1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ y học: Nghiên cứu thực trạng nhiễm HIV, hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy và hiệu quả mô hình can thiệp toàn diện tại 3 tỉnh: Hòa Bình, Bắc Kạn, Tuyên Quang

182 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 631,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tả được thực trạng nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tại 3 tỉnh: Hòa Bình, Bắc Kạn, Tuyên Quang (2009 đến 2010): Tỷ lệ nhiễm HIV tại 3 tỉnh là (29,1%), tỷ lệ chung BKT 01 tháng vừa qua là 30,8% và 06 tháng vừa qua là 46,2%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p bé hơn 0,05) giữa chung BKT trong 01 tháng qua và 06 tháng qua và tỷ lệ nhiễm HIV với OR, CI lần lượt là (OR 3,07; CI95%: 1,78 đến 5,31) và (OR 2,73; CI95%: 1,56 đến 4,76).

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y

NGUYỄN HUỲNH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHIỄM HIV, HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM TRONG NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY VÀ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH CAN THIỆP TOÀN DIỆN TẠI BA TỈNH: HÒA BÌNH, BẮC KẠN, TUYÊN QUANG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y

NGUYỄN HUỲNH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHIỄM HIV, HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM TRONG NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY VÀ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH CAN THIỆP TOÀN DIỆN TẠI BA TỈNH: HÒA BÌNH, BẮC KẠN, TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Vệ sinh xã hội học và tổ chức y tế

Mã số: 62.72 01.64

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS.TS Nguyễn Thanh Long

2 PGS.TS Nguyễn Văn Hưng

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Khoa Chỉ huy, Tham mưu Quân

y, các Bộ môn liên quan, Phòng Sau đại học - Học viện Quân y, đã tạo mọi điềukiện thuận lợi nhất và trang bị giúp đỡ tôi trau dồi kiến thức, đóng góp những ýkiến cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn ThanhLong, PGS.TS Nguyễn Văn Hưng, những người thầy đã tận tình giúp đỡ vàhướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài cũng như hoàn thànhluận án tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Bộ Y tế, các cán bộ, công chức CụcQuản lý Dược, Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

và Dự án phòng chống HIV/AIDS khu vực châu Á tại Việt Nam đã giúp đỡ, tạomọi điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Y tế tỉnh Hòa Bình, Sở Y tế tỉnh Bắc Kạn, Sở

Y tế tỉnh Tuyên Quang, Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS, chính quyền địaphương, các ban ngành đoàn thể và các đối tượng tham gia nghiên cứu đã nhiệttình, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian điều tra thu thập số liệu

Tôi vô cùng biết ơn Trung tướng GS.TS Nguyễn Trọng Chính – Chính ủyHọc viện Quân y, GS.TS Nguyễn Tụ - Nguyên Phó Giám đốc Học viện Quân y,PGS.TS Nguyễn Văn Hưng, PGS.TS Lê Văn Bào, PGS.TS Hoàng Hải và cáccán bộ, giảng viên Khoa Chỉ huy, Tham mưu Quân y đã tạo điều kiện, tư vấn và

hỗ trợ tôi về mặt kỹ thuật trong quá trình hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn các GS, PGS, TS trong hội đồng chấm luận án đãđóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn chỉnh luận án đạt chất lượng tốt hơn

Trang 4

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong giađình, vợ, các con, anh chị em và bạn bè, đồng nghiệp thân thiết, những người đãhết lòng ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và giúp tôi vượt quanhững khó khăn để hoàn thành luận án tốt nghiệp

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2018

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Huỳnh

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu trong đề tài luận án là một phần của “Dự án phòngchống HIV/AIDS khu vực Châu Á tại Việt Nam” Kết quả đề tài này là kết quảcủa Dự án mà tôi là một thành viên tham gia Tôi đã được Giám đốc Ban quản lý

Dự án phòng chống HIV/AIDS khu vực Châu Á tại Việt Nam đồng ý cho phép sửdụng kết quả của Dự án này vào trong luận án để bảo vệ lấy bằng tiến sĩ Các sốliệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trongbất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Huỳnh

Trang 6

1.1.5 Hành vi nguy cơ cao, can thiệp giảm tác hại và can thiệp toàn

1.2 Tình hình sử dụng ma túy, HIV/AIDS trên thế giới và Việt

1.3.2 Các biện pháp can thiệp giảm tác hại 161.3.3 Chương trình tư vấn và xét nghiệm tự nguyện 29

Trang 7

1.3.4 Các biện pháp can thiệp toàn diện cho người nghiện chích ma

2.7.1 Các chỉ số nghiên cứu mô tả cắt ngang 432.7.2 Các chỉ số đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp toàn diện 45

2.8.3 Các bước tiến hành nghiên cứu can thiệp 48

2.9.1 Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu định lượng 492.9.2 Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu định tính 51

Trang 8

2.11.1 Tổ chức thực hiện 52

2.13 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu y sinh học 55

3.1 Thực trạng nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm trong nhóm nghiện chích ma túy tại ba tỉnh: Hòa Bình, Bắc Kạn và Tuyên Quang

3.1.1 Một số đặc điểm nhân khẩu, xã hội của người nghiện ma túy 56

3.1.4 Tình hình lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy 67

3.2 Đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp toàn diện (2011-2013) 753.2.1 Đánh giá độ bao phủ của mô hình can thiệp toàn diện 753.2.2 Tỷ lệ hiện nhiễm HIV và hành vi nguy cơ trong nhóm nghiện chích

4.2 Bàn luận về hiệu quả của mô hình can thiệp toàn diện (2011-2013) 103

Trang 9

4.2.1 Bàn luận về độ bao phủ của mô hình can thiệp toàn diện 1034.2.2 Tỷ lệ nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV 1114.2.3 Bàn luận về tác động của mô hình can thiệp toàn diện 1154.2.4 Bàn luận về những hạn chế của nghiên cứu 117

DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

1 AIDS Acquired Immune Deficiency Syndrome

(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)

(Thuốc kháng vi rút)

3 ATS Amphetamine type stimulant

(Các chất kích thích thần kinh nhóm Amphetamine

Trang 10

hay còn gọi là Ma túy tổng hợp)4

Cộng tác viênDịch vụ

16 HBV Hepatitis B virus

(Vi rút gây bệnh viêm gan B)

17 HCV Hepatitis C virus

(Vi rút gây bệnh viêm gan C)

18 HIV Human immunodeficiency virus

(Vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắcphải ở người)

19 HSS HIV Sentinel Surveillance

(Giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi)

20 IBBS Integrated Biological and Behavioral Surveillance

(Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học)

22 LĐTBXH Lao động - Thương binh và xã hội

23 MDĐP Mại dâm đường phố

24 MMT Methadone Maintenance Therapy

(Điều trị thay thế bằng thuốc methadone)

25 MSM Men who have sex with men

(Nam tình dục đồng giới)

26 NCMT Nghiện chích ma túy

27 NPS (New psychoactive substances)

Trang 11

32 STI Sexually Transmitted Infection

(Nhiễm trùng lây qua đường tình dục)

41 TTVĐĐ Tuyên truyền viên đồng đẳng

43 UNAIDS The Joint United Nations Programme on

HIV/AIDS(Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc vềHIV/ AIDS)

44 UNODC United Nations Office on Drugs and Crime

(Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm củaLiên Hợp Quốc)

45 VCT Voluntary Counseling and Testing

(Tư vấn và xét nghiệm tự nguyện)

(Tụ điểm theo thời gian)

47 WHO World Health Organization

(Tổ chức Y tế Thế giới)

Trang 12

3.8 Tỷ lệ các nhóm tuổi và dân tộc ở nhóm có nhiễm HIV 683.9 Mối liên quan giữa dùng chung bơm kim tiêm trong 1 tháng

qua và tỷ lệ nhiễm HIV

69

3.10 Mối liên quan giữa dùng chung bơm kim tiêm trong 6 tháng

qua và tỷ lệ nhiễm HIV

Trang 13

Bảng Tên bảng Trang

3.13 Mối liên quan giữa hành vi quan hệ tình dục với người bán

dâm và tỷ lệ nhiễm HIV

71

3.14 Mối liên quan giữa hành vi sử dụng bao cao su khi quan hệ

tình dục với vợ/chồng và tỷ lệ nhiễm HIV

71

3.15 Mối liên quan giữa hành vi sử dụng bao cao su khi quan hệ

tình dục với người bán dâm và tỷ lệ nhiễm HIV 723.16 Mối liên quan giữa tỷ lệ nhiễm HIV theo tình trạng dân tộc 723.17 Mối liên quan giữa nhiễm HIV và các yếu tố nguy cơ 733.18 So sánh tỷ lệ hiện nhiễm HIV giữa trước và sau can thiệp 823.19 Mối liên quan giữa hành vi dùng chung bơm kim tiêm, thuốc

hoặc dụng cụ pha thuốc trong 6 tháng qua và tỷ lệ nhiễm HIV

sau can thiệp

83

3.20 Mối liên quan giữa hành vi dùng chung bơm kim tiêm, thuốc

hoặc dụng cụ pha thuốc trong 1 tháng qua và tỷ lệ nhiễm HIV

sau can thiệp

83

3.21 So sánh hành vi dùng chung bơm kim tiêm trong 1 tháng qua 843.22 So sánh hành vi dùng chung bơm kim tiêm trong 6 tháng qua 843.23 Tỷ lệ không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với

3.25 Mối liên quan giữa mức độ nhận các biện pháp can thiệp của

mô hình can thiệp toàn diện và hành vi tiêm chích ma túy

86

Trang 14

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1.1 Tình hình sử dụng ma túy trên thế giới qua các năm 5

3.1 Loại ma túy sử dụng trong tháng qua 603.2 Hình thức sử dụng ma túy trong tháng qua 61

3.5 Có quan hệ tình dục trong một tháng qua 643.6 Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy 673.7 Nhận được biện pháp truyền thông về tiêm chích an toàn và

Trang 16

Tính đến cuối năm 2009, Việt Nam đã trải qua gần 20 năm đối phó với dịchHIV/AIDS, công tác phòng, chống HIV/AIDS đã đạt được một số kết quả đángkhích lệ, nhưng HIV/AIDS vẫn là căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất gây tácđộng rất lớn đối với sức khỏe, an ninh, kinh tế, chính trị và xã hội của tất cả cácquốc gia HIV/AIDS đã trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gâygánh nặng bệnh tật và tử vong tại Việt Nam, số lũy tích các trường hợp nhiễmHIV/AIDS vẫn tiếp tục gia tăng, tính đến 31/12/2009 có 201.034 người nhiễmHIV trong đó có 34.391 bệnh nhân AIDS cần được chăm sóc, điều trị liên tục,suốt đời, 44.232 người nhiễm HIV/AIDS đã bị tử vong, số ca nhiễm mới HIVnăm 2009 là 15.713 người [1].

Dịch HIV/AIDS vẫn đang trong giai đoạn “dịch tập trung”, nhưng diễnbiến rất phức tạp, có xu hướng chững lại tại các tỉnh, thành phố lớn, nhưng lại giatăng tại một số tỉnh miền núi phía Bắc trong đó có 3 tỉnh Hòa Bình, Bắc Kạn vàTuyên Quang Đây là những tỉnh có thói quen sử dụng ma tuý từ rất lâu và nằmtrong cung đường vận chuyển ma túy của khu vực tam giác vàng, đã trở thànhđiểm nóng về tình hình sử dụng ma túy và lây nhiễm nhiễm HIV/AIDS trongnhững năm gần đây Số người nhiễm HIV/AIDS trên 100.000 dân tại khu vựcmiền núi phía Bắc (253 người/100.000 dân) đã vươn lên đứng thứ 2 toàn quốc saukhu vực Miền Đông Nam Bộ (323 người nhiễm HIV/100.000 dân) Tỷ lệ nhiễmHIV/AIDS trên 100.000 dân của 3 tỉnh Hòa Bình, Bắc Kạn và Tuyên Quang caohơn rất nhiều so với tỷ lệ chung của toàn quốc vào năm 2009 (183 người/100.000dân), trong đó Bắc Kạn đã trở thành một trong 10 tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV/AIDStrên 100.000 cao nhất toàn quốc (420 người/100.000 dân) [2]

Độ bao phủ của các chương trình can thiệp dự phòng trong các nhóm quầnthể nguy cơ cao còn thấp, chưa đồng đều giữa các tỉnh, thành phố, chưa bền vững

và chưa đạt đến mức độ hiệu quả, phụ thuộc rất nhiều vào nguồn lực quốc tế Tỷ

lệ người nghiện chích ma túy nhận được bơm kim tiêm trong 12 tháng qua năm

2009 mới đạt 44,8%, tỷ lệ phụ nữ bán dâm nhận được bao cao su trong 12 thángqua cũng chỉ đạt 47,3%, chương trình điều trị thay thế bằng thuốc methadone mới

Trang 17

được triển khai tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Hải Phòng và tỷ lệ đượcxét nghiệm HIV và biết kết quả trong 12 tháng qua chỉ đạt từ 17,9,4-34,8% [3].Trong bối cảnh các nguồn lực bị cắt giảm, yêu cầu đặt ra cần phải có những giảipháp để tăng cường hiệu quả của các biện pháp can thiệp dự phòng nhằm khắcphục những khó khăn về tài chính và nhân lực Mô hình can thiệp toàn diện đãđược đề xuất và được triển khai thí điểm tại 3 tỉnh trên Để đánh giá hiệu quả của

mô hình can thiệp toàn diện sau một thời gian triển khai thí điểm và rút ra nhữngbài học kinh nghiệm cho các địa phương khác trong công tác phòng, chống HIV/

AIDS, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng nhiễm

HIV, hành vi nguy cơ lây nhiễm trong nhóm nghiện chích ma túy và hiệu quả

mô hình can thiệp toàn diện tại ba tỉnh: Hòa Bình, Bắc Kạn, Tuyên Quang”

1.1.1 Ma túy

Theo WHO, ma tuý được hiểu là “Các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổnghợp, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sửdụng, nếu sử dụng lặp lại nhiều lần sẽ gây ra trạng thái lệ thuộc về mặt cơ thểcũng như về mặt tâm thần” [4]

1.1.2 Nghiện ma túy

Theo WHO: Nghiện ma tuý là tình trạng lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc thểchất hoặc cả hai, khi một người sử dụng ma tuý lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc

Trang 18

dùng kéo dài liên tục một thứ ma tuý và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách

cư xử, bắt buộc người dùng luôn cảm thấy sự bức bách phải dùng ma tuý để cóđược những hiệu ứng về mặt tâm thần của ma tuý và thoát khỏi sự khó chịu, vật

1.1.4 AIDS

AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immunodeficiency

Syndrome", có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải Viết tắt theo tiếng

pháp là SIDA "Syndrome d'Immunodéficience Acquise", dùng để chỉ giai đoạn cuối

của quá trình nhiễm HIV, ở giai đoạn này hệ thống miễn dịch của cơ thể đã suyyếu nên người nhiễm HIV dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội hoặc ung

thư, suy kiệt Những bệnh này nặng dần lên và có thể gây tử vong cho bệnh nhân

[5], [7]

1.1.5 Hành vi nguy cơ cao, can thiệp giảm tác hại và can thiệp toàn diện dự phòng lây nhiễm HIV

Trang 19

Hành vi nguy cơ cao: là hành vi dễ làm lây nhiễm HIV như quan hệ tình

dục không an toàn, dùng chung bơm kim tiêm và những hành vi khác dễ làm lâynhiễm HIV [6]

Can thiệp giảm tác hại: Giảm tác hại là các chính sách và chương trình

nhằm làm giảm các hậu quả về sức khoẻ, xã hội và kinh tế đối với cá nhân, người

sử dụng ma tuý, gia đình và cộng đồng của họ do việc sử dụng các chất làm thayđổi trạng thái [6], [8]

Can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV: là chính sách và chương trình nhằm dự

phòng lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm khác cho các nhóm nguy

cơ cao [6]

Can thiệp toàn diện dự phòng lây nhiễm HIV: Theo UNAIDS đó là sự kết

hợp của các biện pháp can thiệp có hiệu quả dựa trên bằng chứng và phù hợp vớinhân quyền, từ các can thiệp về hành vi, tới can thiệp về y sinh học và can thiệp

về hệ thống, ưu tiên đáp ứng nhu cầu phòng, chống HIV/AIDS cho các cá nhân vàmột cộng đồng cụ thể trong thời điểm hiện tại nhằm làm giảm tỷ lệ nhiễm mớiHIV [9]

1.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG MA TÚY, HIV/AIDS TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.2.1 Tình hình sử dụng ma túy và HIV/AIDS trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình sử dụng ma túy trên thế giới

Trang 20

Cuộc chiến chống ma túy trên toàn cầu được khởi phát trên 50 năm qua với

3 chiến lược chính: giảm cung, giảm cầu và giảm hại đã không đạt được mục tiêu

cuối cùng là “một thế giới không có ma túy” [10] Hiện nay, tình hình vẫn gia tăng

và diễn biến phức tạp, báo cáo của UNODC công bố năm 2017 cho thấy số người

sử dụng ma túy đã tăng lên 255 triệu người (dao động từ 158 triệu đến 351 triệungười) tính đến cuối năm 2015, chiếm khoảng 5% dân số thế giới trong độ tuổi từ15- 64 tuổi, so với năm 2006 số người sử dụng ma túy đã tăng lên 47 triệu ngườitương ứng 22,6% [11], [12]

Biểu đồ 1.1 Tình hình sử dụng ma túy trên thế giới qua các năm

* Nguồn: theo UNODC (2017) [11]

Về xu hướng sử dụng của từng loại ma túy, thì thời gian gần đây sử dụng

ma túy tổng hợp (ATS) và các chất kích thần mới (NPS) đang gia tăng Tổng sốATS bị bắt giữ năm 2011 là 123 tấn tăng 66% so với 2010, lên đến 144 tấn năm

2012 và gần 200 tấn vào năm 2016 Ngoài Ectasy là loại ATS được sử dụngnhiều, thì thời gian gần đây các chất NPS được phổ biến để thay thế cho các loại

ma túy bị kiểm soát quốc tế và có tác dụng tương tự như các dạng ma túy "truyềnthống" NPS nguy hiểm do số lượng lớn, đa dạng và thay đổi liên tục, năm 2014

có 541 chất NPS đến năm 2017 tăng lên 739 chất NPS trên thế giới [11], [12],[13]

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 20150

Trang 21

Sử dụng ma túy gây ra một loạt các hậu quả cho bản thân người nghiện, giađình, cộng đồng và cả xã hội:

Thứ nhất, đó là tình trạng tử vong do sử dụng ma túy, theo báo cáo của

UNODC năm 2017 có 187.100 (khoảng từ 98.300 đến 231.400) trường hợp bị tửvong có liên quan đến ma túy, tương ứng với tỷ lệ 40,8% (từ 21,5% đến 50,5%)trong độ tuổi từ 15-64 [11] Nghiên cứu của WHO năm 2002 cũng cho thấy sốtrường hợp tử vong liên quan đến ma túy vào khoảng 200.000 người/năm, tươngđương với khoảng 11,2 triệu năm sống đã bị mất do sử dụng các loại ma túy:Opiats, Cocain và ATS [14]

Thứ hai, là bị mắc các bệnh lây truyền qua đường máu (HIV, Viêm gan C, Viêm gan B ) do tiêm chích ma túy

Theo ước tính của UNODC, toàn thế giới có khoảng 12,19 triệu người (từ8,48-21,46 triệu người) NCMT, chiếm tỉ lệ khoảng 0,26% (từ 0,18-0,46%) dân sốthế giới trong độ tuổi từ 15-64 NCMT giảm hơn so với các năm trước: năm 2012

là 12,69 triệu, năm 2011 là 14 triệu và năm 2010 là 16 triệu người NCMT, do sốngười NCMT giảm tại một số quốc gia (như là Australia, Brazil, Mỹ, Nam Mỹ ),tuy nhiên một số quốc gia khác như Parkistan, Nga, Việt Nam… NCMT vẫn đanggia tăng [11], [12]

Lây nhiễm HIV/AIDS, theo ước tính của UNODC trong 12,19 triệu ngườiTCMT có khoảng 1,65 triệu người (0,92-4,42 triệu người) đang sống chung vớiHIV, chiếm khoảng 13,5% số người NCMT trên toàn cầu, số liệu này theo báocáo năm 2014 là 13,1% Số các trường hợp người NCMT bị nhiễm mới HIV đãgiảm khoảng 10% từ 110.000 người (97.000-123.000 người) vào năm 2010 xuốngcòn 98.000 người (85.000-111.000 người) vào năm 2013 [11] Người NCMTnhiễm HIV ngoài nguy cơ bị tử vong, còn phải đối mặt với sự kỳ thị, sự xa lánhcủa gia đình, cộng đồng, bị trầm cảm [15]

Nhiễm vi rút viêm gan C (HCV), tỷ lệ nhiễm HCV trên toàn cầu khoảng2,2% dân số, tỷ lệ này trong nhóm NCMT là 52% cao gấp 25 lần so với ngườibình thường, tương ứng khoảng 6,3 triệu người NCMT trên toàn cầu [12], [13]

Trang 22

Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B (HBV) trong nhóm NCMT: Uớc tính là 14,6% năm

2010, 8,4% năm 2011, 6,7% năm 2012 (tương ứng với 850.000 người trong độtuổi từ 15-64) [13], [14]

1.2.1.2 Tình hình HIV/AIDS trên thế giới

Theo báo cáo của UNAIDS năm 2017, tính đến cuối năm 2016, trên toàncầu có khoảng 36,7 triệu [30,8 triệu – 42,9 triệu] trường hợp đang sống chung vớiHIV, với tỷ lệ ước tính khoảng 0,8% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15-49 đangsống chung với HIV Tính từ năm 2001 đến cuối năm 2016 đã có 76,1 triệu người

bị nhiễm HIV và 35,0 triệu người bị tử vong do liên quan đến HIV/AIDS [16],[17]

Số người được điều trị ARV ngày càng tăng, năm 2013 có 37% ngườinhiễm HIV được điều trị ARV, tương đương với 12,9 triệu người, tỷ lệ này năm

2016 là 53%, tương đương với 20,9 triệu người [17], [18]

Số trẻ em dưới 15 tuổi hiện nhiễm HIV là 2,1 triệu (1,7 triệu-2,6 triệu),giảm so với số trẻ bị nhiễm năm 2013 là 3,2 triệu (2,97 triệu-3,5 triệu) Có khoảng17,8 triệu (15,4 triệu -20,3 triệu) người đang sống chung với HIV là nữ giới, 80%của số đó sống ở cận Saharan, Châu Phi [17], [19]

Trang 23

Hình 1.1 Ước tính số người sống chung với HIV toàn cầu năm 2016

* Nguồn: Theo UNAIDS (2017) [17]

Trong 36,7 triệu người nhiễm HIV, có khoảng 25,5 triệu người thuộc khuvực cận Saharan, châu Phi, chiếm gần 67% số nhiễm HIV của toàn cầu (trong đókhu vực Đông và Nam Phi là 19,4 triệu người, Tây và Trung Phi là 6,1 triệungười) Khu vực thứ 2 là châu Á và Thái Bình Dương với số người đang sốngchung với HIV là 5,1 triệu người Khu vực bị ảnh hưởng nặng nề sau Đông vàNam Phi là vùng biển Caribean, có tỉ lệ nhiễm rất cao so với dân số lên tới 1,7%,tương đương với 3100.000 người nhiễm HIV, mặc dù chỉ chiếm 0,76% tổng sốngười nhiễm HIV trên toàn cầu Khu vực Trung Đông và Bắc Phi có số ngườinhiễm HIV thấp nhất trên thế giới khoảng 230.000 người, nhưng tỷ lệ tử vong vànhiễm mới đang gia tang [17]

Số trường hợp nhiễm mới HIV tiếp tục giảm trên hầu hết khu vực trên thếgiới, tỷ lệ nhiễm mới tính đến cuối năm 2016 là 1,8 triệu (1,6 triệu - 2,1 triệu),giảm so với các năm trước, năm 2014 là 2,0 triệu, năm 2015 là 1,9 triệu người.Trong vòng 3 năm, tỷ lệ nhiễm mới đã giảm 13%, giảm ở 82 quốc gia, trong đó

có 10 quốc gia tỷ lệ nhiễm mới giảm 75% và 27 quốc gia tỷ lệ nhiễm mới giảmtrên 50% Số nhiễm mới ở trẻ em tính đến cuối năm 2013 là 240.000, năm 2014 là

Trang 24

220.000 và năm 2016 là 160.000, giảm 47% so với năm 2010 Tỷ lệ nhiễm HIVtrong nhóm NCMT trên toàn thế giới ước tính khoảng 13,1%-13,5% [17], [20],[21], [22].

Trong năm 2016, số trường hợp tử vong do AIDS là 1,0 triệu người(830.000-1,2 triệu), giảm 52,6% so với đỉnh điểm năm 2005, số trường hợp tửvong do HIV/AIDS vẫn đang trên đà tiếp tục giảm, năm 2005 là 1,9 triệu người,năm 2010 là 1,5 triệu người [16], [17]

1.2.2 Tình hình sử dụng ma túy và HIV/AIDS ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình ma tuý tại Việt Nam

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong công tác phòng, chống ma túy, nhưng tìnhhình ma túy ở Việt Nam vẫn gia tăng, đến cuối năm 2014 cả nước có 204.377người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý, tăng gần 4 lần trong 20 năm kể từ năm

1994 đến nay (năm 1994 là 55.445 người nghiện ma tuý) [23], [24] Nghiện matúy đã có mặt tại 100% tỉnh/thành phố, trên 90% các quận/huyện/thị xã và khoảng60% xã/phường/thị trấn [25]

Nam giới chiếm đa số 96%, nữ là 4% (năm 1996 là 3,15%); độ tuổi ngàycàng trẻ hoá (năm 1995, dưới 30 tuổi là 2%, năm 2001 là 57,7%, năm 2010 là gần70%, năm 2014 dưới 35 tuổi là 74%) [25], [26]

Sử dụng Heroin là chủ yếu (72%), có xu hướng giảm dần (năm 2005 là88,6%, năm 2012 là 84,7%, năm 2013 là 75%); sử dụng ma túy tổng hợp (ATS)ngày càng gia tăng (năm 2005 là 2,5%, năm 2012 là 6,5%, năm 2013 là: 10%;năm 2014 là 14,5%), tại một số địa phương tỷ lệ sử dụng ATS rất cao: Đà Nẵng(74%), Tây Ninh (61%), Trà Vinh (49%) [24], [26], [27]

TCMT tăng nhanh từ gần 8% năm 1995 lên 46,4% năm 2001, 66,3% năm

2006 và lên 71% năm 2010 và 72,7% vào năm 2013 [25], [26] Tỷ lệ dùng chungBKT trong nhóm NCMT mặc dù đã giảm nhưng vẫn còn cao, năm 2011 là 32%năm 2014 là 13,1%, trong số người xét nghiệm phát hiện HIV dương tính, ngườiNCMT vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất (45%) [28], [29]

1.2.2.2 Tình hình HIV/AIDS tại Việt Nam

Trang 25

Kể từ ca nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên năm 1990, tính đến ngày31/12/2017, lũy tích số người nhiễm HIV đang còn sống là 209.452 người, sốbệnh nhân AIDS là 90.105 người và số tử vong là 94.622 người So sánh với sốliệu nhiễm HIV/AIDS cao điểm nhất vào năm 2002, số ca nhiễm HIV phát hiệnmới của năm 2017 giảm 56% [1] Cho đến nay, dịch HIV/AIDS đã xảy ra ở tất cảcác tỉnh, thành với 99,8% số quận/huyện và trên 80,3% số xã/phường, ước tính tỷ

lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư là 0,23% [3]

Biểu đồ 1.2 Số ca HIV/AIDS/tử vong hằng năm

*Nguồn: Theo Cục phòng, chống HIV/AIDS (2017) [1], [2]

Trong những năm 1990-1997 của thế kỷ trước, số người nhiễm HIV mớiđược phát hiện hàng năm ở Việt Nam còn tương đối thấp (khoảng dưới 5.000người), nhưng từ năm 1998 số người nhiễm HIV tăng nhanh và đạt đỉnh cao nhấtvào năm 2007 là 30.846 người nhiễm HIV mới được phát hiện, sau đó, từ năm

2008 trở lại đây, dịch HIV/AIDS ở Việt Nam có chiều hướng suy giảm [30], [31]

Số người nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS hằng năm có xu hướnggiảm từ năm 2006 (năm 2006 là 13.010, năm 2007 là 12.761, năm 2016 là 5.876ca) Số bệnh nhân AIDS được báo cáo hằng năm chiếm gần 50% số người nhiễmHIV được xét nghiệm phát hiện báo cáo Số ca tử vong có xu hướng giảm từ năm

2266924536

3038730846

20240 16086

14267 14125 14127

11567 11680

10195 99129800

Trang 26

2005 (năm 2005 là 7.885, năm 2006 là 6.785, năm 2016 là 2.131, năm 2017 là1.800 [2], [30], [31].

Theo ước tính tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân cao nhất là khu vực miền ĐôngNam Bộ với tỷ lệ 423/100.000 dân, đứng thứ 2 là khu vực miền núi phía Bắc(366/100.000 dân), thấp nhất Duyên hải miền Trung (69/100.000 dân), tính trungbình cả nước tỷ lệ nhiễm HIV là 253/100.000 dân [2], [32]

Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT có xu hướng giảm dần từ 2005 đến

2015 tuy nhiên 2016 lại tăng nhẹ Kết quả điều tra HSS+ 2011, 2016 cho thấy tỷ

lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT năm 2005 (28,6%), 2009 (20,3%), 2011(16,4%), 2013 (10,4%), 2014 (11,1%), 2015 (10,2%), 2016 (11%) [28], [29] Tỷ

lệ nhiễm HIV trong nhóm PNBD cũng không ổn định từ đỉnh điểm 5,9% vào năm

2002, sau đó có xu hướng giảm xuống 1,8% vào năm 2013 rồi lại tăng dần 2014(2,5%), 2015 (2,6%), 2016 (2,7%) [29], [33] Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSMcũng tương tự giảm từ 5,2% năm 2011 xuống 1,6% năm 2013, nhưng sau đó lạigia tăng từ 2014, với tỷ lệ rất cao 8,2% vào năm 2016 Tỷ lệ nhiễm HIV trongnhóm NCMT và PNBD, MSM gia tăng trong thời gian gần đây mặc dù độ baophủ của chương trình ARV đã tăng lên 67,6% trong năm vừa qua, có thể donhững năm gần đây nguồn lực viện trợ bị cắt giảm, nguồn lực trong nước khôngđáp ứng đủ, do vậy số lượng BKT, BCS cho can thiệp dự phòng bị giảm đi rấtnhiều [28], [29], [33]

1.3 CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP DỰ PHÒNG TOÀN DIỆN CHO NGƯỜI NGHIỆN CHÍCH MA TÚY

Mặc dù dịch HIV/AIDS xuất hiện đã lâu, nhưng do tính chất phức tạp củaHIV nên đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và cũng như chưa có vắc xin

dự phòng hiệu quả đối với HIV Vì vậy, can thiệp dự phòng vẫn được coi là vũkhí quan trọng nhất trong phòng, chống HIV/AIDS Các biện pháp can thiệp dựphòng được triển khai với 3 mục tiêu chính: hạn chế tốc độ lây lan HIV, làmchậm quá trình tiến triển từ HIV tới bệnh AIDS và làm giảm ảnh hưởng tới kinh

tế, xã hội [5] Các can thiệp dự phòng cần phải triển khai sớm để giảm các hành vi

Trang 27

nguy cơ cao, ngoài mục tiêu phòng ngừa lây nhiễm HIV, còn hướng tới phòngngừa các bệnh lây truyền qua đường máu khác (như viêm gan B, viêm gan C…)

và các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Với việc triển khai các biện pháp can thiệp dự phòng, trong thời gian quadịch HIV/AIDS tại Việt Nam đã được kiềm chế và giảm tốc độ gia tăngHIV/AIDS trong cộng đồng, giảm số người nhiễm mới HIV, giảm số trường hợp

tử vong do AIDS Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa bền vững, chưa ổn định, một

số khu vực như các tỉnh miền núi Tây Bắc, các huyện miền núi Nghệ An, ThanhHóa, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội có số lượng lớn người nhiễm HIV vớidịch diễn biến phức tạp, khó kiểm soát Có những bất cập trong thực hiện các biệnpháp can thiệp dự phòng, các biện pháp này hoạt động khá riêng biệt, thiếu sựphối hợp chặt chẽ [30]

Báo cáo của Cục Phòng, chống HIV/AIDS cho thấy trong số những ngườiđược xét nghiệm phát hiện HIV dương tính thì nhóm NCMT vẫn chiếm tỷ lệ caonhất (45%) [32] Vì vậy, các biện pháp can thiệp dự phòng vẫn cần phải ưu tiêncho nhóm đối tượng này

1.3.1 Truyền thông thay đổi hành vi

Thế giới đã trải qua gần 40 năm đối mặt với dịch HIV/AIDS nhưng cho đếnnay dịch vẫn đang tiếp tục lan rộng trong cộng đồng, trong bối cảnh đó truyềnthông thay đổi hành vi vẫn là một giải pháp không thể thiếu được và đóng một vaitrò hết sức quan trọng trong cuộc chiến chống HIV/AIDS Truyền thông thay đổihành vi là một phần không thể tách rời của chương trình can thiệp dự phòng toàndiện phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS [4] Ngày nay, truyền thông thay đổihành vi đã trở thành một phần thiết yếu của một chương trình toàn diện bao gồm

cả phần dịch vụ (y tế, xã hội, tâm lý và tinh thần ) và phần vật chất (như là BCS,BKT ) [34]

Trang 28

Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy hiệu quả rõ rệt của truyền thôngthay đổi hành vi làm giảm các ca nhiễm mới HIV trong những năm gần đây.Chương trình truyền thông thay đổi hành vi đã làm giảm lây nhiễm HIV trongnhóm MSM tại Mỹ, Canada, châu Âu và Úc [35] Nghiên cứu tổng hợp củaDaniel L.B., Rand L.S (2004), về bằng chứng của truyền thông thay đổi hành vilàm giảm lây nhiễm HIV tại một số quốc gia cho thấy tại Uganda tỷ lệ nhiễm HIV

đã giảm từ 21,1% vào năm 1991 xuống 9,7% vào năm 1998 và 6,4% vào năm

2001, hành vi tình dục không an toàn với người khác giới từ năm 1989 tới năm

1995 đã giảm 65% [36] Tại vùng Mbeya của Tanzania truyền thông thay đổihành vi đã làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV từ 20% vào giữa thập niên 1990 xuống còn13% vào năm 2005 Truyền thông đã thúc đẩy sự thay đổi hành vi trong giới trẻ,những người bán dâm và người mua dâm, người NCMT, MSM Ở các quốc gia

mà HIV đã trở thành đại dịch, truyền thông thay đổi hành vi đã làm giảm hoạtđộng tình dục không an toàn, tăng sử dụng BCS, nâng độ tuổi lần đầu tiên QHTD[35] Tỷ lệ nhiễm HIV trong vùng đô thị của Zimbabwe đã giảm từ đỉnh cao nhấtvào năm 1991 từ gần 6% dân số xuống còn dưới 1% dân số vào năm 2010 Nếukhông có truyền thông thay đổi hành vi, tỷ lệ nhiễm HIV sẽ còn cao gấp 2 lầnmức hiện tại, kết quả là có 35.000 ca nhiễm mới mỗi năm [37]

Nghiên cứu của Bello G., Simwaka B., Ndhlovu., et al (2011), bằng chứngcủa thay đổi hành vi làm giảm tỉ lệ lây nhiễm HIV ở vùng đô thị của Malawi,truyền thông thay đổi hành vi trong QHTD đã làm thay đổi tỷ lệ nhiễm HIV từ26% vào năm 1999, xuống còn 15% vào năm 2007 và kết quả ước tính từ năm2000-2002, đến năm 2010 đã ngăn ngừa được 140.000 trường hợp không bịnhiễm HIV [38]

Nghiên cứu của Richard H.N., Dave B., Samuel R.F, et al (2005), tổng hợphơn 40 nghiên cứu khác cho thấy truyền thông thay đổi hành vi làm giảm dùngchung BKT và tăng sử dụng BCS, như nghiên cứu tại Chicago, Mỹ: các hành vinguy cơ cao liên quan đến TCMT đã giảm từ 54% xuống 14% sau 6 năm canthiệp [39]

Trang 29

Tại Việt Nam, hoạt động truyền thông đặc biệt là truyền thông trực tiếp đãgóp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng và nhóm đối tượng có nguy cơ cao

về HIV/AIDS, cùng với chương trình can thiệp giảm tác hại, đã giúp họ thay đổihành vi, thực hiện hành vi an toàn phòng lây nhiễm HIV cho bản thân và chocộng đồng, góp phần hạn chế sự lây nhiễm HIV/AIDS tại các địa phương Hoạtđộng thông tin giáo dục truyền thông đã có tác động không nhỏ đến sự thay đổi vềkiến thức phòng, chống HIV/AIDS trong các nhóm nguy cơ cao và trong cácnhóm cộng đồng dân cư Năm 2006, 35,0% PNMD, 37,6% nam NCMT và 54,9%MSM tại 7 tỉnh của điều tra IBBS (2006) đã xác định đúng cách phòng tránh lâynhiễm HIV qua đường tình dục và loại bỏ được quan niệm sai lầm cơ bản về lâytruyền HIV Kết quả điều tra 3 năm sau cho thấy 51,5% PNBD, 49,2% namNCMT và 60,3% MSM có thể xác định đúng các cách phòng tránh lây nhiễmHIV qua đường tình dục và có thể loại bỏ được các quan niệm sai lầm về lâytruyền HIV [40] Trong năm 2015 đã có khoảng 10 triệu người thuộc đối tượngđích của chương trình được truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS Trong sốnhóm đối tượng nguy cơ cao, nhóm người NCMT được truyền thông nhiều nhất(chiếm 17% số người được truyền thông), người bán dâm và tiếp viên nhà hàngchiếm 4%, thấp nhất là nhóm MSM (chỉ chiếm 1%) Ngoài 3 nhóm nguy cơ cao,nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được truyền thông gần 1 triệu lượt người, caonhất trong tất cả các nhóm và chiếm 30% số lượt người được truyền thông); sốlượt người trong độ tuổi từ 15-24 chiếm tỷ lệ 20% tổng số lượt người được truyềnthông [1], [3] Theo các nghiên cứu gần đây về HIV/AIDS cho thấy tỷ lệ ngườidân hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS đạt ở mức gần 50% Người dân tham gia cácdịch vụ phòng, chống HIV/AIDS ngày càng gia tăng [3]

Kết quả từ nghiên cứu Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên tạiViệt Nam độ tuổi 14-25 năm 2009 cho thấy có 42,5% thanh thiếu niên ở độ tuổi15-24 đã xác định đúng các đường lây truyền HIV và ba quan niệm sai lầm về lâytruyền HIV Kết quả của điều tra này gần giống với kết quả điều tra mẫu các chỉtiêu dân số và AIDS năm 2005 Chỉ có 0,11% số thanh thiếu niên được hỏi cho

Trang 30

biết có QHTD trước tuổi 15 Chỉ có 1,28% cho biết có QHTD với hơn một bạntình trong vòng 12 tháng qua, 93% nam giới ở độ tuổi 15- 24 cho biết có sử dụngBCS ở lần QHTD gần đây nhất với PNMD, tỷ lệ thanh thiếu niên thường xuyênđọc báo, xem tivi, sử dụng internet có kiến thức về đường lây truyền HIV cao gấp

từ 1,2-1,4 lần so với những người không thường xuyên [41], [42] Kết quả củađiều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ năm 2010-2011 cho thấy 51,5%phụ nữ trong độ tuổi 15-24 đã xác định chính xác các đường lây nhiễm HIV vàloại bỏ quan niệm sai lầm về lây nhiễm HIV Tỷ lệ này cao hơn so với phát hiệncủa cuộc điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên tại Việt Nam độ tuổi14-25 năm 2009 (44,1% nam và 40,8% phụ nữ ở cùng độ tuổi) Trong số các phụ

nữ tuổi từ 15-24 tuổi, 0,32% cho biết có QHTD trước 15 tuổi và 0,8% cho biết đã

có QHTD với một bạn tình không phải trong quan hệ hôn nhân và không sốngchung trong 12 tháng qua [40], [43]

Nghiên cứu của Thomas J.C, Linda R., Carlos C (2008), cho thấy đểchương trình truyền thông thay đổi hành vi đạt hiệu quả cao cần phải phối hợp vớicác can thiệp dự phòng khác, trên thực tế cho thấy có sự giao thoa, đan xen giữacác biện pháp dự phòng, truyền thông thay đổi hành vi ngoài việc tiếp xúc vớinhóm đối tượng đích để truyền thông giảm hành vi nguy cơ cao, nhân viên tiếpcận cộng đồng còn cung cấp BKT sạch, thu hồi BKT bẩn, phát BCS, tư vấn xétnghiệm tự nguyện và điều trị các bệnh STI cho các đối tượng nguy cơ cao [35]

1.3.2 Các biện pháp can thiệp giảm tác hại

Các bằng chứng khoa học gần đây cho thấy việc điều trị bằng thuốc ARVsớm và tích cực ở những người nhiễm HIV/AIDS có tác dụng dự phòng (làmgiảm tỷ lệ mới mắc HIV trong cộng đồng), nhưng các chiến lược dự phòng, đặcbiệt là các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong các nhóm có hành vi nguy cơlây nhiễm HIV cao vẫn có vai trò chủ chốt trong dự phòng lây nhiễm HIV

Các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV baogồm tuyên truyền, vận động, khuyến khích sử dụng BCS, BKT sạch, điều trị

Trang 31

nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và các biện pháp can thiệpgiảm tác hại khác nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện các hành vi an toàn đểphòng ngừa lây nhiễm HIV [6].

1.3.2.1 Chương trình phân phát bơm kim tiêm

Sử dụng ma tuý gây ra những hậu quả nặng nề về sức khoẻ, kinh tế - xã hộiđối với mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng TCMT với việc dùng chung BKT làyếu tố chủ yếu trong việc lây truyền HIV trong thanh niên ở một số nước Nhữngngười NCMT bên cạnh bị nhiễm HIV thì cũng đang phải đối mặt với tình trạng bịviêm gan virut và nhiễm lao với tỷ lệ rất cao [11], [44]

Để phòng chống lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu khichưa dừng sử dụng ma túy được, thì có thể dùng dụng cụ tiêm chích tiệt trùng.Cung cấp BKT sạch là cung cấp các dụng cụ tiêm chích vô trùng chỉ dùng một lần

và sau đó không dùng lại nữa [45]

Việc trao đổi BKT được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1984 tạiAmsterdam (Hà Lan) với mục tiêu là phòng chống bệnh Viêm gan vi rút B trongnhóm NCMT [46], [47]

Năm 2016, có 90 quốc gia trong 158 quốc gia có NCMT triển khai chươngtrình BKT sạch, thêm 5 quốc gia so với năm 2012 (Cộng hòa Dominican,Colombia, Jordan, Kenya và Senegal) [21], [48] BKT sạch có thể được cung cấptại các địa điểm cố định hoặc các địa điểm bí mật, qua nhân viên tiếp cận cộngđồng, tại các nhà thuốc trong cộng đồng hoặc tại các máy bán BKT tự động Độbao phủ của chương trình BKT, số lượng BKT được trao đổi mỗi năm khác nhau

ở các quốc gia, Malaysia, Iran và Australia là 3 quốc gia có độ bao phủ củachương trình BKT tăng gấp đôi so với năm 2012 [21], [49], một số quốc gia như

Úc, Tây Âu, Bangladesh, chương trình trao đổi BKT có độ bao phủ cao với sốlượng BKT sạch được cung cấp trên 200 cái/1 người NCMT mỗi năm [49], [50].Một số quốc gia như Trung Quốc, Pakistan và Việt Nam độ bao phủ của chươngtrình BKT giảm xuống so với năm 2012, tại Việt Nam số BKT được cung cấp

Trang 32

trung bình cho 1 người NCMT từ 180 cái/năm 2012 giảm xuống còn 98 cái vàonăm 2014 [48].

Đã có các bằng chứng rõ ràng về hiệu quả của chương trình trao đổi BKTtrong việc giảm tỷ lệ lây truyền HIV trong nhóm NCMT Nghiên cứu được tiếnhành tại 81 thành phố trên toàn thế giới vào năm 1997 cho thấy, tại 52 thành phốkhông có Chương trình trao đổi BKT, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT đãtăng 5,9%, trong khi tại 29 thành phố có triển khai Chương trình trao đổi BKT tỷ

lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT đã giảm xuống còn 5,8% [51], [52]

Tại Mỹ, nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại New York,

từ năm 1990 đến năm 2001 cho thấy, với việc triển khai chương trình trao đổiBKT, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT đã giảm từ 54% xuống 13%,HCV giảm từ 80% xuống 59% trong nhóm HIV âm tính [44] Một nghiên cứukhác tại Mỹ cho thấy chương trình BKT đã giúp giảm được 34.278 USD cho mộttrường hợp không bị nhiễm HIV [53]

Nghiên cứu tổng hợp được công bố năm 2002 tại Australia đã so sánh tỉ lệnhiễm HIV ở 103 thành phố của 24 nước Tỷ lệ nhiễm HIV đã giảm trung bìnhkhoảng 18,6% mỗi năm ở 36 thành phố có triển khai chương trình trao đổi BKTsạch, trong khi đó tỷ lệ này đã tăng trung bình khoảng 8,1% mỗi năm ở 67 thànhphố không có chương trình này [54] Hiệu quả của Chương trình BKT cho thấy từnăm 1991-2000 Chính phủ Australia đầu tư 130 triệu USD cho Chương trìnhBKT, đã phòng ngừa được 25.000 trường hợp không bị nhiễm HIV và 21.000trường hợp không bị nhiễm HCV, ước tính cứu sống được 4.590 trường hợp vàonăm 2010, và ước tính tiết kiệm cho hệ thống y tế từ 2,4 tỉ USD đến 7,7 tỉ USD

do không phải chi cho điều trị bệnh [55]

Tại Việt Nam: Việc triển khai mạnh các hoạt động phân phát BKT miễnphí tại các địa bàn trọng điểm về ma túy và các địa bàn có tỷ lệ nhiễm HIV cao đãtác động lớn đến làm giảm HIV tại Việt Nam

Trang 33

Hoạt động trao đổi BKT được triển khai thí điểm tại tỉnh Lạng Sơn từ tháng10/2001 đến tháng 02/2005 với việc thành lập các nhóm đồng đẳng viên, tổ chứctrao đổi BKT, kết hợp với các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi Năm

2005, Chương trình trao đổi BKT mới được triển khai tại 21 tỉnh/thành phố, mởrộng ra 42 tỉnh/thành phố vào tháng 6/2007 và 60 tỉnh/thành phố vào năm 2009[40] Số BKT phân phát ngày càng tăng, 2 triệu vào năm 2006, 11 triệu năm 2007,

22 triệu năm 2008, 24 triệu năm 2009, và đạt mức khoảng 30 triệu từ năm 2011,

2012 và 26,7 triệu vào năm 2013 [43], [56] Số BKT cấp trung bình trong 1 nămcho người NCMT đã tăng từ 140 BKT/người NCMT năm 2011 lên 180BKT/người năm 2012, tuy nhiên giảm xuống còn 76 BKT/người trong 2014 Việccấp phát miễn phí BKT giảm nhẹ từ 30 triệu trong năm 2012 xuống còn 20 triệutrong năm 2014 Trong năm 2015, có 53 tỉnh/thành phố triển khai chương trìnhBKT, phân phát miễn phí trên 15,49 triệu BKT, chủ yếu là từ viện trợ của QuỹToàn cầu (giảm 25% so với năm 2014) Số BKT được thu gom trong quý I/2015đạt 2,3 triệu chiếc (giảm 10% so với cùng kỳ năm 2014) [1], [3] Chương trìnhtrao đổi BKT được đẩy mạnh nhờ những tác động lớn trong việc tuyên truyền,giáo dục người NCMT về đường lây truyền HIV và lợi ích của việc sử dụng BKTsạch Tỷ lệ phần trăm người NCMT cho biết sử dụng BKT sạch trong lần tiêmchích gần nhất tăng nhẹ ở mức 95,3% năm 2011, 96,4% năm 2012, và 97,3% năm

2013, 96,4% vào năm 2016 [29] Theo kết quả điều tra IBBS 2009 và tiếp thị xãhội, 80% người NCMT tự mua BKT để sử dụng [57]

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Thị Minh Tâm, Trịnh HữuVách và cộng sự (2009), cho thấy tỷ lệ đối tượng biết nơi lấy BKT thông qua các

mô hình rất khác nhau, 93,2% đối tượng NCMT biết nơi lấy BKT miễn phí, trong

đó mô hình đồng đẳng viên (79,6%), hộp BKT cố định (40%), trạm y tế phường/xã(35,2%), là những nguồn BKT được đối tượng NCMT biết đến nhiều nhất Cònmột tỷ lệ nhỏ người NCMT không biết hiệu thuốc, các điểm cung cấp dịch vụ y tếnhư phòng VCT, phòng khám ngoại trú cho người nhiễm HIV/AIDS, phòng khámbệnh lây truyền qua đường tình dục Như vậy mô hình can thiệp giảm tác hại có độ

Trang 34

bao phủ cao hơn cả là mô hình đồng đẳng viên, tiếp đến là điểm phát BKT thứcấp (khoảng 70% số quận/huyện, chiếm chủ yếu là trạm y tế), mô hình hộp BKT

cố định (29% số quận /huyện) [58]

Đánh giá về tác động của Chương trình trao đổi BKT tại Việt Nam qua cácnghiên cứu, như nghiên cứu điều tra IBBS 2009, có 15,4% nam TCMT (1,6% -55,7%) tại 10 tỉnh/thành phố tiếp cận được chương trình dự phòng lây nhiễmHIV, cho dù con số đó vẫn còn thấp, nhưng đã tăng 2,5 lần so với năm 2006(6%) Trong đó, số nam NCMT nhận được BKT trong 12 tháng năm 2009 là44,8% Tuy nhiên, tại 20 tỉnh/thành phố triển khai Dự án phòng, chốngHIV/AIDS do Ngân hàng thế giới tài trợ, tỷ lệ nam NCMT nhận được BKT trongnăm 2009 khá cao khoảng 70% Các kết quả lạc quan đã được ghi nhận qua tỷ lệnam NCMT sử dụng các dụng cụ tiêm chích tiệt trùng rất cao và tăng lên từ88,8% năm 2006 đến 93,5% năm 2009 [40]

Các kết quả HSS+ 2012, 2013, 2016 cho thấy tỷ lệ người NCMT dùngBKT sạch trong lần tiêm chích gần nhất tương đối cao và tăng từ 88,8% năm

2006 lên 93,5% năm 2009, 96,3% năm 2012 và 97% năm 2013, 96,4% năm 2016[29], [59], [60] Kết quả điều tra HSS+ 2014 cho thấy trong số 4.450 ngườiNCMT tham gia nghiên cứu, 13,1% trong số họ cho biết có sử dụng chung BKTtrong vòng 1 tháng qua (giảm 12% khi so sánh với kết quả điều tra năm 2013) Tỷ

lệ người NCMT dùng chung BKT trong vòng 1 tháng qua giảm ở hầu hết các tỉnhtrừ An Giang và Kiên Giang khi so sánh với điều tra năm 2012 và 2013 [33], [59],[60]

Hiệu quả của chương trình BKT còn được thể hiện ở việc giảm tỷ lệ hiệnnhiễm HIV qua các năm: Báo cáo HSS+ 2014 đã cho thấy tỉ lệ hiện nhiễm HIVtrong nhóm NCMT giảm dần từ năm 2004 (28,6%) xuống 10,5% vào năm 2014,lần đầu tiên xuống dưới 11% kể từ năm 1997 Tuy nhiên, khó có thể đánh giá đây

là kết quả của riêng chương trình BKT mà là hiệu quả tổng hợp của nhiều biệnpháp khác như cung cấp dụng cụ tiêm chích khác đã được khử trùng, điều trịnghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone, truyền thông tay đổi

Trang 35

hành vi cũng như các dịch vụ khác cho người NCMT đã đem lại những hiệu quảnhư trên [33].

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Thị Minh Tâm, Nguyễn ThịHuỳnh và cộng sự (2009), “Đánh giá kết quả dự án phòng lây nhiễm HIV tại ViệtNam” tại 21 quận/huyện ở 7 tỉnh/TP trong số 21 tỉnh thuộc Dự án Phòng lâynhiễm HIV tại Việt Nam từ năm 2004-2009 cho thấy trước khi triển khai dự án, tỷ

lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT tăng nhanh từ 10,6% năm 1996 lên 31,7%vào năm 2003 Kể từ khi triển khai dự án năm 2004, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trongnhóm NCMT của các tỉnh tham gia dự án đã giảm từ 29,4% vào năm 2004 xuốngcòn 17,3% vào năm 2008 Quảng Ninh từng đứng hàng thứ nhất trong cả nước về

tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân, đến nay đã giảm xuống vị trí thứ 10 Tỷ lệ nhiễmHIV trong quần thể NCMT năm 2006 là 54,5%, đến năm 2008 chỉ còn 33,2%[61]

Tuy nhiên, báo cáo HSS + 2016 cũng cho thấy chỉ 35,4% người NCMTtham gia điều tra cho biết họ nhận được BKT miễn phí trong vòng 6 tháng qua[29] So sánh với kết quả điều tra năm 2012, 2013 và 2014 tỷ lệ này giảm đáng kểqua các năm (2012: 57,8%; 2013: 49,7%;, 2014: 42,2%) Cùng với đó là chỉ có41% người NCMT tham gia nghiên cứu được tiếp cận với chương trình dự phòngHIV trong 12 tháng qua (tiếp cận dự phòng trong nhóm NCMT được định nghĩalà: vừa biết nơi xét nghiệm HIV và nhận được BKT miễn phí trong vòng 12 thángqua) So sánh với năm 2013, tỷ lệ này giảm đáng kể (từ 56,7% xuống còn 41%).Những kết quả này cho thấy chương trình BKT chưa ổn định và bền vững Cầnphối hợp với các can thiệp khác như: thông tin giáo dục, truyền thông, cung cấpcác vật liệu dự phòng HIV như nước sát trùng và BCS để giảm các hành vi nguy

cơ, cung cấp cơ hội tiếp cận với dịch vụ tư vấn, xét nghiệm tự nguyện, giới thiệuchuyển tuyến tới các trung tâm cai nghiện và các dịch vụ xã hội khác [33], [59],[60]

1.3.2.2 Chương trình phân phát bao cao su và chất bôi trơn

Trang 36

Quan hệ tình dục khác giới là nguyên nhân chính gây lây nhiễm HIV trêntoàn cầu Tại Mỹ và các nước phát triển, MSM cùng với NCMT là nguyên nhânchính gây lây nhiễm HIV, nhưng lây truyền HIV qua tình dục khác giới ngàycàng gia tăng Tại Việt Nam, tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường tình dục ngày tăng,năm 2002, 2003 tỷ lệ này chỉ 11%, đến năm 2010 là 39%, năm 2014 là 48%, 6tháng đầu năm 2015 là 52% [3]

Phân phát BCS đã được thực hiện dưới nhiều hình thức, tận dụng mạnglưới rộng khắp từ khu vực y tế nhà nước, thông qua tiếp thị xã hội, đến những khuvực y tế tư nhân Chương trình khuyến khích sử dụng BCS được nhiều nước ápdụng và được chứng minh là có kết quả tốt trong dự phòng lây nhiễm HIV, hiệuquả tương tự như trong phòng tránh thai [62]

Nhiều nghiên cứu về hiệu quả của chương trình BCS trong dự phòng lâynhiễm HIV đã cho thấy đây là biện pháp hiệu quả và với chi phí thấp Chươngtrình BCS đã ngăn chặn được 45 triệu người không bị nhiễm HIV kể từ năm

1990, chi phí cho việc ngăn chặn 1 ca nhiễm HIV là 450 đô la Mỹ, thấp hơn nhiều

so với chi phí điều trị ARV trọn đời [21]

Nghiên cứu Wilkinson D (2002), gồm 2 nhóm, nhóm 1 có 587 người chobiết “luôn luôn” sử dụng BCS khi QHTD và nhóm 2 có 276 người “không baogiờ” sử dụng BCS Số mới mắc HIV ở những người “luôn luôn” sử dụng BCS là1,14 trên 100 người/năm (CI 95%: 0,56 - 2,04), trong khi ở nhóm những người

“không bao giờ” sử dụng là 5,75 trên 100 người/năm (CI 95%: 3,16 - 9,66), sửdụng BCS làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV đến 80% [63]

Tại Thái Lan, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm PNBD tăng rất nhanh từ 3,9%năm 1989 lên 9,3% năm 1990 và 15,2% năm 1991 [64] Chính phủ Thái Lan đãphát động Chương trình 100% BCS, nhằm mục đích giảm sự lây truyền quađường tình dục của HIV và STI bằng cách đảm bảo rằng BCS được sử dụng:100% thời gian; Trong 100% các QHTD nguy hiểm; 100% các cơ sở vui chơi giảitrí, nhà hàng, khách sạn có BCS Đánh giá chương trình BCS năm 1997 sau 8

Trang 37

năm triển khai cho thấy tỉ lệ các bệnh lây truyền qua đường tình dục đã giảm hơn90%, tỉ lệ sử dụng BCS giữa người bán dâm và khách hàng mặc dù không đạt100% nhưng đã tăng lên trên 90% [64] Tỷ lệ nhiễm mới HIV tại Thái Lan đãgiảm từ 143.000 ca trong năm 1991 xuống còn 7.816 ca vào năm 2014, tỷ lệnhiễm HIV trong nhóm PNBD đã giảm xuống còn 1,8% vào năm 2011 [65, [66].

Trung Quốc bắt đầu triển khai chương trình BCS vào năm 2000, đến năm

2002 tỷ lệ sử dụng BCS đã tăng từ 60% lên 88% tại Wuhan/Huangpi và từ 55%lên 91% tại Jiangsu cùng với đó tỷ lệ các bệnh lây truyền qua đường tình dụccũng giảm rất nhiều (Giang mai giảm từ 8% xuống 1%, lậu cầu giảm từ 3% xuống1% và Chlamydia giảm từ 30% xuống 16%) [67]

Trong một nghiên cứu tổng hợp của Karen R.D., Susan C.W (1999), chothấy những người luôn sử dụng BCS tỷ lệ HIV dương tính là 0,9/100 người- năm(CI95%: 0,4-1,8), trong 11 nghiên cứu thuần tập khác những người không bao giờ

sử dụng BCS tỷ lệ HIV dương tính là 6,8/100 người-năm (CI95%: 4,4-10,1), tỷ lệlây từ nam sang nữ là 5,9/100 người-năm, lây từ nữ sang nam là 6,7/100 người-năm [68]

Chương trình phân phát BCS tại Việt Nam được triển khai rất sớm, ngay từnăm 1993, hoạt động chủ yếu do các nhóm giáo dục đồng đẳng cung cấp BCS, kếthợp với truyền thông thay đổi hành vi [5] Đến năm 2004 chương trình BCS được

mở rộng tại các tỉnh, thành phố với số lượng BCS phát miễn phí 4 triệu BCS, năm

2008 tăng gần gấp 4 lần: 15 triệu BCS, năm 2009: 24 triệu BCS, năm 2011chương trình được thực hiện ở 63/63 tỉnh, thành phố đồng thời mở rộng cả ởtuyến quận/huyện và xã phường, với số lượng BCS cấp pháp miễn phí là 28,7triệu BCS [30], [43]

Năm 2014, phân phát BCS miễn phí đã giảm xuống do dự án của Ngânhàng thế giới kết thúc tài trợ Cùng với giảm địa bàn triển khai, số lượng BCSđược phân phát miễn phí giảm từ 28,7 triệu BCS năm 2011 xuống còn 24 triệuchiếc trong năm 2012, 13,8 triệu chiếc trong năm 2013, 10 triệu chiếc trong năm

Trang 38

2014 (giảm 27,6% so với cùng kỳ năm 2013) và chỉ còn 6,3 triệu chiếc năm 2015[3] Việc giảm phân phát BCS từ năm 2014 đến nay đã tác động đến hành vi sửdụng BCS thường xuyên trong nhóm PNBD đã bị giảm từ 92% năm 2013 xuống82,8% năm 2014 [1], [3].

Kết quả điều tra HSS+ 2012 cho thấy, gần 60% PNBD nhận được BCSmiễn phí trong vòng 6 tháng qua, tỷ lệ này năm 2013 là 40%, năm 2014 là 39,6%,năm 2016 là 39,1% [29], [59], [60]

Hiệu quả của chương trình BCS tại Việt Nam được khẳng định qua tỷ lệhiện nhiễm HIV trong nhóm PNBD có xu hướng giảm dần trên quy mô toànquốc, tỷ lệ này cao nhất kể từ năm 2002 đạt 5,9%, giảm dần xuống còn 2,5% vàonăm 2014, tăng nhẹ 2,6% năm 2015 và 2,7% năm 2016 [29]

Kết quả điều tra IBBS 2006 và 2009 cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS thườngxuyên trong tháng qua với bạn tình thường xuyên ở một vài tỉnh đã có sự cải thiệnđáng kể, bao gồm Hải Phòng, Ðà Nẵng, Cần Thơ, An Giang và đặc biệt là QuảngNinh, tại đây tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên trong tháng qua với khách lạ tănglên gấp đôi trong nhóm MDÐP từ 35% đến 87% (p<0,05), và gần hai lần vớikhách quen (34,8% lên 69%, p<0,05) [57], [69]

Kết quả điều tra HSS+ qua các năm cho thấy tỷ lệ PNBD sử dụng BCStrong lần QHTD gần đây nhất với khách hàng tương đối cao, cụ thể là: năm 2016(85,2%), năm 2014 (83%), năm 2013 (90,7%), năm 2012 (89%), năm 2011(80,2%) [28], [29], [60]

Tỷ lệ sử dụng BCS trong nhóm MSM và NCMT vẫn còn tương đối thấp,theo HSS+ 2013, chỉ có 64,3% nam giới cho biết có sử dụng BCS trong lầnQHTD qua đường hậu môn với bạn tình nam gần đây nhất và 62,9% ngườiNCMT cho biết sử dụng BCS khi QHTD trong 1 tháng qua Kết quả HSS+ 2014cho thấy người NCMT thường xuyên sử dụng BCS trong tất cả các lần QHTDtrong 1 tháng qua là 63,3%, 54% MSM sử dụng BCS trong lần gầy đây nhất khiQHTD với bạn tình qua đường hậu môn [29], [60]

Trang 39

Tuy nhiên, kết quả điều tra trong thời gian vừa qua cũng cho thấy tỷ lệngười có hành vi an toàn vẫn còn thấp và dao động, chưa bền vững Do đó, cầntiếp tục tăng cường hơn nữa chương trình can thiệp giảm tác hại, truyền thông đểkhuyến khích các đối tượng này sử dụng BCS thường xuyên hơn

1.3.2.3 Điều trị bằng thuốc thay thế

Methadone được tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1939 tại Đức, mục đíchban đầu để điều trị giảm đau [71], được sử dụng để điều trị thay thế nghiện cácchất dạng thuốc phiện lần đầu tiên tại British Columbia, Canada vào năm 1959[72] MMT trở lên phổ biến tại Mỹ và các nước sau các nghiên cứu của VincentP.D (1964) Dựa trên các bằng chứng về y sinh học, nghiện ma túy được coi làmột bệnh não mãn tính dễ tái phát, giống như điều trị các bệnh mãn tính khác: caohuyết áp, tiểu đường cần uống thuốc hằng ngày, người nghiện ma tuý dùngmethadone hằng ngày để duy trì chức năng bình thường [72], [73] Số ngườinghiện tham gia MMT tại Mỹ ngày càng tăng từ 22 người năm 1965, lên gần 400người năm 1968, hơn 80.000 người năm 1976, đến 2009 là 266.818 người [21],[74]

Tính đến cuối năm 2016, đã có 80 quốc gia trên thế giới triển khai chươngtrình điều trị thay thế, tăng thêm 02 quốc gia so với năm 2012 [21], [47] TạiAustralia bắt đầu MMT vào năm 1970, số người tham gia điều trị đã tăng nhanhchóng, từ 2000 người năm 1985, tăng lên gần 15.000 người năm 1994, đến năm

2010 đã có 2.132 cơ sở điều trị với 35.850 người được MMT MMT được thựchiện tại cả hệ thống y tế công lập và tư nhân [49], [75], [76] Hồng Kông, bắt đầutriển khai từ năm 1974, đến năm 2004, có 21 cơ sở MMT được triển khai, phân bốđều khắp các nơi, điều trị cho 7.056 người, độ bao phủ đạt đến 95% người NCMTtại đây [77] Trung Quốc, triển khai năm 2004 với 8 cơ sở MMT, đến cuối năm

2010 đã có 738 cơ sở MMT tại 28 tỉnh, số người tham gia điều trị cho 140.000người [47], [78] Malaysia, năm 2010 có 95 cơ sở, năm 2012 tăng lên đến 674 cơ

sở, điều trị cho 44.428 người [47]

Trang 40

Tại Châu Âu, MMT đã được triển khai rất sớm từ những năm 1960 tạiThụy Điển, Anh, Hà Lan và Đan Mạch [79] Năm 2012, một nửa số người NCMTtại Tây Âu (ước tỉnh khoảng 734.000 người đã được tham gia điều trị thay thế,trong đó 2/3 số người được điều trị methadone, khoảng 20% điều trị bằngbuprenorphine, khoảng 6% là sử dụng Morphine phóng thích chậm, thậm chí cảHeroin [48] Tại Châu Âu, MMT được chia làm 2 loại: MMT liệu trình ngắn 1 vàinăm rồi giảm liều, tiến tới ngừng sử dụng, MMT liệu trình dài suốt đời, ngoài ramethadone còn để điều trị cắt cơn giải độc [80]

Qua nhiều năm triển khai chương trình MMT đã cho thấy những hiệu quảcủa chương trình trong điều trị cai nghiện ma túy và phòng ngừa lây nhiễm HIVnhư: Giảm việc sử dụng ma túy trái phép, giảm dùng chung BKT, giảm tỷ lệ lâynhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu, giảm hoạt động tội phạm,giảm chi phí, hỗ trợ tạo việc làm và thu nhập, tái hoà nhập cộng đồng, cải thiện xãhội, cải thiện tình hình sức khỏe và giảm tình trạng tử vong do sốc thuốc và giảm

tự tử [81], [82], [83]

Nghiên cứu của Simpson D.D., Sells S.B (1982), với cỡ mẫu là 4.627người (trong đó có 1.856 người tham gia MMT) Tình hình sử dụng ma tuý hằngngày của người nghiện trước điều trị 2 tháng là 100%, sau 1 năm MMT giảmxuống còn 36% và sau 3 năm MMT tỷ lệ này giảm 22% [84] Một nghiên cứukhác của Simpson D.D., Sells S.B (1990), tỷ lệ tái nghiện sau 3 tháng là 27%, sau

36 là 44%, có 25% vẫn nghiện sau 12 năm [85]

Nghiên cứu của Hubbard R.L., Marsden M.E., Rachal J.V., et al (1989),với hơn 10.000 người sử dụng ma túy khi tham gia điều trị từ năm 1979, 1980 và

1981 Kết quả nghiên cứu cho thấy có 64% sử dụng Heroin ít nhất hằng tuầntrong 1 năm trước điều trì, giảm xuống khoảng 18% sau 1 năm điều trị và khoảng19% vẫn tiếp tục sử dụng Heroin hằng tuần sau 3 đến 5 năm MMT [86]

Nghiên cứu của Metzger D.S., Woody G.E., McLellan A.T., et al (1993),tình trạng lây nhiễm HIV qua đường máu ở 2 nhóm người NCMT được điều trị vàkhông được điều trị MMT sau 18 tháng theo dõi Tại thời điểm bắt đầu MMT tỷ

Ngày đăng: 21/06/2020, 20:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w