1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ y học: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả trắc nghiệm tâm lý TAT ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính có hoang tưởng, ảo giác

172 175 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 17,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoang tưởng có thể kết hợp với ảo giác (45,57% số bệnh nhân) hoặc xuất hiện riêng rẽ, nhưng phổ biến nhất là hoang tưởng bị truy hại (59,49%) và ảo thị giác (58,23%). Đa số bệnh nhân chỉ có 1 loại ảo giác (70,69%) hoặc hoang tưởng (66,67%). Hầu hết các hoang tưởng và ảo giác xuất hiện không thường xuyên (96,55% ảo giác và 82,46%) và đều chi phối hành vi. Tổn thương não trên phim MRI sọ não rất hay gặp (63,33%), đa dạng và lan tỏa. Hình ảnh tổn thương hay gặp nhất là tổn thương thùy đỉnh (56,66%), giãn khe giữa cuộn não vùng đỉnh 2 bên (36,66%) và thoái hóa myelin vùng đỉnh 2 bên (33,33%).

Trang 2

NGUYỄN HỮU THẮNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ TRẮC NGHIỆM TÂM LÝ TAT Ở BỆNH NHÂN NGHIỆN RƯỢU

MẠN TÍNH CÓ HOANG TƯỞNG, ẢO GIÁC

Chuyên ngành: Khoa học thần kinh

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệmtrước pháp luật.

Tác giả

Nguyễn Hữu Thắng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Những vấn đề chung về nghiện rượu mạn tính 3

1.1.1 Nghiện rượu 3

1.1.2 Loạn thần do rượu 6

1.2 Hình ảnh tổn thương não trên phim MRI sọ não ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính 16

1.2.1 Hình ảnh teo não và tiểu não 17

1.2.2 Sự phục hồi về hình thể và chức năng của não sau cai rượu 22

1.3 Phương pháp TAT 23

1.3.1 Mô tả TAT 23

1.3.2 Những chủ đề, câu chuyện thường gặp 25

1.3.3 Một số nghiên cứu về ứng dụng TAT trong lâm sàng 27

1.3.4 Rối loạn nhân cách ở bệnh nhân nghiện rượu và các trắc nghiệm tâm lý 38 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Đối tượng nghiên cứu 43

2.1.1 Mẫu nghiên cứu 43

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn nhóm đối tượng nghiên cứu 43

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 46

2.2 Phương pháp nghiên cứu 46

Trang 5

2.2.3 Sơ đồ nghiên cứu 48

2.2.4 Thu thập thông tin 48

2.2.5 Thiết kế nghiên cứu 48

2.2.6 Khám lâm sàng tâm thần 49

2.2.7 Đánh giá các triệu chứng cơ thể 54

2.2.8 Chụp cộng hưởng từ sọ não 54

2.2.9 Trắc nghiệm TAT 60

2.2.10 Các thông số nghiên cứu 62

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 64

2.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 66

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 67

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 67

3.2 Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh tổn thương não trên phim MRI sọ não ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính 70

3.2.1 Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính 70

3.2.2 Hình ảnh MRI sọ não ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính có loạn thần 78

3.3 Kết quả TAT và mối liên quan với các biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân nghiện rượu có loạn thần 84

3.3.1 Kết quả TAT 84

3.3.2 Mối liên quan giữa kết quả TAT với các biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính 86

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 95

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 95

4.2 Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh MRI sọ não ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính 98

Trang 6

4.3 Kết quả TAT và mối liên quan với các biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân

nghiện rượu mạn tính 111

4.3.1 Kết quả TAT ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính 111

4.3.2 Mối liên quan giữa kết quả TAT với các biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính 116

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 123

KẾT LUẬN 124

KIẾN NGHỊ 126

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 127 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

ADH : Alcool dehydrogenase enzyme

CS : Cộng sự

CT scan : Computed tomography scan

DSM : Diagnostic and statistical manual of mental disordersEEG : Electroencephalography

fMRI : function Magnetic resonance imaging

GABA : Gamma aminobutyric acid

ICD-10 : International classification of diseases

MRI : Magnetic resonance imaging

OCD : Obsessive compulsive disorder

TAT : Thematic apperception test

Trang 8

Bảng Tên bảng Trang

3.1 Lứa tuổi của đối tượng nghiên cứu 67

3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 67

3.3 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 68

3.4 Thời gian nghiện rượu 68

3.5 Lượng rượu uống mỗi ngày 69

3.6 Các triệu chứng của hội chứng cai 70

3.7 Các triệu chứng rối loạn cảm xúc – lo âu 71

3.8 Tần suất các loại ảo giác 72

3.9 Tính chất của ảo giác 73

3.10 Số lượng ảo giác trên bệnh nhân 73

3.11 Rối loạn hình thức tư duy 74

3.12 Tính chất hoang tưởng 75

3.13 Số loại hoang tưởng trên bệnh nhân 75

3.14 Rối loạn hoạt động có ý chí 76

3.15 Rối loạn hoạt động bản năng 76

3.16 Rối loạn giấc ngủ 77

3.17 Rối loạn chú ý và trí nhớ 77

3.18 Số lượng bệnh nhân có tổn thương não trên phim MRI 78

3.19 Các loại tổn thương não của bệnh nhân trên phim MRI 79

3.20 Các vùng não bị tổn thương trên phim MRI 79

3.21 Các vùng não mất myelin 80

3.22 Các vùng rãnh não bị giãn 80

3.23 Mối liên quan giữa hoang tưởng với thoái hóa myelin 81

3.24 Mối liên quan giữa hoang tưởng với teo não 81

Trang 9

3.26 Liên quan giữa ảo giác với teo não 82

3.27 Bận tâm lo lắng với tổn thương não trên MRI 83

3.28 Hoạt động chậm chạp với tổn thương não trên MRI 83

3.29 Kích động bạo lực với MRI 84

3.30 Kết quả chung TAT 84

3.31 Phân bố các dấu hiệu bất thường theo lượng rượu uống 85

3.32 Giảm khí sắc với dấu hiệu paranoid trên TAT 86

3.33 Giảm khí sắc với dấu hiệu xung động trên TAT 86

3.34 Giảm khí sắc và dấu hiệu nghiện 87

3.35 Cảm xúc hằn học với dấu hiệu paranoid 87

3.36 Cảm xúc hằn học với dấu hiệu nghiện 88

3.37 Bận tâm lo lắng với dấu hiệu paranoid 88

3.38 Bận tâm lo lắng với dấu hiệu xung động 89

3.39 Cảm xúc không ổn định và dấu hiệu xung động 89

3.40 Cảm xúc căng thẳng với dấu hiệu xung động 90

3.41 Cảm xúc căng thẳng với dấu hiệu paranoid 90

3.42 Hoang tưởng ghen tuông với dấu hiệu nghiện 91

3.43 Ảo thị giác với dấu hiệu nghiện 91

3.44 Ảo thị với dấu hiệu xung động 92

3.45 Ảo xúc giác với dấu hiệu nghiện 92

3.46 Kích động với dấu hiệu paranoid 93

3.47 Kích động với dấu hiệu xung động 93

3.48 Kích động với dấu hiệu nghiện 94

Trang 10

Biểu đồ Tên biểu đồ Trang

3.1 Số lần vào viện vì hội chứng cai rượu có loạn thần 69

3.2 Sự kết hợp ảo giác với hoang tưởng 72

3.3 Tỷ lệ các loại hoang tưởng 74

3.4 Thay đổi nhân cách 78

DANH M C HÌNH ỤC HÌNH Hình Tên hình Trang 4.1 3 BM TAT 111

4.2 1 TAT 112

4.3 8 BM TAT 114

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghiện rượu là một tệ nạn xã hội rất phổ biến trên thế giới, ngườinghiện rượu chiếm 1-10% dân số Tác hại của nghiện rượu gây ra chỉ đứngsau tác hại của ma tuý [1], [2], [3], [4]

Theo Tổ chức Y tế thế giới (năm 2015), trên thế giới có khoảng 140triệu người lạm dụng rượu và khoảng 400 triệu người uống rượu quá nhiều.Những người này thường gây ra tai nạn khi điều khiển phương tiện giao thông

và gây những hành vi phạm pháp Khoảng 30% số truờng hợp giết người và25% số trường hợp tự sát có liên quan đến sử dụng rượu [5], [6], [7], [8]

Sadock B.J và cộng sự (CS) (2015) nhận thấy tác hại do rượu gây rađối với sức khỏe thể chất và tâm thần của con người là rất lớn, chỉ sau cácbệnh về tim mạch và ung thư [9] Theo McDonouh M (2015), rượu còn lànguyên nhân gây ra 1,5% số các ca tử vong trên thế giới và làm giảm khoảng

10 năm tuổi thọ của người nghiện [10]

Cũng theo Sadock B.J và CS (2015), người nghiện rượu mạn tính sẽ cóhội chứng cai rượu nếu ngừng uống rượu đột ngột hoặc giảm đáng kể lượngrượu uống Hội chứng cai rượu của bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng rất đadạng, phong phú như run tay, mất ngủ, lo lắng quá mức, kích động, hoangtưởng và ảo giác, cơn co giật kiểu động kinh Hoang tưởng và ảo giác của hộichứng cai rượu thường xuất hiện đột ngột, có cường độ rất mạnh mẽ, trongtình trạng ý thức của bệnh nhân bị rối loạn Các hoang tưởng và ảo giác nàychi phối hành vi của bệnh nhân, vì vậy có thể gây ra các hành vi nguy hiểmcho bản thân bệnh nhân và những người xung quanh [9]

Người uống rượu lâu năm sẽ gây tổn thương nhiều cơ quan đặc biệt lànão và gan Theo Sadock B.J và CS (2007), qua chụp não cắt lớp vi tính cókhoảng 60% người nghiện rượu bị teo não Những bệnh nhân này có biểu

Trang 12

hiện lâm sàng là những rối loạn tâm thần liên quan đến chức năng của vùngnão bị tổn thương [11].

Theo Bùi Quang Huy (2016), hình ảnh tổn thương của não do rượu trênphim chụp MRI sọ não bao gồm hoại tử thể trai, giả hoại tử ở trung tâm cầunão, mất myeline, tăng sinh tế bào thần kinh đệm, thiếu hụt chất trắng ở vùngthái dương đỉnh, thiếu hụt chất xám rải rác đều khắp vỏ não, não thất III vàcác khe cuốn não giãn rộng

Ngày nay, các nhà tâm thần học tâm lý học luôn tìm kiếm thêm cáccông cụ hỗ trợ nhằm nâng cao tính chính xác trong chẩn đoán và hiệu quảtrong điều trị nghiện rượu [13] Một trong những công cụ có giá trị cao là trắcnghiệm phóng chiếu TAT Đặc trưng của phương pháp phóng chiếu là tiếpcận được cấu trúc sâu hơn của nhân cách, những đặc điểm vô thức, nhữngđiều mà cá nhân không muốn bộc lộ hoặc không ý thức về nó [14], [15]

Trên thế giới, việc sử dụng TAT khá phổ biến và gần như là một phươngpháp thường quy trong lâm sàng nói chung và lâm sàng tâm thần nói riêng,điều này ở nước ta còn rất ít Trong nhiều năm gần đây mới có Nguyễn HữuCầu, nghiên cứu sự thích nghi của TAT trong đánh giá nhân cách ở học sinhtrung học phổ thông [16], [17], [18]

Để góp phần vào việc chẩn đoán, điều trị và tiếp cận tốt hơn các mặthoạt động tâm thần của bệnh nhân nghiện rượu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả trắc nghiệm tâm lý TAT ở

bệnh nhân nghiện rượu mạn tính có hoang tưởng, ảo giác” nhằm 2 mục tiêu

sau:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh tổn thương não trên phim MRI sọ

não ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính có hoang tưởng, ảo giác

2 Phân tích kết quả TAT và mối liên quan với các biểu hiện lâm sàng ởbệnh nhân nghiện rượu mạn tính có hoang tưởng, ảo giác

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Những vấn đề chung về nghiện rượu mạn tính

1.1.1 Nghiện rượu

1.1.1.1 Khái niệm

Uống rượu với số lượng lớn trong một thời gian dài sẽ dẫn đến nghiệnrượu Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nghiện rượu là nhu cầu thèm muốn, đòihỏi thường xuyên đồ uống có cồn, hình thành thói quen, gây rối loạn nhâncách, giảm khả năng lao động và ảnh hưởng đến sức khỏe Có 7 triệu chứngchính của hội chứng nghiện rượu, đó là:

- Cảm giác thôi thúc phải uống rượu: người nghiện rượu khi đã bắt đầuuống rượu thì không thể ngừng lại được Nếu họ bỏ rượu, họ cảm thấy thèmmãnh liệt

- Thói quen uống rượu hàng ngày: người uống rượu uống hết ngày nàysang ngày khác Họ uống rượu sau các khoảng thời gian nhất định để tránhhoặc làm nhẹ hội chứng cai rượu

- Uống rượu được ưu tiên hơn các hành vi khác: với người nghiện rượu,uống rượu là ưu tiên hàng đầu, hơn cả sức khỏe, gia đình, xã hội, nghềnghiệp

- Có hiện tượng dung nạp rượu: với một nồng độ rượu trong máu bìnhthường, người nghiện rượu không bị ảnh hưởng Lượng rượu uống của bệnhnhân ngày càng tăng dần Đến giai đoạn cuối của nghiện rượu, sự dung nạprượu tụt xuống, bệnh nhân mất năng lực chỉ sau khi uống một lượng rượunhỏ

- Lặp đi, lặp lại hội chứng cai rượu: các triệu chứng của hội chứng cairượu xuất hiện khi nồng độ rượu trong máu tụt xuống Vì vậy hội chứng cairượu thường xuất hiện vào buổi sáng sớm, sau một đêm không uống rượu

Trang 14

- Uống rượu vào buổi sáng: người nghiện rượu phải uống rượu vàobuổi sáng sớm, ngay sau khi thức giấc để chặn hội chứng cai rượu Ở hầu hếtcác nền văn hóa, uống rượu buổi sáng được coi là nghiện rượu.

- Tái nghiện rượu: sau một thời gian cai rượu, người nghiện rượu dễdàng tái nghiện chỉ sau vài ngày uống rượu

Ngày nay, hầu hết các tác giả đều sử dụng tiêu chuẩn sau để xác địnhnghiện rượu:

- Uống rượu hàng ngày trong thời gian từ 10 năm trở lên

- Mỗi ngày uống tối thiểu 300ml rượu 40 độ cồn

1.1.1.2 Hấp thu và chuyển hóa của rượu

- Sự hấp thu của rượu

Rượu uống là rượu etylic, được bào chế từ nhiều nguồn nguyên liệukhác nhau trong tự nhiên bằng phương pháp cổ truyền hoặc công nghiệp.Nguồn nguyên liệu chính để sản xuất rượu là ngũ cốc và sản phẩm cuối cùng

để chế ra rượu là glucoza Đường glucoza qua nhiều giai đoạn lên men đểđược sản phẩm cuối cùng là etylic

Rượu sau khi uống, được hấp thu ở tất cả các đoạn của ống tiêu hóa,nhưng chủ yếu là ở tá tràng và hỗng tràng Thời gian hấp thu của rượu phụthuộc vào tình trạng thức ăn có trong dạ dày Nếu dạ dày đầy thức ăn thì rượuđược hấp thu chậm do thức ăn mất nhiều thời gian nằm trong dạ dày hơn làkhi dạ dày rỗng Các thức ăn chứa nhiều mỡ sẽ làm rượu chậm hấp thu so vớithức ăn chứa nhiều bột Rượu sau khi được hấp thụ sẽ dễ dàng đi qua màng tếbào, tốc độ hấp thu phụ thuộc vào 3 yếu tố:

+ Sự chênh lệch về nồng độ

+ Tính thấm của màng tế bào

+ Tốc độ lưu chuyển của máu

Nồng độ của rượu cũng ảnh hưởng đến sự hấp thu của rượu Rượuđược hấp thu nhanh nhất khi nồng độ của rượu là 10 đến 30 độ cồn Rượu đến

Trang 15

các cơ quan trong cơ thể qua đường máu, sau đó khuếch tán đến các mô quacác màng sinh học Tốc độ khuếch tán của rượu vào các mô có sự khác nhauphụ thuộc vào sự tưới máu của các mô đó Rượu tập trung rất nhanh ở tim,phổi và não, nhưng chậm ở xương.

Rượu khuếch tán vào phế nang với hệ số trao đổi cao Khoảng 5%lượng rượu được thải trừ nguyên vẹn qua nước tiểu, mồ hôi và khí thở ra.95% lượng rượu còn lại được chuyển hóa ở gan Sau khi đạt nồng độ đỉnhtrong máu thì nồng độ rượu giảm dần phụ thuộc vào tốc độ chuyển hóa ở gan

và bài tiết của rượu [12]

- Chuyển hóa rượu tại gan

Rượu được oxy hóa tại các ty lạp thể ở các tế bào gan làm giảm lượngpyruvat và tăng lượng lactat Lactat dễ dàng ngấm vào máu, gây tăng nồng độlactat trong máu Sự tăng lactat máu dẫn đến co cơ và tăng urê máu, có thểlàm bùng phát các cơn goutte của bệnh nhân Sự tăng lactat máu còn thúc đẩyquá trình tăng tạo sợi collagen, gây ra xơ gan

Chu trình Krebs bị ức chế do rượu làm rối loạn hô hấp tế bào ở gan Sự

ức chế này làm giảm lượng CO2 thải ra, nhưng không làm giảm lượng tiêu thụoxy Ngoài ra, rượu còn gây rối loạn chuyển hóa các chất glucid, lipid vàprotid, tạo ra chứng gan nhiễm mỡ ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính

Chuyển hóa rượu tại gan tạo ra năng lượng, nhưng năng lượng nàykhông dự trữ được mà phải dùng ngay Chính vì thế mà người nghiện rượu cóthể chỉ uống rượu mà không cần ăn gì [20]

1.1.1.3 Cơ chế bệnh sinh của nghiện rượu

Phần lớn rượu chuyển hóa trong gan thành 2 giai đoạn:

- Alcool chuyển hóa thành acetaldehyd dưới xúc tác của enzym alcooldegydrogenase (ADH)

- Acetaldehyd chuyển hóa thành acetat

Trang 16

Chất acetaldehyd liên kết với các monoamin trong não để chuyển thànhtetraisoquinolin Chất này có tác dụng như một morphin nội sinh, gắn với cácthụ cảm thể morphin ở não, gây ra sảng khoái khi uống rượu.

Mặt khác, rượu tác động lên phospholipid ở màng tế bào Khi nghiệnrượu mạn tính, màng tế bào trở lên kém linh hoạt hơn, gây ra “màng cứng”.Nghiện rượu mạn tính gây giảm lượng GABA trong não và tăng số lượng thụcảm thể GABA Người sảng rượu có số lượng GABA thấp hơn hẳn so vớingười bình thường Khi cai rượu, sự kích thích lên các thụ cảm thể GABA bịđình chỉ đột ngột gây ra suy giảm đột ngột chức năng hệ GABAnergic, kếtquả là mất ức chế trung ương và là nguồn gốc của nhiều triệu chứng cai rượunhư tăng tiết mồ hôi, tăng huyết áp, mạch nhanh, run tay, cơn co giật kiểuđộng kinh…

Ngoài ra, khi cai rượu, trục dưới đồi-tiền yên-thượng thận cũng bị tácđộng làm tăng tiết corticoid, gây ra các triệu chứng mệt mỏi, cảm giác kiệtsức, cơn co giật kiểu động kinh, lú lẫn [12]

1.1.2 Loạn thần do rượu

Theo Sadock B.J và CS (2015), loạn thần do rượu bao gồm hội chứngcai rượu có hoang tưởng và ảo giác, sảng rượu, bệnh não thực tổn do rượu vàhoang tưởng, ảo giác do uống rượu [9]

1.1.2.1 Hội chứng cai rượu

Nguyên nhân của hội chứng cai rượu

Theo Myrick H và CS ( 2015), hội chứng cai rượu xuất hiện ở ngườinghiện rượu nhưng đã ngừng uống đột ngột hoặc giảm đáng kể lượng rượuuống hàng ngày [21]

Gelder M và CS (2011) cho rằng uống rượu quá mức kích thích hệthống thần kinh Nếu bệnh nhân uống hàng ngày, theo thời gian cơ thể củabệnh nhân trở nên phụ thuộc vào rượu Khi điều này xảy ra, hệ thống thầnkinh trung ương của bệnh nhân không dễ dàng thích ứng với sự thiếu rượu

Trang 17

[22] Nhiều tác giả cho rằng nếu bệnh nhân đột nhiên ngừng uống, hoặc giảmđáng kể số lượng rượu uống, nó có thể gây ra một số triệu chứng của hộichứng cai rượu như lo âu, mất ngủ, thay đổi nhịp tim, tăng huyết áp và sảng[23], [24].

Theo Muncie H.L Jr và CS (2013), hội chứng cai rượu bắt đầu từ 6đến 24 giờ sau khi uống rượu lần cuối cùng [25] Các tác giả khác cũng cùngquan điểm và cho rằng, các triệu chứng của hội chứng cai rượu bao gồm run,kích động, buồn nôn, ra mồ hôi, nôn, ảo giác, mất ngủ, tim đập nhanh, tănghuyết áp, sảng rượu và cơn co giật kiểu động kinh [26], [27], [28]

Theo Brust J.C và CS (2014), các triệu chứng của hội chứng cai rượu ởcác mức độ từ nhẹ đến sảng rượu Triệu chứng run, ảo giác và co giật thườngxảy ra trong vòng 48 giờ sau khi cai rượu [29]

Lý do ngừng uống rượu

- Bệnh nội khoa: chiếm 75% các lý do gây ngừng uống rượu ở bệnhnhân nghiện rượu Các bệnh hay gặp là nhiễm trùng, cao huyết áp, loét dạdày, tá tràng, viêm gan, xơ gan, viêm cầu thận mạn

- Bệnh ngoại khoa: chiếm 20% số trường hợp cai rượu Đó là các chấnthương, các bệnh đòi hỏi phải vào viện phẫu thuật như viêm ruột thừa, viêmtụy cấp

- Tự cai: chỉ chiếm 5% số trường hợp cai rượu

Triệu chứng của hội chứng cai rượu

- Thèm rượu mãnh liệt: đây là triệu chứng bắt buộc có ở tất cả các bệnhnhân cai rượu Bệnh nhân thèm rượu đến mức mọi suy nghĩ và hành động chỉtập trung vào việc sao cho có rượu uống để giảm bớt cơn thèm rượu

- Run tay, chân: triệu chứng này xuất hiện rất sớm sau khi ngừng uốngrượu khoảng 2-3 giờ Bệnh nhân run tay biên độ nhỏ, đi đứng loạng choạng

Họ không làm được các nghiệm pháp giữ thăng bằng Run có thể xuất hiện ởmiệng, ở mặt của bệnh nhân

Trang 18

- Ăn ít, nôn, buồn nôn: bệnh nhân luôn trong tình trạng chán ăn, thậmchí không ăn gì Bệnh nhân có cảm giác buồn nôn, nôn khan hoặc nôn hếtthức ăn vừa ăn được [27], [30].

- Mất ngủ: đây là triệu chứng rất hay gặp trong cai rượu Mất ngủ xuấthiện vào tối đầu tiên sau khi cai rượu Bệnh nhân rất khó vào giấc ngủ, ngủkhông sâu và nhiều ác mộng Giấc ngủ của bệnh nhân rất ngắn, hay thức giấcgiữa chừng và cảm thấy rất mệt mỏi sau khi thức dậy Mất ngủ tăng dần vàđạt đến đỉnh vào ngày thứ 3 đến thứ 5 sau cai rượu, khi đó bệnh nhân có thểmất ngủ hoàn toàn [22]

Garcia A N và CS (2015) đã nghiên cứu rối loạn giấc ngủ trong cainicotine, caffeine, rượu, cocaine, opioid và sử dụng cần sa Tác giả nhận thấycai rượu gây mất ngủ giống như cai các chất nói trên [31] Theo Gann H và

CS (2002), nhấn mạnh khó ngủ cũng làm tăng khả năng tái sử dụng các chấtgây nghiện nói trên [32]

Các tác giả cho rằng, cai rượu sau một thời gian dài nghiện rượuthường gây ra chứng mất ngủ trầm trọng Do vậy, người nghiện rượu thườngtái uống rượu để ngủ được Tác giả cho rằng để điều trị mất ngủ do cai rượu,cần sử dụng thuốc chống co giật và thuốc chống trầm cảm kết hợp với liệupháp nhận thức hành vi [31], [32]

- Rối loạn thần kinh thực vật: bệnh nhân có mạch nhanh trên 100lần/phút Mồ hôi của bệnh nhân ra như tắm mặc dù thời tiết không nóng Kèmtheo, bệnh nhân có huyết áp cao và huyết áp tối đa có thể đạt tới 180-200 mm

Hg Tuy nhiên, huyết áp không cao thường xuyên mà giao động, lúc cao, lúc

về bình thường Thân nhiệt của bệnh nhân có thể tăng tới 38-39 độ C do run

cơ gây ra tình trạng mất nước, mất điện giải [33]

- Lo lắng quá mức: bệnh nhân lo lắng nhiều vào ngày thứ 2 của cairượu Họ lo lắng mơ hồ điều gì không lành sẽ xảy ra với họ Cùng với lo lắng,bệnh nhân có lú lẫn, tăng lên về buổi tối

Trang 19

- Kích động tâm thần vận động: bệnh nhân la hét, chửi bới, đập phá đồđạc, đánh vợ, con để có tiền uống rượu.

- Hoang tưởng và ảo giác: triệu chứng này xuất hiện ở ngày thứ 3 đếnthứ 5 của cai rượu Khoảng 85% số bệnh nhân cai rượu sẽ có ảo thanh thật, làcác tiếng người không có thật, nhưng bệnh nhân nghe thấy rất rõ ràng, vọng

từ ngoài môi trường vào đầu bệnh nhân Nội dung của ảo thanh thường làtiếng chửi rủa khiến bệnh nhân rất hoảng sợ

Bệnh nhân cũng có thể có ảo thị, là các hình ảnh không có thật nhưnhìn thấy các động vật nhỏ (chim, chuột, côn trùng) hoặc các hình ảnh rất ghêrợn mà bệnh nhân cho là nhìn thấy ma quỷ

Khoảng 65% số bệnh nhân cai rượu là có hoang tưởng Hoangtưởng ở các bệnh nhân này thường là hoang tưởng ghen tuông, hoangtưởng bị hại [20], [34], [35]

- Cơn co giật kiểu động kinh: đây là triệu chứng trầm trọng nhất củahội chứng cai rượu Bệnh nhân có các cơn co giật xuất hiện theo thứ tự cocứng, co giật, doãi mềm và hôn mê ngắn Cơn co giật hay xuất hiện ở ngàythứ 3 đến thứ 5 của cai rượu, nó xuất hiện khi hội chứng cai đạt đến đỉnhđiểm và báo hiệu bệnh nhân sắp vào sảng rượu

Theo Kim D.W và CS (2015), trên các bệnh nhân có cơn co giật do cairượu, có 35,1% phát triển thành sảng rượu [36]

Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai rượu theo DSM-IV

A Ngừng hoặc giảm đáng kể lượng rượu uống khi đang sử dụng rượuliều cao và kéo dài

B Có ít nhất 2 tiêu chuẩn dưới đây xảy ra sau tiêu chuẩn A vài giờ đếnvài ngày

- Tăng hoạt động tự động

- Run tay

- Mất ngủ

Trang 20

- Nôn, buồn nôn.

- Lo âu quá mức

- Kích động tâm thần vận động

- Ảo thị giác, ảo thanh, hoặc hoang tưởng

- Cơn co giật kiểu động kinh

C Các triệu chứng ở tiêu chuẩn B gây suy giảm rõ rệt các chức năng xãhội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác

D Các triệu chứng này không do một bệnh thực tổn và một bệnh rốiloạn tâm thần khác gây ra [37]

1.1.2.2 Sảng rượu

Sảng rượu là một cấp cứu tâm thần tối khẩn cấp, phát triển trên nền mộthội chứng cai rượu nặng Nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, tỷ lệ

tử vong của sảng rượu là 22-33%

Theo Aleksin D.S và CS (2011), sảng rượu chiếm tỷ lệ 69-82% trongtổng số các trường hợp loạn thần do rượu (trích theo Razvodovsky Y.E.(2015) [38])

Kim D.W và CS (2015) cho rằng, sảng rượu là hình thức khắc nghiệtnhất của hội chứng cai rượu, bệnh nhân thường xuyên có cơn co giật kiểuđộng kinh [36]

Theo Brust JC và CS (2014), sảng rượu thường xuất hiện sau 48 giờ từkhi ngừng uống rượu [29]

Triệu chứng của sảng rượu

- Giai đoạn khởi phát

Sảng rượu có khởi phát đột ngột, cấp tính trong khoảng thời gian từmột đến vài ngày sau khi ngừng uống rượu Biểu hiện ban đầu của sảng rượu

là bệnh nhân mất ngủ, chếnh choáng, run lẩy bẩy, rối loạn thần kinh thực vật(đỏ da, mạch nhanh, ra nhiều mồ hôi, đánh trống ngực, lo lắng, sợ hãi) Quãng

Trang 21

thời gian từ lúc ngừng rượu cho đến khi có sảng rượu là khác nhau, thường từ1-2 ngày, nhưng có trường hợp phải sau 3-4 ngày.

- Giai đoạn toàn phát

Giai đoạn toàn phát của sảng rượu thường xuất hiện sau cai rượu 3-5ngày và có triệu chứng rất đa dạng và phong phú Sảng rượu bao gồm 3 triệuchứng chính sau:

+ Mất ngủ hoàn toàn: bệnh nhân mất ngủ trầm trọng, họ không ngủđược một tí gì trong một vài ngày

+ Rối loạn ý thức: bệnh nhân bị rối loạn định hướng không gian (khôngbiết đây là đâu), thời gian (không biết bây giờ là sáng hay chiều) Rối loạnđịnh hướng bản thân (không biết mình là ai) ít gặp Nếu nặng, bệnh nhân sẽ

có ý thức u ám và đi vào hôn mê

+ Hoang tưởng và ảo giác rất rầm rộ: bệnh nhân có các ảo thanh thật,

ảo thị và hoang tưởng bị hại biểu hiện rất mạnh mẽ Các hoang tưởng và ảogiác này có bất kỳ lúc nào trong ngày và chi phối hành vi của bệnh nhân Vì

bị hoang tưởng và ảo giác chi phối, họ hay vùng chạy đột ngột, tấn công các

kẻ thù vô hình kết quả là có thể gây ra các tai nạn (ngã, chạm vào ổ điện,chém vào tay, chân mình) có thể gây ra tử vong Các triệu chứng của sảngrượu thường tăng lên về chiều tối và giảm đi vào buổi sáng [27], [33]

Theo Razvodovsky Y.E (2015), khoảng 30% số trường hợp bệnh nhânsảng rượu có tiền sử gia đình bị rối loạn tâm thần và nghiện rượu Trong sảngrượu, ảo giác xuất hiện rất đa dạng, hay gặp nhất là ảo thị giác như nhìn thấycác động vật nhỏ, người xa lạ và ma quỷ Nguy cơ sảng rượu tăng lên ởnhững người uống rượu nhiều, có tiền sử chấn thương sọ não [38]

Joy P S và CS (2015) sau khi nghiên cứu trên 3460 bệnh nhân sảngrượu đã rút ra kết luận rằng sảng rượu phối hợp với hội chứng vành cấp có tỷ

lệ tử vong rất cao và làm tăng đáng kể chi phí điều trị [6] Theo Kaya M và

CS (2016) sảng rượu làm nặng nề thêm bệnh tim mạch [39]

Trang 22

Đa số các tác giả đều cho rằng, sảng rượu là một cấp cứu trong chuyênkhoa tâm thần và benzodiazepine là thuốc được lựa chọn để điều trị [40],[41], [42] Theo Lorentzen K và CS (2014), sảng rượu là một biến chứngnặng, có nguy cơ gây tử vong cao của cai rượu Trong sảng rượu, bệnh nhâncần được điều trị bằng benzodiazepine liều cao Tác giả đã dùng propofol liều4,22 mg/kg/h truyền tĩnh mạch cho các trường hợp sảng rượu điều trị bằngbenzodiazepine không có kết quả Lorentzen K và CS nhận thấy các bệnhnhân thường có hiệu quả điều trị sảng tốt với propofol [28].

Tiêu chuẩn chẩn đoán sảng rượu theo DSM-5 (2013)

A Rối loạn ý thức cùng với giảm sự tập trung chú ý Sự chú ý luôn xê dịch

B Rối loạn nhận thức: Giảm trí nhớ, rối loạn định hướng, rối loạn ngônngữ hoặc rối loạn khả năng quan sát

C Các rối loạn này xuất hiện cấp tính (trong vài giờ đến vài ngày) vàtiến triển có khuynh hướng giao động trong ngày

D Có bằng chứng về một hội chứng cai rượu [43]

1.1.2.3 Các bệnh não thực tổn do rượu

Mất trí bền vững do rượu

Theo Kaplan H.I và CS (1994), mất trí bền vững do rượu gây ra biểuhiện bằng giảm trầm trọng khả năng nhận thức lâu dài, không đồng nhất vàđược phát triển trong quá trình nghiện rượu Bệnh nhân có suy giảm toàn bộ

về trí tuệ, khả năng nhận thức và trí nhớ Rối loạn trí nhớ gần luôn gắn liềnvới sự suy giảm khả năng nhận thức chung, khác với chứng quên do rượu.Bệnh nhân có hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại, ảo thanh thật bìnhphẩm, ảo xúc giác và ảo thị [44]

Theo Sadock B.J và CS (2015), người ta nhận thấy, hoạt động của não có

xu hướng cải thiện nếu bệnh nhân cai rượu hoàn toàn, nhưng khoảng một nửa sốbệnh nhân mất trí do rượu sẽ không có sự tiến bộ nào về trí nhớ và khả năng suynghĩ Khoảng 50% đến 70% những bệnh nhân này có hình ảnh tăng kích thước

Trang 23

não thất bên, tăng kích thước các rãnh liên thùy của não Các hình ảnh teo nãonày có thể được cải thiện một phần hoặc hoàn toàn sau 1 năm cai rượu [9].

Quên bền vững do rượu

Theo Sadock B.J và CS (2015), đặc điểm lâm sàng nổi bật của quênbền vững do rượu là bệnh nhân rối loạn trí nhớ trầm trọng, đặc biệt là trí nhớgần gây ra bởi việc sử dụng rượu lâu dài Do rối loạn này thường xảy ra ởnhững người đã uống rượu số lượng lớn trong nhiều năm nên rối loạn nàyhiếm gặp ở những người dưới 35 tuổi [9]

Hội chứng Wernicke-Korsakoff

Theo Kaplan H.I và CS (1994), đây là tên của bệnh não thực tổn gây raquên bền vững do rượu, gồm bệnh não Wernicke (bao gồm các triệu chứngcấp tính) và hội chứng của Korsakoff (một tình trạng mãn tính) Trong khibệnh não của Wernicke hoàn toàn có thể hồi phục nếu được điều trị, thì chỉ cókhoảng 20% bệnh nhân bị hội chứng Korsakoff là có thể hồi phục [44]

Sadock B.J và CS (2015) cho rằng nguyên nhân của cả 2 bệnh này làthiếu thiamine, gây ra bởi thói quen dinh dưỡng kém hoặc do các vấn đề vềhấp thu kém của bệnh nhân Thiamine là một coenzyme cho một số enzymequan trọng và tham gia vào việc dẫn truyền điện dọc theo sợi trục và các sinapthần kinh Các tổn thương thần kinh của 2 bệnh này là đối xứng và xungquanh não thất bên, liên quan đến đồi não, vùng dưới đồi, giữa não, cầu não

và tiểu não [9]

Bệnh não Wernicke và hội chứng Korsakoff, cũng được gọi là bệnh não

do rượu, là rối loạn thần kinh cấp tính, đặc trưng bởi dáng đi, rối loạn tiềnđình, rối loạn vận động mắt, bao gồm rung giật nhãn cầu ngang, liệt cơ vậnđộng mắt Những dấu hiệu mắt thường xuất hiện cả ở 2 bên nhưng không nhấtthiết phải đối xứng Bệnh nhân có hoang tưởng đa dạng, ảo thị, ảo thanh thật

và ảo xúc giác Bệnh não Wernicke có thể tự hết trong vài ngày hoặc vài tuầnhoặc có thể tiến triển thành hội chứng Korsakoff [9], [10]

Trang 24

1.1.2.4 Các triệu chứng loạn thần do uống rượu gây ra

Ảo giác do rượu

Theo Razvodovsky Y.E (2015), ảo giác do rượu chiếm 14%-27%trong tổng số các trường hợp loạn thần do rượu Ảo giác thường gặp là ảothanh bình phẩm, ít gặp hơn là ảo thị Tiền sử gia đình bị rối loạn tâm thần vànghiện rượu được ghi nhận ở 30% bệnh nhân có ảo giác do rượu Nguy cơ ảogiác do rượu tăng lên ở người uống rượu nhiều hoặc có tiền sử chấn thương

sọ não [38]

Đặc trưng của ảo giác do rượu là ảo thanh, thường là tiếng người nóixấu, chửi, đe dọa bệnh nhân, xảy ra khi ý thức của bệnh nhân hoàn toàn tỉnhtáo Tiếng nói nghe thấy từ môi trường bên ngoài vọng vào đầu, khiến bệnhnhân rất lo lắng, khó chịu Khoảng 3/4 số bệnh nhân có ảo thanh kéo dài dưới

6 tháng, 1/4 còn lại ảo thanh kéo dài trên 1 năm nếu không ngừng uống rượu.Chính vì thế, ảo thanh do rượu dễ bị nhầm với tâm thần phân liệt

Theo Bouritius E M và CS (2015), ảo giác do rượu là một biến chứnghiếm gặp của nghiện rượu mạn tính, đặc trưng bởi sự khởi phát cấp tính của

ảo giác khi uống rượu liều cao trong một thời gian dài Tác giả cho rằng các

ảo giác do rượu có thể tồn tại trong một thời gian dài, do đó hình ảnh lâmsàng có thể bị nhầm lẫn với tâm thần phân liệt Bouritius E M và CS nhấnmạnh, nếu ảo giác xuất hiện trên người uống rượu liều cao trong một thờigian dài thì cần chẩn đoán là ảo giác do rượu Tuy nhiên, chẩn đoán này cầnphải được phân biệt với sảng rượu và tâm thần phân liệt vì điều trị và tiênlượng của các bệnh này rất khác nhau [45]

Ảo thanh có thể xuất hiện đơn độc, nhưng cũng có thể phối hợp với ảothị Ảo thanh trong hội chứng cai rượu là lộn xộn và chóng hết, nhưng ảothanh do uống rượu thì rất bền vững Khi cai rượu, ảo giác do rượu nặng thêm

và xuất hiện thêm các triệu chứng của hội chứng cai rượu Sau khi hết hộichứng cai (sau khoảng 2 tuần), ý thức bệnh nhân sáng sủa trở lại, nhưng ảothanh vẫn tồn tại và bền vững trong nhiều tháng [35]

Trang 25

Theo Bhat P.S và CS (2012), ảo giác do rượu là một biến chứng hiếmgặp của nghiện rượu mạn tính, đặc trưng bởi ảo thính giác, xảy ra trong hoặc saumột thời gian nghiện rượu nặng Ngoài ảo thanh, bệnh nhân còn có thể có ảo thị

và hoang tưởng Các triệu chứng này xuất hiện trên nền ý thức sáng sủa

Ảo thanh chi phối mọi hành vi của bệnh nhân và bệnh nhân mất hết khảnăng phê phán với ảo thanh, vì vậy dễ nhầm với tâm thần phân liệt Các bệnhnhân này cần phải cai rượu, sau khi hết hội chứng cai rượu thì phải điều trịtiếp tục bằng thuốc an thần (haloperidol, olanzapin) thì bệnh nhân mới hết ảothanh Tuy nhiên, ảo thanh sẽ nhanh chóng xuất hiện trở lại nếu bệnh nhân táinghiện rượu [46], [47], [48]

Theo Aliyev Z N và CS (2008), valproate có hiệu quả tốt trong điều trị

ảo thanh cấp tính do rượu và thường được dung nạp tốt [47]

Hoang tưởng do rượu

Đặc trưng của hoang tưởng do rượu là hoang tưởng ghen tuông, hoangtưởng bị hại xuất hiện khi ý thức của bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo Cũng như

ảo thanh do rượu, 3/4 số bệnh nhân có hoang tưởng kéo dài dưới 6 tháng và1/4 số bệnh nhân hoang tưởng kéo dài hàng năm sau khi cai rượu Do vậy,hoang tưởng do rượu dễ nhầm với tâm thần phân liệt [11], [49]

Soyka M và CS (2013), cho rằng tỷ lệ hoang tưởng do rượu ở ngườinghiện rượu chưa được xác định Tác giả cho rằng tỷ lệ tái phát của hoangtưởng do rượu là rất cao, chỉ có 31,2% đến 37,6% số bệnh nhân hoang tưởng

do uống rượu không tái phát sau một năm điều trị Cũng theo tác giả, hoangtưởng do rượu dường như là một biến chứng hiếm gặp của nghiện rượu,nhưng rối loạn này dễ tái phát, tiến triển mạn tính và tiên lượng nặng hơn sovới quan điểm trước đây [50]

Hoang tưởng ghen tuông xuất hiện ở bệnh nhân sau nhiều năm uốngrượu với số lượng lớn Bệnh nhân cho rằng vợ (hoặc bạn tình) của mìnhkhông chung thủy dù không có bằng chứng gì Họ theo dõi, đánh đập và hành

Trang 26

hạ vợ (bạn tình) dù không có bằng chứng gì do bị hoang tưởng chi phối hành

vi [9]

Hoang tưởng ghen tuông gắn liền với cuộc sống tình dục nghèo nàn củabệnh nhân Họ thường bị liệt dương nên khó có khả năng sinh hoạt tình dục.Hơn nữa, vợ của những người nghiện rượu rất sợ, không muốn quan hệ tìnhdục với họ do vệ sinh cơ thể của bệnh nhân kém, luôn trong tình trạng sayrượu [12]

Hoang tưởng bị hại do rượu rất phổ biến, bệnh nhân cho rằng có ngườihoặc một thế lực nào đó tìm cách hại bệnh nhân, cũng có khi họ cho rằng maquỷ hại mình Hoang tưởng bị hại thường đi kèm với ảo giác do rượu tạothành hội chứng paranoid

Nói chung, hoang tưởng do rượu rất giống với hoang tưởng do cairượu, nhưng chúng bền vững và xuất hiện trong tình trạng ý thức sáng sủa,còn hoang tưởng do cai rượu thì lộn xộn và nhanh chóng hết đi cùng với hộichứng cai rượu Khi cai rượu, hoang tưởng do rượu nặng thêm cùng hộichứng cai Trong thời gian hội chứng cai, bệnh nhân có thêm ảo thị giác Khihội chứng cai hết, ý thức bệnh nhân sáng sủa dần nhưng hoang tưởng vẫnkhông hết

Cũng như ảo giác do rượu, để điều trị hoang tưởng do rượu thì cần cairượu cho bệnh nhân và dùng thuốc an thần (haloperidol, olanzapin) Các triệuchứng này sẽ xuất hiện nhanh chóng khi bệnh nhân tái nghiện rượu [9]

1.2 Hình ảnh tổn thương não trên phim MRI sọ não ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính

Kawarabuki K và CS (2003) cho rằng kỹ thuật MRI đã cho phép chúng

ta thăm dò hình thể mà không xâm lấn về giải phẫu (sử dụng MRI cấu trúc)

và đánh giá chức năng các hoạt động của não (sử dụng fMRI) với độ chínhxác cao [51]

Trang 27

1.2.1 Hình ảnh teo não và tiểu não

- Teo não

Teo não hay gặp ở những người nghiện rượu nặng và kéo dài và thường

là teo não lan tỏa Mức độ teo liên quan đến thời gian uống rượu và số lượngrượu uống của bệnh nhân [11], [52], [53]

Trên phim chụp MRI của não ở người nghiện rượu mạn tính thấy có sựthiếu hụt chất trắng ở vỏ não, tập trung ở vùng thái dương và vùng đỉnh Đồngthời có sự thiếu hụt chất xám rải đều khắp vỏ não Các não thất và khe cuộnnão giãn rộng [54], [55]

Trên phim chụp cắt lớp não còn thấy chiều dài tối đa rãnh liên bán cầu

và cầu Sylvius cao hơn đáng kể so với người bình thường Hình ảnh nàychứng tỏ bệnh nhân có teo não vùng trước trán [33]

Tác giả Mann K và CS (2005) cho rằng teo vỏ não bắt đầu xuất hiện rõràng trên phim MRI sau 5 năm uống rượu liên tục, mức độ teo liên quan đếntuổi của người uống rượu Teo thùy trán vỏ não có mối liên quan thuận với sốlượng rượu uống [56]

Teo các cấu trúc cạnh não thất đặc trưng bởi sự giãn nở của não thấtbên và não thất, đó có thể được coi là dấu hiệu của hiện tượng thiếu vitaminB1 Bệnh nhân có triệu chứng quên rất nặng [57]

Sadock B J và CS (2007) cho rằng nghiện rượu đã dẫn đến mất chấttrắng ở não và sau khi cai rượu, hiện tượng này được phục hồi một phần Điềunày thấy rõ trên phim chụp MRI sọ não của người nghiện rượu [11]

Theo Mukamal K.J và CS (2009), cả hai bất thường chất trắng và nhồimáu có thể phản ánh sự thiếu hụt lưu lượng máu não Tắc mãn tính hoặc táiphát của các mao mạch kéo dài là nguyên nhân gây ra mất chất trắng Nhồimáu có thể là kết quả của tắc các nhánh nhỏ của động mạch não lớn Tác giảcũng nhận thấy rằng kích thước não thất và kích thước các khe giữa các cuộn

Trang 28

não tăng lên, tỷ lệ thuận với mức tiêu thụ rượu Như vậy, tình trạng teo não tỷ

lệ thuận với lượng rượu uống và thời gian uống rượu [58]

Theo Oscar-Berman M và CS (2010), khu vực của não bộ đặc biệt dễ

bị tổn thương do nghiện rượu là vỏ não và vùng dưới vỏ não như hệ thốnglimbic, đồi thị, vùng dưới đồi và vùng não trước Rượu còn ảnh hưởng đếnmột cấu trúc não có vai trò trong tư thế và phối hợp vận động, đó là tiểu não.Tác giả cho rằng hiện tượng teo não, teo chất trắng là do tác dụng gây độc củarượu trên hệ thống thần kinh trung ương Hơn nữa, sự thiếu hụt thiamine cóthể dẫn đến các tổn thương cho các phần của vùng dưới đồi (có lẽ do vỡ mạchmáu trong khu vực đó) Theo tác giả, người nghiện rượu dễ bị thiếu hụtthiamine sẽ phát triển một rối loạn mất trí nhớ nhẹ hoặc thoáng qua, nổi bật làmất trí nhớ ngắn hạn Bệnh nhân bị tác động kép, đó là tác động gây độc trựctiếp của rượu và thiếu hụt thiamine, sẽ gây ra tổn thương não trên diện rộng,bao gồm các cấu trúc nằm sâu trong não như hệ thống limbic Những ngườinày sẽ phát triển thành mất trí nhớ ngắn hạn nghiêm trọng và suy yếu khảnăng nhận thức [57]

Có bằng chứng cho thấy rằng các thùy trán dễ bị tổn thương nhất trongnghiện rượu và những thay đổi ở thùy trán của não là rất rõ ràng ở nhữngngười nghiện rượu cao tuổi Các nghiên cứu khác của chức năng thùy trán ởngười nghiện rượu mạn tính đã xác nhận mối tương quan giữa triệu chứng suygiảm nhận thức và giảm lưu lượng máu hoặc chuyển hóa (sử dụng nănglượng) ở thùy trán, thể hiện trên fMRI [57], [59]

Theo Mann K và CS (2005), hình ảnh MRI não của bệnh nhân nghiệnrượu mạn tính nói chung là teo cả chất xám và chất trắng ở vỏ não, các lớpbên ngoài nếp gấp của não Trên các bệnh nhân nghiện rượu lâu năm cho thấy

sự thâm hụt khối lượng não lớn hơn so với nhóm chứng phù hợp về tuổi và ởngười nghiện rượu trẻ Điều này cho thấy não người lớn tuổi dễ bị ảnh hưởngcủa rượu hơn MRI thường cho thấy rằng sự mất mát lớn nhất xảy ra ở thùy

Trang 29

trán, được sử dụng trong lý luận, trí nhớ làm việc, và giải quyết các vấn đề.Thay đổi này cũng xuất hiện trong các cấu trúc khác tham gia vào bộ nhớ,chẳng hạn như vùng hippocampus, cơ quan hình giống núm vú, đồi thị và vỏnão tiểu não [56].

Một nghiên cứu hình ảnh thần kinh được sử dụng chụp cắt lớp vi tính(CT scan) so sánh teo não ở nam và nữ Mặc dù phụ nữ uống rượu ít hơnnhiều so với nam giới, nhưng sự teo não là trầm trọng hơn Phát hiện này chothấy rằng phụ nữ dễ bị tổn thương não do rượu Kết quả này cũng đã đượckhẳng định trên hình ảnh MRI của não [60], [61], [62]

Kril J.J và cộng sự (1997) đã nghiên cứu vỏ não của 14 người nghiệnrượu và 21 người nhóm chứng trên phim MRI và thấy rằng não của ngườinghiện rượu mạn tính ở một số khu vực là nhỏ hơn đáng kể so với nhómchứng Vùng chất trắng (đặc biệt là ở thùy trán) là giảm đáng kể nhất về khốilượng [63] Theo Antunez E và CS (1998), những bệnh nhân nghiện rượumạn tính có bệnh não Wernicke (hoặc kết hợp với bệnh Korsakov) có khốilượng chất trắng nhỏ hơn đáng kể so với nhóm chứng hoặc người nghiện rượu

mà không có những biến chứng Vùng thùy thái dương giữa và đồi thị cũnggiảm về khối lượng Phân tích của tác giả cho thấy rằng khối lượng của chấttrắng và đồi thị tương quan nghịch với mức tiêu thụ rượu Tác giả kết luậnnhững kết quả này chứng minh rằng sự tiêu thụ rượu mãn tính có liên quanđến tổn thương chọn lọc ở não [64]

Pfefferbaum A và CS (1997) đã chụp cộng hưởng từ để định lượngmức độ thiếu hụt khối lượng mô não và hiện tượng tăng khối lượng dịch nãotủy ở người nghiện rượu trẻ tuổi (62 bệnh nhân) và cao tuổi (29 bệnhnhân) Các bệnh nhân trẻ có biểu hiện teo chất xám ở vỏ não rõ ràng, nhưngchưa có teo chất trắng Nhóm bệnh nhân lớn tuổi thì hiện tượu teo não xảy ra

cả ở chất xám và chất trắng, não thất phình to đáng kể Khi phân tích cácvùng vỏ não, tác giả nhận thấy rằng nhóm bệnh nhân cao tuổi nghiện rượu có

Trang 30

hiện tượng teo đặc biệt nghiêm trọng ở các vùng trước trán và trán Tác giảkết luận các thùy trán là đặc biệt dễ bị tổn thương ở nam giới lớn tuổi nghiệnrượu mạn tính [65].

Agartz I và CS (1999) đã so sánh khối lượng vùng đồi thị ở 52 ngườiđàn ông và phụ nữ nghiện rượu điều trị trong bệnh viện, so với nhóm chứng là

36 người đàn ông và phụ nữ khỏe mạnh Tất cả các đối tượng có tuổi từ 27đến 53 tuổi Khối lượng vùng đồi thị được đo từ độ phân giải cao T-weightedtrên MRI Tác giả nhận thấy, vùng đồi thị ở cả nam và nữ nghiện rượu nhỏhơn đáng kể so với nhóm chứng, còn khối lượng dịch não tủy ở người nghiệnrượu lại tăng hơn hẳn so với người bình thường Tỷ lệ khối lượng vùng đồi thịvới toàn bộ não là giống nhau ở người nghiện rượu và người bình thường Tácgiả kết luận ở những người nghiện rượu mạn tính, giảm khối lượng vùng đồithị là tỷ lệ thuận với mức giảm khối lượng của não [66]

Chiu T M và CS (2004) đã nghiên cứu đánh giá vai trò của tiền sử giađình của người nghiện rượu (bố của bệnh nhân cũng là người nghiện rượu)đến kích thước của não Tác giả nhận thấy hiện tượng teo tuyến tùng là giốngnhau ở người có tiền sử gia đình (bố là người nghiện rượu) và người không cótiền sử gia đình nghiện rượu [67]

Rangaswamy M và CS (2004) đã nghiên cứu fMRI trên não của người

có bố bị nghiện rượu Các tác giả nhận thấy chức năng ở vùng trán- tháidương ở những người này giảm hơn đáng kể so với người không có tiền sửgia đình nghiện rượu Điều này phù hợp với thực tế lâm sàng là khả năng ghinhớ của họ kém hơn so với nhóm chứng [68]

Kawarabuki K và CS (2003) so với nhóm chứng, những người nghiệnrượu có hồi hải mã trái nhỏ hơn đáng kể Có một tương quan tích cực giữa cáckhối lượng vùng đồi thị bên phải và tuổi của người nghiện rượu [51]

Rosenbloom M và CS (2003) đã đo khối lượng của các cấu trúc nãobằng MRI trên 13 bệnh nhân với hội chứng Korsakov, 13 người nghiện rượu

Trang 31

mạn tính không có hội chứng Korsakov và 13 người nhóm chứng So vớinhững người nghiện rượu và nhóm chứng, các bệnh nhân bị hội chứngKorsakov có giảm khối lượng vùng hippocampus, củ núm vú, đồi thị và phìđại não thất ba [69].

Estruch R và CS (1997) đã so sánh kích thước thể trai ở 28 bệnh nhânnghiện rượu mạn tính và 14 người bình thường trên phim MRI chụp não Sovới nhóm chứng, người nghiện rượu đã giảm đáng kể diện tích và độ dày củathể trai, chủ yếu ở vùng thân Mức độ teo thể trai có tương quan đến lượngrượu uống và thời gian uống rượu, nhưng không liên quan đến tình trạng dinhdưỡng và mất cân bằng điện giải Tác giả kết luận, teo thể trai thường gặp ởnhững bệnh nhân nghiện rượu và có thể phản ánh mức độ nghiêm trọng tổnthương não Mức độ teo này cũng tương quan với mức độ nghiêm trọng củalượng rượu uống và thời gian uống rượu [70]

Năm 1999, Oishi M và CS đã nghiên cứu lưu lượng máu não trong khuvực vùng trán, thái dương, vùng đỉnh và chẩm vỏ não, nhân đuôi, tuyến tùng

và đồi thị trên 15 người nghiện rượu mạn tính và 15 người bình thường bằngMRI Các tác giả nhận thấy lưu lượng máu ở vỏ não, đồi thị và tuyến tùng ởnhóm người nghiện rượu mạn tính thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng Tácgiả nhận thấy có mối tương quan đáng kể giữa teo thể trai và lưu lượng máu ở

vỏ não [71]

Dao-Castellana và CS (1998) nghiên cứu chuyển hóa glucoza ở nãotrên hình ảnh fMRI và rút ra kết luận rằng người nghiện rượu mạn tính cógiảm chuyển hóa glucoza ở não, liên quan đến suy giảm chức năng nhận thứccủa các bệnh nhân này [72]

Butterworth R F và CS (2003) cho rằng thiamine đóng một vai tròquan trọng trong việc duy trì não chức năng Diphosphate thiamine làcoenzym cho một số enzym tham gia vào quá trình chuyển hóa glucose trongkhi triphosphate thiamine có đặc tính riêng biệt ở màng tế bào thần kinh Trao

Trang 32

đổi thiamine trong não xảy ra giữa tế bào thần kinh và các tế bào thần kinhđệm lân cận Thiếu thiamine thường gặp trong suy dinh dưỡng nghiêm trọnggắn liền với kinh niên nghiện rượu, HIV-AIDS và bệnh đường ruột, nơi nóthường dẫn đến bệnh não Wernicke (hội chứng Wernicke-Korsakov)[73] Theo McKeon A và CS (2007), bệnh não Wernicke được chẩn đoán làrất nghiêm trọng theo tiêu chuẩn lâm sàng ở cả bệnh nhân nghiện rượu vàHIV-AIDS Chụp cộng hưởng từ não cho thấy giãn não thất 2 bên, teo cơ thểmammillary và thoái hóa tiểu não là đặc trưng của bệnh não Wernicke Đâyđược coi là hậu quả của thiếu thiamine trên các tế bào thần kinh của não [74].

- Teo tiểu não

Sadock B J và CS (2007) cho rằng teo não cũng xảy ra ở các vùng nãosâu hơn, bao gồm cả các khu vực nền não, thể trai, củ núm vú, vùng dưới đồi,hồi hải mã và tiểu não Teo tiểu não và giảm lưu lượng máu lên tiểu não gây

ra triệu chứng mất thăng bằng, dáng đi lảo đảo Như vậy có thể gây ngã ởbệnh nhân nghiện rượu mạn tính, dẫn đến chấn thương đầu có thể làm trầmtrọng thêm rối loạn chức năng não [11]

Teo tiểu não khởi đầu từ từ bằng các rối loạn về tư thế Trên phim CT.Scan não cho thấy có sự teo vỏ tiểu não ở thùy nhộng và có sự tụ khí dưới lềutiểu não Bệnh tiến triển mạn tính và nặng thêm khi cai rượu [75]

1.2.2 Sự phục hồi về hình thể và chức năng của não sau cai rượu

Các tác giả đã sử dụng hình ảnh cộng hưởng từ chức năng (fMRI) ởngười đã cai rượu để đánh giá các chức năng của não bộ Đến nay, cộnghưởng từ đã được áp dụng rộng rãi để nghiên cứu hình ảnh tổn thương củanão ở người nghiện rượu, hiện tượng teo chất trắng và chất xám ở não, tăngthể tích dịch não tủy [76]

Rosenbloom M và CS (2003), đã chụp cộng hưởng từ sọ não, tính khốilượng dịch não tủy trong sọ não trước và sau 5 tuần cai rượu Tất cả bệnh

Trang 33

nhân cho hình ảnh giảm rất đáng kể khối lượng dịch não tủy, tăng thể tích các

tổ chức não sau khi cai rượu [69]

Theo Rosenbloom M và CS (2003), hình ảnh chụp cộng hưởng từnão đã cho thấy rằng một số bộ não cấu trúc ở những người có tiền sử nghiệnrượu mạn tính là nhỏ hơn khối lượng so với cùng cấu trúc não ở người bìnhthường Các khu vực bị ảnh hưởng nhiều là thùy trán, có liên quan đến khảnăng suy luận, phán đoán và giải quyết vấn đề Người già rất dễ bị ảnh hưởngbởi các tác hại của rượu Nói chung, những người nghiện rượu sau một thờigian cai cho thấy có sự phục hồi của khối lượng mô não [69]

1.3 Phương pháp TAT

1.3.1 Mô tả TAT

Nguyên bộ tranh TAT gồm 30 tranh đen trắng và một tấm bìa trắng (rất

ít khi sử dụng)

Có một số tranh không rõ nam hay nữ, người già hay người trẻ…, đấy

là ý đồ của người thiết kế muốn tạo điều kiện thuận lợi cho khách thể phóngchiếu tối đa [77]

Ký hiệu của các bức tranh:

B (Boy) Dành cho các trẻ trai dưới 15 tuổi

G (Girl) Dành cho trẻ gái dưới 15 tuổi

M (Male) Dành cho đàn ông ≥ 15 tuổi

F (Female) Dành cho phụ nữ ≥ 15 tuổi

Trang 34

BG (Boy, Girl) Dành cho trẻ dưới 15 tuổi.

MF (Male, Female) Dành cho người lớn ≥ 15 tuổi

BM (Boy, Male) Dành cho nam giới không phân biệt tuổi

GF (Girl, Female) Dành cho nữ giới không phân biệt tuổi Những bức tranh chỉ có ký hiệu số dành cho tất cả mọi người khôngphụ thuộc vào tuổi, giới tính [78]

Trong thực tiễn lâm sàng các tác giả đưa ra các phương án sử dụngkhác nhau Nhiều tác giả sử dụng 10 tranh đầu, có tác giả sử dụng theo đốitượng bệnh nhân [79] Trong nghiên cứu của mình, Luke A (2010) đã sửdụng 10 tranh: 1, 2, 3BM, 4, 6BM, 7GF, 8BM, 9GF, 10, 13MF nhằm khảo sátmức độ trầm cảm Tác giả cho rằng những bức tranh này dễ khơi gợi nhữngchủ đề trầm cảm [80]

Bức tranh 1: Một cậu bé đang ngồi nhìn cây đàn violin trên bàn

Bức tranh 2: Cảnh đồng quê, phía trước là một người phụ nữ trẻ trêntay cầm cuốn sách, phía sau là một người đàn ông đang làm việc trên cánhđồng và một người phụ nữ khác đang đứng nhìn

Bức tranh 3BM: Một người đang ngồi dưới sàn và gục đầu xuống đi văng.Bức tranh 4: Một người phụ nữ nắm lấy vai người đàn ông, còn ngườiđàn ông thì quay mặt đi

Bức tranh 6BM: Một người phụ nữ lớn tuổi đứng song song với cửa sổ

mở, bên cạnh là người đàn ông trẻ tuổi hơn đang nhìn xuống và cầm cái mũ

Bức tranh 7GF: Bức tranh về một cô bé trên tay bế đứa trẻ sơ sinh vàmột người phụ nữ lớn tuổi, người phụ nữ lớn tuổi ngồi cạnh cô bé, mắt nhìnxuống đứa trẻ sơ sinh

Bức tranh 8BM: Một người đàn ông trẻ nhìn chằm chằm ra ngoài, phíasau giống như có hai người đàn ông đang phẫu thuật cho bệnh nhân

Trang 35

Bức tranh 9GF: Bức tranh về hai người phụ nữ trạc tuổi nhau, mộtngười nấp sau gốc cây nhìn người kia, người kia đang đi nhưng không thấyngười này.

Bức tranh 10: Một người ngồi tựa đầu vào vai người khác

Bức tranh 13MF: Một người phụ nữ nằm ngửa trên giường không mặc gì,đắp một chiếc chăn ngang ngực, người đàn ông quay mặt đi che tay ngang mặt

1.3.2 Những chủ đề, câu chuyện thường gặp

Luke A (2010) đã sử dụng 10 tranh: 1, 2, 3BM, 4, 6BM, 7GF, 8BM,9GF, 10, 13MF nhằm khảo sát mức độ trầm cảm Những chủ đề thường gặpcho 10 bức tranh là [80]:

Bức tranh 1: Được xem là có ý nghĩa nhất trong toàn bộ các bức tranhcủa TAT, những câu chuyện thường được tạo dựng xung quanh cậu bé vớicây đàn violin Nội dung: hoặc là mơ ước vượt qua cản trở để thành đạt, trởthành một người chơi violin nổi tiếng hoặc là một cậu bé đang bực bội vì bị

bố mẹ, thầy cô hay một người nào đó có quyền ép buộc cậu ta phải chơi, phảihọc violin

Bức tranh 2: Các câu chuyện thường đề cập đến một cô gái trẻ rời nôngthôn tiếp tục tìm cơ hội học tập, với ước nguyện sau khi thành đạt trở về xâydựng quê hương, để cho người nông dân đỡ khổ Các mối quan hệ gia đìnhcũng thường được đề cập: mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái, cha mẹ laođộng vất vả để cho con yên tâm học tập Có thể là mối quan hệ tay ba giữa bangười: hai người phụ nữ (một già một trẻ) với một người đàn ông

Bức tranh 3BM: Đây cũng là một bức tranh thường được sử dụng tronglâm sàng tâm thần, bởi nó gây ra những chủ đề mặc cảm tội lỗi, trầm cảm, sựhung hãn, ma tuý

Các câu chuyện thường hay xoay quanh một người mà về mặt tình cảm

có liên quan tới một người khác

Trang 36

- Một người đang cảm thấy tội lỗi về những hành vi, lời nói của mình

đã phạm phải trong quá khứ

- Những người nghiện ma tuý thường kể những câu chuyện và cho rằngngười trong bức tranh là một người nghiện và anh ta giải thích khẩu súng nhưmột bơm tiêm

Bức tranh 4: Các chủ đề thường xoay quanh mối quan hệ nam nữ, sựkhông chung thuỷ, sự níu kéo hoặc sự ngăn ngừa Kèm theo đó là những phảnứng cảm xúc

Câu chuyện thường được đề cập đến là: người phụ nữ đang cố giữngười đàn ông lại, người đàn ông thì đang nổi khùng và quyết ra đi Ngườiphụ nữ được cho là một người có đạo đức, đang đưa ra lời khuyên giải và canngăn người đàn ông

Bức tranh 6 BM: Câu chuyện thường tập trung vào việc người con traithông báo với mẹ một tin buồn gì đó, trong những câu chuyện như vậy chứađựng nhiều thông tin về thái độ, tình cảm của người con trai đối với mẹ

Câu chuyện cũng có thể là: Người mẹ đang cố gắng kìm nén để đối phóvới việc người con của mình phải đi tới vùng xa xôi

Bức tranh 7GF: Câu chuyện xoay quanh vấn đề mối quan hệ giữa mẹ

và con gái, câu chuyện thường kể về mẹ và con gái Hình ảnh về mẹ, các vấn

đề về sinh đẻ và mang thai

Bức tranh 8BM: Chủ đề có thể diễn ra theo những hướng khác nhau:

- Một chàng trai mơ ước trở thành bác sĩ

- Chủ đề nói về sự xâm hại thường có liên quan tới sự sợ hãi về việc bịhại hoặc bị mổ xẻ mang tính thụ động

- Đôi khi chúng ta cũng có thể gặp chủ đề một người nào đó bị bắn vàbây giờ đang bị phẫu thuật

Trang 37

Bức tranh 9GF: Các câu chuyện xoay quanh mối quan hệ gắn bó và sựganh đua của những người phụ nữ Quan hệ giữa những người phụ nữ cùngtuổi, quan hệ giữa chị em gái, tình bạn, tình đoàn kết

Bức tranh 10: Một người tựa đầu vào vai người khác Các câu chuyệnthường xoay quanh sự tương tác nào đó hay giữa hai người khác giới, thường

là các câu chuyện gần gũi Ngoài ra cũng có thể là những câu chuyện về mốibất hoà tình cảm, sự thù địch

Bức tranh 13 MF: Các câu chuyện thường xoay quanh mối quan hệ tìnhdục, tình cảm và tình dục, thái độ hẫng hụt mang tính gia đình, sự chống đối,nỗi sợ hãi hoặc mặc cảm tội lỗi

Các động cơ cũng liên quan tới mối quan hệ tình cảm và tình dục mộtcách chuyển thể

1.3.3 Một số nghiên cứu về ứng dụng TAT trong lâm sàng

1.3.3.1 Một số nghiên cứu TAT trong lâm sàng nói chung

Ngay sau khi kĩ thuật TAT ra đời, trên thế giới đã có rất nhiều nghiêncứu về ứng dụng của TAT Lúc đầu các tác giả đều đi sâu vào nghiên cứu tínhhiệu lực, độ tin cậy của TAT Nghiên cứu so sánh kết quả TAT ở các nền vănhoá, xã hội khác nhau, trên những đối tượng có chỉ số IQ khác nhau, so sánhTAT với các phương pháp chẩn đoán nhân cách [81], [82], [83] Khi mà đa sốcác tác giả đều không thể phủ nhận giá trị đích thực của TAT, đặc biệt làtrong chẩn đoán nhân cách, thì phạm vi nghiên cứu về TAT đã mở rộng sangcác nước đang phát triển Đối tượng nghiên cứu cụ thể hơn: trẻ em, học sinhphổ thông, người nghiện ma túy, sinh viên, các rối loạn hành vi, rối loạn tâmthần, trầm cảm [84], [85], [86]

Năm 2000, Hibbard S và CS đã nghiên cứu sự đáp ứng của TAT ở 69sinh viên Châu Á gốc Mỹ và 83 sinh viên da trắng, sau đó các tác giả đã mãhóa sự tự vệ theo thang cơ chế tự vệ Kết quả cũng tái khẳng định rằng TAT

Trang 38

không bị ảnh hưởng bởi mức độ thích ứng văn hoá hoặc khả năng tiếng Anhtrong người Châu Á [87]

Năm 1990, Cabal Bravo J.C đã sử dụng TAT để nghiên cứu các triệuchứng của những người nghiện heroin Tác giả không nhận thấy một dạngnhân cách chung cho các bệnh nhân nghiện heroin Tuy nhiên, tác giả pháthiện ra rất nhiều yếu tố tâm lý của người nghiện heroin như tự ti, ý tưởng tựsát, dễ kích động, lo lắng, bất an [88]

Năm 1992, Kalliopuska M đã nghiên cứu thái độ thù địch với xã hộibằng TAT trên một nhóm thanh thiếu niên (bao gồm 23 nam và 13 nữ) Tácgiả cho rằng, TAT có hiệu quả tốt trong đánh giá tình trạng kích động ởnhững người này Hơn nữa, tác giả nhận định, nam có xu hướng kích độnghành vi nhiều hơn nữ, ngược lại, nữ kích động ngôn ngữ nhiều hơn nam [89]

Năm 2001, Porcerelli J.H đã sử dụng TAT trong nghiên cứu các khíacạnh rối loạn nhân cách của một trường hợp thanh niên Mỹ phạm tội giếtngười Tác giả nhận thấy TAT mô tả được nhân cách của bệnh nhân và thái

độ thù địch của người này Tác giả đưa ra mối liên hệ giữa bệnh lý và cơ chếphản ứng tự vệ của bệnh nhân [90]

Nguyễn Hữu Cầu (2002) đã tiến hành nghiên cứu một cách hệ thống đềtài: “Nghiên cứu sự thích nghi của TAT trong đánh giá nhân cách ở học sinhtrung học phổ thông” Mục đích của đề tài là nghiên cứu khả năng áp dụngTAT trong việc đánh giá đặc điểm nhân cách của học sinh, trên cơ sở đó bướcđầu xác định tính thích nghi của TAT đối với người Việt Nam Tác giả đã đưa

ra kết luận: các em học sinh đã đồng nhất với các nhân vật của TAT, đãphóng chiếu các đặc điểm nhân cách của mình lên TAT, nói cách khác có thể

áp dụng TAT trong đánh giá nhân cách cho người Việt Nam [16]

Theo Siefert C.J và CS (2016), để có thể ứng dụng vào trong lâm sàng, cáctác giả đã tiến hành khảo sát và phân tích kết quả TAT của một nhóm 50 sinhviên Các hình TAT được sử dụng là: 1, 2, 3BM, 4, 14 và 13B [91]

Trang 39

Năm 2017, Gruber N tiến hành nghiên cứu về TAT Mục tiêu nghiên cứucủa tác giả nhằm tìm ra sự khác nhau về giới trong những nội dung câuchuyện TAT liên quan đến động cơ thành đạt [92].

1.3.3.2 Các nghiên cứu TAT trong lâm sàng tâm thần

Sử dụng các kỹ thuật phóng chiếu để mô tả các triệu chứng trongbệnh học tâm thần, tâm thần phân liệt, chẩn đoán và phát hiện trẻ bịnghiện Kỹ thuật hay được dùng đó là Rorschach, Thematic ApperceptionTest [93], [94], [95], [96]

Năm 1990, Cramer P và CS đã sử dụng TAT để đánh giá các triệuchứng của 90 bệnh nhân trẻ loạn thần trong thời gian 15 tháng điều trị Sosánh kết quả TAT giữa hai lần, tác giả nhận thấy có sự thuyên giảm rõ rệt cáctriệu chứng loạn thần [97]

Cũng trong năm 1990, Hoffman S dùng TAT để nghiên cứu tình trạngchấn thương tâm lý ở những đứa trẻ nam 13 tuổi có người thân bị tai nạn chết

7 năm về trước Tác giả nhận thất TAT có hiệu quả tốt trong mô tả các khókhăn mà bệnh nhân phải trải qua, các tình huống nhạy cảm mà bệnh nhânphải chịu đựng [98]

Năm 1994, Johnson J.L đã làm test TAT trên bệnh nhân Alzheimer, kếtquả cho thấy, những bệnh nhân nhập viện có triệu chứng mất trí nhớ dạngAlzheimer có kết quả TAT kém hơn so với những bệnh nhân không mất trí nhớ.Kết quả chỉ ra rằng, tổng số từ và số từ trung bình được sử dụng cũng như xuhướng mô tả các bức tranh giữa hai nhóm khác nhau rất lớn [99]

Theo Doane J.A và CS (1989), sự lệch lạc trong giao tiếp của bố mẹ cóliên quan với bệnh tâm thần phân liệt của những người con [100]

Năm 1997, Negter M.A và CS đã tiến hành nghiên cứu mối liên quangiữa sự lệch lạc trong giao tiếp của bố mẹ với sự khởi phát bệnh tâm thầnphân liệt của con qua TAT Kết quả: các tác giả cảnh báo rằng, bố mẹ có hành

Trang 40

vi lệch lạc trong giao tiếp trầm trọng thì có nhiều khả năng con của họ sẽ bịrối loạn tâm thần nặng [101].

Năm 1998, Hien D Và CS đã nghiên cứu mối liên quan giữa động cơthân mật và sự điều chỉnh trước thời kỳ phát bệnh của bệnh nhân tâm thầnphân liệt nam và nữ Tác giả sử dụng 6 hình TAT cho 34 bệnh nhân (14 nam

và 20 nữ), kết quả được thảo luận trong mối liên quan sự mong đợi văn hóa

xã hội của phụ nữ Một số gợi ý cho việc điều trị khác nhau giữa bệnh nhântâm thần phân liệt nam và nữ [84]

Năm 1999, 5 năm sau khi DSM- IV ra đời, Ackerman S J và CS đãdùng công cụ là TAT để nghiên cứu trên ba nhóm bệnh nhân: rối loạn nhâncách chống đối xã hội, rối loạn nhân cách ranh giới và rối loạn nhân cách ái

kỷ Các tác giả đã kết luận rằng có sự phù hợp chẩn đoán giữa TAT và DSM

-IV trong rối loạn nhân cách [102] Một số tác giả đồng quan điểm cho rằng,

có thể sử dụng TAT trong đánh giá rối loạn nhân cách ranh giới [103], [104],[105]

Năm 2001, Pica M và CS đã dùng TAT để nghiên cứu so sánh sự đápứng của bệnh nhân nội trú được chẩn đoán là rối loạn phân ly với nhómchứng Kết quả cho thấy, các câu chuyện của bệnh nhân rối loạn phân ly cókhoảng cách liên hệ cá nhân, sang chấn và đáp ứng phân ly lớn hơn ở nhómchứng [106]

Theo Evren C và CS (2008), hành vi tự gây tổn thương ở bệnh nhânnam nghiện rượu có vai trò của rối loạn phân ly [107]

Theo Louet E và CS (2010), qua đánh giá về tâm lý của trẻ vị thànhniên bị rối loạn cảm xúc, có thể tiên đoán được khả năng mắc bệnh tâm thầnphân liệt 8 năm sau đó [108]

Năm 2003, Mc Carthy J cùng CS đã tiến hành trắc nghiệm TAT trên

96 đứa trẻ từ 6-18 tuổi đang được điều trị tại bệnh viện tâm thần, sau đó cáctác giả dùng thang đặc ứng về tư duy kỳ dị để phân tích kết quả TAT Kết

Ngày đăng: 21/06/2020, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w