Trạng thái Ib và Ic được đưa vào nội dung thiết kế điều tra sinh khối vì các khu vực rừng này vẫn có sự xuất hiện rải rác các loài cây gỗ, và những số liệu về các loài cây gỗ lớn cần đượ
Trang 1Uwe Setje-Eilers Gabriel Eickhoff
Nguyễn Văn Hợp
Tháng 08/2013
Dự án Bảo tồn và quản lý bền vững nguồntài nguyên thiên nhiên khu vực Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Trang 2MỤC LỤC
1 GIỚI THIỆU CHUNG 4
2 THIẾT KẾ ĐIỀU TRA SINH KHỐI 7
2.1 Khu vực điều tra và số lượng ô mẫu 7
2.1.1 Điều tra sinh khối trong khu vực VQG PNKB 10
2.1.2 Điều tra trên diện tích còn lại của tỉnh 11
2.2 Phân bố ô mẫu 11
2.3 Hình dạng và kích thước các ô mẫu 13
3 CÔNG TÁC NGOẠI NGHIỆP 15
3.1 Đi đến các ô mẫu và đánh dấu ô 15
3.2 Đo đếm và quan sát 17
3.2.1 Thông tin chung và các thông số địa điểm 17
3.2.2 Số liệu về tái sinh 21
3.2.3 Tre nứa 21
3.2.4 Cây gãy đổ và gốc cây 22
3.2.5 Số liệu cụ thể về cây đứng 23
3.2.6 Đi đến ô mẫu / Không tiếp cận được 29
4 THỰC HIỆN ĐIỀU TRA 29
4.1 Thành phần của Nhóm điều tra , trang thiết bị và yêu cầu về thời gian 29 4.2 Kiểm tra giám sát 31
5 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ĐIỀU TRA 31
6 PHỤ LỤC ERREUR ! SIGNET NON DEFINI PHỤ LỤC 1: CÔNG CỤ TÍNH TOÁN Ô MẪU 32
PHỤ LỤC 2: PHIẾU ĐIỀU TRA SINH KHỐI 35
PHỤ LỤC 3: BẢNG CẢI BẰNG ĐỘ DỐC 37
Trang 3PHỤ LỤC 4: MÃ SỐ HÀNH CHÍNH CÁC XÃ 42
PHỤ LỤC 5: DANH MỤC VÀ MÃ SỐ CÁC LOÀI CÂY 42
PHỤ LỤC 6: DANH MỤC VÀ MÃ SỐ CÁC LOÀI TRE NỨA 65
PHỤ LỤC 7: DANH SÁCH TỌA ĐỘ CÁC Ô TIÊU CHUẨN 66
Trang 41 GIỚI THIỆU CHUNG
Tài liệu này mô tả thiết kế đợt điều tra trữ lượng cac-bon rừng sẽ được thực hiện tại tỉnh Quảng Bình với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của hợp phần GIZ, Dự án Khu vực PNKB Đợt điều tra này sẽ cung cấp các số liệu điều tra trữ lượng cac-bon tương ứng cho toàn bộ diện tích được xác định là rừng của tỉnh Đợt điều tra này được xem là một trong những hoạt động chính nhằm đánh giá tiềm năng để xây dựng chương trình REDD+ tại tỉnh Quảng Bình Để đạt được mục đích đó, điều tra này sẽ tuân thủ các ý tưởng và hướng dẫn của Công ước khung Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC), cơ quan chịu trách nhiệm về hợp tác quốc tế về các nội dung kỹ thuật liên quan đến REDD+ và Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC)
Quảng Bình là một trong những tỉnh sớm thể hiện mối quan tâm đối với việc thực hiện sáng kiến REDD+ Theo đánh giá ban đầu, rừng ở tỉnh Quảng Bình tương đối
đa dạng và không đồng nhất Các kiểu trạng thái rừng và khu vực sinh khái khác nhau sẽ có trữ lượng cac-bon khác nhau Do vậy, việc điều tra sinh khối để đánh giá trữ lượng cac-bon rừng sẽ áp dụng phương tiêu chuẩn để đo lường trữ lượng cac-bon cho từng kiểu trạng thái được gọi là phân tầng cac-bon rừng (phân loại)1 Việc phân tầng tập trung vào chia các khu vực rừng không đồng nhất thành các nhóm dựa trên phân loại sinh thái - điều này được thực hiện thông qua đợt khảo sát theo từng phân loại trạng thái (các nhóm phân loại sinh thái) - và trạng thái (chất lượng) rừng của tỉnh Việc này cần phải được thực hiện vì “rừng lá rộng thường xanh” có thể có trữ lượng cac-bon rất khác phụ thuộc vào vị trí địa lý và các yếu tố tác động Phân tầng (phân loại) trạng thái là bước đầu tiên đối với việc lên kế hoạch xác định ô mẫu điều tra sinh khối được thiết kế phù hợp với bối cảnh quốc gia Kết quả phân loại trạng thái (phân tầng) cuối cùng sẽ cho kết quả đầu ra là bản đồ các nhóm bể chứa cac-bon trong tỉnh Điều này cho phép các cơ quan chuyên môn của tỉnh ước tính được lượng cac-bon rừng thay đổi ứng với những thay đổi diện tích rừng, tùy thuộc vào phân loại trạng thái
Việt Nam đã bước đầu tiến hành xây dựng bản đồ phân loại rừng theo vùng sinh thái toàn quốc ở Mức độ 2 (Tier 2 – theo hướng dẫn của IPCC), tuy nhiên vẫn chưa tiến hành xây dựng lớp phân loại chi tiết theo Mức độ 3 (Tier 3) Đối với tỉnh Quảng Bình, cho đến nay vẫn chưa chính thức xây dựng bản đồ phân loại sinh thái rừng chi tiết cho toàn tỉnh Gần đây, với sự hỗ trợ của Dự án khu vực Phong Nha –
Kẻ Bàng (hợp phần KfW), bản đồ phân loại sinh thái rừng cho khu vực vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng đã được xây dựng Gần đây nhất, với sự hỗ trợ từ Hợp
1 Xem Phần 2.3.4 of: GOFC-GOLD, 2012, tài liệu cơ sở về các phương pháp và thủ tục để giám sát và báo cáo mức độ phát thải khí nhà kính và mức phát thải tương ứng do mất rừng và suy thoát rừng, sự đạt được và mất trữ lượng các bon rừng Báo cáo GOFC- GOLD, Văn phòng Dữ liệu đất, Trường Đại học Wageningen, Hà Lan) Có thể truy cập báo cáo tại http://www.gofcgold.wur.nl/redd/.
Trang 5phần GIZ, dự án khu vực PNKB, bản đồ phân loại sinh thái rừng cho toàn tỉnh dựa trên ảnh viễn thám có độ phân giải cao (5m RapidEye) đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Để phục vụ cho công tác giải đoán, đợt xác minh thực địa đã được tiến hành trong khoảng thời gian từ ngày 10 đến ngày 19, tháng 7, năm 2013 Theo kế hoạch, bản dự thảo đầu tiên của bản đồ phân loại trạng thái rừng sẽ có vào ngày 10/08/2013 và bản hoàn thiện cuối cùng sẽ được hoàn thành trong tháng 09/2013 Bản đồ phân loại trạng thái rừng này sẽ là cơ sở để tính toán và phân bổ các ô mẫu điều tra sinh khối trong toàn tỉnh Dự kiến khi hoàn thành, tỉnh Quảng Bình sẽ có được đồng thời 2 sản phẩm: i) bản đồ trạng thái rừng của tỉnh; và ii) bản
đồ thể hiện mật độ trữ lượng cac-bon tương ứng của toàn tỉnh
Việc thiết kế ô mẫu điều tra sinh khối phần lớn dựa trên phương pháp điều tra tài nguyên rừng truyền thống đang được áp dụng phổ biến tại Việt Nam Trong đó, thiết kế và kích thước các ô mẫu thứ cấp (20m x 25m) về nguyên tắc phù hợp với:
Phương pháp được áp dụng cho công tác kiểm kê rừng toàn quốc lần thứ 4 (được thực hiện từ 2006 đến 2010), trong đó cũng áp dụng ô mẫu 20 x 25 m làm đơn vi đo cơ sở
Thông tư số 38/2007/TT-BNN của Bộ NN&PTNT ban hành ngày 25/04/2007
về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn
Thông tư số 87/2009/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT ban hành ngày 31/12/2009 về hướng dẫn thiết kế khai thác chọn gỗ rừng tự nhiên
Trong khi phương pháp kỹ thuật đối với việc thiết kế ô mẫu nhất quán với các cuộc điều tra rừng trước đây, mục tiêu chính của đợt điều tra lần này là nhằm xây dựng bản đồ phân lớp cac-bon Do đó, trong nội dung kỹ thuật đo đếm có những khác biệt sau đây:
Nội dung điều tra bao gồm cả cây chết đứng, cây gãy đổ, và gốc cây, do những
số liệu này cần thiết cho việc đánh giá trữ lượng cac-bon và các hoạt động liên quan đến REDD+
Các tiêu chí điều tra được thiết kế để đóng góp hiểu biết về mức độ suy thoái rừng trên địa bàn tỉnh bởi đây là chỉ số chính để xác định tiềm năng REDD+ đối với tỉnh Quảng Bình Chính vì thế, việc đánh giá phụ thuộc rất nhiều vào việc kết hợp đợt điều tra sinh khối thực địa với giải đoán ảnh vệ tinh có độ phân giải cao để có được thông tin về phân bố và tổng diện tích của các đối tượng rừng giàu, rừng trung bình và rừng nghèo cho từng đối tượng phân loại sinh thái cụ thể Để hỗ trợ cho mục đích này, việc đo đạc tiết diện ngang cũng được bổ sung vào nội dung đo đếm
Trang 6Các Nhóm điều tra thực địa sẽ sử dụng tài liệu hướng dẫn này trong suốt quá trình điều tra tại thực địa nhằm đảm bảo rằng tất cả các số liệu được thu thập được chuẩn hóa theo các hướng dẫn kỹ thuật đã có sẵn Các trình tự thực hiện tiêu chuẩn được miêu tả trong tài liệu hướng dẫn này cũng là một trong những nội dung của các khóa tập huấn được tổ chức cho các Nhóm điều tra thực địa của Đơn vị cung cấp dịch vụ để tiến hành đợt điều tra này
Với sự hướng dẫn và hỗ trợ của các cán bộ hỗ trợ kỹ thuật dự án và các ban ngành cấp tỉnh có liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp sẽ có trách nhiệm giám sát và đánh giá các hoạt động triển khai trên thực địa của Đơn vị cung cấp dịch vụ nhằm đảm bảo rằng các kết quả điều tra sẽ đảm bảo tính thống nhất và chính xác và đáp ứng các yêu cầu của tỉnh
Cũng cần phải nhấn mạnh là có mối liên quan trực tiếp giữa điều tra trữ lượng gỗ
và điều tra sinh khối đánh giá trữ lượng cac-bon Cac-bon là tỷ lệ phần trăm trực tiếp của sinh khối Và do đó, điều tra sinh khối được tiến hành hầu như tương tự như điều tra trữ lượng gỗ, ngoại trừ điều tra trữ lượng gỗ chỉ áp dụng đối với một phần của cây gỗ trong khi đó điều tra sinh khối tiến hành điều tra toàn bộ trữ lượng sinh học của cây gỗ đó Hình ảnh dưới đây minh họa phân bố cac-bon và sinh khối Sinh khối thường được thể hiện qua đơn vị tấn vật chất dạng khô (t.dm), cac-bon được thể hiện bằng đơn vị đo tấn cac-bon rắn (tC) và cac-bon dạng khí thường được đo bằng tấn CO2 tương đương với khí phát thải nhà kính (tCO2e)
Trang 7Hình 1: Tỷ lệ quan hệ của cac-bon, nước và các yếu tố có chứa trong sinh khối
Theo các số liệu thống kê từ kết quả giải đoán ảnh viễn thám do GIZ thực hiện mới nhất, tổng diện tích đất rừng sẽ được tiến hành rút mẫu điều tra trong đợt điều tra sinh khối sắp tới3
là 670.548 ha
Trạng thái Ib và Ic được đưa vào nội dung thiết kế điều tra sinh khối vì các khu vực rừng này vẫn có sự xuất hiện rải rác các loài cây gỗ, và những số liệu về các loài cây gỗ lớn cần được tập hợp trong phần đánh giá tổng trữ lượng cac-bon.4
Trạng thái Ia (đất trống trảng cỏ, lau lách và chuối rừng, không có cây tái sinh) bị loại trừ khỏi thiết kế điều tra và sẽ không tiến hành lấy mẫu điều tra
Công việc điều tra thực địa sẽ được tiến hành đối với các khu vực rừng tự nhiên và rừng trồng, bao gồm cả các khu vực trồng cao su trong trường hợp chúng được
Nước 50%
Ví dụ:
Khối lượng nước = 1.20 t
Khối lượng carbon = 0.60 t
Sinh khối khô Sinh khối tươi
Thành phần khác 50% Carbon 50%
Trang 8trồng trên diện tích đất rừng Cây trồng ngoài khu vực đất lâm nghiệp (ví dụ vườn cây ăn quả trong vườn nhà của các hộ gia đình) sẽ không được đưa vào lấy mẫu điều tra
Bước quan trọng trong việc xây dựng thiết kế điều tra sinh khối đảm bảo hợp lý về mặt kỹ thuật đó là tính toán số ô mẫu cần thiết (còn gọi là dung lượng mẫu) Tổng
số ô mẫu cần thiết tuỳ thuộc vào hệ số biến động của mẫu và sai tiêu chuẩn cho phép (E) về trữ lượng sinh khối trong mỗi lô trạng thái tại mức xác suất nhất định Công thức để tính toán số lượng ô mẫu cần thiết (n) là:
Công thức 1: Công thức tính toán tổng số lượng ô mẫu cần thiết cho diện tích lấy
mẫu
Trong đó:
E là sai tiêu chuẩn cho phép Giá trị này được tính toán bằng cách nhân hệ
số trữ lượng cac-bon trung bình với mức độ chính xác kỳ vọng (ví dụ: nếu mức chính xác kỳ vọng là 10%, thì E= hệ số cac-bon trung bình x 0,1; hay nếu mức độ chính xác kỳ vọng là 20% thì E= hệ số trữ lượng cac-bon x 0,2);
t độ tin cậy (t) là mức độ xác suât của phép ước lượng thống kê Với ấn định mức độ xác suất 95%, giá trị =2;
N h là số ô mẫu tối đa được lấy của lô trạng thái h (N h = diện tích lô trạng thái h / diện tích ô mẫu);
N là tổng số ô mẫu tối đa của toàn bộ diện tích (N=tổng diện tích/diện tích
ô mẫu);
s h là độ lệch chuẩn của lô trạng thái h
Khi đã xác định được tổng số ô mẫu cần thiết (n), số lượng ô cho mỗi lô trạng thái
sẽ được tính toán bằng cách sử dụng công thức sau đây:
Trang 9Công thức 2: Công thức tính số lượng ô điều tra cần thiết cho từng lô trạng thái
Trong đó:
n là số lượng ô mẫu cần thiết (tính toán theo Công thức 1 ở trên);
n h số lượng ô mẫu cho lô trạng thái h (h có giá trị từ 1 đến L là tổng số lô trạng thái);
N tổng số đơn vị lấy mẫu của toàn bộ diện tích cần điều tra của tỉnh (N = tổng diện tích lấy mẫu / diện tích ô mẫu);
N h là số lượng ô mẫu tối đa của lô trạng thái h (N h = diện tích của trạng thái h / diện tích của ô mẫu);
s độ lệch chuẩn;
s h độ lệch chuẩn của lô trạng thái h
Công thức trên cho thấy số lượng ô mẫu cần thiết phụ thuộc vào bốn (6) tham số sẽ được giải thích một cách ngắn gọn như sau:
trữ lượng cac-bon trung bình của toàn bộ diện tích Sai tiêu chuẩn cũng được
sử dụng như là mức độ chính xác kỳ vọng của kết quả điều tra và được xem là một trong những thông số được quan tâm nhất (cac-bon rừng) Sai tiêu chuẩn cho phép để ước lượng trữ lượng cac-bon rừng được ấn định là 10% cho cả tất
cả các loại trạng thái (được áp dụng phổ biến trên thế giới trong công tác ước
lượng trữ lượng cac-bon)
trị trung bình của toàn bộ đối tượng khảo sát Độ lệch chuẩn càng thấp tương ứng với mức độ biến động thấp, và ngược lại, giá trị này càng cao thì mức độ biến động càng cao
trong lô đối tượng h xung quanh giá trị trung bình Độ lệch chuẩn càng thấp tương ứng với mức độ biến động thấp, và ngược lại, giá trị này càng cao thì mức độ biến động càng cao
lượng thống kê Nếu ấn định mức độ xác suất là 95%, có nghĩa là với 95% xác
Trang 10suất các kết quả sẽ nằm trong phạm vi sai số cho phép Đối với mức xác xuất 95% giá trị t là 2
tổng diện tích của toàn bộ các đối tượng lấy mẫu chia cho diện tích của ô mẫu
tích lô phân loại h / diện tích của ô mẫu
Trên cơ sở kết quả giải đoán ảnh vệ tinh sport 5 tại khu vực Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và kết quả bước đầu giải đoán ảnh vệ tinh RapidEye trên địa bàn toàn tỉnh, đồng thời mức biến động khác nhau giữa rừng đặc dụng so với rừng phòng hộ và sản xuất nên thiết kế này được chia thành 2 khu vực như sau:
2.1.1 Điều tra sinh khối trong khu vực VQG PNKB
Đối với tài nguyên rừng thuộc Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng có tính ổn định cao, độ biến động thấp, đặc biệt là suy thoái rừng thấp Vì vậy số lượng ô tiêu chuẩn bố trí là 28 ô, Vườn quốc gia PNKB với 5 nhóm phân loại trạng thái đã được xác định dựa trên bản đồ trạng thái và số liệu giải đoán ảnh viễn thám Spot 5 do dự
án khu vực PNKB cung cấp Trên cơ sở diện tích phân loại trạng thái rừng và áp dụng công thức tính toán, số lượng ô tiêu chuẩn cho từng đối tượng trạng thái như sau (Chi tiết theo phụ lục 1 đính kèm):
Bảng 1: Phân bổ ô mẫu cho các phân loại trạng thái Khu vực vườn quốc gia PNKB
(*)
Phân nhóm
Diện tích (ha)**
Số lượng ô mẫu
Rừng thường xanh trên
(*): Việc phân loại trạng thái giàu nghèo được xác định một cách tương
đối theo mật độ cây sử dụng ảnh viễn thám;
(**) Diện tích này được xác định từ diện tích rừng có đủ tiêu chí điều tra
thông qua giải đoán ản Viễn thám;
Trang 11(***): Do diện tích rừng giàu trên núi đât tương đối nhỏ, khi sử dụng công thức
tính thì kết quả số ô mẫu cần thiết là 0; tuy nhiên vẫn tiến hành điều tra 2 ô để có thể tính toán chính xác mức lệch chuẩn (S.)
Vị trí và tọa độ của 28 ô tiêu chuẩn sơ cấp tại khu vực Vườn quốc gia Phong Nha –
Kẻ Bàng theo Phụ lục 7
2.1.2 Điều tra trên diện tích còn lại của tỉnh
Dựa trên kết quả giải đoán ảnh viễn thám ban đầu, số lượng ô mẫu tối thiểu cần thiết cho đợt điều tra sinh khối đánh giá trữ lượng cac-bon tại Quảng Bình là 175 ô Phân bổ ô mẫu theo phân loại rừng được trình bày ở Bảng 2
Bảng 2: Phân bổ ô mẫu cho các phân loại rừng trên địa bàn toàn tỉnh
(ha)
Số lượng ô mẫu phân bổ
Rừng lá rộng thường xanh Nhóm 4 500,201 138 Rừng hỗn giao với tre nứa Nhóm 5 21,473 6
Ghi chú: Diện tích tính toán qua giải đoán ảnh vệ tinh chưa bóc tách
Vị trí và tọa độ của 175 ô tiêu chuẩn sơ cấp tại khu vực ngoài Vườn quốc gia
Phong Nha – Kẻ Bàng theo Phụ lục 7
Như được đề cập ở trên, việc phân bổ ô mẫu điều tra giá sinh khối sẽ được tiến hành theo hai khu vực Cùng với việc sử dụng bản đồ nền VN-2000, bản đồ trạng thái theo phân loại sinh thái tỉ lệ 1:50,000 sẽ được sử dụng làm bản đồ cơ sở để phân bố các ô mẫu Các ô mẫu sẽ được tiến hành phân bố theo phương pháp như sau:
Trang 12- Tiến hành lập lưới ô vuông với cự ly 01km;
- Trên cơ sở số lượng ô mẫu của từng loại trạng thái rừng và các tiêu chí thiết lập ô tiêu chuẩn (khoảng cách tối thiểu đến trục đường, song suối, độ dốc ) tiến hành bố trí các ô mẫu tại từng mắt lưới đã được thiết lập
Theo đó, các lớp phân loại rừng dựa trên kiểu rừng và chất lượng sẽ được xác định trên phạm vi toàn tỉnh nhằm đảm bảo số lượng ô mẫu tối thiểu sẽ được phân bổ một cách ngẫu nhiên và hệ thống cho từng loại trạng thái thông qua sử dụng công nghệ GIS Số hiệu của các ô mẫu sẽ được chỉ rõ trên bản đồ Quá trình phân bổ ô mẫu và đánh số ô mẫu sẽ được hỗ trợ bởi Dự án và hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia cac-bon rừng Các chuyên gia sẽ hỗ trợ các nhóm điều tra thực địa chuẩn bị bản đồ trước khi tiến hành công điều tra cũng như hỗ trợ xác định vị trí địa lý phù hợp của các ô mẫu cho từng nhóm phân loại rừng Ngoài ra, để đảm bảo điều tra hiện trường đạt kết quả tốt, trước khi tiến hành điều tra hiện trường, công tác sơ thám sẽ được triển khai ngay sau khi có kết quả phân bố ô mẫu trên bản đồ để có những điều chỉnh phù hợp đối với những trường hợp các ô tiêu chuẩn không tiếp cận được hoặc không đảm bảo tiêu chí điều tra Công tác sơ thám sẽ do Dự phối hợp với Tổ công tác về theo dõi diễn biến rừng (MRV) của tỉnh thực hiện
Trong phạm vi khả năng kỹ thuật cho phép, các tiêu chí sau đây sẽ được áp dụng khi tiến hành phân bổ cũng như xác định vị trí ô điều tra:
Ô điều tra phải nằm trong khu vực xác định là rừng;
Loại trừ khu vực trong phạm vi 1 km xung quanh các thôn bản;
Loại trừ khu vực trong phạm vi 500m từ đường đến ô mẫu đối với các tuyến đường lớn (đường quốc lộ, tỉnh lộ và các đường tương đương) và 300m đối với các tuyến đường nhỏ;
Loại trừ các khu vực có độ dốc lớn hơn 40 độ;
Phải đảm bảo ô mẫu được đặt trong phạm không quá 5 km bao gồm cả khu loại trừ xung quanh các khu vực có bất cứ đặc điểm nào sau đây:
Trang 13Hình 3: Sơ đồ bố trí các ô tiêu chuẩn sơ cấp (Tọa độ ô tiêu chuẩn theo phụ lục 7)
Hình 2 dưới đây là thiết kế ô mẫu tiêu chuẩn (ô sơ cấp), được xác định dựa trên các yêu cầu về độ chính xác cần thiết, thời gian hiện có để tiến hành các hoạt động thực địa và các chi phí đo đạc Một ô mẫu bao gồm 3 ô thứ cấp, mỗi ô thứ cấp có kích thước cố định là 20 x 25 m (500m2
) Cụm ô thứ cấp phân bố theo dạng hình chữ L, khoảng cách giữa tâm của các ô thứ cấp là 75 mét Tổng diện tích điều tra của một
ô mẫu sơ cấp là 1.500 m² (3 x 500 m²) hay 0,15 ha Trung tâm ô mẫu nằm ở góc tây nam của ô thứ cấp A
Việc thiết lập ba ô thứ theo hình chử L sẽ phản ánh một cách tốt hơn tính hỗn tạp
và phân bố không gian của rừng, vì rừng thường bao gồm nhiều điều kiện lập địa khác nhau và do đó nắm bắt tốt hơn sự biến động trong mỗi ô thứ cấp, cho thấy rằng hệ số biến động nhỏ hơn so với các ô mẫu đơn lẻ có cùng tổng diện tích với các ô thứ cấp nói trên Kết quả là, các kết quả điều tra sẽ được thu thập với độ chính xác cao hơn Việc lựa chọn diện tích ô mẫu khá lớn (0.15 ha) như trên đảm bảo độ tin cậy cũng như hiệu quả về chi phí và thời gian
Trang 14Hình 4: Sơ đồ bố trí ô mẫu thứ cấp của 1 ô tiêu chuẩn sơ cấp
Các ô thứ cấp có thiết kế lồng vào nhau với hai tiểu vùng để đo đếm cây (phụ thuộc vào đường kính ở chiều cao ngang ngực (DBH) của cây) các tiêu chí điều tra tại từng tiểu vùng được mô tả tại hình sau:
Hình 5: Bố trí các tiểu vùng điều tra trong 1 ô thứ cấp
Trang 15Đường kính ngang ngực (DBH) tối thiểu của cây đứng đang sống và đã chết là 8cm, phù hợp với mức đường kính tối thiểu được áp dụng trong quá trình thực hiện kiểm kế rừng cấp quốc gia Việc áp dụng thiết kế ô mẫu lồng ghép giúp giảm thời gian đo đếm ở hiện trường một cách đáng kể, do sự phân bố đường kính cây điển hình trong rừng tự nhiên giống với một đường cong hình chữ J ngược với số lượng nhiều những cây nhỏ và số ít các cây to:
(1) Toàn bộ tiểu vùng A của ô thứ cấp (20 x 25 m = 500 m2): tất cả cây có đường kính ngang ngực ≥ 30 cm sẽ được đo
(2) Tiểu vùng B (10 x 10 m = 100 m2): những cây đường kính ngang ngực ≥ 8
cm và < 30 cm sẽ được đo; ngoài ra, cây gãy đổ và gốc cây với đường kính
≥10 cm cũng sẽ được đo
(3) Tiểu vùng C (4 x 4 m = 16 m2): Đo đếm những cây tái sinh triển vọng có chiều cao ≥ 130 cm và đường kính ngang ngực từ 2cm – 8 cm và các loài tre nứa Tiểu vùng này nằm ở góc tây nam của mỗi ô thứ cấp A, B và C
Cách thiết kế các ô thứ cấp như trên là thích hợp đối với cả rừng tự nhiên và rừng trồng Vì có thể thấy trước được rằng khó có những rừng trồng nào có cây với đường kính ≥ 30 cm dbh, do đó các cây rừng trồng sẽ được đo đếm ở những ô thứ cấp 10 x 10 m
Như đã mô tả ở mục 2.2, trước khi triển khai công tác ngoại nghiệp, địa điểm của các ô mẫu sẽ được xác định và đánh dấu trên các bản đồ nền tỉ lệ 1:50,000, để từ đó biết chính xác toạ độ của từng ô mẫu Từ tọa độ trên bản đồ này, điểm đặt ô mẫu sẽ được xác định trên trên thực địa bằng sử dụng bản đồ nền, các dụng cụ định vị GPS, quan sát hiện trường với la bàn và thước dây - thước dây được sử dụng trong trường hợp GPS không bắt được tín hiệu vệ tinh trong điều kiện điều tra trong khu vực rừng khép tán hoặc trong điều kiện trời mây mù (chú ý: GPS phải bắt được tín hiệu từ ít nhất 03 vệ tinh để xác định tọa độ đặt ô mẫu được chính xác)
Cách dễ nhất để xác định vị trí ô mẫu đó là nhập toạ độ của ô mẫu vào thiết bị GPS (lưu chúng là “waypoints”), sau đó sử dụng chức năng “GoTo” Trong trường hợp không thể hoàn toàn tiếp cận được ô mẫu bằng thiết bị GPS (ví dụ: do có nhiều mây hay trời mưa), các tổ điều tra nên tìm một chỗ trống ở gần ô mẫu nơi thiết bị GPS có thể nhận được tọa độ của vị trí với độ chính xác tương đối (< 10 m) Từ điểm quy chiếu này tính toán khoảng cách và phương hướng đến tâm ô mẫu, sau đó
đo đạc bằng la bàn và thước dây Cải bằng độ dốc là bắt buộc khi tiếp cận trung tâm ô với la bàn và thước dây (sử dụng bảng qui đổi độ dốc được cung cấp trong Phụ lục 2 để điều chỉnh khoảng cách) Trong trường hợp một điểm quy chiếu được
Trang 16sử dụng, nó phải được mô tả ngắn gọn trong phiếu điều tra (thông qua thiết bị nhập
dữ liệu di động hoặc trong phiếu điều tra in sẵn) về khoảng cách cũng như hướng
từ điểm quy chiếu đến trung tâm ô mẫu
Đường tiếp cận từ điểm quy chiếu đến tâm ô mẫu nên theo đường thẳng, do đó, việc cắt tuyến có thể sẽ cần thiết trong trường hợp cây cối quá dày đặc Để tiếp cận tọa độ ô mẫu, khi có những chướng ngại vật không thể đi qua được, chẳng hạn như những phiến hay tảng đá lớn, tổ điều tra nên đi đường vòng như đã mô tả trong Hình 4 bằng cách đi theo bốn góc vuông cho đến khi hướng gốc của đường đi có thể được bắt đầu lại
Hình 4: Vòng qua một chướng ngại vật khi đi đến ô mẫu
Chuyển dời các ô mẫu: Ngoại lệ duy nhất là sự chuyển dời toàn bộ ô mẫu trong
trường hợp toàn bộ thảm thực vật rừng đã bị chặt phá hoặc nơi hoàn toàn không thể tiếp cận với ô mẫu do độ dốc lớn, vì điều này có thể xảy ra trong trường hợp của rừng núi đá vôi Trong trường hợp một ô mẫu nằm trên sườn dốc > 400
hoặc trên các khu vực đất trống/mất rừng/bị chuyển đổi (mặc dù trên các bản đồ trạng thái rừng cho thấy vị trí ô mẫu vẫn được bao phủ bởi rừng), các ô mẫu cần phải được chuyển sang một vị trí khác vẫn còn rừng nhằm đảm bảo rằng có đủ số lượng tối thiểu các ô mẫu theo yêu cầu Các nhóm điều tra phải tuân thủ các quy trình chuẩn
về chuyển dời ô mẫu như sau:
Chuyển dời tâm ô mẫu sang 200 m về phía Bắc so với vị trí ban đầu Trong trường hợp khu vực này được xác định là không có rừng, tiếp tục chuyển dời tâm ô mẫu sang 200 m về phía Tây so với vị trí ban đầu Trong trường hợp khu vực này cũng được xác định là có rừng, tiếp tục chuyển dời tâm ô mẫu sang 200 m về phía Nam so với vị trí ban đầu Một cách tương tự, trong trường hợp khu vực này cũng được xác định là không có rừng, tiếp tục
chuyển dời tâm ô mẫu sang 200 m về phía Đông so với vị trí ban đầu
Trong trường hợp không thể chuyển dời ô mẫu sang 4 hướng xung quanh, tổ điều tra phải ghi chép vào thiết bị nhập dữ liệu di động (hoặc vào phiếu điều tra in sẵn)
Trang 17rằng không thể thiết lập ô mẫu do (i) độ dốc lớn hoặc (ii) mất rừng hoặc (iii) bất kỳ
lý do nào khác
Tâm các ô thứ cấp cần được đánh dấu để giúp định vị lại ô mẫu một cách chính xác trong quá trình điều tra để phục vụ công tác kiểm tra, nghiệp thu kết quả thực hiện của công tác điều tra ngoại nghiệp (xem chương 4.2 để biết thêm chi tiết) Có thể làm điều này bằng cách dùng cọc gỗ cứng được đánh dấu bằng sơn xịt màu nhằm giúp dễ phát hiện ra các cọc gỗ này dễ dàng so với các cây gỗ xung quanh Bên cạnh đó, số hiệu ô mẫu nên được sơn hoặc xịt màu lên một cây gần với tâm ô Sau khi đánh dấu tâm ô, ba góc còn lại của ô mẫu cũng cần được đánh dấu bằng cọc gỗ Ngoài ra cũng cần đóng cọc gỗ tại các góc của các ô phụ lồng trong ô thứ cấp (10 x 10 m, 4 x 4 m) Chiều dài chính xác được đo bằng thước dây
Cần lưu ý rằng trong quá trình thiết lập ô mẫu tại các khu vực vùng đồi núi, đường
cơ sở của ô mẫu (xem hình 3) không nhất thiết phải đi theo hướng đông một cách chính xác, nhưng tốt nhất nên chạy song song với đường đồng mức của khu vực đồi núi đó Một nguyên tắc bắt buộc trong quá trình thiết lập ô mẫu điều tra là phải tiến hành cải bằng để đảm bảo diện tích ô mẫu điều tra được đảm bảo
Để thiết lập góc vuông, hướng của đường cơ sở được xác định với la bàn Hướng của 02 đường vuông góc với đường cơ sở được xác định bằng cách trừ đi 900
từ kết quả đọc hướng đường cơ sở từ la bàn
Các kết quả đo đếm và quan sát được ghi chép vào máy tính bảng (hoặc vào phiếu điều tra in sẵn), được thiết kế thành 6 phần như trình bày ở Phụ lục 2 Các thông số cần được ghi chép được miêu tả trong chương tiếp theo Thứ tự việc đo đếm nên tiến hành đo theo thứ tự sau: (i) ghi chép các thông tin chung và các thông số về địa điểm, (ii) đo đếm cây tái sinh, (iii) đo đếm tre nứa, (iv) đo đếm cây gãy đổ và gốc cây, và (v) đo các cây khác
Tổ trưởng nhóm điều tra chịu trách nhiệm ghi chép số liệu, trong khi các thành viên khác chịu trách nhiệm đo đạc và đánh dấu cây đã được đo
3.2.1 Thông tin chung và các thông số địa điểm
Rừng hỗn giao nhiệt đới có cấu trúc phong phú và có nhiều hiện trạng rất khác nhau giữa các điểm trong một phạm vi ô mẫu nào đó Vì vậy, để có thể tối ưu hoá việc phân tích số liệu thu thập được, cần phải ghi chép các thông số về địa điểm có liên quan Đối với mỗi ô thứ cấp, những số liệu sau đây cần được ghi chép (lưu ý:
vì những thông số địa điểm như độ dốc, địa hình, v.v có thể thay đổi rõ rệt đối với những khoảng cách ngắn, tất cả những số liệu ghi chép đều qui vào diện tích ô thứ cấp 20 x 25 m):
Trang 181 Số hiệu ô mẫu: Tất cả các ô mẫu được đánh số với số hiệu riêng và được thể
hiện trên bản đồ nền điều tra Số hiệu của ô mẫu bao gồm 03 con số, đại diện cho một số ô mẫu duy nhất, ví dụ như 001, 002, 003 …, 218, 219
2 Ô thứ cấp: A, B, hoặc C
3 Chuyển dời ô mẫu: Bắc, Tây, Nam, Đông Để trống nếu không chuyển ô
4 Tọa độ VN2000:
- (x): Tọa độ X, hệ VN2000 của tâm ô mẫu; đọc từ bản đồ nền điều tra hoặc GPS
Ví dụ: 0287000 Lưu ý: chỉ ghi chép đối với ô thứ cấp A
- (y): Tọa độ Y, hệ VN2000 của tâm ô mẫu; đọc từ bản đồ nền điều tra hoặc GPS
Ví dụ: 1615000 Lưu ý: chỉ ghi chép đối với ô thứ cấp A
5 Mã số xã: mã số gồm 5 con số (được Bộ TNMT sử dụng chính thức) Lưu ý: chỉ
ghi chép đối với ô thứ cấp A Việc nhập dữ liệu vào máy tính bảng chỉ chọn lựa tên huyện, xã sau đó phần mềm sẽ tự động cập nhật mã số của huyện, xã vào hệ thống biểu mẫu điều tra Danh sách mã số xã được cung cấp tại Phụ lục 4
03 Tổ chức kinh tế (tư nhân)
04 Hộ gia đình người Việt
05 Người Việt sống ở nước ngoài
06 Các tổ chức/cá nhân nước ngoài
Trang 19Mã số Chủ rừng
07 Cộng đồng thôn bản
08 Lực lượng vũ trang nhân dân
09 Các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Việc nhập dữ liệu chủ rừng chỉ tiến hành nhập tên chủ rừng, còn mã số sẽ được hệ thống phần mềm tự động cập nhật
8 Cao độ: mã số gồm 1 con số (đọc từ bản đồ nền hoặc từ máy GPS)
9 Độ dốc: ghi theo số độ (°) với máy đo độ dốc (ví dụ Suunto) Việc đọc tính từ
tâm ô mẫu (chiếu lên dốc/xuống dốc, theo góc vuông với phương hướng đường cơ sở) Việc đo độ dốc được thực hiện với việc ngắm vào mắt của người làm bia ngắm (có chiều cao tương đương) đứng cách người đo 15 m từ tâm ô
10 Cấp trạng thái rừng: ghi theo cấp trạng thái rừng (Ib, Ic, IIa, IIb, IIIa1, IIIa2,
IIIa3, IIIb, IV) từ bản đồ nền điều tra và trạng thái rừng trong điều kiện thực tế tại thực địa Ví dụ: IIb / Ic
Ghi “X” làm mã số cho trạng thái rừng thực tế trong trường hợp đất rừng đã được chuyển đổi, ví dụ sang đất nông nghiệp hoặc đất nương rẫy Ví dụ: IIa / X
11 Loại quần thụ: mã số gồm 2 con số
01 Rừng tự nhiên lá rộng (thường xanh hoặc bán thường xanh)
02 Rừng tự nhiên lá kim
03 Rừng tự nhiên hỗn giao (lá rộng/lá kim)
04 Rừng tự nhiên hỗn giao với tre nứa
Trang 2010 Rừng cao su / cây công nghiệp khác
11 Không phải đất lâm nghiệp (đã chuyển đổi mục đích sử dụng)
Việc nhập dữ liệu quần thụ rừng chỉ tiến hành nhập tên quần thụ, còn mã số sẽ được hệ thống phần mềm tự động cập nhật
12 Độ che của tán lá: mã số gồm 2 con số
Việc đánh giá độ tàn che thông thường phải được tiến hành đo đếm bằng công cụ
Vi quang kế hình cầu Tuy nhiên trong trường hợp điều kiện điều tra không có công
cụ thì tiến đánh giá độ tàn che bằng trực quan Cần chia các ô mẫu nhỏ thành 4 tiểu
ô mẫu dạng hình chữ nhật có cùng kích thước (lý tưởng là 10 x 12.5 m), trong mỗi tiểu ô mẫu dạng hình chữ nhật, sẽ ước tính độ tàn che Độ tàn che được ghi lại sẽ được tính trên cơ sở bình quân của kết quả ước tính độ tàn che trong 4 tiểu ô mẫu
13 Ngày điều tra: ghi theo ngày/tháng/năm (DD/MM/YYYY) (ví dụ: 25/09/2013)
Trang 2114 Tổ trưởng: ghi tên của tổ trưởng tổ điều tra
Chụp ảnh ô mẫu:
Ghi chú: Tổ trưởng được yêu cầu chụp ảnh đối với mỗi ô mẫu sử dụng máy tính bảng đã được trang bị Ảnh nên được chụp từ vị trí tâm ô theo hướng đông bắc ở tầm mắt người đối diện
3.2.2 Số liệu về tái sinh
Số liệu về tái sinh được ghi trong những ô phụ nhỏ có kích thước 4 x 4 m (16 m²) của tất cả các ô thứ cấp Cây tái sinh triển vọng được đo đếm là những cây non có hình thân tốt, có chiều cao >= 130 cm và đường kính ngang ngực >2 cm Khi các ranh giới ô thứ cấp được thiết lập cần phải cẩn thận để không sơ ý làm gãy những cây nhỏ có trong phạm vi những ô nhỏ có kích thước 4 x 4 m Những thông số sau đây sẽ được ghi chép:
1 Tên loài: ghi tên loài theo tiếng địa phương như đã trình bày ở Phụ lục 5 Đối
với những loài cây mà nhóm điều tra không nhận dạng được, thì cần lấy một mẫu vật (cành có lá và chồi) để sau này có thể nhờ chuyên gia về thực vật định loài Ghi chú: Nhà cung cấp dịch vụ cần chuẩn bị danh sách các loài cây tiêu chuẩn trước khi tiến hành công tác điều tra ngoại nghiệp Kiến nghị rằng danh sách các loài cây của Quảng Bình nên tận dụng hệ thống mã hóa cây rừng đã được nêu trong cuốn sách “Tên cây rừng Việt Nam – The Names of Forest Plants in Vietnam”, do Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành, Hà Nội, 2000 Cuốn sách cung cấp mã số gồm 4 con số riêng cho từng loài cây trong số 4.500 loài cây khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam cũng như các loài cây ngoại lai như các loài Keo (Acacia spp.) hoặc Bạch đàn (Eucalyptus spp.)
2 Mã số loài: Mã số gồm 4 con số như đã trình bày trong danh mục các loài cây ở
Phụ lục 5 Tuy nhiên trong quá trình nhập dữ liệu vào máy tính bảng chỉ tiến hành nhập tên loài, còn mã số loài sẽ được tự động cập nhật vào hệ thống
3 Đếm số thân cây: ghi số thân cây đếm được cho từng loài riêng biệt Chỉ đếm
những cây sống, Số thân cây được ghi chép theo 1 cấp đường kính: từ 2 đến < 8cm
3.2.3 Tre nứa
Đo đếm tre nứa với đường kính ngang ngực từ 5cm trở lên trong ô phụ 4 x 4 m
Ghi chép thông tin tre nứa:
1 Tên loài: ghi tên các loài tre nứa như đã trình bày tại danh mục các loài tre nứa ở
Phụ lục 6
2 Mã số loài: mã số gồm 3 con số như đã trình bày tại danh mục các loài tre nứa ở
Phụ lục 5
Trang 223 Đếm số lóng: ghi số lóng tre nứa đếm được trong phạm vi ô phụ có kích thước 4
x 4 m Số lóng tre nứa được ghi chép theo từng cấp đường kính:
(i) 5 < 10 cm DBH
(ii) ≥ 10 cm DBH
4 Chiều cao trung bình: ghi chiều cao của lóng tre nứa có kích thước trung bình
theo m và 1 số thập phân (ví dụ 12,4 m) Có thể đo chiều cao của lóng tre nứa có kích thước trung bình với thước đo cao Blume-Leiss, được giới thiệu ở chương 3.2.5
3.2.4 Cây gãy đổ và gốc cây
Tiến hành đo đạc đối với cây gãy đổ và gốc cây đường kính >=10 cm trong tiểu vùng 10 x 10 m
Chiều dài tối thiểu của cây gãy đổ là 1 m; đường kính được đo ở vị trí nữa chiều dài cây (ví dụ: nếu chiều dài là 4.6 m, thì đo đường kính ở vị trí 2.3 m) Trong trường hợp cây có chia nhiều nhánh với độ dài tối thiểu khoảng 1m và đường kính
>=10 cm, thì cần đo đếm những cành cây này như một cây độc lập Nếu có một cây gãy đổ ra ngoài phạm vi ô phụ 10 x 10 m, chỉ đo đối với phần nằm trong ô
Chiều cao gốc cây phải ít hơn 1,3 m, nếu cao hơn 1,3 m, áp dụng đo như đo cây chết đứng
Ghi chép về cây gỗ chết:
1 Tên loài: Ghi tên loài theo tiếng địa phương như đã trình bày ở Phụ lục 6
2 Mã số loài: Mã số gồm 4 con số như đã trình bày trong danh mục các loài cây ở
Phụ lục 6 và sẽ được hệ thống tự động cập nhật khi tiến hành nhập tên loài
3 Đường kính: ghi bằng cm với 1 con số thập phân để đọc mm (ví dụ: 17.2 cm)
Đường kính được đo bằng một thước đo vanh đường kính (hoặc thước dây) ở vị trí nửa chiều dài của cây gãy đổ
4 Chiều dài: ghi bằng m với 2 số thập phân để đọc cm (ví dụ: 3,58 m) Chiều dài
cây gãy đổ được đo với thước dây Chỉ những phần cây gỗ chết nằm trong khu vực tiểu ô mẫu 10 x 10 m cần được đo đếm
5 Mức độ đặc: mỗi cây gãy đổ được xếp vào một trong 3 cấp về mức độ đặc thân
cây: đặc, vừa phải, hoặc mục ruỗng Để xác định mức độ đặc của thân cây, tổ điều tra sẽ dùng dao hoặc dao rựa chặt vào mỗi thân cây
1 Đặc: Dao/rựa không thể chặt vào gỗ
2 Vừa: Dao/rựa chặt 1 phần vào gỗ
Trang 233 Mục ruỗng: Dao/rựa chặt hết vào gỗ (cây gãy đổ bắt đầu
phân hủy, rất mềm, dễ vỡ)
Để đảm bảo có sự thống nhất trong việc xác định mức độ đặc của thân cây trong suốt quá trình điều tra ngoại nghiệp, trước khi tiến hành điều tra ngoại nghiệp, tất
cả các thành viên của các tổ điều tra phải được tập huấn về xác định dạng cây gãy
đổ thuộc về mỗi cấp về mức độ đặc thân cây gãy đổ
Ghi chép gốc cây:
1 Tên loài: Ghi tên loài theo tiếng địa phương như đã trình bày ở Phụ lục 6
2 Mã số loài: Mã số gồm 4 con số như đã trình bày trong danh mục các loài cây ở
Phụ lục 6 và sẽ được hệ thống tự động cập nhật khi tiến hành nhập tên loài
3 Đường kính chiều cao gốc cây: ghi bằng cm với 1 con số thập phân để đọc mm
(ví dụ: 47.2 cm) Đường kính được đo với thước đo vanh đường kính (hoặc với thước dây) ở phần đỉnh gốc cây Tiến hành 2 lần đo vuông góc với nhau và ghi số
đo trung bình Nên sử dụng thước đo vanh đường kính đối với gốc cây có bành vè
4 Chiều cao gốc cây: ghi bằng m với 2 số thập phân để đọc cm (ví dụ: 0,89 m)
Chiều cao gốc cây được đo với thước dây Độ cao cần được đo từ phía sườn cao của dốc
5 Mức độ đặc: mỗi cây gãy đổ được xếp vào một trong 3 cấp về mức độ đặc thân
cây: đặc, vừa phải, hoặc mục ruỗng Để xác định mức độ đặc của thân cây, tổ điều tra sẽ dùng dao hoặc dao rựa chặt vào mỗi thân cây
1 Đặc: Dao/rựa không thể chặt vào gỗ
2 Vừa: Dao/rựa chặt 1 phần vào gỗ
3 Mục ruỗng: Dao/rựa chặt hết vào gỗ (cây gãy đổ bắt đầu
phân hủy, rất mềm, dễ vỡ)
3.2.5 Số liệu cụ thể về cây đứng
Việc điều tra cây đứng được đo đếm bao gồm cả cây sống và cây chết có đường kính 1.3m từ 8cm trở lên (đường kính ngang ngực) và những gốc cây chặt có chiều cao trên 130cm Việc điều tra cây đứng được phân thanh 2 cấp như sau:
- Tiến hành đo toàn bộ cây sống, cây chết đứng, gốc cây có đường kính ngang ngực
từ 8cm đến dưới 30cm (8 - <30cm) trong tiêu vùng điều tra (tiểu vùng B) 10m x 10m của các ô mẫu thứ cấp
Trang 24- - Tiến hành đo toàn bộ cây sống, cây chết đứng, gốc cây có đường kính ngang ngực từ 30 cm đến dưới 30cm (8 - <30cm) trong tiêu vùng điều tra (tiểu vùng B) 10m x 10m của các ô mẫu thứ cấp
Đối với những trường hợp những cây nằm trên đường ranh giới của ô mẫu thứ cấp hoặc ranh giới của các tiểu vùng điều tra trong ô mẫu thứ cấp, tiến hành đo đếm những cây có 50% phần gốc cây nằm trong diện tích cần đo đếm
1 Số hiệu cây: ghi chép số hiệu cây theo thứ tự liên tiếp nhau Số hiệu cây nên
được đánh dấu trên cây bằng phấn để tránh đo đếm hai lần cùng một cây Vị trí vẽ phấn nên hướng về tâm ô để tổ trưởng dễ nhìn thấy trong khi ghi chép số liệu và chịu trách nhiệm đảm bảo đo đạc hết số cây phải đo trong ô
2 Tên loài: ghi tên loài theo tiếng địa phương như đã trình bày ở Phụ lục 6 Đối
với những loài cây mà nhóm điều tra không nhận dạng được, thì cần lấy một mẫu vật (cành có lá và chồi) để sau này có thể nhờ chuyên gia về thực vật định loại
3 Mã số loài: Mã số gồm 4 con số như đã trình bày trong danh mục các loài cây ở
Phụ lục 6 và sẽ được hệ thống tự động cập nhật khi tiến hành nhập tên loài
4 Đường kính ở chiều cao ngang ngực (DBH): ghi bằng cm với 1 con số thập
phân để đọc mm (ví dụ: 37.2 cm) Đường kính ngang ngực được đo bằng thước dây (hoặc thước đo vanh đường kính) ở vị trí 1,3 m tính từ mặt đất.5
Để tránh sai sót khi xác định chiều cao, chiều cao 1,3 m nên được đánh dấu trên quần áo của người đi đo, hoặc là sử dụng một cọc gỗ dài 1,3 m Trước khi đo cần phải gỡ bỏ những cây leo, dây bò, vỏ cây bong ra hay những vật lạ có thể gây sai lệch khi xác định đường kính ở chiều cao ngang ngực
Nên luôn luôn bắt đầu thước đo đường kính từ bên trái và kéo sang phải vòng quanh cây Đối với cây có kích thước lớn, nên sử dụng móc tròn đâu dây và ấn nhẹ vào vỏ cây để cố định thước Khi thước được kéo vòng quanh thân và quay trở về phía móc dây, dây đo phải tiếp xúc với móc dây
Các kỹ thuật đo đường kính ở chiều cao ngang ngực được thể hiện ở Hình 6 và được miêu tả ở phía dưới
5 Lưu ý: trong trường hợp đo đường kính bằng thước kẹp kính , đường kính ở chiều cao ngang ngực
Trang 25Hình 6: Kỹ thuật đo đường kính ở chiều cao ngang ngực (DBH)
Chi tiết về cách đo chính xác như sau:
Trên dốc, chiều cao ngang ngực của cây được xác định từ phía đỉnh đồi của thân cây
Đối với những cây có bạnh vè cao hơn 1,3 m, chiều cao ngang ngực được xác định cách chỗ bạnh vè 20 cm về phía trên
Đối với những cây bị u bướu, méo mó ở chiều cao 1,3 m, chiều cao ngang ngực được xác định cách chỗ biến dạng 20 cm về phía trên
Nếu cây bị phân cành ở dưới chiều cao 1,3 m, mỗi chạc nên được xem như một cây riêng biệt
Nếu cây bị phân cành ở trên chiều cao 1,3m, thì nó chỉ được đo như một cây
Trang 26 Nếu cây bị nghiêng, đo chiều cao của phép đo (1,3 m) song song với cây,
không phải vuông góc với mặt đất Do đó, nếu cây bị nghiêng, đo bên dưới
góc nghiêng (bên trong góc nghiêng), song song với góc nghiêng của cây Chiều cao ngang ngực được đo vuông góc với trục của thân cây
Đối với những cây có nhiều rễ cọc nổi trên mặt đất, chiều cao ngang ngực được xác định ở 1,3 m trên các rễ cọc
5 Chiều cao vút ngọn: ghi bằng m với một con số thập phân để biết dm (ví dụ:
21,8 m) Chiều cao vút ngọn được đo bằng dụng cụ dựa theo nguyên lý hình học (ví
dụ như Suunto hay Blume-Leiss) Thực hiện ngắm đo cao 3 lần: đo khoảng cách ngang từ người đo đến cây, và 2 góc từ mắt người quan sát đến đỉnh ngọn cây và đến gốc cây (xem hình 7) Chiều cao cây sau đó được tính toán bằng cách áp dụng các nguyên lý lượng giác Công cụ phổ biến nhất dùng để đo cao cây được áp dụng tại Việt Nam là thước đo cao Blume-Leiss, cho phép đọc trực tiếp chiều cao cây ngay trên thước đo, do đó, phần hướng dẫn sau đây hướng dẫn cách sử dụng thước
đo cao Blume-Leiss
Người quan sát phải đi vòng quanh cây và tìm vị trí quan sát tốt nhất có thể thấy rõ ngọn cây Người quan sát nên đứng phía trên dốc so với cây (hoặc ngang bằng với gốc cây), nên tránh đo từ dưới dốc do góc đo sẽ lớn hơn 900
gây ảnh hưởng đến tính chính xác của việc đo cao cây Chỉ tiến hành đo từ dưới dốc nếu koong còn phương án thay thế nào khác
Hình 7: Đo cao cây (với thước đo cao Blume-Leiss)
Trang 27Đo khoảng cách: Nếu sử dụng thước Blume-Leiss, khoảng cách từ người quan sát
đến cây được ấn định là 15 m, 20 m, 30 m hoặc 40 m Người quan sát nên đứng đủ
xa so với cây để tránh các góc lớn hơn 900
từ mắt người quan sát đến ngọn cây Có thể đo khoảng cách từ người quan sát đến cây bằng thước dây (hoặc dụng cụ đo khoảng cách của Blume-Leiss và bảng cải bằng độ dốc) Điều quan trọng là khoảng cách được đo theo chiều ngang chứ không phải theo sườn dốc.6
Số đo góc: Thực hiện ngắm đo hai lần, lần đầu đến đỉnh ngọn cây và lần thứ hai
đến gốc; vì thế vị trí đo phải ở vào vị trí có thể quan sát được cả gốc lẫn ngọn Nếu gốc cây ở thấp hơn tầm nhìn của người quan sát (số âm (-) trên thước Blume-Leiss khi đo gốc cây), cả hai số đo phải được cộng thêm để tính tổng chiều cao của cây Nếu gốc cây nằm cao hơn tầm mắt (số dương (+) trên thước Blume-Leiss khi đo gốc cây), số đo của gốc cây phải được trừ đi từ số đo của đỉnh cây
Do đo cao là công việc chiếm nhiều thời gian nhất trong quá trình tiến hành công tác điều tra ngoại nghiệp, nên chỉ đo cao 2 cây trong mỗi ô thứ cấp, và cây được lựa chọn như sau:7
Cây số 1 là cây nằm gần tâm ô nhất (không kể đường kính cao ngang ngực)
Cây số 2 là cây có đường kính cao ngang ngực lớn thứ 2 trong toàn bộ ô thứ cấp (trong trường hợp có 2 cây có đường kính bằng nhau, chọn cây gần với tâm ô hơn)
Trong trường hợp cây gãy ngọn, không tiến hành đo cao và chọn cây khác để đo, ví dụ: nếu cây gần tâm ô nhất bị gãy ngọn, chọn cây gần thứ 2 so với tâm ô; nếu cây
có đường kính cao ngang ngực lớn thứ 2 bị gãy ngọn thì chọn cây có đường kính cao ngang ngực lớn thứ 3
Đo cao đối với cả rừng tự nhiên và rừng trồng
Ngoài việc đo cao cây đối với cây sống, cũng sẽ tiến hành đo cao và ghi chép các
số liệu liên quan đối với cây chết đứng
6 Chất lượng cây: ghi theo mã số gồm 1 con số dựa theo mã số như ở dưới đây
(lưu ý: chỉ ghi chất lượng cho cây sống, không ghi cho cây chết):
1 Chất lượng tốt: không có khiếm khuyết, thẳng, thân tròn
6 Ghi chú: trong trường hợp sử dụng các công cụ đo độ dốc khác (ví dụ Suunto), khoảng cách giữa người
đo và thân cây sẽ không được ấn định một cách cụ thể Trong trường hợp này, có thể sử dụng thiết bị
7 Ghi chú: Việc đo cao các cây khác sẽ được tính toán dựa trên việc áp dụng các hàm đo cao của riêng từng tỉnh hiện đang được GIZ xây dựng dựa trên các số liệu điều tra rừng được thu thập tại Lâm trường
Trang 28Mã số Miêu tả
2 Chất lượng trung bình: khiếm khuyết nhỏ như thân hơi
cong hay có nhiều cành
3 Chất lượng xấu: nhiều khiếm khuyết như thân cong queo,
cành dày đặc, vỏ cây bị phá hoại, cây bị biến dạng, có dấu hiệu bị thối mục, tán bị vỡ…
7 Cây sống / cây chết: ghi theo đối tượng cây sống, cây chết
1 Cây sống
2 Cây chết
8 Cấp cây chết: ghi theo mã số gồm 1 con số Mỗi cây chết đứng được xếp loại
theo 2 cấp (xem hình 8 dưới đây):
1 Cây chết có cành và nhánh, giống cây sống, song không
có lá (phải đảm bảo cây đã chết, chứ không phải là cây rụng lá)
2 Cây chết có một số ít cành nhánh hoặc chỉ còn thân cây
Hình 8: Ví dụ về cấp cây chết
Trang 299 Mức độ đặc cây chết: ghi theo mã số gồm 1 con số Mỗi cây chết đứng được xếp
vào một trong 3 cấp về mức độ đặc thân cây: đặc, vừa phải, hoặc mục ruỗng Để xác định mức độ đặc của thân cây, tổ điều tra sẽ dùng dao hoặc dao rựa chặt vào mỗi thân cây
1 Đặc: Dao/rựa không thể chặt vào gỗ
2 Vừa: Dao/rựa chặt 1 phần vào gỗ
3 Mục ruỗng: Dao/rựa chặt hết vào gỗ (cây gãy đổ bắt đầu
phân hủy, rất mềm, dễ vỡ)
Để đảm bảo có sự thống nhất trong việc xác định mức độ đặc của thân cây chết đứng trong suốt quá trình điều tra ngoại nghiệp, trước khi tiến hành điều tra ngoại nghiệp, tất cả các thành viên của các tổ điều tra phải được tập huấn về xác định dạng cây chết đứng thuộc về mỗi cấp về mức độ đặc thân cây
Ghi chú: Nếu ghi chép số liệu điều tra vào biểu điều tra in sẵn, mỗi trang chỉ ghi chép được 18 cây có đường kính ngang ngực >=8 cm Nếu số cây được đo lớn hơn
18 cây, cần tiếp tục việc ghi chép ở trang tiếp theo
3.2.6 Đi đến ô mẫu/Không tiếp cận được
Tiếp cận ô mẫu: điều quan trọng cần lưu ý là chỉ cần mô tả về đường đi đến ô mẫu
trong trường hợp không thể tiếp cận được bằng dụng cụ đo GPS, ví dụ khi GPS không nhận được đủ tín hiệu vệ tinh
Trong trường hợp này, ở cuối phiếu đo đếm, tổ trưởng nên mô tả ngắn gọn về điểm mốc sử dụng để đi đến ô mẫu (xem thêm chi tiết ở mục 3.1.) Tọa độ theo hệ VN2000 của điểm mốc, được xác định bằng dụng cụ GPS, cũng cần được ghi lại ở mục này Ngoài ra, phương hướng (độ) và khoảng cách (m) cũng phải được ghi lại
để sau này tổ kiểm tra có thể tiếp cận ô mẫu được thuận tiện
Trong trường hợp không thể thiết lập ô mẫu, tổ trưởng phải giải thí lý do, ví dụ: do địa hình dốc hoặc do toàn bộ khu vực điều tra bị mất rừng
Đơn vị cung cấp dịch vụ điều tra có năng lực trong nước sẽ do Dự án lựa chọn để tiến hành công tác điều tra trên hiện trường Số cán bộ thực hiện điều tra ngoại nghiệp được lựa chọn phụ thuộc vào năng lực của Đơn vị cung cấp dịch vụ được lựa chọn Khi tiến hành điều tra hiện trường sẽ tiến hành thành lập ít nhất là 10 tổ điều tra hiện trường để có thể hoàn thành công tác ngoại nghiệp trong khoảng thời
Trang 30gian hợp lý (mục tiêu của Dự án là hoàn thành công tác ngoại nghiệp trước mùa mưa, thường bắt đầu từ giữa tháng 09 hằng năm) Mỗi tổ điều tra sẽ gồm có tối thiểu bốn người:
1 tổ trưởng, cán bộ của Đơn vị cung cấp dịch vụ (chịu trách nhiệm toàn bộ công tác chuyên môn, hậu cần, chất lượng công việc, quản lý và sử dụng dụng cụ và điều hành tổ)
1 cán bộ kỹ thuật hỗ trợ, cán bộ Đơn vị cung cấp dịch vụ (chịu trách nhiệm
về thiết lập ranh giới ô, xác định loài và đo đạc cây)
2 lao động, là người dân địa phương (tập trung vào phát quang cây bụi cây thấp để thiết lập ranh giới ô mẫu, vận chuyển thiết bị, và các hoạt động hỗ trợ khác)
Quan trọng nhất là ít nhất một thành viên của tổ điều tra có khả năng nhận dạng cây rừng ở địa phương
Mỗi tổ điều tra cần được trang bị những dụng cụ cơ bản sau đây: (lưu ý: tất cả trang thiết bị, bao gồm GPS, sẽ do Đơn vị cung cấp dịch vụ tự trang bị):
1 thiết bị định vị GPS (bao gồm 1 cặp pin dự phòng);
1 la bàn cầm tay có chia 360 độ;
1 thước đo độ nghiêng để đo độ dốc (ví dụ: Suunto);
1 thiết bị đo chiều cao (Blume-Leiss, có thể thay bằng Suunto);
1 thiết bị laser tìm khoảng cách (được lựa chọn trong trường hợp đo cao được đo bằng Suunto);
2 thước dây để đo đường kính ngang ngực;
1 thước đo vanh đường kính để đo đường kính cây gãy đổ và đo đường kính gốc cây;
1 dao (dao rựa) để xác định độ đặc cây gãy đổ;
2 thước dây dài (50 m), không dãn;
Thang thu di động nhỏ có thể mang vác được, chiều dài tối thiểu 2,5 m dùng
để đo đường kính ngang ngực của các loại cây có bành vè;
1 bộ cọc dùng khi đo địa hình để phân ranh giới (tối thiểu 10 cọc để phân ranh giới các ô phụ của ô mẫu) – có thể dùng cọc gỗ tự làm;
1 Sổ tay hướng dẫn điều tra bằng tiếng Việt (in trên giấy không thấm nước);
1 bản đồ nền điều tra (tỉ lệ 1: 50.000) có chỉ rõ số hiệu các ô mẫu và địa điểm các ô mẫu
Trang 31 1 máy tính bảng, cùng với 1 cặp pin dự phòng (nếu không, in đủ phiếu điều tra);
Một số lượng giấy tally vừa đủ;
1 kính đo tiết diện ngang;
Bổ sung: thước đo góc và thước dây (để đo góc phương vị và khoảng cách trên bản đồ trong trường hợp dụng cụ định vị GPS không hoạt động dưới tán rừng khép kín), sơn màu xịt để đánh dấu, bảng kẹp, viết, tẩy, túi nhựa để thu thập những mẫu cây chưa định loại được, ống nhòm, các túi cứu thương
Việc thực hiện kiểm tra sẽ thuộc trách nhiệm của dự án GIZ với sự phối hợp của các cơ quan lâm nghiệp cấp tỉnh như Chi cục kiểm lâm, cán bộ Hạt kiểm lâm các huyện, Thành phố, Nhóm MRV
Công tác kiểm tra giám sát sẽ được thực hiện thường xuyên trong cả quá trình đơn
vị cung cấp dịch vụ thực hiện, nhằm đảm bảo chất lượng điều tra và hỗ trợ kỹ thuật khi cần thiết Kiểm tra những kết quả của các tổ điều tra nhằm đảm bảo sự giám sát liên tục Các sai sót phải được nhận ra và sửa chữa kịp thời; vì lý do đó, cường độ của việc kiểm tra giám sát nên ở mức cao nhất trong thời gian đầu của công tác hiện trường
cơ quan lâm nghiệp địa phương phê duyệt
Quá trình phân tích số liệu (nhập số liệu, hiệu đính số liệu, quản lý số liệu, xử lý số liệu, tính toán và phục hồi các kết quả điều tra) sẽ thuộc về trách nhiệm của các chuyên gia của công ty tư vấn Forest Cac-bon Các chuyên gia của công ty tư vấn Forest Cac-bon sẽ xây dựng một tài liệu kỹ thuật riêng trình bày các bước khác nhau trong quá trình xử lý và phân tích số liệu điều tra
Trang 32PHỤ LỤC 1: CÔNG CỤ TÍNH TOÁN Ô MẪU
Các công thức và con số trong phụ lục này được tham khảo từ tài liệu của Pearson, T., Walker, S., and S Brown 2005 Tài liệu nguồn về sử dụng đất, tình hình thay đổi trong sử dụng đất và các dự án lâm nghiệp Quỹ cac-bon và Winrock International
Tính toán số lượng ô mẫu cần thiết dựa theo công thức:
Trang 33Bảng 1a: Tính toán số lượng ô mẫu cần thiết đối với các nhóm trạng thái rừng theo sinh thái đã biết
trong khu vực VQG PNKB, tỉnh Quảng Bình
Kiểu rừng
Trạng thái (Mật độ)
Phân nhóm sinh thái
Diện tích nhóm sinh thái
Kích thước ô mẫu
Trữ lượng cac-bon trung bình
Độ lệch chuẩn (S)
Số lượng đơn vị lấy mẫu (N)
Sai số tiêu chuẩn (E)
Số lượng ô mẫu
Trang 34Bảng 1b: Tính toán số lượng ô mẫu cần thiết phục vụ đánh giá trữ lượng cac-bon tỉnh Quảng Bình
(dựa theo kết quả phân loại rừng từ giải đoán ảnh viễn thám)
Kiểu trạng thái rừng
Phân nhóm sinh thái
Diện tích (ha)
Kích thước ô mẫu (ha)
Trữ lượng cac-bon
TB (tC/ha)
Độ lệch chuẩn (S)
Số lượng đơn vị lấy mẫu (N)
Sai số tiêu chuẩn (E)
Số lượng
ô mẫu tính toán
Số lượng
ô tiêu chuẩn