1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THAM VẤN CHO CHA MẸ TRONG GIÁO DỤC TRẺ EM TỪ 11 TUỔI ĐẾN 14 TUỔI TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

104 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 877,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam, một số công trình tiêu biểu được phân chia thành 2 nhóm: Nhóm thứ nhất, về vai trò của các thành viên trong gia đình với giáo dục con cái với các công trình như “Vai trò c

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

N U ỄN SON N ỌC

THAM VẤN CHO CHA MẸ TRONG GIÁO DỤC TRẺ EM

TỪ 11 TUỔI ĐẾN 14 TUỔI TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN,

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Song Ngọc

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮN VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM VẤN CHO CHA MẸ TRON IÁO DỤC TRẺ EM TỪ 11 TUỔI ĐẾN 14 TUỔI 11

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH 11 1.2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC GIA ĐÌNH 19 1.3 LÝ THUYẾT CÔNG TÁC XÃ HỘI ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 22

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ THAM VẤN CHO CHA MẸ TRON IÁO DỤC TRẺ EM TỪ 11 TUỔI ĐẾN 14 TUỔI TẠI HU ỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ IAN 26

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 26 2.2 THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC TRẺ EM TỪ 11 TUỔI ĐẾN 14 TUỔI TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG 27 2.3 THỰC TRẠNG VỀ THAM VẤN CHO CHA MẸ TRONG GIÁO DỤC TRẺ EM TỪ 11 ĐẾN 14 TUỔI TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG 51

Chương 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT

11 ĐẾN 14 TUỔI TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG 67

3.1 VỀ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH 67 3.2 VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC GIA ĐÌNH 68 3.3 VỀ TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO NHẬN THỨC 69 3.4 VỀ TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH, NHÀ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI 71

KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC 81

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Phân chia trách nhiệm chính giữa vợ và chồng trong chăm sóc, giáo dục

con 28 Bảng 2.2: Tỷ lệ cha mẹ dạy con biết quý trọng sức lao động và cách sử dụng đồng tiền 40 Bảng 2.3: Tỷ lệ cha mẹ dạy con nhận biết thủ đoạn lừa đảo, buôn bán và bắt cóc 44 Bảng 2.4: Tỷ lệ cha mẹ giáo dục, răn đe con tránh xa các tệ nạn xã hội, trò chơi game, quán internet 45 Bảng 2.5: Nguồn cung cấp thông tin, kiến thức về giáo dục gia đình 61

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Vai trò của cha, mẹ trong định hướng nghề nghiệp, chọn trường cho con phân theo trình độ học vấn (%) 32 Biểu đồ 2.2: Hoạt động phổ biến kiến thức nuôi dạy, giáo dục con của Hội phụ nữ (%) 56 Biểu đồ 2.3: Hoạt động phổ biến kiến thức tổ chức cuộc sống gia đình của Hội phụ

nữ (%) 57 Biểu đồ 2.4: Hoạt động cung cấp tài liệu truyền thông của Hội phụ nữ (%) 58 Biểu đồ 2.5: Hoạt động hỗ trợ phụ nữ vay vốn của Hội phụ nữ (%) 60 Biểu đồ 2.6: Hoạt động “Hỏi chuyên gia tư vấn, tham vấn” phân theo trình độ học vấn cha mẹ (%) 62

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là chiếc nôi để hình thành, giáo dục, nuôi dưỡng nhân cách của mỗi con người Gia đình trong xã hội hiện đại ngày nay càng có vai trò quan trọng, từ định hướng, nuôi dưỡng nhân cách cũng như giáo dục con người từ khi sinh ra đến lúc trưởng thành, trở thành những công dân có ích đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của xã hội

Trong bối cảnh xã hội phát triển và hội nhập, gia đình Việt Nam đang

có những biến đổi mạnh mẽ về cấu trúc, hình thái, quy mô và các mối quan hệ trong gia đình, trong đó có mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái Trẻ em ở lứa tuổi vị thành niên (từ 10 – 19 tuổi) là giai đoạn phát triển đặc biệt, là thời kỳ chuyển tiếp và trưởng thành của “trẻ em” để trở thành “người lớn” Giai đoạn này diễn ra hàng loạt những thay đổi về cơ thể, thay đổi về tâm lý và cả về các mối quan hệ xã hội Cụ thể hơn, trẻ em từ 11 đến 14 tuổi là độ tuổi có nhiều sự xáo trộn trong tâm sinh lý và các mối quan hệ xung quanh Vì vậy, trẻ ở độ tuổi này rất cần sự quan tâm, giáo dục, định hướng của cha mẹ và các thành viên trong gia đình

Cho đến nay, việc tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ vẫn chưa được quan tâm đúng mức Nhiều cha mẹ hiện đại rơi vào tình cảnh “hoang mang khi dạy con” - không biết dạy như thế nào cho phù hợp Những giá trị, chuẩn mực truyền thống đã và đang bị tác động, thay đổi, xen lẫn với những chuẩn mực, hành vi của xã hội mới Cha mẹ gặp phải những khó khăn, rào cản trong quá trình giao tiếp với trẻ, giáo dục, định hướng cho trẻ Cha mẹ không biết phải bắt đầu từ đâu, làm như thế nào và không tìm kiếm đến sự hỗ trợ của những nhà chuyên môn để giải quyết vấn đề của mình Cha mẹ thường tìm hiểu thông tin qua mạng, hoặc thông qua những cha mẹ khác có cùng vấn

đề và tự tạo ra cách thức can thiệp với con mình nhưng chưa đem lại những kết quả khả quan và phù hợp

Trang 7

Vị Xuyên là một huyện miền núi biên giới phía Bắc Việt Nam, nằm bao quanh thành phố Hà Giang Đời sống kinh tế - xã hội của người dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ học vấn thấp, nhận thức của dân cư về vấn đề giáo dục, chăm sóc trẻ em còn nhiều hạn chế Nhiều cha mẹ bận rộn làm kinh tế chưa thực sự quan tâm, dành thời gian giáo dục con cái, đặc biệt là khi trẻ bước vào độ tuổi từ 11 – 14 tuổi Đồng thời, cho đến nay còn ít các nghiên cứu về chủ đề này đối với các bậc cha mẹ thuộc dân tộc thiểu số từ góc độ công tác xã hội

Với lý do đó, tôi chọn đề tài “Tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ

em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang” để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Một số nghiên cứu về tham vấn

Ngay từ buổi sơ khai, khi cá nhân hay gia đình có vấn đề và không tự giải quyết được, họ thường tìm tới những người được xem là có uy tín, có kinh nghiệm Khi này sự trợ giúp thường là lời khuyên hay giải pháp cho vấn

đề của họ “Nhà tham vấn” ở đây có thể là người lớn tuổi hơn, người có kinh nghiệm, người đứng đầu nơi họ sinh sống… Cùng với sự phát triển của khoa học, sự trợ giúp có tính chuyên nghiệp dần được hình thành Thuật ngữ Counseling (tham vấn) được sử dụng lần đầu tiên bởi Jesse B.Davis, khi ông thiết lập trung tâm tham vấn hướng nghiệp giáo dục tại Detroit (Hoa Kỳ) năm 1898[15, tr.46]

Vào những năm cuối của thế kỷ XIX, qua quá trình trợ giúp những gia đình nghèo khổ, người ta nhận thấy sự giúp đỡ đơn thuần bằng vật chất đã không đem lại kết quả như mong muốn Việc sử dụng các cuộc thăm hỏi thân thiện, tiếp cận trực tiếp và trao đổi trò chuyện nhằm tìm hiểu nhu cầu, hoàn

Trang 8

rộ của ngành hướng dẫn tư vấn nghề [15, tr.48]

Những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỉ XX, Tham vấn phát triển mạnh mẽ Bên cạnh ba hướng tiếp cận chính là tiếp cận phân tâm học (Freud), tiếp cận trực tiếp (Williamson) và tiếp cận thân chủ trọng tâm (Rogers), thời

kỳ này có thêm sự ra đời của vô số các cách tiếp cận mới như của Albert Ellis (1957) về phép trị liệu hành vi cảm xúc (Rational Emotive Therapy) giới thiệu cách thức trợ giúp đối tượng xóa bỏ những niềm tin phi lý, hành vi tiêu cực; Frederick Perls với phép trị liệu Gestalt (Gestalt Therapy – 1969) tập trung vào kinh nghiệm hiện tại và việc nâng cao nhận thức của đối tượng Các hướng tiếp cận tham vấn này đã giúp ích cho sự phát triển rực rỡ của ngành tham vấn trong giai đoạn đó

Vào nửa giữa thế kỷ XX, ảnh hưởng của sự phát triển của các khoa học

xã hội khác nhau như xã hội học đã khiến cho người ta xem xét con người trong bối cảnh xã hội và với sự ảnh hưởng của nó Do vậy những hướng nghiên cứu trong tham vấn cũng được thay đổi Khi này các nghiên cứu trong tham vấn đã quan tâm nhiều hơn tới việc trợ giúp cá nhân trong bối cảnh của

Trang 9

4

nhóm xã hội Cũng từ đây các lý thuyết tiếp cận trong tham vấn gia đình và tham vấn nhóm ra đời Các mô hình can thiệp cấu trúc gia đình, mô hình học tập xã hội, mô hình can thiệp tập trung vào giải pháp, mô hình can thiệp hệ thống gia đình hay cách tiếp cận năng động tâm lý và giao tiếp trong gia đình lần lượt được ra đời (C Kilpatrick & Thomas P Holland, 1993; Ackerman và Satir, M Bowen, 1959) [15, tr.51]

Tóm lại, hoạt động tham vấn mang tính chuyên nghiệp trên thế giới đã phát triển và được ứng dụng phổ biển nhằm đáp ứng nhu cầu về bảo vệ sức khỏe tâm thần và nâng cao chất lượng cuộc sống của các cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội

Ở Việt Nam hiện nay, tham vấn tâm lý đang là một ngành khoa học tương đối mới và chưa có nhiều nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao Hoạt động tham vấn tâm lý thường được tích hợp vào trong các vai trò của các bác

sĩ, nhất là những bác sĩ tâm thần và bác sĩ nhi khoa Nhìn từ lịch sử ngành Công tác xã hội, trước năm 1945 tại một số bệnh viện ở phía Bắc như Bệnh viện Bạch Mai đã có mặt của một số cán sự xã hội và họ sử dụng kỹ năng công tác xã hội trong đó có tham vấn vào quá trình trợ giúp bệnh nhân chữa trị tại bệnh viện Ở phía Nam, trước những năm 1975, cùng với hoạt động công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp thì hoạt động tham vấn cho cá nhân, gia đình tại cộng đồng cũng đã được triển khai Nội dung đào tạo tham vấn cũng được đề cập tới trong chương trình đào tạo cán sự xã hội phía Nam vào thời gian này Các hoạt động công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp trong đó có tham vấn dường như chững lại sau năm 1975 Đến cuối những năm 80 và đầu 90 của thế kỷ XX, công tác xã hội chuyên nghiệp được phát triển trở lại [15, tr.53]

Các hình thức tư vấn/tham vấn tâm lý trên đài, điện thoại và báo chí cũng được áp dụng ở nước ta trong nhiều năm qua Các chuyên mục như chị Thanh Tâm, chị Hạnh Dung trong các báo Phụ nữ; Cửa sổ tình yêu trên Đài Tiếng nói Việt Nam; tư vấn qua điện thoại như Đường dây nóng 1088, đường dây nóng bảo vệ trẻ em 111 … cũng đã đem lại những thông tin, câu trả lời

Trang 10

5

chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất định Đặc biệt với nhu cầu bức xúc về tư vấn tâm lý, kiến thức, kỹ năng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, có khá nhiều trung tâm đã được thành lập và đi vào hoạt động như Trung tâm Tư vấn tâm lý, Trung tâm Giáo dục tình yêu hôn nhân – gia đình, Trung tâm Tư vấn Phụ nữ - Trẻ em và Gia đình của Hội phụ nữ quản lý ở các địa phương, tỉnh/thành trong cả nước

Có thể nói, các hình thức dịch vụ xã hội trên đã nhanh chóng đáp ứng phần nào nhu cầu cần thiết về tham vấn tâm lý, tham vấn kiến thức và kỹ năng, góp phần giải quyết các vấn đề tâm lý, mối quan hệ xã hội của cá nhân, gia đình cũng như nhiều đối tượng khác trong xã hội

Nói tóm lại, nhu cầu tham vấn ngày một tăng và nhận được nhiều sự quan tâm ủng hộ Tuy nhiên, cũng cần phát triển hoạt động này theo hướng bài bản, chuyên môn, chuyên nghiệp, góp phần đáp ứng nhu cầu của một bộ phận trong xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho cá nhân, gia đình

và cộng đồng

2.2 Một số nghiên cứu về vai trò của cha mẹ trong giáo dục con

Trên thế giới đã có nhiều công trình, bài viết, nghiên cứu về vai trò của cha mẹ trong giáo dục con:

Trong các công trình "Giáo dục trong gia đình Mác" của Petrecnhicova (1977); "Giáo dục các con trong gia đình" của Ambacdian (1977); "Nói chuyện về giáo dục gia đình" của A.Macarenco (1978)… khẳng định việc

giáo dục con cái trong gia đình phải được bắt đầu ngay từ thời thơ ấu Nếu công tác giáo dục gia đình không được thực hiện sớm, việc “cải tạo” sẽ tốn hơn rất nhiều công sức không chỉ của gia đình, mà cả xã hội phải quan tâm

Trong "Dạy con yêu lao động" (1980) của I.A-Pesecnicova đã khẳng

định: Muốn cho con cái của chúng ta lớn lên được mạnh khỏe, vui tươi, yêu đời và cống hiến được nhiều cho xã hội, thì lúc còn nhỏ phải được giáo dục về lao động (lao động học tập, lao động gia đình và lao động xã hội ) bởi phẩm chất đạo đức hình thành ở trẻ em, trước hết là trong quá trình lao động

Với xã hội phương Tây các nghiên cứu về gia đình với các quan điểm

Trang 11

6

như "Thuyết đạo đức tương đối", "Hôn nhân không con", "Cha mẹ công nghiệp", "Gia đình thoáng qua" lưu hành khá phổ biến, trong đó tiêu biểu

có quan điểm của Alvin Toffler trong cuốn "Làn sóng thứ ba", đã khái quát:

Đại gia đình gia trưởng là hình thức gia đình của nền văn minh nông nghiệp, gia đình một vợ một chồng với một đến hai con là hình thức của gia đình văn minh công nghiệp, còn nền văn minh hậu công nghiệp sẽ có nhiều hình thức gia đình Alvin Toffler và những người theo lí thuyết ấy cho rằng, mọi giá trị

đã có là chủ quan, cá nhân có quyền lựa chọn bình đẳng, trong nền văn minh thứ ba sẽ không có một hình thức gia đình nào giữ yếu tố chủ đạo, mà sẽ bao gồm nhiều hình thức: gia đình đa phụ mẫu, gia đình đoàn thể, gia đình có 2 đàn ông hoặc 2 phụ nữ (gia đình đồng tính) [1]

Với một số nghiên cứu nêu trên, cho thấy tầm quan trọng của công tác giáo dục gia đình trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách của trẻ Các nghiên cứu đề cập một cách chung chung, mà không phân chia theo từng giai đoạn của trẻ em để nghiên cứu, phân tích; đưa ra những khó khăn của cha mẹ gặp phải trong quá trình giáo dục trẻ ở những độ tuổi khác nhau; để từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ, tham vấn cho cha mẹ nhằm tháo gỡ những khó khăn này

Tại Việt Nam, một số công trình tiêu biểu được phân chia thành 2 nhóm:

Nhóm thứ nhất, về vai trò của các thành viên trong gia đình với giáo dục con cái với các công trình như “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay” (2000) của tác giả Nghiêm Sĩ Liêm; “Gia đình Việt Nam và phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Đỗ Thị Bình… chủ yếu tập trung nghiên cứu về vai trò của

từng thành viên, ưu điểm nổi trội của họ đối với việc giáo dục thế hệ trẻ, chứ chưa đi sâu nghiên cứu vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ

Nhóm thứ hai, về gia đình và vai trò của gia đình với các công trình như:

- “Khoa học giáo dục con em trong gia đình” của Ủy ban Thiếu niên

nhi đồng Trung ương (1979) giới thiệu một số quan điểm về giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh vai trò, đặc điểm của giáo dục gia đình, cung cấp

Trang 12

7

những cơ sở lí luận, những nội dung và yêu cầu của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ

- “Dạy con nên người” của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1991)

cung cấp cho các bậc cha mẹ những hiểu biết cần thiết về gia đình, về trách nhiệm làm cha, làm mẹ trong việc giáo dục con cái nên người, trên những mặt

cơ bản của nội dung giáo dục: Đức, trí, thể, mỹ và lao động, mà các thế hệ làm cha mẹ luôn luôn hướng tới

- Công trình “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình” của Trung tâm

nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ (1994) nghiên cứu về gia đình Việt Nam và việc thực hiện các chức năng của gia đình, một số vấn đề chủ yếu trong nghiên cứu gia đình Việt Nam Những vấn đề lý luận, phương pháp luận của việc thực hiện các chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay, những vấn đề kiến nghị về chính sách đối với vai trò của giáo dục gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam…

- “Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam”, (1996) do giáo sư Lê Thi làm chủ biên đề cập đến vai trò của gia đình

trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trong những năm cuối thế kỷ XX đang đem đến những tiến bộ vượt bậc cho cuộc sống của cá nhân, gia đình, xã hội cả về vật chất và tinh thần Bên cạnh những tiến bộ vượt bậc do con người tạo ra, thì hàng loạt những sai lầm, thiếu hụt, những hành động dã man, điên cuồng, những tệ nạn xấu xa, nguy hiểm đang tồn tại trên khắp thế giới cũng lại do con người gây ra Hậu quả đó đang làm cho hàng triệu gia đình tan tác, chia ly, cùng khổ Tác giả khẳng định, sự phát triển ổn định của xã hội không thể tách rời sự phát triển của con người và vai trò của gia đình trong việc bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng nhân cách con người…

Tuy nhiên, hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu tập trung đi sâu vào phân tích thực trạng, những khó khăn của cha mẹ việc giáo dục con tuổi 11 - 14 - giai đoạn trẻ cần sự quan tâm và định hướng từ gia đình và cha mẹ cần được cung cấp kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm trong quá trình giáo dục trẻ, để cha

mẹ có thể làm bạn, đồng hành cùng trẻ ở giai đoạn này nói chung và đối với

Trang 13

8

các gia đình ở miền núi nói riêng Từ đó, việc nghiên cứu về vấn đề tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục con tại một huyện miền núi như Vị Xuyên (thuộc tỉnh Hà Giang) là rất cần thiết và đóng vai trò quan trọng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng và hiệu quả các hoạt động có liên quan đến tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang; Từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em (tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi, nội dung tham vấn, kỹ năng tham vấn); các văn bản quy định của Nhà nước Việt Nam về công tác giáo dục gia đình

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng về giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi và hoạt động tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

- Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả các hoạt động tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi của chính quyền địa phương, các đoàn thể trong đó có Hội phụ nữ tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác giáo dục gia đình nói chung và tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi nói riêng tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang và nhân viên công tác xã hội làm việc với cha mẹ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại

huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

Trang 14

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu, văn bản tài liệu

Phân tích, tổng hợp, hệ thống các tài liệu sẵn có từ nguồn tài liệu chính thức, từ các công trình nghiên cứu của các tác giả trước đây, từ báo cáo của địa phương, Hội phụ nữ…

Tham khảo, sử dụng số liệu từ báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá nhận thức và thực trạng giáo dục gia đình của Ban Gia đình – Xã hội thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tháng 11 năm 2017

5.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Khảo sát 134 bảng hỏi với cha mẹ tại 2 xã Đạo Đức và thị trấn Vị Xuyên, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Cuộc khảo sát này do ban Gia đình –

Xã hội thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành tháng 11 năm 2017 tại

4 tỉnh Hà Giang, Quảng Bình, Đắc Lắc, Tiền Giang Trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ sử dụng số liệu nghiên cứu tại Hà Giang Tác giả luận văn là một thành viên tham gia và được phép sử dụng số liệu thu được từ khảo sát để phân tích Những phân tích trong luận văn là kết quả riêng của tác giả luận

văn Đặc điểm của mẫu khảo sát được trình bày ở chương 2

5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

08 phỏng vấn sâu (04 cha và mẹ có con từ 11 tuổi đến 14 tuổi; 02 trẻ

em từ 11 tuổi đến 14 tuổi; 02 cán bộ địa phương)

Trang 15

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài luận văn có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục

trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi

Chương 2: Thực trạng về tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ

11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

Trang 16

11

Chương 1 NHỮN VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM VẤN CHO CHA MẸ TRON

IÁO DỤC TRẺ EM TỪ 11 TUỔI ĐẾN 14 TUỔI 1.1 Các khái niệm chính

1.1.1 Khái niệm về gia đình

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (sửa đổi năm 2014), gia đình được định nghĩa là “tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” (Điều 3 Giải thích từ ngữ) Như vậy, khái niệm gia đình trong Luật pháp của Việt Nam quy định gia đình bao gồm ba hình thức: quan hệ do hôn nhân, ví dụ như vợ chồng, quan hệ huyết thống giữa ông bà, cha mẹ và con cái cùng huyết thống và cả quan hệ nuôi dưỡng, ví dụ như con nuôi hay bố mẹ nuôi

Tác giả Mai Huy Bích đưa ra một khái niệm tổng quát về gia đình như sau: “Gia đình là khái niệm được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân (quan hệ tính giao và quan hệ tình cảm) và quan

hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha, mẹ, con cái, ông, bà, họ hàng nội ngoại)” Gia đình có thể hiểu như một đơn vị xã hội vi mô, nó chịu sự chi phối của xã hội, song có tính ổn định, độc lập tương đối Nó có quy luật phát triển riêng với tư cách một thiết chế xã hội đặc thù Những thành viên gia đình được gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi kinh tế, văn hóa, tình cảm một cách hợp pháp, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ

Như vậy, khái niệm về gia đình được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau Những khái niệm này đều chứa đựng những điểm tương đồng về quan hệ hôn nhân, huyết thống Tuy nhiên, gia đình cần được hiểu mang tính bao quát không chỉ ở quan hệ hôn nhân, huyết thống mà cả quan hệ nuôi dưỡng

Trang 17

đó quy định tuổi thành niên sớm hơn

Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam (2004): trẻ

em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi; người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi

Theo Điều 1, Luật Trẻ em năm 2016 quy định: Trẻ em là người dưới 16 tuổi Khái niệm nêu trong Luật Trẻ em 2016 được áp dụng trong luận văn này

1.1.2.2 Phân chia giai đoạn phát triển của trẻ

Erik Erikson – nhà tâm lý học phân tâm, đánh giá cao vai trò của tác nhân

xã hội với sự phát triển tâm lý của con người Ông chia đời người thành 8 giai đoạn Trẻ em có 4 giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ 0 – 1 tuổi), Giai đoạn 2 (từ hơn 1 – 3 tuổi), Giai đoạn 3 (từ 3 – 6 tuổi), Giai đoạn 4 (từ 6 – 12 tuổi), Giai đoạn 5: Vị thành niên (từ 13-18 tuổi)…

Theo Tổ chức Y tế thế giới, lứa tuổi vị thành niên nằm trong khoảng từ 10 đến

19 tuổi, được chia thành ba thời kỳ phát triển: Vị thành niên sớm (từ 10 đến 13 tuổi);

Vị thành niên giữa (từ 14 đến 16 tuổi); Vị thành niên muộn (từ 17 đến 19 tuổi)

Ngoài ra, người ta còn phân loại hai lớp người dựa theo tuổi là: Người trẻ tuổi (từ 10 đến 14 tuổi); Thanh niên (từ 15 đến 24 tuổi)

Tuy nhiên sự lớn lên và trưởng thành ở mỗi cá thể có thể diễn ra với mức

độ khác nhau: Có em tuy ở tuổi 15 (lứa tuổi vị thành niên giữa) nhưng cơ thể đã phát triển và có những hành vi ứng xử như những em ở lứa tuổi vị thành niên muộn (17 – 19 tuổi); ngược lại, có những em tuy ở tuổi đó nhưng vẫn chỉ có hành

vi ứng xử như các em ở tuổi vị thành niên sớm Điều này phụ thuộc vào các yếu tố sinh học (di truyền), tâm lý, các hoàn cảnh xã hội và văn hóa của từng dân tộc, từng vùng miền… Do đó, sự phân chia giai đoạn phát triển của trẻ chỉ có tính chất tương đối

Trang 18

1.1.2.3 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ giai đoạn từ 11 tuổi đến 14 tuổi

Về mặt sinh lý, trẻ ở giai đoạn này có nhiều sự biến đổi như sự tăng về chiều cao, sự phát triển của các cơ quan sinh sản… khiến ngoại hình các em có những thay đổi Các hoóc môn tạo nên chiều cao và những biến đổi cơ thể một phần đã được hình thành ngay từ giai đoạn phôi thai Nhưng chúng được sản sinh mạnh mẽ vào khoảng 10 – 11 tuổi đối với nữ và 12 – 13 tuổi đối với nam tạo sự phát triển bùng phát về chiều cao và thể lực, kèm theo sự thay đổi về tỉ lệ của cơ thể Tuyến nội tiết dưới da hoạt động mạnh mẽ dẫn đến việc xuất hiện mụn trứng cá trên mặt, tuyến mồ hôi cũng làm việc tích cực và tạo ra thứ mùi đặc trưng của cơ thể

Về mặt tâm lý, tình cảm các em bắt đầu có tư duy trừu tượng, ý thức được mình không còn là “trẻ con” nữa, muốn được người lớn tôn trọng và bắt đầu có những hành động muốn thử sức mình để khám phá những điều mới lạ nhằm khẳng định mình đã lớn Các em thường quan tâm đến những thay đổi của cơ thể khi so sánh với các bạn cùng lứa (đặc biệt là các em gái), dễ băn khoăn, lo lắng, buồn rầu

về những nhược điểm trên cơ thể mình Ở lứa tuổi này, các em bắt đầu phát triển tư duy trừu tượng một cách rõ rệt Thích khám phá, tò mò, thử nghiệm những hành vi liên quan đến tính dục (tính cách thể hiện sự khác biệt giữa nam và nữ)

Các em cũng bắt đầu quan tâm đến bè bạn, đặc biệt là bạn khác giới, muốn tách khỏi sự bảo hộ của bố mẹ, gia đình Trẻ cũng không còn tâm sự với cha mẹ nhiều như khi còn nhỏ Tuy nhiên, các em còn quá trẻ, vẫn phải phụ thuộc vào người lớn

Đôi lúc, trẻ thất vọng, ấm ức vì cha mẹ chưa nhận thấy mình đã lớn Điều này khiến trẻ dễ bị những rối loạn liên quan đến cảm xúc và hành vi với những biểu hiện thích chống đối như: không thích vâng lời cha mẹ, hay lý sự, làm theo

Trang 19

14

ý mình, trốn học, bỏ nhà, hung bạo, muốn khẳng định tính độc lập… Đây là thời

kỳ cha mẹ phải luôn quan tâm, gần gũi với con Nếu cha mẹ ít gần gũi, thiếu giáo dục với con trẻ thì ngay những trẻ rất ngoan cũng dễ trở nên hư hỏng hoặc gặp bất trắc Tuy nhiên, không phải lúc nào sự thay đổi này của trẻ cũng nhận được sự thấu hiểu và nắm bắt kịp thời từ phía gia đình, cha mẹ và người lớn Điều này làm cho các bậc cha mẹ gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận để tìm hiểu, giáo dục con trẻ

Trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi là giai đoạn trẻ phát triển mạnh về cơ thể, thay đổi tâm lý của bản thân như tâm lý thích phô trương, muốn khẳng định bản thân, dễ bị lôi kéo, dụ dỗ… dẫn đến những hành vi sai lệch trong các mối quan

hệ xã hội Vì vậy, trẻ ở giai đoạn này rất cần sự chỉ bảo, hỗ trợ, động viên, tình yêu thương của cha mẹ và những người thân thiết Cha mẹ cần có cách ứng xử phù hợp để giúp trẻ phát triển và vượt qua những khó khăn của giai đoạn này

1.1.3 Giáo dục gia đình và giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi

1.1.3.1 Giáo dục gia đình

Về mặt giải thích thuật ngữ, được hiểu chung là toàn bộ những tác động của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người, trước hết của lớp trẻ Trẻ không thể có sự hình thành và phát triển nhân cách một cách đầy

đủ và bền vững nếu không có một môi trường giáo dục gia đình thuận lợi

Đó là một dạng giáo dục đặc biệt của xã hội loài người Với mỗi cá nhân, quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách được xây dựng trên cơ sở tiếp nhận kiến thức từ 3 hệ thống giáo dục: Gia đình – Nhà trường – Xã hội Trong đó, giáo dục gia đình là môi trường đầu tiên, có tính quyết định trong việc hình thành nên tính cách của một đứa trẻ - một con người Môi trường giáo dục nhà trường và xã hội là các nhân tố quan trọng giúp định hình và hoàn thiện nhân cách

đã có được từ giáo dục gia đình Giáo dục gia đình còn bao hàm cả tự giáo dục

Giáo dục gia đình được thực hiện thông qua cách thức tổ chức đời sống gia đình, quá trình chăm sóc trẻ, tổ chức các hoạt động của trẻ và cơ bản là dựa trên nền tảng của sự gương mẫu, sự nêu gương của các bậc ông bà, cha, mẹ

1.1.3.2 Giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi

Trang 20

Trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi là giai đoạn cơ thể trẻ có những thay đổi sâu sắc, mạnh mẽ cả về thể chất và tâm lý Những thay đổi về thể chất có ảnh hưởng nhiều đến thay đổi tâm lý và hành vi của trẻ Vì vậy, giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi là trách nhiệm của cha mẹ và các thành viên trong gia đình Cha mẹ cần quan tâm, yêu thương, đồng hành cùng con giúp con có những định hướng trong học tập và nghề nghiệp tương lai của trẻ

1.1.4 Khái niệm Tham vấn và tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ

Tác giả Trần Thị Minh Đức nhấn mạnh vai trò của thái độ đạo đức nghề nghiệp, của kỹ năng chia sẻ giúp thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế, tự tìm kiếm tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của mình [15, tr.6]

Bản chất của tham vấn không phải là cho lời khuyên mà là hoạt động nâng cao năng lực Nó không chỉ giúp thân chủ có khả năng giải quyết được vấn đề gặp phải trong cuộc sống mà còn giúp họ phát triển khả năng đó

Một ý nghĩa khá quan trọng khác của hoạt động tham vấn, đó là tham vấn không chỉ dừng lại ở mục đích giải quyết vấn đề mà còn hướng tới việc

Trang 21

16

giúp cá nhân tăng cường kỹ năng sống, biết cách nhìn nhận vấn đề, tự tin vào chính mình Bằng những kỹ thuật chuyên môn, nhà tham vấn giúp thân chủ khơi dậy tiềm năng và sức mạnh nội tại Đây cũng là cơ sở để cá nhân, gia đình không chỉ tăng cường khả năng giải quyết những vấn đề đang phải đối mặt mà còn tăng cường khả năng thích nghi, đối phó với những vấn đề có thể xảy ra trong cuộc sống của họ

Như vậy, dù tiếp cận tham vấn theo những cách khác nhau, các nhà chuyên môn đều đề cập tới một số đặc trưng sau của tham vấn, đó là:

đề của chính mình

1.1.4.2 Tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi

Là quá trình trợ giúp do chính nhân viên công tác xã hội tiến hành, vận dụng kiến thức công tác xã hội tương tác với cha mẹ, kết nối họ với những nguồn lực sẵn có tại địa phương (như các hoạt động truyền thông nâng cao kiến thức làm cha mẹ; các mô hình tổ/nhóm/câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc, các trung tâm tham vấn về hôn nhân và gia đình…) Qua đó, giúp cha mẹ tăng cường hiểu biết, kiến thức trong giáo dục con, đặc biệt giai đoạn 11 – 14 tuổi, tự nhận thức được vấn đề của chính họ, từ đó cha mẹ có thể thay đổi cảm xúc, suy

Trang 22

Thực tế cho thấy một trong những khó khăn của các gia đình là liên quan tới khả năng tiếp cận nguồn lực Do vậy, nhân viên xã hội cần chuẩn bị kiến thức

về hệ thống nguồn lực từ bên ngoài để có thể cung cấp và kết nối gia đình tiếp cận được với các dịch vụ phù hợp Các nguồn lực bên ngoài gia đình có thể có ở cộng đồng như từ các nhóm, tổ chức đoàn thể (hội phụ nữ); cũng có thể từ các

cơ quan xã hội hoặc từ xã hội như các chương trình, chính sách của nhà nước hay tại địa phương hiện có trong địa bàn nơi gia đình sinh sống

Khi đề cập đến vai trò giáo dục, nhân viên xã hội thực hiện việc cung cấp thông tin, kiến thức cho đối tượng nhằm tăng cường năng lực, nâng cao trình độ

và thay đổi nhận thức của gia đình Vai trò giáo dục có thể thực hiện với bất cứ

cá nhân nào trong gia đình khi nhận thấy việc cung cấp kiến thức là cần thiết với

họ Có thể thực hiện hoạt động giáo dục này bằng tác động trực tiếp vào cá nhân, cũng có thể thực hiện tập trung vào cả gia đình

1.1.4.3 Nội dung tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi

- Tham vấn, phổ biến kiến thức tổ chức cuộc sống gia đình, chăm sóc giáo dục con ở độ tuổi từ 11 đến 14 tuổi cho cha mẹ thông qua các hình thức sinh hoạt chi/tổ/nhóm; cập nhật kiến thức từ các phương tiện thông tin đại chúng (tivi, báo, đài) và tài liệu truyền thông (sách, tranh ảnh, tờ rơi ) Tham vấn cho cha

mẹ cần tập trung một số nội dung liên quan đến giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến

14 tuổi như đặc điểm tâm sinh lý nổi bật ở lứa tuổi này, kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản, những vướng mắc của trẻ trong mối quan hệ với gia đình (ông

bà, cha mẹ), với nhà trường (bạn bè, thầy cô) và với cộng đồng, xã hội

Trang 23

18

- Tham vấn thông qua giao lưu, biểu dương gia đình gương mẫu, hạnh phúc, nuôi dạy con tốt (như Hội nghị biểu dương gương điển hình; Hội thi, cuộc thi tìm hiểu kiến thức về giáo dục con trong giai đoạn trẻ từ 11 đến 14 tuổi) Đây là nội dung mang tính thực tiễn cao, từ những con người thật, tình huống cụ thể, cha mẹ có thể tham khảo, cập nhật thêm thông tin cho bản thân

và vận dụng phù hợp trong hoàn cảnh của gia đình mình để nâng cao kiến thức, kỹ năng, phương pháp giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi

- Tham vấn cho phụ nữ vay vốn phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống hàng ngày, xây dựng gia đình hạnh phúc Khi gia đình có nền tảng về kinh tế,

ổn định trong công việc, cha mẹ sẽ dành thời gian quan tâm, chăm sóc, giáo dục con tốt hơn, đặc biệt là người phụ nữ, người mẹ trong gia đình Vì vậy, chính quyền địa phương, các đoàn thể đặc biệt là Hội phụ nữ là cầu nối, tạo điều kiện cho chị em được tham gia các hoạt động vay vốn, đào tạo nghề, tạo nguồn lực kinh tế giúp ổn định sản xuất, kinh doanh, góp phần công tác xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững

1.1.4.4 Kỹ năng tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi

Kỹ năng tham vấn được xây dựng trên cơ sở nền tảng tri thức, kinh nghiệm, giá trị nghề nghiệp của nhân viên công tác xã hội Đó là những hiểu biết về: mục đích của tham vấn; hành vi con người trong môi trường văn hóa, xã hội; thái độ nghề nghiệp ra ngoài bằng hành vi và thái độ cụ thể trong quan hệ tương tác tích cực của nhân viên công tác xã hội nhằm khích lệ cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tự nhận thức, tham gia tích cực vào quá trình tìm hiểu, khám phá các giải pháp để tự quyết định, giải quyết vấn đề của bản thân

Trong quá trình làm việc, trợ giúp cha mẹ, nhân viên công tác xã hội sử dụng một số kỹ năng cơ bản trong tham vấn cho cha mẹ như:

- Kỹ năng lắng nghe và quan sát

- Kỹ năng hỏi

- Kỹ năng thấu hiểu

- Kỹ năng giúp thân chủ trực diện với vấn đề

Trang 24

19

- Kỹ năng cung cấp thông tin

- Kỹ năng giao nhiệm vụ

- Kỹ năng điều phối sự tham gia của cha mẹ trong buổi tham vấn

- Kỹ năng làm việc với những thành viên gia đình tỏ ra không hợp tác

1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục gia đình

Nghị quyết của các kỳ Ðại hội Ðảng đều nhấn mạnh sự quan tâm đến gia đình, từ Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần thứ VII xác định gia đình với tư cách là "tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách", đến Ðại hội Ðảng lần thứ XII nêu rõ: "Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh",

"tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc" Như vậy, gia đình có một vai trò rất quan trọng đối với việc xây dựng mỗi người Việt Nam cũng như nguồn nhân lực cho xã hội mới

Thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Ðảng, nhiều bộ luật đề cập đến gia đình với vị trí, vai trò rất quan trọng như Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân

và Gia đình; Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Trẻ em; Luật Người cao tuổi Cụ thể tại Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Cha

mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con (khoản 1, điều 72)

Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21/2/2005 về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhấn mạnh: Công tác giáo dục trước và sau hôn nhân, việc cung cấp các kiến thức làm cha mẹ, các kỹ năng ứng xử của các thành viên trong gia đình chưa được coi trọng Nhiều gia đình do quá tập trung làm kinh tế đã xem nhẹ việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ các thành viên, đặc biệt là trẻ em và người cao tuổi Chỉ thị xác định rõ một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm là: “Tăng cường công tác giáo dục đời sống gia đình Cung cấp tới từng gia đình các kiến thức, kỹ năng sống như: kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng ứng xử giữa các thành viên

Trang 25

20

trong gia đình với nhau và với cộng đồng Giáo dục và vận động mọi gia đình tự nguyện, tự giác, tích cực thực hiện nếp sống văn mình Vận động các gia đình tích cực xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước, quy chế dân chủ cơ sở; phát triển các hình thức tổ hòa giải, các câu lạc bộ gia đình tại cộng đồng; giữ gìn và phát huy văn hóa gia đình và truyền thống tốt đẹp của dòng họ; xây dựng tình làng nghĩa xóm, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, nhắc nhở, động viên nhau thực hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Trong giáo dục, phải thừa kế và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam gắn với xây dựng những giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển”

Chính phủ ban hành quyết định số 629/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 phê duyệt chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 có

đề cập đến một trong các giải pháp chủ yếu là xây dựng mạng lưới cung cấp dịch

vụ gia đình phù hợp với thực tế từng vùng, địa phương và nhu cầu thực tế của các nhóm đối tượng Chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng các dịch vụ tạo điều kiện, giúp cho các gia đình tiếp cận, tham gia vào các hoạt động lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện bình đẳng giới trong gia đình, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, góp phần nâng cao hiệu quả lao động, sản xuất, xây dựng gia đình ngày càng no ấm, tiến bộ, hạnh phúc

Quyết định số 279/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/2/2014 phê duyệt Đề án phát huy giá trị tốt đẹp các mối quan hệ trong gia đình và hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững đến năm 2020 đề ra mục tiêu cụ thể về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái: “…phấn đấu có 95% hộ gia đình dành thời gian chăm sóc, nuôi dạy trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tinh thần Hằng năm, trung bình giảm từ 10 – 15%

hộ gia đình có bạo lực với trẻ em” Chú trọng, quan tâm đến xây dựng Góc tư vấn về giáo dục đời sống gia đình, giáo dục trước hôn nhân, tư vấn tiền hôn nhân nhằm cung cấp nội dung giáo dục đời sống gia đình, hôn nhân và gia đình; xây dựng trang thông tin điện tử (website) về giáo dục đời sống gia đình, giáo dục trước hôn nhân, tư vấn tiền hôn nhân; triển khai thí điểm mô hình xây dựng gia đình hạnh phúc và phát triển bền vững, đặc biệt chú trọng việc đưa nội dung giáo

Trang 26

21

dục kỹ năng làm cha mẹ, phát triển kinh tế gia đình và bảo tồn các giá trị văn hóa gia đình vào nội dung hoạt động của mô hình (Dự án 3: Hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững)

Chương trình giáo dục đời sống gia đình đến năm 2020 được phê duyệt theo quyết định số 1028/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08/06/2016 xác định: Giáo dục đời sống gia đình nhằm cung cấp cho các thành viên trong gia đình những kiến thức chung về đời sống gia đình; những điều cần thiết chuẩn

bị cho hôn nhân và gia đình; giáo dục đời sống gia đình đối với gia đình trẻ, gia đình tuổi trung niên, gia đình người cao tuổi Một trong các hoạt động chính của chương trình là tổ chức thí điểm việc cung cấp nội dung giáo dục đời sống gia đình ở một số địa phương đại diện cho các vùng, miền trong phạm vi toàn quốc

để nhân rộng chương trình sau năm 2020

Ngày 29 tháng 3 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg về đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình, yêu cầu các

Bộ, ngành, địa phương, đề nghị Ban Tuyên giáo Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tăng cường công tác chỉ đạo, đẩy mạnh các giải pháp tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình, xây dựng các chương trình chuyển đổi hành vi về xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh

Có thể thấy, trong suốt những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục gia đình Gia đình là một trong những nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính vì vậy, công tác giáo dục đời sống gia đình được chú trọng thông qua việc cung cấp kiến thức, kỹ năng cho các thành viên trong gia đình (như kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng ứng xử giữa cha mẹ với con cái…); phát triển đa dạng các mô hình giáo dục gia đình (như các câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc, trung tâm tư vấn tiền hôn nhân và hỗ trợ gia đình…) Giáo dục gia đình vì thế sẽ là nền tảng cơ bản cho việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ Muốn làm tốt điều này thì cần tập trung hỗ trợ, tham

Trang 27

Lý thuyết nhận thức – hành vi tập trung vào các trị liệu nhằm hướng đến

sự thay đổi trong hành vi Thuyết không thực sự quan tâm đến tiến trình thay đổi diễn ra trong tâm trí con người khi họ thay đổi hành vi Để diễn giải điều này, Sheldon (1995) đã coi lý thuyết nhận thức – hành vi giống như sự tách biệt giữa tâm trí và hành động Bên cạnh đó, lý thuyết học tập đã mở rộng quan niệm này bằng cách lập luận rằng: hầu hết quá trình học tập đều được thực hiện nhờ

có suy nghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì mà họ đã trải nghiệm Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và lặp lại những cách ứng xử của người khác trong hoàn cảnh tương tự Vậy nên việc chú trọng vào quá trình này

sẽ có thể góp phần tích cực cho việc hỗ trợ đối tượng có hành vi phù hợp hơn

Từ đó nhận thấy rằng, con người hoàn toàn có khả năng học tập các hành

vi mới để thỏa mãn các nhu cầu trong quá trình phát triển của cá nhân, hoặc để thay thế các hành vi đang có mà không còn phù hợp Nói cách khác, con người

có thể học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều đó sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức

Dựa trên cách tiếp cận thuyết nhận thức – hành vi, nhân viên công tác xã hội có thể tìm kiếm, kết nối nguồn lực để cha mẹ có cơ hội được cập nhật, học hỏi các kiến thức mới, chia sẻ kinh nghiệm, phương pháp giáo dục con hiệu quả cùng cha mẹ khác trên địa bàn sinh sống trong các mô hình tại địa phương Qua

đó giúp cha mẹ củng cố kiến thức đã có, học tập các kiến thức mới, tháo gỡ được

Trang 28

cứu và phát triển như Hanson (1995), Mancoske (1981), Siporin (1980)

Đây là một lý thuyết sinh học cho rằng, mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Do đó, con người là một bộ phận của xã hội, đồng thời cũng được tạo nên từ các phần tử nhỏ hơn Từ lĩnh vực sinh học, các nguyên tắc của lý thuyết này được chuyển sang việc giải quyết những vấn đề của các chuyên ngành khác, trong đó có các ngành thuộc khoa học xã hội, nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với con người

Pincus và Minaham (1970) đã đưa ra một cách ứng dụng thuyết hệ thống vào công tác xã hội Ông chia các tổ chức hỗ trợ con người trong xã hội thành ba loại hệ thống:

- Hệ thống không chính thức hay còn gọi là hệ thống tự nhiên (ví dụ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp)

- Hệ thống chính thức (Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ)

- Hệ thống xã hội (nhà trường, bệnh viện…)

Vì vậy, nhiệm vụ của nhân viên xã hội là tìm ra những mâu thuẫn trong việc kết nối giữa những người có nhu cầu và các hệ thống trợ giúp nói trên Nhân viên xã hội cũng cần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa vấn đề cá nhân và vấn đề cộng đồng:

1 Tên gọi: Lý thuyết những hệ thống Chung – General Systems Theory, 1968, bắt nguồn từ Ross Ashby (Giới thiệu tới Điều khiển học, 1956)

Trang 29

- Giúp phát triển và thay đổi chính sách xã hội một cách phù hợp

- Cung cấp trợ giúp thực tế khác khi cần thiết

Như vậy thông qua thuyết hệ thống, chúng ta có thể thấy rằng cha mẹ cũng cần được đặt trong các hệ thống nêu trên để phân tích, phát huy tối đa khả năng sẵn có của cha mẹ cũng như các hệ thống tại địa phương nhằm giải quyết vấn đề khó khăn trong giáo dục trẻ từ 11 tuổi đến 14 tuổi Từ đó, cần tạo sự gắn kết giữa cha mẹ (hệ thống tự nhiên) với các đoàn thể như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên (hệ thống chính thức) cùng nhà trường (hệ thống xã hội) trong quá trình giáo dục trẻ từ 11 tuổi đến 14 tuổi tạo môi trường an toàn, lành mạnh, thân

thiện cho trẻ trong gia đình, nhà trường và cộng đồng sinh sống

Tiểu kết chương

Chương 1 đã xây dựng được những vấn đề lý luận về gia đình, trẻ em, tham vấn và tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi Trong đó, tham vấn là quá trình tương tác giữa nhà tham vấn (người có chuyên môn, kỹ năng, người có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp) và thân chủ (người có khó khăn trong cuộc sống cần được giúp đỡ) thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật, chân tình (dựa vào nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp) giúp thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm thấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình

Trang 30

về hôn nhân và gia đình…) Qua đó, giúp cha mẹ tăng cường hiểu biết, kiến thức trong giáo dục con, đặc biệt giai đoạn 11 – 14 tuổi, tự nhận thức được vấn đề của chính họ, từ đó cha mẹ có thể thay đổi cảm xúc, suy nghĩ, điều chỉnh hành vi, cải thiện cách thức giao tiếp trong gia đình để giải quyết những vấn đề khó khăn đang gặp phải trong quá trình giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi

Trong giai đoạn vừa qua, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục gia đình Giáo dục gia đình là nền tảng cơ bản cho việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ - một thế hệ tương lai của đất nước Trong công tác giáo dục gia đình, cha mẹ đóng vai trò hết sức quan trọng với sự trưởng thành và phát triển của một đứa trẻ Vì vậy, cần tập trung hỗ trợ, tham vấn cho cha mẹ giúp cha mẹ trang bị đầy đủ kiến thức, phương pháp, kỹ năng đồng hành cùng con trong quá trình phát triển và định hướng cho trẻ - tạo môi trường an toàn, lành mạnh, thân thiện cho trẻ trong gia đình – nhà trường – xã hội

Trang 31

26

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ THAM VẤN CHO CHA MẸ TRON IÁO DỤC TRẺ EM TỪ 11 TUỔI ĐẾN 14 TUỔI TẠI HU ỆN VỊ XU ÊN,

TỈNH HÀ IAN 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang là huyện miền núi biên giới phía Bắc Việt Nam, nằm bao quanh thành phố Hà Giang Huyện Vị Xuyên có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh của tỉnh Hà Giang Toàn huyện có 24 đơn vị hành chính cấp xã gồm 22 xã và 2 thị trấn Là vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời Trên địa bàn huyện có 19 dân tộc anh em sinh sống vốn có truyền thống đoàn kết, giàu lòng yêu nước, kiên cường dũng cảm trong đấu tranh, cần cù, thông minh trong lao động, trong đó người Tày chiếm khoảng 50%, người Kinh 25%, còn lại là các dân tộc Nùng, Dao, H’Mông… Huyện Vị Xuyên có tổng diện tích tự nhiên là 151.980 ha Địa hình huyện Vị Xuyên khá đa dạng và phức tạp, phần lớn là đồi núi thấp, sườn thoải xen kẽ những thung lũng tạo thành những cánh đồng rộng lớn cùng với hệ thống những sông suối, ao hồ, thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp Kinh tế

xã hội của huyện tiếp tục phát triển ổn định về mọi mặt, đời sống của người dân ngày càng được quan tâm đúng mức

Do đặc thù là một huyện miền núi, nhiều dân tộc sinh sống nên phong tục tập quán của mỗi dân tộc có khác nhau Đời sống kinh tế của người dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhận thức của dân cư đặc biệt của cha mẹ trẻ còn nhiều hạn chế Vai trò, trách nhiệm của một bộ phận gia đình trong việc nuôi dạy, quản lý, giáo dục trẻ em còn nhiều bất cập vẫn còn một số gia đình, bậc phụ huynh trong cơ chế thị trường mải mê làm kinh tế chưa thực sự quan tâm đến con cái dẫn đến tình trạng trẻ em hư, trẻ em vi phạm pháp luật hoặc vì lợi ích trước mắt để con em mình phải bươn trải lao động để kiếm sống cho gia đình

2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu

- Tổng số người tham gia khảo sát là 134 người

Trang 32

- Học vấn: Trình độ của người tham gia phỏng vấn chủ yếu là đã tốt nghiệp phổ thông trung học (PTTH) chiếm 60,7% Có 32,8% tốt nghiệp trung học cơ sở (THCS) và 6,6% tốt nghiệp tiểu học

- Cơ cấu việc làm: Chủ yếu là làm thuê/lao động tự do (chiếm 50,8%), làm nông nghiệp (chiếm 17,5%), làm lương tháng (chiếm 16,7%), kinh doanh dịch vụ (chiếm 15,1%)

- Tình trạng hôn nhân: Trong tổng số 134 người khảo sát có 124 người (chiếm 96,1%) đã kết hôn – chiếm đa số; Chỉ một phần nhỏ (0,8%) số người là chung sống không hết hôn và 3,1% là đối tượng góa/ly hôn/ly thân…

- Cơ cấu hộ gia đình và mô hình chung sống: Chủ yếu là gia đình hạt nhân -

có 2 thế hệ là bố mẹ và con cái - chiếm 43,9%, gia đình ba thế hệ là 25,8%

- Số con trong gia đình: Gia đình có 2 con chiếm số lượng nhiều nhất với

100 người (74,6%), tiếp đó là gia đình 1 con 16,4%, gia đình 3 con là 9,0%

- Điều kiện sống: Số hộ khá giả chiếm tỷ lệ nhỏ 1,5%, hộ trung bình khá

là 20,9%, hộ trung bình chiếm đa số với 68,7% Hộ cận nghèo là 6,0% và hộ nghèo chiếm 3,0%

2.2 Thực trạng về giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà iang

2.2.1 Vai trò của cha mẹ trong giáo dục gia đình

2.2.1.1 Sự phân chia trách nhiệm giữa cha và mẹ trong giáo dục gia đình

Kết quả khảo sát cho thấy cha mẹ đều nhận thức rõ về vai trò trong việc dạy con, bao gồm cả giáo dục học tập và giáo dục đạo đức Điều này được thể hiện qua khía cạnh là cha mẹ đều thống nhất quan điểm, bình đẳng trong việc lựa chọn nguyên tắc và biện pháp giáo dục con cũng như quyết định các hình thức phạt và khen thưởng - tỷ lệ hai cha mẹ cùng ra quyết định trong việc chịu trách nhiệm về kết quả học tập của con là 76,5% và chịu trách

Trang 33

28

nhiệm về tính cách, đạo đức của con là 85%

Tuy nhiên, việc chịu trách nhiệm chính các công việc liên quan đến trách nhiệm của cha/mẹ trong giáo dục gia đình được liệt kê có sự khác biệt giữa vợ và chồng

Tỷ lệ phụ nữ “phải làm chính” các công việc liên quan đến chăm sóc

và giáo dục con cái cao hơn rất nhiều so với nam giới: Chăm sóc và trông giữ con, vợ làm chính 38,6%, trong khi đó vai trò chính của chồng chỉ là 0,8%; Đôn đốc, kèm, dạy con học, vợ làm chính 33,3%, chồng là 1,5%; Hướng dẫn con các công việc gia đình, vợ làm chính 34,1%, chồng cũng chỉ

là 1,5%;Uốn nắn lời ăn tiếng nói, nề nếp cho con vẫn chủ yếu từ người vợ là 20,9%, trong khi người chồng là 3,0% Đối với vấn đề tham gia phối hợp với nhà trường trong giáo dục con, tỷ lệ cả 2 vợ và chồng cùng tham gia như nhau vào cuộc họp phụ huynh hoặc liên hệ với thầy cô là 54,1%, trong đó vợ làm chính là 42,1% còn chồng làm chính cũng chỉ là 3,8%

Bảng 2.1: Phân chia trách nhiệm chính giữa vợ và chồng trong chăm sóc,

Hướng dẫn con các công việc gia

(Nguồn: Nghiên cứu đánh giá nhận thức và thực trạng giáo dục gia đình của

Ban Gia đình – Xã hội, Hội LHPN Việt Nam )

Trang 34

29

Qua bảng trên cho thấy so với phụ nữ, nam giới chỉ “làm chính” nhiều hơn phụ nữ có duy nhất một việc là giáo dục con về truyền thống gia đình - dòng họ (vợ làm chính chỉ có 9,7% và chồng làm chính là 11,2%)

Điều đó cho thấy, trong một gia đình, nam giới rất chú trọng, quan tâm đến giáo dục con về dòng họ của mình, truyền thống gia đình giúp trẻ ghi nhớ, hiểu rõ hơn về cội nguồn, nơi mình sinh ra và lớn lên

Tóm lại, vai trò của người mẹ/người vợ trong giáo dục gia đình có ý nghĩa hết sức quan trọng Rõ ràng, không ai hơn người mẹ có thể hiểu rõ về con mình, bởi người mẹ trước hết là người trực tiếp mang nặng đẻ đau, nâng niu, nuôi dưỡng, dạy dỗ con cái trong suốt thời ấu thơ tới khi trưởng thành, người mẹ là người thầy đầu tiên của con Bằng tình thương yêu, bằng sự bao dung, bằng kinh nghiệm bản thân, người mẹ chiếm ưu thế rất lớn trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ

2.2.2.2 Vai trò của cha mẹ trong chia sẻ, gần gũi với con cái

Bên cạnh việc nuôi dạy, chăm lo về vật chất cho con cái, cha mẹ phải quan tâm, trò chuyện và là người bạn tin tưởng của con Qua khảo sát, tỷ lệ gia đình có mẹ là người đóng vai trò chính trong việc trò chuyện, tâm tình với con là 34,4%, còn người cha chỉ có 3,8% Con trai và con gái thường gần gũi

và tâm sự với mẹ (hơn 50%) cao hơn gần gấp đôi so với tâm sự với bố

“Trong gia đình, em thường gần gũi tâm sự với mẹ về chuyện học tập ở lớp và nhiều chuyện khác nữa Những vướng mắc mà em thường gặp phải trong cuộc sống hằng ngày hay đơn giản chỉ là nói về bộ phim mà hai mẹ con hay xem cũng như những vấn đề khó nói như kiến thức sinh lý cơ thể, những rắc rối trong tình bạn cùng giới, khác giới, chuyên ở lớp, ở trường thì mẹ cũng chính là người mà em có thể tâm sự Mỗi lần như vậy mẹ thường tư vấn cho em nên cư xử, xử lý thế nào cho phù hợp Qua đó, mẹ đã giải đáp những thắc mắc mà không ai có thể giúp em được ngoại trừ mẹ” (phỏng vấn sâu trẻ

em gái 13 tuổi, xã Đạo Đức)

Trang 35

30

Trong thực tế, thời gian dành cho con và chia sẻ giữa cha mẹ và con chưa đáp ứng mong đợi từ phía các em, đặc biệt là các vấn đề trẻ vị thành niên quan tâm

“Bố mẹ em bán hàng nên rất bận rộn, em mong có nhiều thời gian được trò chuyện với bố mẹ thì tốt hơn Có một số vấn đề riêng tư khó nói, khó tâm sự, em không biết hỏi ai nên em thường tự tìm hiểu, đôi lúc em chia sẻ với bạn bè thân thiết” (phỏng vấn sâu trẻ em trai 11 tuổi, thị trấn Vị Xuyên).

Trong tổng số gia đình nhiều thế hệ chung sống, tỷ lệ trẻ trò chuyện chia sẻ tâm sự với ông bà chỉ chiếm dưới 2%, điều đó cho thấy có khoảng cách giữa các thế hệ trong gia đình cũng là rào cản trong việc giao tiếp, thông tin qua lại của các thành viên trong gia đình

Tóm lại, các em đều đang ở lứa tuổi vị thành niên - là lứa tuổi có nhiều biến động về mặt tâm, sinh lý Đây là thời kỳ trẻ cần được trang bị kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên Dựa theo lý thuyết

hệ thống, kênh mà trẻ thường chia sẻ, tâm sự nhiều nhất chính là bạn bè Đây được coi là một trong những môi trường xã hội hóa rất quan trọng đối với trẻ trong quá trình phát triển và trưởng thành Xu hướng tách khỏi hệ thống của gia đình để tìm kiếm sự giao lưu, chia sẻ từ bạn bè là điều dễ nhận thấy ở trẻ lứa tuổi vị thành niên

Các em mong muốn cha mẹ hãy thấu hiểu trẻ và mong chờ cha mẹ là người chủ động khơi gợi và lắng nghe chân thành để các em được chia sẻ những điều các em còn lo lắng, khó nói, ngại ngùng, e ngại Qua đó, cho thấy cần thiết phải nâng cao hơn nữa vai trò của gia đình trong việc cung cấp các kiến thức, thông tin, kỹ năng làm bạn với con, để gia đình thực sự là một môi trường xã hội hóa lành mạnh, định hướng tốt cho sự phát triển của vị thành niên, đặc biệt là trẻ từ 11 tuổi đến 14 tuổi Điều đó đồng nghĩa với việc cần thiết phải nhanh chóng thay đổi nhận thức cho các bậc cha mẹ về vấn đề này, cần có các chương trình giúp các bậc cha mẹ có kiến thức và kỹ

Trang 36

và sự trao đổi, thống nhất giữa cha mẹ trong gia đình là hết sức quan trọng để

hỗ trợ, định hướng con trong học tập

Việc lựa chọn hướng đi sau khi tốt nghiệp THPT, tiếp tục học lên cao đẳng, đại học hay chọn trường nghề có sự tham gia của cả hai vợ chồng giảm hơn, chỉ còn 51,5% Trường hợp cha mẹ chỉ đưa các ý kiến tư vấn và định hướng, còn quyết định cuối cùng là ở con chiếm 27,6% Cha mẹ cho rằng con

đã trưởng thành hơn, biết được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, đồng thời

có sự tư vấn của thầy cô trong việc định hướng nghề nghiệp nên cha mẹ cần lắng nghe, tôn trọng và tham khảo ý kiến của con

Qua phân tích tương quan với trình độ học vấn, cha mẹ có trình độ học vấn tốt nghiệp PTTH lựa chọn để con tự quyết chiếm 29,7%, cha mẹ có trình

độ tốt nghiệp THCS chiếm 25%, và cha mẹ có trình độ tiểu học chiếm 12,5% Điều này còn thể hiện rõ hơn, tỷ lệ con tự quyết tỷ lệ thuận với trình độ học vấn của cha mẹ Khi cha mẹ có hiểu biết, kiến thức nhất định, cha mẹ sẽ tôn trọng sự lựa chọn, quyết định của con trong việc chọn trường, vì bản thân con

sẽ hiểu rõ khả năng và sở thích của mình

Trang 37

32

Biểu đồ 2.1: Vai trò của cha, mẹ trong định hướng nghề nghiệp, chọn trường cho con phân theo trình độ học vấn (%)

(Nguồn: Nghiên cứu đánh giá nhận thức và thực trạng giáo dục gia đình của

Ban Gia đình – Xã hội, Hội LHPN Việt Nam )

Trên thực tế, giữa cha mẹ và con có khoảng cách trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai, cụ thể là các em luôn chọn nghề nghiệp dựa vào sở thích, ảnh hưởng từ bạn bè hoặc theo trào lưu trong khi cha mẹ luôn thực tế và có xu hướng lựa chọn nghề nào mà sau này có thể dễ tìm việc và phù hợp với điều kiện kinh

tế gia đình Vì vậy, cha mẹ còn nhiều lúng túng trong khi định hướng lựa chọn ngành học, cơ sở đào tạo vì chưa nắm được những lý thuyết và kiến thức cơ bản giúp con định hướng nghề nghiệp tương lai Cha mẹ chưa được thầy cô chia sẻ,

tư vấn trong lĩnh vực này, vì vậy chưa phát huy được vai trò của mình trong việc giúp con chọn ngành học, chọn trường học phù hợp với con

Tóm lại, vai trò cha mẹ trong hỗ trợ, định hướng học tập, hướng nghiệp cho con có ảnh hưởng rất lớn trong quá trình phát triển của trẻ Cha mẹ cần được nâng cao kiến thức, cập nhật thông tin về xu hướng giáo dục, đào tạo hiện nay; thường xuyên trao đổi với thầy cô, nhà trường là kênh thông tin cần thiết, hỗ trợ hiệu quả trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai của con

2.2.3 Các phương pháp giáo dục con

Kết quả khảo sát cho thấy, các bậc cha mẹ tiếp tục duy trì một số phương pháp/mô hình giáo dục truyền thống/cơ bản và được cho là "tích cực"

Trang 38

33

Trước hết là cha mẹ luôn cư xử mẫu mực để làm gương cho con (96,9%); Giáo dục kiểu sát sao - thường xuyên trò chuyện, tâm tình với con như những người bạn (96,2%); Cha mẹ giáo dục con bằng sự động viên, khích lệ (93,1%); Giáo dục con thông qua phân công lao động vừa sức, phù hợp lứa tuổi của con (87,1%); Giáo dục kiểu lồng ghép nội dung giáo dục vào các trò chơi của con và biến việc học tập kiến thức, kỹ năng thành hoạt động nhẹ nhàng, thoải mái để con mình tiếp thu nhanh (85,5%); Giáo dục kiểu dân chủ - khi con gặp khó khăn cha mẹ lo phần định hướng, tư vấn cho con, còn con sẽ cố gắng tự quyết định để tìm cách giải quyết (58,1%) Song vẫn còn tồn tại một số phương pháp/mô hình giáo dục gây nhiều tranh cãi và bị cho rằng chưa hiệu quả, làm cản trở sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của trẻ

Căn cứ vào kết quả khảo sát thực tế và hiểu biết của cá nhân tác giả, có thể phân loại ra 5 mô hình giáo dục gia đình hiện cha mẹ đang áp dụng như sau:

*Giáo dục chưa liên tục

Cha mẹ sẽ chỉ bảo, răn dạy con mình mỗi khi có thời gian rảnh rỗi (66% cha mẹ cho rằng là đúng) và chỉ giáo dục con khi chúng gặp phải những tình huống cụ thể (chiếm 70,2%)

“Trong giáo dục con cái hiện nay vẫn xảy ra tình trạng cha mẹ chưa thật quan tâm đến giáo dục con, chưa sâu sát như việc dạy kèm con học tập vì tình trạng nhận thức của một số ông bà bố mẹ còn hạn chế nên phần nào cũng ảnh hưởng đến việc giáo dục con nhỏ” (phỏng vấn sâu cán bộ xã Đạo Đức)

Khi so sánh tương quan về trình độ học vấn, tỷ lệ các nhóm cha mẹ đang

áp dụng phương pháp dạy con này khá cao ở cả các bậc học vấn Với phương

pháp dạy con “Tôi chỉ bảo, răn dạy con mỗi khi có thời gian rảnh rỗi”, tỷ lệ

cha mẹ lựa chọn lần lượt là 50% (tốt nghiệp tiểu học), 61,5% (tốt nghiệp

THCS), 44,4% (tốt nghiệp PTTH) Với phương pháp dạy con “Tôi giáo dục con khi gặp những tình huống cụ thể”, tỷ lệ cha mẹ lựa chọn lần lượt là 62,5%

(tốt nghiệp tiểu học), 65,8% (tốt nghiệp THCS), 75,3% (tốt nghiệp PTTH)

Trang 39

có trình độ học vấn tốt nghiệp tiểu học thì tỷ lệ này lên tới 62,5%

*Để con “tự bơi” và tự rút ra bài học cho bản thân

Vẫn còn khá cao tỷ lệ người khi được hỏi về vai trò của cha mẹ trong việc dạy con còn cho rằng không cần phải nói kinh nghiệm của bản thân cho con hoặc thuyết giáo với con, hãy cứ để con tự rút ra các bài học cho bản thân (chiếm 33,1%); 27,8% lưỡng lự; 39,1% cho rằng như vậy là sai

Ở nhóm cha mẹ có trình độ học vấn thấp (tiểu học và THCS), tỷ lệ để con tự xoay xở, “tự bơi” có xu hướng cao hơn, lần lượt là 62,5% và 40% so với nhóm cha mẹ có trình độ từ PTTH trở lên (26%) Qua đó cho thấy cha mẹ

ở trình độ học vấn thấp hơn, công việc chủ yếu là làm thuê, làm tự do, mải mê kiếm sống, trang trải lo toan hàng ngày thì lại áp dụng phương pháp này để

giáo dục con

*Giáo dục theo khuôn mẫu giới

Định kiến giới trong giáo dục gia đình được thể hiện khá rõ nét Nhận định “Chồng là hình mẫu của con trai, vợ là hình mẫu của con gái” có tỷ lệ ý kiến đồng ý khá cao là 49,6% Kết quả này được thể hiện khá giống nhau ở cả hai nhóm cha mẹ người Kinh và nhóm cha mẹ người dân tộc thiểu số Hệ quả

Trang 40

35

là quan điểm “Bố mẹ nên dạy con trai tính quyết đoán, tự chủ; mẹ nên dạy con gái tính mềm mỏng, nhún nhường” nhận được tỷ lệ ý kiến đồng ý là 59,1% và tỷ lệ ý kiến lưỡng lự là 31,1% Như vậy, suy nghĩ mang tính chất khuôn mẫu giới là tính cách quyết đoán, tự chủ đang được gán cho nam (con trai và ông bố) cũng như tính mềm mỏng, nhún nhường đang được gán cho

nữ (con gái và bà mẹ) vẫn còn khá phổ biến

Bên cạnh đó cũng có tới 75,9% - là tỷ lệ khá cao - những người được hỏi đã cho rằng trong giáo dục gia đình, cha mẹ cần phải dạy con trai cách sửa chữa đồ dùng trong nhà, con gái nấu ăn, dọn dẹp, nhà cửa, trông em, chỉ có

9,0% là không đồng ý với điều này

Trong thực tế, khi cha mẹ chưa nhận ra rằng, việc giáo dục theo kiểu khuôn mẫu “Con gái phải như mẹ, biết khéo léo, nhún nhường, phải an phận, nhẫn nhịn, mềm mỏng, chịu khó, phải dịu dàng, phụ nữ phải là người biết nấu

ăn, giỏi nuôi con… Con trai thì phải giống cha, phải nam tính, mạnh mẽ, quyết đoán…” thì theo một cách tự nhiên, khi cha mẹ/người lớn đã giáo dục con, định hướng như vậy và dần dần trở thành những khuôn mẫu về giới trong suy nghĩ, cách hành xử sau này của trẻ

Nhiều cha mẹ đã chưa thực sự hiểu rằng chính khuôn mẫu giới này là một trong những gốc rễ của sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới và là nguyên nhân khiến bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới còn đang tồn tại một cách dai dẳng trên mọi lĩnh vực của cuộc sống hiện nay (bất bình đẳng nam -

nữ trong phân công lao động trong gia đình, tiền lương, tham gia hệ thống

chính trị, giáo dục, bạo lực gia đình…)

Ở những gia đình cha mẹ có trình độ học vấn thấp (tiểu học, trung học

cơ sở) xu hướng dạy con theo khuôn mẫu giới này khá phổ biến (85%) Ở những gia đình cha mẹ có trình độ học vấn cao (phổ thông trung học trở lên),

tỷ lệ này thấp hơn một chút với 70,3%

*Dạy con kiểu nghiêm khắc, bạo lực

Ngày đăng: 21/06/2020, 23:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w