nhất nội dung giá trị GĐTT của

người Việt trên phạm vi cả nước nói chung, ở vùng ĐBSH nói riêng

Thứ ba, chưa phân tích sâu sắc về việc cần thiết phải phát huy giá trị GĐTT

trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH nói riêng và Việt Nam hiện nay nói chung

Thứ tư, việc phân tích thực trạng phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng

GĐVH ở vùng ĐBSH nói riêng và Việt Nam hiện nay nói chung chưa có tính bao trùm, hệ thống

Thứ năm, các giải pháp đề ra còn mang tính chất riêng biệt và đặc biệt có

rất ít công trình nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học

Như vậy, có thể thấy, mặc dù có được những giá trị thông qua các công trình nghiên cứu như vừa phân tích ở trên và về cơ bản các công trình nghiên cứu đều ít, nhiều đề cập đến giá trị truyền thống, văn hoá truyền thống và coi nó như là

Trang 30

một trong những cơ sở để xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn của gia đình văn hóa, nhưng qua thu thập tài liệu tổng quan nghiên cứu và theo hiểu biết của cá nhân,

tác giả nhận thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp về việc: phát huy giá trị

gia đình truyền thống trong việc xây dựng gia đình văn hóa ở vùng Đồng bằng sông Hồng hiện nay dưới góc độ của chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học Vì

vậy, trên cơ sở tiếp cận từ góc độ lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học, kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những thành quả của các nhà nghiên cứu trước và bám sát yêu cầu thực tiễn của khu vực, của đất nước hiện nay, tác giả luận án muốn làm sáng

tỏ hơn nữa về giá trị gia đình truyền thống, việc cần thiết phải phát huy giá trị GĐTT và chúng ta phải làm gì, làm như thế nào để giữ gìn, phát huy giá trị GĐTT trong việc xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH nói riêng và Việt Nam nói chung hiện nay Để làm tốt mục tiêu đề ra, luận án phải triển khai và làm rõ các vấn đề sau:

Một là, hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn về việc phát huy những giá trị

GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay, bao gồm: khái quát về gia đình, GĐTT, giá trị GĐTT, GĐVH; làm rõ sự cần thiết phải phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH; chỉ ra những nội dung, phương thức, chủ thể phát huy cũng như phân tích các yếu tố tác động đến phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

Hai là, phân tích, làm rõ thực trạng phát huy giá GĐTT trong xây dựng

GĐVH ở vùng ĐBSH ở cả nội dung, phương thức, chủ thể phát huy Trên cơ sở phân tích thực trạng, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu, hạn chế, luận án nêu bật những vấn đề đặt ra hiện nay cần phải giải quyết

Ba là, trên cơ sở lý luận, thực tiễn nghiên cứu và phân tích thực trạng phát

huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH cùng những vấn đề đặt ra đòi hỏi phải giải quyết, tác giả luận án đề xuất các quan điểm, giải pháp chủ yếu

có tính khả thi cao nhằm phát huy những giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

Trang 31

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT HUY GIÁ TRỊ

GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA

Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Quan niệm, đặc trưng và giá trị gia đình truyền thống

2.1.1.1 Gia đình truyền thống

Gia đình được coi là một tế bào của xã hội, là một xã hội thu nhỏ Mỗi con người sinh ra, lớn lên, trưởng thành đều xuất phát, gắn bó từ một gia đình nên gia đình luôn là cội nguồn, là cái nôi, điểm tựa vô cùng cần thiết cho sự phát triển toàn diện của con người và cho toàn xã hội Gia đình tồn tại trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau

của lịch sử xã hội lại có những đặc trưng riêng Vì vậy, nhiều nhà tư tưởng, cá nhân, tổ

chức, ngành khoa học nghiên cứu với những cách tiếp cận phong phú, đa dạng đã đưa

ra nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình (xem phụ lục 1) Luật Hôn nhân và Gia đình

ở Việt Nam, trong Điều 8 đã ghi rõ: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau

do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo luật định” [100, tr.6] Dưới góc độ chính trị - xã hội, theo giáo trình môn Chủ nghĩa xã hội khoa học đã định nghĩa: “Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt được hình thành và phát triển trên cơ

sở các mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, đồng thời có sự gắn kết về kinh tế - vật chất, qua đó nảy sinh những nghĩa vụ và quyền lợi giữa các thành viên” [47, tr.203] Tác giả luận án cũng coi đây là định nghĩa chính thức về gia đình

Dù tiếp cận ở góc độ nào, về cơ bản, gia đình được nhận diện ở ba khía cạnh:

Một là, gia đình là một cộng đồng người, một thiết chế xã hội được hình thành trên cơ

sở của quan hệ hôn nhân; Hai là, gia đình dựa trên quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng; Ba là, các thành viên trong gia đình gắn bó chặt chẽ với nhau vì trách

nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi nhằm đảm bảo phát triển toàn diện cả về vật chất lẫn tinh thần được họ hàng, pháp luật, xã hội thừa nhận và bảo vệ

Gia đình truyền thống là một trong những hình thức gia đình để phân biệt với

gia đình hiện đại về quy mô, cấu trúc, hình thức tổ chức, nhận thức và quan niệm sống… Truyền thống theo cách hiểu thông thường nhất đó là tập hợp những thói quen trong tư duy, lối sống, cách ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được

Trang 32

hình thành trong lịch sử và dần trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Truyền thống có ba đặc tính cơ bản là tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền, nên GĐTT cũng mang những đặc trưng cơ bản đó [157] Vì vậy, có thể hiểu GĐTT là một khái niệm được dùng để chỉ loại gia đình đã hình thành, tồn tại, phát triển trong quá khứ, nó chứa đựng nhiều yếu tố bền vững, được lưu truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác Những yếu tố đó phản ánh nền văn hóa bản địa, tạo nên nét đặc sắc văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, GĐTT là một khái niệm mang nhiều hàm nghĩa khác nhau, rất dễ gây ra tranh luận giữa những người sử dụng nó, cụ thể: Khi nghiên cứu về GĐTT, có

ý kiến cho rằng: “Gia đình Việt Nam truyền thống là hình thái gia đình gắn liền với

xã hội nông thôn - nông nghiệp Nói cách khác, nó là con đẻ của xã hội nông nghiệp,

ít biến đổi qua nhiều biến thiên của lịch sử” [154, tr.75] Một cách hiểu khác cũng quan niệm: “Gia đình truyền thống chắc hẳn là hình thái gia đình ở nông thôn, là gia đình ở những xã hội Á Đông đã tồn tại lâu đời và gần như bất biến trên nhiều khía cạnh” [37, tr.72] Dựa trên tiêu chí địa vị xã hội, tác giả khác quan niệm “cổ truyền phân ra ba loại gia đình theo đẳng cấp và địa vị xã hội: gia đình bình dân, gia đình kẻ

sĩ, gia đình quyền quý” [55, tr.22] Tương tự, tác giả Khuất Thu Hồng cũng phân chia GĐTT thành hai kiểu:

Kiểu thứ nhất là gia đình theo Nho hoặc hướng Nho bao gồm gia đình của

tầng lớp quan lại, tư bản, công chức và một số gia đình thị dân giàu có ở

đô thị, của giới chức sắc, nho sĩ và một số ít gia đình nông dân khá giả ở nông thôn, số lượng gia đình này không nhiều Đại bộ phận nhân dân còn lại là tầng lớp lao động thuộc kiểu gia đình thứ hai, ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo, chủ yếu ứng xử theo phong tục, tập quán lâu đời [49, tr.14] Như vậy, có thể thấy, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về GĐTT Mỗi cách tiếp cận và đưa ra khái niệm đều có những điểm hợp lý nhất định của nó Từ góc độ nghiên

cứu, trong luận án, tác giả đề cập đến GĐTT Việt Nam theo cách hiểu: Là sản phẩm

của xã hội nông nghiệp cổ truyền, tồn tại, phát triển cả ở thành thị, nông thôn, có thể theo tư tưởng Nho gia hoặc ít ảnh hưởng của Nho gia, trong đó chứa đựng nhiều yếu

tố tương đối ổn định, bền vững phản ánh văn hóa bản địa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác tạo nên nét đặc sắc của văn hóa dân tộc

Trang 33

2.1.1.2 Đặc trưng của gia đình truyền thống

Một là, GĐTT là sản phẩm của xã hội nông nghiệp cổ truyền, gắn với nền kinh

tế tự nhiên, sản xuất tự cung, tự cấp là chính và ít biến đổi trong biến thiên của lịch sử

Gia đình truyền thống Việt Nam là sản phẩm của xã hội nông nghiệp cổ truyền, trồng lúa nước là chính, mà tiêu biểu nhất là gia đình sống ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Trong nền nông nghiệp cổ truyền đó, gia đình chính là một đơn vị sản xuất kinh tế với những điều kiện sản xuất lạc hậu, công cụ thô sơ, chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên Đại bộ phận sản xuất nông nghiệp của nhà nông là sản xuất nhỏ, manh mún do tình trạng bị phân tán về ruộng đất nên mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập, tự sản xuất, tự tiêu dùng

Mỗi gia đình tự cung cấp hầu hết các sản phẩm tiêu dùng cho bản thân mình nên về cơ bản gia đình trở thành hộ nông - công - thương kết hợp, vừa trồng trọt, chăn nuôi, vừa làm thủ công nghiệp và trao đổi, buôn bán Trong gia đình, các thành viên ngoài liên kết bởi mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, còn gắn bó chặt chẽ cùng nhau sản xuất vật chất, nuôi sống bản thân và gia đình mình Từ đó, làm nảy sinh tình cảm, trách nhiệm, nghĩa vụ cũng như quyền lợi trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình như: tình cảm gắn bó thủy chung giữa vợ chồng; yêu thương, chăm sóc con cái; kính trọng cha mẹ, ông bà, tổ tiên; yêu thương, hòa thuận, giúp đỡ lẫn nhau giữa anh chị em… [92]

Trong điều kiện sản xuất nông nghiệp lạc hậu, công cụ thô sơ, dùng sức người

là chính, cộng với nhiều yếu tố khắc nghiệt của tự nhiên như hạn hán, lũ lụt, giông bão… rất cần sự sáng tạo, cần cù, chăm chỉ lao động, sự trợ giúp lẫn nhau trong công việc của mỗi con người, mỗi gia đình Điều đó, đã giúp hình thành ở con người Việt Nam tính chịu thương, chịu khó, cần cù, sáng tạo trong lao động cũng như tinh thần đoàn kết, yêu thương, đùm bọc, sẻ chia, trọng nghĩa tình, đạo lý, thủy chung và đời sống tinh thần phong phú, đa dạng Điều này góp phần tạo nên nét đặc sắc trong VHGĐ và nó được lưu truyền từ đời này sang đời khác tạo thành truyền thống, bản sắc văn hóa của cả dân tộc Việt Nam

Tuy nhiên, với đặc thù là con đẻ của xã hội nông nghiệp cổ truyền, ít biến đổi theo những biến thiên của lịch sử, GĐTT Việt Nam cũng là nơi nảy sinh nhiều yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng đến đời sống của gia đình trong quá khứ cũng như việc xây dựng GĐVH, phát triển xã hội trong giai đoạn hiện nay Chẳng hạn như: tư duy tiểu nông

Trang 34

nên thiếu tư duy phân tích, thực nghiệm, lý luận; duy trì lối làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, mang nặng tính cục bộ, địa phương; tính ghen ghét, đố kỵ với những người vượt trội hoặc tiến bộ hơn mình, nên khó hòa nhập; lối sống thiên về tình cảm cũng dễ tạo ra lối sống duy tình, trọng tình hơn lý, có thái độ nể nang dẫn đến nhiều khi không coi trọng pháp luật, không dám chống lại cái xấu, chống lại tệ nạn nảy sinh trong xã hội…

Hai là, gia đình thường đông con, kết hôn sớm

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp cổ truyền, tự nhiên, tự cấp, tự túc, dựa vào sức người là chính nên ở nhiều GĐTT, hình thành tâm lý muốn sinh đông con để gia tăng nguồn nhân lực lao động Ở nhóm GĐTT khác lại muốn sinh nhiều con để có người chăm sóc khi cha mẹ về già; hoặc để phòng ngừa trước những rủi ro, bệnh tật làm cho những đứa trẻ chết sớm; hoặc do quan niệm “tự sinh, tự dưỡng”,

“con cái là lộc trời cho” [7]… Một lý do thậm chí trở thành động cơ sinh đông con

mà các nhà nghiên cứu hay đề cập đến, nhất là khi nghiên cứu về GĐTT vùng ĐBSH,

đó là việc “dứt khoát mỗi gia đình phải có ít nhất một con trai” [7, tr 20] để duy trì nòi giống, nối dõi tông đường

Kết hôn sớm cũng là một trong những đặc trưng thường thấy trong nhiều GĐTT

vì họ cho rằng lấy vợ, lấy chồng sớm cho con là lấy thêm dâu, thêm rể tăng nguồn nhân lực và để cặp vợ chồng mới tiếp tục sinh nhiều con, sinh con trai duy trì nòi giống, là nguồn an ủi, động viên, chăm sóc khi cha mẹ về già

Sinh đông con, kết hôn sớm đã đáp ứng nhiều nhu cầu của GĐTT Tuy nhiên, mặt trái của nó thường làm cho các GĐTT không thoát khỏi đói nghèo do không đủ sức, điều kiện kinh tế, thời gian để chăm sóc, nuôi dạy con cái nên người Việc kết hôn sớm, sinh con sớm khi cha mẹ chưa đủ tuổi trưởng thành, chưa có kinh nghiệm sống sẽ khó có thể nuôi dạy những đứa trẻ thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội…, ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống, hạnh phúc của gia đình, nảy sinh nhiều tệ nạn

xã hội, gây áp lực về giải quyết việc làm, chính sách dân số, an sinh xã hội hiện nay

Ba là, gia đình có kết cấu bền chặt, quy mô lớn

Lịch sử xã hội Việt Nam đã chứng minh GĐTT có kết cấu rất bền chặt, tồn tại lâu dài, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Đặc điểm này là do những điều kiện khách quan của cuộc sống - sản xuất nông nghiệp tiểu nông, trồng lúa nước là chính, công cụ thô sơ, lạc hậu, phụ thuộc vào tự nhiên, do chống thiên tai, địch họa… buộc các thành viên trong gia đình phải gắn kết chặt chẽ với nhau Mặt khác, do ảnh hưởng tư

Trang 35

tưởng của Nho giáo coi gia đình là nền tảng của xã hội (tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ), trong gia đình nhanh chóng hình thành tôn ti, trật tự, nền nếp, phép tắc, chuẩn mực… để điều chỉnh các mối quan hệ, quy định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi giữa các thành viên trong gia đình Nền nếp, sự giáo dục trong gia đình về gia phong, gia giáo được coi là nền tảng tạo nên gia đình hạnh phúc và bền chặt

Gia đình Việt Nam truyền thống thường là gia đình có quy mô lớn, nhiều thế hệ sinh sống Do các gia đình thường sinh đông con, cộng với việc kết hôn sớm; do tâm lý thích con cháu sum vầy quanh mình hoặc do nhiều gia đình ở thành thị không có đất chia cho con cái khi kết hôn nên ở nhiều GĐTT hầu hết con cháu tập trung sinh sống cùng trong một mái nhà Nếu như GĐTT Trung Quốc có quy mô lớn mở rộng ra cả dòng tộc cùng sinh sống trong một thôn trang với các tên gọi như Đỗ gia trang, Vương gia trang, Đường gia trang…, thì GĐTT Việt Nam, mặc dù có quy mô lớn, nhưng thường chỉ sống từ ba, bốn, năm thế hệ trong một gia đình Kiểu gia đình này khá phổ biến, tập trung nhiều nhất ở nông thôn vùng ĐBSH

Gia đình truyền thống với kết cấu bền chặt, quy mô lớn có ưu điểm: gắn bó cao

về tình cảm theo huyết thống, bảo lưu được nhiều giá trị truyền thống văn hóa, nghi lễ, tập tục, phong tục, tập quán, tôn ti, trật tự, nền nếp… cũng như phát huy tốt các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình, của dân tộc Nó giúp các thành viên trong gia đình có điều kiện giúp đỡ lẫn nhau cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, quan tâm chăm sóc người già và dạy dỗ, uốn nắn thế hệ trẻ….Tuy nhiên, kết cấu bền chặt và quy mô gia đình lớn,

có nhiều thế hệ khác nhau về tuổi tác, quan niệm, lối sống, tâm lý, thói quen… sống trong cùng một mái nhà, nên khó tránh khỏi mâu thuẫn giữa các thế hệ, nhất là mối quan hệ giữa mẹ chồng, nàng dâu, em gái của chồng và chị dâu… Tư tưởng trọng ngôi thứ với đẳng cấp khắt khe và bị trói buộc bởi ảnh hưởng của Nho gia theo luận lý cương thường dẫn đến quyền dân chủ, bình đẳng, tự do cá nhân bị hạn chế Sống theo gia đình quy mô lớn, cố kết gia đình, cộng đồng cao, cũng hình thành tâm lý thụ động,

tự ti, bám chặt gia đình, người thân, làng xóm… không dám sáng tạo, mở rộng giao lưu, tiếp nhận cái mới từ bên ngoài vào

Bốn là, tư tưởng, giá trị chuẩn mực gia đình và giáo dục trong gia đình chủ yếu

theo tư tưởng của Nho giáo

Giá trị chuẩn mực và giáo dục trong GĐTT được kết hợp cả những tư tưởng của người Việt cổ xưa để lại với tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo [70] Tuy

Trang 36

nhiên, một thực tế không thể phủ nhận là mức độ ảnh hưởng không nhỏ của Nho giáo đến tư tưởng, lối sống tạo nên hệ giá trị chuẩn mực văn hóa, đạo đức trong gia đình và giáo dục của GĐTT Việt Nam Những gia đình sống ở thành thị, những gia đình thuộc tầng lớp vua quan, tầng lớp trên, “danh gia vọng tộc” hoặc một số gia đình khá giả, gia đình hướng Nho ở nông thôn, ảnh hưởng Nho giáo rất rõ nét và sâu sắc Cách sống và giáo dục con cháu, các thành viên trong gia đình theo quy tắc “tam cương, ngũ thường”

và “ngũ luân” của nhà Nho Giáo dục nam giới theo chuẩn mực của người quân tử

“trung, hiếu, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng”, theo sách thánh hiền, nhấn mạnh vai trò của con trưởng, người đàn ông, người cha trong gia đình Giáo dục nữ giới theo tam tòng, tứ đức Giáo dục giới tính “nam nữ thụ thụ bất thân” [7]; [151]… Vì vậy, mẫu hình gia đình được giáo dục hướng tới là gia đình hạnh phúc, trên dưới thuận hòa, con cháu giàu sang, đông đúc, gia phong nghiêm ngặt, có địa vị cao trong làng, trong xã hội Còn gia đình chủ yếu thuộc tầng lớp lao động ở cả nông thôn và thành thị, do hạn chế trong tiếp xúc với Nho gia, họ ít chú trọng giáo dục con cháu đề cao địa vị xã hội, lễ nghĩa của nhà Nho Họ có cuộc sống giản dị hơn, giáo dục con cháu bằng phong tục, tập quán, thói quen, kinh nghiệm của gia đình, làng xã và bản thân mình Giáo dục chủ yếu trong gia đình thường hướng đến giáo dục kinh nghiệm, kỹ năng lao động Đây chính là yếu tố phát triển và tồn tại các làng nghề truyền thống, các thương hiệu gia đình sản xuất gia truyền trong nhiều lĩnh vực sau này Trong gia đình, việc lao động và các mối quan hệ khác nhiều khi được thực hiện bình đẳng hơn so với gia đình chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, thậm chí, nhiều gia đình người mẹ, người vợ lại là người giữ “tay hòm, chìa khóa”, quyết định chi tiêu, kinh tế [149] Như vậy, có thể thấy GĐTT Việt Nam mặc dù chịu ảnh hưởng của Nho giáo là chủ yếu nhưng con người và gia đình Việt Nam không tiếp thu thụ động mà tiếp biến văn hóa, tư tưởng của Nho gia kết hợp với văn hóa bản địa và các tư tưởng tiến bộ trong Phật giáo, Đạo giáo để làm giàu thêm lối sống, phong tục, tập quán, truyền thống, văn hóa của mình Từ đó tạo nên những nét riêng, độc đáo hình thành bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Ngoài những điểm tích cực nêu trên, ảnh hưởng của Nho giáo cũng mang đến những mặt trái, mặt tiêu cực tác động xấu đến sự phát triển gia đình và xã hội Việt Nam như: tư tưởng “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”; việc phân chia không đồng đều tài sản cho các con, con trai được hưởng nhiều hơn, trong đó người con trai trưởng

Trang 37

lại được nhiều nhất; chưa chú trọng và phát huy vai trò của người phụ nữ trong gia đình

cũng như ngoài xã hội; phân biệt dòng tộc danh giá, đẳng cấp, địa vị trong xã hội…

Năm là, tính cố kết cộng đồng, yêu thương, có trách nhiệm cao đối với các thành

viên trong gia đình thậm chí mở rộng ra dòng họ, làng, xã và quê hương, đất nước

Tính cộng đồng là đặc trưng cơ bản của con người, gia đình và xã hội Việt Nam trong truyền thống Cơ sở xuất phát của nó là: do sản xuất nông nghiệp với trình độ thấp, công cụ thô sơ, lạc hậu, phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên Con người cảm thấy mình nhỏ bé, sợ hãi trước những thiên tai, địch họa, bệnh dịch xuất phát từ thiên nhiên nên con người phải gắn kết lại với nhau từ trong gia đình, họ hàng, làng xóm để cùng nhau lao động, sản xuất…; Ngoài ra, còn do quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ đã gắn kết hai gia đình thông gia, gắn kết hai họ hoặc hai làng với nhau; hoặc do niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên, vào các tín ngưỡng dân gian và biết ơn những người có công với đất nước, với những người có công với làng (thờ thành hoàng làng) …

Tính chất cộng đồng thấm sâu vào gia đình, chi phối mối quan hệ trong gia đình làm cho tính chất cá nhân bị lệ thuộc, hòa với gia đình, dòng họ Cá nhân thông qua gia đình, lấy danh nghĩa gia đình để giao tiếp với xã hội Vì thế, cá nhân trong gia đình phải ý thức được lối sống, suy nghĩ, hành động của mình là ảnh hưởng, đại diện cho gia đình, cho dòng họ nên “Một người làm quan, cả họ được cậy Một người làm bậy cả họ

mất nhờ” Trong gia đình đông người, khi giao tiếp trong cộng đồng, người ta chỉ nhớ

và gọi tên người chủ gia đình hoặc tên người con đầu Xã hội kiểm soát, điều chỉnh, đánh giá hành vi của cá nhân cũng thông qua gia đình Chẳng hạn, khi giao tiếp với một đứa trẻ, nhiều khi người ta không quan tâm nó tên gì, nó là ai mà người ta sẽ hỏi

nó là con nhà ai, con gia đình nào, bố mẹ nào, thuộc dòng họ nào…[7]

Đối với người Việt, nói đến gia đình là nói đến tính cộng đồng Cộng đồng đó không chỉ bao gồm những người đang sống mà còn bao gồm cả những người đã chết

và những đứa trẻ sẽ được sinh ra trong tương lai Vì thế, GĐTT coi trọng việc thờ cúng

tổ tiên, nguồn cội và việc nối dõi tông đường

Tính cộng đồng cũng không bó hẹp lại trong đơn vị gia đình mà còn được mở rộng ra khi con người giao tiếp với cộng đồng, làng xã, quê hương, đất nước Biểu hiện

rõ ở những dịp lễ, tết cổ truyền, hay nhớ về các vị anh hùng dân tộc có công với đất nước, nhớ về cội nguồn chung của dân tộc như câu ca “Dù ai đi ngược, về xuôi Nhớ

Trang 38

2.1.1.3 Giá trị của gia đình truyền thống Việt Nam

Giá trị là một khái niệm được sử dụng trong nhiều khoa học như: toán học, triết học, kinh tế học, xã hội học, văn hóa học, tâm lý học, đạo đức học… Tùy từng góc độ tiếp cận, mục đích nghiên cứu mà nội hàm khái niệm giá trị cũng có sự khác nhau Song, có thể nhận thấy những điểm chung được đề cập đến trong quan niệm giá trị bao gồm: chỉ ý nghĩa của những hiện tượng vật chất hay tinh thần có khả năng thỏa mãn nhu cầu tích cực của con người, là những thành tựu góp phần vào sự phát triển xã hội; chứa các yếu tố nhận thức, tình cảm, hành vi của chủ thể trong quan hệ với sự vật, hiện tượng mang giá trị, thể hiện sự đánh giá, lựa chọn của chủ thể; được xác định và đánh giá đúng đắn trong các mối quan hệ thực tiễn của con người, xuất phát từ thực tiễn, được kiểm nghiệm qua thực tiễn; có tính lịch sử khách quan, sự tồn tại hay mất đi của một giá trị nào đó phụ thuộc vào ý thức của con người mà do yêu cầu của từng thời đại lịch sử, trong đó con người sống và hoạt động [72]…

Nói đến giá trị tức là “muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới” [22, tr.17] Vì vậy, giá trị có vai trò rất quan trọng, giúp con người xác định mục đích, phương hướng cho hoạt động của mình, là mong ước, khát khao mà con người muốn vươn đến

Với quan niệm giá trị như trên, có thể hiểu: Giá trị GĐTT là những yếu tố,

những mặt, những quy tắc, chuẩn mực đúng đắn, tốt đẹp, tích cực về đạo đức, giáo dục, tâm lý tình cảm và ý thức cộng đồng được nảy sinh, hình thành, tồn tại, phát triển trong

Trang 39

GĐTT, được cộng đồng xã hội cũng như từng GĐTT thừa nhận, hướng tới, áp dụng, lưu giữ và truyền lại cho các thế hệ sau Nó là cái tương đối ổn định, được lưu truyền

trong mỗi gia đình, giúp cho các thành viên trong gia đình noi theo, xác định được mục

tiêu, phương hướng cho hoạt động của mình Giá trị của GĐTT là cơ sở để xã hội cổ

truyền đánh giá, nhận xét về từng gia đình cũng như thành viên trong gia đình, đồng

thời nó là cái để các GĐTT mong ước, khát khao vươn tới, củng cố, giữ gìn, phát huy

Giá trị của GĐTT đã góp phần chủ yếu tạo ra sự êm ấm, hạnh phúc của gia đình, là tế bào lành mạnh để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và góp phần hình thành nên truyền thống của dân tộc, hình thành nên nền văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam

Khi tìm hiểu về GĐTT, tùy từng mục đích, góc độ tiếp cận, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều giá trị của gia đình khác nhau Có người cho rằng giá trị truyền thống cần phát huy trong xây dựng gia đình hiện nay là: “truyền thống đạo đức, truyền thống tâm linh, truyền thống hiếu học và truyền thống thẩm mỹ” [70, tr.6] Có tác giả chia giá trị GĐTT thành: giá trị đạo đức; giá trị giáo dục; giá trị tâm lý, tình cảm và giá trị ý thức cộng đồng [69] Một số nhà nghiên cứu khác lại đề cập đến giá trị kinh tế, giá trị trong cấu trúc nhà ở…của GĐTT [37]; [151]… Mặc dù, có các cách phân chia giá trị GĐTT khác nhau, nhưng có thể thấy giá trị GĐTT có tính phổ quát, nhiều nhà nghiên cứu đề cập như: đề cao sự thủy chung, hòa thuận trong mối quan hệ vợ chồng; đề cao đạo hiếu đối với ông bà, cha mẹ; sự hy sinh, yêu thương, chăm sóc của ông bà, cha mẹ đối với con cháu; sự hòa thuận, gắn bó keo sơn giữa các anh chị em trong gia đình; phát huy truyền thống hiếu học, tính cộng đồng, yêu quê hương, đất nước Trong phạm vi nghiên cứu phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay, tác

giả luận án lựa chọn cách tiếp cận giá trị GĐTT gồm: giá trị đạo đức; giá trị giáo dục;

giá trị tâm lý tình cảm và giá trị ý thức cộng đồng

2.1.2 Quan niệm và đặc trưng của gia đình văn hóa

Gia đình văn hóa là khái niệm do Ban chỉ đạo nếp sống mới Trung ương đưa ra

để chỉ một kiểu, một trình độ VHGĐ mới ở nước ta hiện nay Gia đình văn hóa là danh hiệu để phong tặng cho những gia đình đạt được hoặc thực hiện tốt các tiêu chuẩn đã

đề ra Nó chỉ phẩm chất của gia đình, nói lên nếp sống có văn hóa của gia đình Như vậy, theo cách hiểu này, GĐVH chính là sự thể hiện mới của văn hóa gia đình, nhưng ở trình độ cao hơn và được cụ thể hóa bằng các tiêu chí nhất định Trong đó, VHGĐ được hiểu là một dạng đặc thù của văn hóa xã hội bao gồm tổng thể các giá trị chuẩn

Trang 40

mực, quy định cách hành xử của xã hội mà các thành viên của gia đình cùng tiếp nhận

để ứng xử với nhau trong gia đình cũng như ngoài xã hội [19]; [84]

Gia đình văn hóa là một khái niệm động, từ khi xuất hiện đến nay nó đã có nhiều thay đổi Trước đây chúng ta gọi GĐVH với nhiều tên gọi khác nhau như: gia đình mới, gia đình có nếp sống văn hóa, GĐVH xã hội chủ nghĩa, GĐVH mới Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) của Đảng, tên gọi GĐVH chính thức được

sử dụng cho đến tận ngày nay

Ngày 16/7/1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) về xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Vấn đề gia đình và xây dựng GĐVH đã được đề cập đến một cách cấp thiết Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng, Bộ Văn hoá -Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã ra Quyết định số 01/2002/QĐ-BVHTT ngày 02/02/2002 ban hành Quy chế công nhận danh hiệu “GĐVH”, “Làng văn hoá”,

“Khu phố văn hoá”, tiêu chuẩn GĐVH

Ngày 23/6/2006, Bộ Văn hóa, Thông tin lại có Quyết định số BVHTT ban hành Quy chế công nhận danh hiệu “GĐVH”, “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”, trong đó đã đưa ra tiêu chuẩn, thủ tục công nhận danh hiệu “GĐVH” thực hiện theo quy định tại Điều 29 Luật Thi đua khen thưởng nhằm thay thế cho Quy chế công nhận danh hiệu “GĐVH” đã ban hành năm 2002 Đến năm 2011, theo Thông

62/2006/QĐ-tư số 12/2011/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành ngày 10/10/2011 quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận danh hiệu

“GĐVH”, “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương, tiêu chuẩn GĐVH được quy định tại Điều 4, chương II,

Ngày đăng: 21/06/2020, 23:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w