1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ: Quản Lý Vốn Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Từ Ngân Sách Nhà Nước Trên Địa Bàn Huyện Chợ Mới, Tỉnh Bắc Kạn

113 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò đặc biệt quan trọng, tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, là tiền đề cơ bản để thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Nhiều văn bản, nghị định hướng dẫn thực hiện về quản lý vốn đầu tư xây dựng do Chính phủ ban hành đã góp phần đưa công tác đầu tư và xây dựng nước ta đi vào ổn định, phát triển và từng bước hoà nhập với thông lệ quốc tế, tình trạng đầu tư dàn trải trong đầu tư xây dựng dần dần giảm bớt, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước đã tập trung vào những mục tiêu chủ yếu, trọng điểm, vốn của các thành phần kinh tế và của nhân dân đã được khuyến khích và huy động với quy mô ngày càng tăng dưới nhiều hình thức phong phú.

Trang 1

ĐINH HUY VƯỢNG

QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN

TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 2

ĐINH HUY VƯỢNG

QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN

TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

Ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 8.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Thúy Phương

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Bản luận văn này là công trình nghiên cứu cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và tình hình thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Thị Thúy Phương

Các số liệu và những kết quả tính toán trong luận văn là trung thực, các số liệu, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Một lần nữa tôi xin được khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2018

Học viên

Đinh Huy Vượng

Trang 4

Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đến lãnh đạo cơ quan và các đồng nghiệp, các phòng, ban, ngành các đơn vị thi công trong lĩnh vực XDCB trên địa bàn huyện đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong công tác để có đủ thời gian và hoàn thành khoá học và thực hiện luận văn này

Tuy đã có sự nỗ lực, cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy (cô) và đồng nghiệp để luận văn này được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2018

Học viên

Đinh Huy Vượng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn 3

5 Kết cấu của luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 5

1.1 Lý luận chung về hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 5

1.1.1 Những vấn đề chung về hoạt động đầu tư 5

1.1.2 Nội dung của đầu tư xây dựng cơ bản và nguồn vốn đầu tư 8

1.1.3 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 15

1.1.4 Nguyên tắc về quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 20

1.1.5 Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 21

1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 29

1.2 Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại một số địa phương trong nước 34

1.2.1 Kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN của huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 34

1.2.2 Kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN của huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình 36

Trang 6

1.2.3 Kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN

của huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 37

1.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn 38

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 40

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 40

2.2 Phương pháp nghiên cứu 40

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 40

2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 40

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 41

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 42

Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN 43

3.1 Đặc điểm địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 43

3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 43

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 47

3.2 Thực trạng đầu tư và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 54

3.2.1 Quy mô nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 54

3.2.2 Công tác lập kế hoạch và phân bổ, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 57

3.2.3 Công tác tạm ứng và thanh toán vốn đầu tư XDCB từ NSNN 62

3.2.4 Công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB từ NSNN 64

3.2.5 Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán vốn đầu tư XDCB 66

3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 68

3.3.1 Các nhân tố về cơ chế chính sách 70

3.3.2 Về công tác lập các dự án đầu tư 70

3.3.3 Về quyết định đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư 70

3.3.4 Về công tác đấu thầu, chọn thầu và nghiệm thu công trình 71

Trang 7

3.3.5 Về công tác thanh toán vốn đầu tư 71

3.3.6 Về công tác quyết toán vốn đầu tư hàng năm 72

3.3.7 Quyết toán dự án hoàn thành 72

3.4 Đánh giá hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 73

3.4.1 Những kết quả đạt được 73

3.4.2 Nhữnghạn chế, tồn tại và nguyên nhân 79

Chương 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NSNN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN, GIAI ĐOẠN 2018 - 2025 86

4.1 Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2018 - 2025 86

4.1.1 Những định hướng 86

4.1.2.Mục tiêu phát triển 87

4.2 Giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 91

4.2.1.Hoàn thiện công tác lập kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư XDCB 91

4.2.2 Nâng cao chất lượng kiểm soát thanh toán vốn đầu tư 92

4.2.3 Đẩy nhanh công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB 93

4.2.4 Tăng cường công tác thanh kiểm tra, giám sát trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư XDCB 95

4.2.5 Giải pháp tổ chức thực hiện nâng cao trình độ quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN của huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 96

4.3 Một số kiến nghị 97

4.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 97

4.3.2 Kiến nghị với UBND tỉnh và các ngành chức năng của tỉnh 99

4.3.3 Kiến nghị với UBND huyện và các phòng chức năng của huyện 100

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

11 UBMTTQVN Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạngiai đoạn

2015 - 2017 49 Bảng 3.2: Tổng vốn đầu tư thực hiện của huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạngiai

đoạn 2015 - 2017 55 Bảng 3.3: Chi tiết nguồn vốn đầu tư XDCB thực hiệntrên địa bàn huyện Chợ

Mới, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015 - 2017 55 Bảng 3.4: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư XDCB thực hiện trên địa bànhuyện Chợ

Mới, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015 - 2017 56 Bảng 3.5: Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nướcđược phê duyệt giai đoạn

2015 - 2017 58 Bảng 3.6: Tình hình thực hiện vốn đầu tư XDCB từngân sách nhà nước giai

đoạn 2015 - 2017 60 Bảng 3.7: Tình hình thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản từngân sách nhà

nước phân theo ngành giai đoạn 2015 - 2017 61

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Sơ đồ 1.1: Trình tự trong hoạt động đầu tư 11 Hình 3.1 Bản đồ huyện Chợ Mới 44

Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng ngân sách nhà

nước trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 53

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ các đơn vị gây ra thất thoát lãng phí đầu tư XDCB từ NSNN

của huyện Chợ Mới, giai đoạn 2015 - 2017 68

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của nghiên cứu đề tài

Đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò đặc biệt quan trọng, tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, là tiền đề cơ bản để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Nhiều văn bản, nghị định hướng dẫn thực hiện về quản lý vốn đầu tư xây dựng do Chính phủ ban hành đã góp phần đưa công tác đầu tư và xây dựng nước ta đi vào ổn định, phát triển và từng bước hoà nhập với thông lệ quốc tế, tình trạng đầu tư dàn trải trong đầu tư xây dựng dần dần giảm bớt, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước đã tập trung vào những mục tiêu chủ yếu, trọng điểm, vốn của các thành phần kinh tế và của nhân dân đã được khuyến khích và huy động với quy mô ngày càng tăng dưới nhiều hình thức phong phú

Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn có vị trí nằm ở phía nam của tỉnh Bắc Kạn, phía bắc giáp thành phố Bắc Kạn, phía đông giáp huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp huyện Định Hóa và phía nam giáp huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên Huyện Chợ Mới

là một huyện miền núi, là cửa ngõ giao lưu KT - XH của tỉnh với các địa phương lân cận Trong nhiều năm qua, được sự quan tâm, đầu tư và chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, kinh tế của huyện có tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá,

cơ cấu chuyển dịch kinh tế theo hướng tích cực, cơ sở hạ tầng được chú trọng đầu tư, các công trình giao thông thủy lợi, các công trình phục vụ cho sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa được xây dựng khang trang Đóng góp vào thành công của sự nghiệp đổi mới nền kinh tế của tỉnh nói chung và thay đổi bộ mặt của huyện Chợ Mới nói riêng phải kể đến vai trò của các công cụ tài chính trong việc phân bổ, sử dụng hợp lý các nguồn lực

và vai trò của các giải pháp kinh tế tài chính, góp phần tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng suy thoái của nền kinh tế thế giới, tốc

độ tăng trưởng kinh tế của nước ta còn chậm, khối lượng vốn đầu tư được huy động rất hạn hẹp so với nhu cầu vốn đầu tư Tuy nhiên, trong những năm qua huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, của cấp ủy, chính quyền tỉnh Bắc Kạn và các sở, ban, ngành về đầu tư XDCB Việc huy động nguồn vốn đầu tư từ nội bộ nền kinh tế của huyện còn hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn hỗ trợ của ngân sách các cấp và khai thác quỹ đất Tuy nhiên, công tác quản lý vốn đầu tư XDCB

Trang 12

trên địa bàn huyện thời gian qua vẫn còn một số tồn tại, tình trạng thất thoát, lãng phí kém hiệu quả trong đầu tư XDCB từ vốn NSNN vẫn xảy ra ở một số dự án, nợ XDCB lớn, Các nguyên nhân chủ yếu làm công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn huyện còn tồn tại là: việc quy hoạch, lập kế hoạch, bố trí vốn đầu tư XDCB còn phân tán, dàn trải; quản lý vốn đầu tư XDCB chưa hiệu quả, năng lực của cán bộ chuyên môn còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc Thêm vào đó, do đặc thù của vốn đầu tư XDCB là rất lớn, thời gian đầu tư dài nên dễ xảy ra tình trạng thất thoát vốn đầu tư XDCB của Nhà nước Vậy vấn đề đặt ra là cần thiết phải nghiên cứu để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn huyện Chợ Mới, góp phần khắc phục những tồn tại, bất cập để sử dụng có hiệu quả NSNN nói chung và vốn đầu tư XDCB nói riêng

Xuất phát từ những lý do trên tác giả chọn đề tài “Quản lý vốn đầu tư xây dựng

cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn” làm đề

tài luận văn Thạc sỹ kinh tế Thông qua đề tài, tác giả mong muốn đề xuất một số giải pháp để góp phần khắc phục những hạn chế và tăng cường quản lý vốn đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạngvà đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước

- Đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản

từ ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015 -

2017

- Các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản

từ ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn

2018 - 2025

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 13

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là hoạt động quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn

Luận văn có giá trị lý luận và thực tiễn như sau:

- Làm rõ thêm cơ sở lý luận về đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý có hiệu quả nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước

- Làm rõ chủ trương, chính sách của Nhà nước nói chung và huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn nói riêng trong việc đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý có hiệu quả nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước

- Đánh giá thực trạng công tác đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý nguồn vốn đầu

tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Chỉ

ra được những mặt mạnh, những hạn chế và các nguyên nhân của hạn chế trong công tác quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước cho huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2018 - 2025

- Các kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo đối với các cơ quan

và cá nhân có quan tâm, là cơ sở cho các cơ quan hoạch định chính sách tăng cường quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước Luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu cho các nhà đầu tư nghiên cứu, tham khảo khi thực hiện các dự án đầu tư và là tài liệu dùng trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học trong nhà trường

5 Kết cấu của luận văn

Trang 14

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 4 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn đầu tư và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản

từ ngân sách nhà nước

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài

- Chương 3: Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nướctrên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

- Chương 4: Giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng

cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn,

giai đoạn 2018 - 2025

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ

XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Lý luận chung về hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước

1.1.1 Những vấn đề chung về hoạt động đầu tư

1.1.1.1 Khái niệm cơ bản về đầu tư

- Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định

- Dự án đầu tư mới là dự án thực hiện lần đầu hoặc dự án hoạt động độc lập với

dự án đang thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh

- Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư

-Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là văn bản, bản điện tử ghi nhận thông tin đăng

ký của nhà đầu tư về dự án đầu tư

-Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư là hệ thống thông tin nghiệp vụ chuyên môn để theo dõi, đánh giá, phân tích tình hình đầu tư trên phạm vi cả nước nhằm phục

vụ công tác quản lý nhà nước và hỗ trợ nhà đầu tư trong việc thực hiện hoạt động đầu

tư kinh doanh

-Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu

tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

- Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh

- Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh

1.1.1.2 Phân loại đầu tư

Để tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách đầu tư cần phải tiến hành phân loại các hoạt động cũng như hình thức đầu tư Để phân loại các hoạt động đầu tư người ta căn cứ vào một số tiêu thức:

* Phân loại theo lĩnh vực đầu tư

Trang 16

- Đầu tư vào lĩnh vực sản xuất: Đó là hoạt động đầu tư trong các doanh nghiệp,

cơ sở kinh tế có hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp bao gồm đầu tư xây dựng mới, cải tiến công nghệ, đầu tư mở rộng

- Đầu tư vào lĩnh vực phi sản xuất: Lĩnh vực không sản xuất ra sản phẩm hàng hoá trực tiếp: văn hoá, giáo dục, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, cơ sở hạ tầng

* Phân loại theo thời gian thực hiện đầu tư

- Đầu tư ngắn hạn: Là đầu tư có thời gian tích luỹ dưới 1 năm

- Đầu tư trung hạn: Là đầu tư có thời gian từ 1-5 năm

- Đầu tư dài hạn: Là đầu tư có thời gian trên 5 năm

* Phân loại theo quan hệ sở hữu của chủ đầu tư với hoạt động đầu tư: Phân làm

2 loại là Đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp

- Đầu tư gián tiếp: Đây là hình thức đầu tư bằng cách mua các chứng chỉ có giá

như: Cổ phiếu, trái phiếu với số lượng giới hạn Với hình thức đầu tư này người bỏ vốn không trực tiếp tham gia công việc quản trị kinh doanh

- Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn đồng thời là người trực

tiếp tham gia quản lý giá trị kinh doanh (giá trị trực tiếp hoặc có quyền lựa chọn những giá trị trực tiếp)

* Phân loại theo tính chất bao gồm :

- Các hoạt động đầu tư hữu hình vào tài sản có hình thái vật chất cụ thể (máy móc, nhà xưởng, dụng cụ, nhà cửa vv )

- Các hoạt động đầu tư vô hình (bằng phát minh sáng chế, chỉ tiêu về nghiên cứu phát triển, về đào tạo )

- Các hoạt động đầu tư về tài chính (tham gia góp vốn)

* Phân loại theo mục đích đầu tư bao gồm:

- Đầu tư mới: là hình thức đưa toàn bộ vốn đầu tư xây dựng một công trình mới hoàn toàn

- Đầu tư mở rộng: là hình thức đầu tư nhằm mở rộng công trình cũ hoặc tăng thêm mặt hàng, tăng khả năng phục vụ cho nhiều loại đối tượng so với nhiệm vụ ban đầu

- Đầu tư cải tạo công trình đang hoạt động: đầu tư này gắn liền với việc trang bị lại và tổ chức lại toàn bộ hay một bộ phận doanh nghiệp đang hoạt động, được thực hiện theo một thiết kế duy nhất, không bao gồm việc xây dựng mới hay mở rộng các bộ phận

Trang 17

sản xuất chính đang hoạt động hoặc có thể xây dựng mới hoặc mở rộng các công trình phục vụ hay phụ trợ

- Đầu tư hiện đại hóa công trình đang sử dụng: gồm các đầu tư nhằm thay đổi, cải tiến các thiết bị công nghệ và các thiết bị khác đã bị hao mòn (hữu hình và vô hình) trên

cơ sơ kỹ thuật mới và nhằm nâng cao các thông số kỹ thuật của các thiết bị đó Thông thường hiện đại hóa và cải tiến được tiến hành đồng thời Vì vậy, tính toán đầu tư chỉ xem trong 3 trường hợp: đầu tư mới, đầu tư mở rộng và đầu tư cải tạo, hiện đại hóa

1.1.1.3 Đặc điểm hoạt động đầu tư

Thứ nhất: Đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản cho sự phát triển và sinh

lợi Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng và sinh lợi, trong đó có yếu tố đầu

tư Nhưng để bắt đầu một quá trình sản xuất, tái sản xuất mở rộng, trước hết phải có vốn đầu tư Nhờ sự chuyển hoá vốn đầu tư thành vốn kinh doanh kết hợp các yếu tố khác, các tổ chức kinh doanh tiến hành hoạt động, từ đó tạo ra tăng trưởng và sinh lợi, vốn đầu tư được coi là một trong những yếu tố cơ bản nhất Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng của đầu tư trong quá trình phát triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quan trọng kích thích các nhà đầu tư nhằm mục đích sinh lời

Thứ hai: Đầu tư đòi hỏi một khối lượng vốn lớn Khối lượng vốn đầu tư lớn là

yếu tố khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất và kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho yếu tố tăng trưởng và phát triển như: Xây dựng một hệ thống kết cấu hạ tầng, xây dựng các cơ sở khu công nghiệp, cụm công nghiệp, công nghiệp chế biến Đầu tư cho các lĩnh vực đó đòi hỏi lượng vốn đầu tư bỏ ra rất lớn, vì vậy nếu không sử dụng vốn có hiệu quả sẽ gây nhiều phương hại đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Thứ ba: Đầu tư là một lĩnh vực có rủi ro lớn do quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian

đầu tư kéo dài

1.1.1.4 Vị trí, vai trò của đầu tư đối với sự phát triển nền kinh tế

Đầu tư là hoạt động chủ yếu, quyết định sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế Đầu tư trên phương diện vĩ mô một nền kinh tế bao gồm đầu tư trong nước

và đầu tư nước ngoài Trong đó đầu tư trong nước và nước ngoài có mối quan hệ hữu

cơ với nhau, chúng có tác động lẫn nhau và thúc đẩy quá trình tăng trưởng của nền kinh tế

Đầu tư trong nước có hiệu quả sẽ xây dựng được một nền kinh tế ổn định có tốc

Trang 18

độ tăng trưởng nhanh, có cơ sở hạ tầng hiện đại và cơ sở pháp lý lành mạnh, tạo ra tiền

đề để tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài gắn liền với chuyển giao công nghệ kỹ thuật, kỹ xảo chuyên môn, bí quyết và trình độ quản lý tiên tiến Các liên doanh của Việt Nam với nước ngoài đã làm tăng tính cạnh tranh của thị trường Việt Nam giúp các doanh nghiệp trong nước

nỗ lực đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm Thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài, các nguồn lực trong nước như lao động, đất đai và tài nguyên thiên nhiên được huy động ở mức cao và sử dụng có hiệu quả, cung cấp cho thị trường trong nước nhiều sản phẩm, mặt hàng và dịch vụ có chất lượng cao góp phần giảm áp lực tiêu dùng,

ổn định giá cả Đầu tư nước ngoài tạo thêm việc làm và góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và quản lý cho người lao động

Đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài có vị trí khác nhau nhưng là hai bộ phận của một quá trình đầu tư, nó gắn bó với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau cùng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

1.1.2 Nội dung của đầu tư xây dựng cơ bản và nguồn vốn đầu tư

1.1.2.1 Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản

Đầu tư cơ bản là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) đưa vào hoạt động trong các lĩnh vực KT - XH khác nhau

Hoạt động đầu tư cơ bản thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng mới các TSCĐ được gọi là đầu tư XDCB XDCB chỉ là một khâu trong hoạt động đầu tư XDCB XDCB

là các hoạt động cụ thể để tạo ra TSCĐ (như khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt…) Kết quả của hoạt động XDCB là các TSCĐ, có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định [7], [11]

Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các TSCĐ và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội Đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế

1.1.2.2 Vai trò của đầu tư XDCB

Trước hết cần phải xác định rõ rằng đầu tư XDCB đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế, là động lực để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng Nếu không có đầu tư XDCB thì không có phát triển [11]

Một là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà nước

Trang 19

trực tiếp tác động đến quá trình phát triển KT - XH, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Bằng việc cung cấp các dịch vụ công cộng như hạ tầng KT - XH, an ninh - quốc phòng…mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không đầu tư; các dự án đầu tư từ NSNN được triển khai

ở các vị trí quan trọng, then chốt nhất đảm bảo cho nền KT - XH phát triển ổn định theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Hai là, đầu tư XDCB có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế bởi vì nó

tạo ra các TSCĐ Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư để sản xuất ra của cải vật chất, đặc biệt là tạo cơ sở vật chất và kỹ thuật ban đầu cho xã hội

Ba là, đầu tư XDCB của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng

XHCN với xuất phát điểm thấp như nước ta hiện nay có một vai trò hết sức quan trọng, bởi vì vốn dành cho đầu tư XDCB của Nhà nước chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng vốn đầu

tư XDCB của toàn xã hội Đầu tư XDCB của Nhà nước góp phần khắc phục những thất bại của thị trường, tạo cân bằng trong cơ cấu đầu tư, giải quyết các vấn đề xã hội Mặt khác đầu tư XDCB của Nhà nước được tập trung vào những công trình trọng điểm, sử dụng nguồn vốn lớn, có khả năng tác động mạnh đến đời sống KT - XH Bên cạnh đó cũng cần phải thấy rằng đầu tư XDCB của Nhà nước nếu không được quản lý một cách hợp lý sẽ gây ra thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả hơn là đầu tư XDCB từ các nguồn vốn khác

1.1.2.3 Đặc điểm của đầu tư XDCB

Cho dù nền kinh tế nào thì đầu tư XDCB cũng mang những đặc điểm cơ bản sau [11]:

Thứ nhất: đầu tư XDCB là khâu mở đầu của mọi quá trình sản xuất và tái sản

xuất nhằm tạo ra năng lực sản xuất cho nền kinh tế Đầu tư XDCB chính là một phần tiết kiệm những tiêu dùng của xã hội thay vì những tiêu dùng lớn hơn trong tương lai

Thứ hai: quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một thời gian lao động rất dài mới có

thể đưa vào sử dụng được, thời gian hoàn vốn lâu vì sản phẩm XDCB mang tính chất đặc biệt và tổng hợp Sản xuất không theo dây chuyền hàng loạt mà mỗi công trình dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên, địa điểm hoạt động lại thay đổi liên tục và phân tán Thời gian khai thác và sử dụng lâu dài, thường là 10 năm,

20 năm, 50 năm hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào tính chất dự án

Thứ ba: đầu tư là lĩnh vực có mức độ rủi ro lớn và mạo hiểm, đầu tư chính là

Trang 20

việc đánh đổi những tiêu dùng chắc chắn của hiện tại để mong nhận được những tiêu dùng lớn hơn nhưng chưa thật chắc chắn trong tương lai, “Chưa thật chắc chắn” chính

là yếu tố rủi ro mạo hiểm Vì vậy có nhà kinh tế đã nói rằng đấu tư là đánh bạc với tương lai [13]

Thứ tư: sản phẩm của đầu tư XDCB là những công trình xây dựng như nhà máy,

công trình công cộng, nhà ở, cầu cống, sân bay, cảng biển… có tính cố định gắn liền với đất đai Vì thế nên trước khi đầu tư các công trình phải được quy hoạch cụ thể, khi thi công xây lắp thường gặp phải khó khăn trong đền bù giải phóng mặt bằng, khi đã hoàn thành công trình thì sản phẩm đầu tư khó di chuyển đi nơi khác[12]

1.1.2.4 Nội dung của đầu tư xây dựng cơ bản

Trang 21

Sơ đồ 1.1: Trình tự trong hoạt động đầu tư

Qua sơ đồ 1.1 ta thấy: bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau, giai đoạn trước

là cơ sở thực hiện giai đoạn sau Tuy nhiên, do tính chất và quy mô của dự án mà một vài bước có thể gộp vào nhau như ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, đối với dự án vừa và nhỏ thì có thể không cần phải có bước nghiên cứu cơ hội đầu tư và bước nghiên cứu dự án tiền khả thi mà xây dựng luôn dự án khả thi, thậm chí chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối với những dự án quá nhỏ và những dự án có thiết kế mẫu

Khi bước trước đã thực hiện xong, trước khi triển khai thực hiện bước tiếp theo phải kiểm tra và đánh giá về kinh tế, tài chính, kỹ thuật của bước đó, nếu đạt yêu cầu về các tiêu chuẩn, quy phạm (nếu có) cho bước đó và được cấp có thẩm quyền chấp nhận mới được thực hiện bước tiếp theo Đáng lưu ý nhất là thực hiện trình tự theo giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư dự án

- Nội dung công việc thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư gồm:

+ Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư

Giai đoạn I Chuẩn bị đầu tư

Nghiên cứu cơ

hội đầu tư

Lập dự án, lập BCKT-KT

Thẩm định và phê duyệt dự án

Giai đoạn II Thực hiện đầu tư

Chạy thử nghiệm thu, quyết toán

Bàn giao, đưa vào khai thác sử dụng

Trang 22

+ Tiến hành thăm dò, xem xét thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ; tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư

+ Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng

+ Lập dự án đầu tư

+ Gửi hồ sơ dự án và văn bản của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan có chức năng thẩm quyền lập dự án đầu tư

- Nội dung công việc ở giai đoạn thực hiện dự án bao gồm:

+ Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước, mặt biển và thềm lục địa

+ Chuẩn bị mặt bằng xây dựng

+ Tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế giám định kỹ thuật và chất lượng công trình

+ Phê duyệt, thẩm định thiết kế và tổng dự toán, dự toán hạng mục công trình + Tổ chức đấu thầu thi công xây lắp, thiết bị

+ Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có)

+ Ký kết hợp đồng kinh tế với nhà thầu đã trúng thầu

+ Thi công xây lắp công trình

+ Kiểm tra giám sát thực hiện các hợp đồng

* Phân loại dự án đầu tư

Trên thực tế, các dự án đầu tư rất đa dạng về cấp độ loại hình, quy mô và thời hạn Do vậy, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và quản lý mà người ta có thể phân loại dự

án đầu tư theo các tiêu thức khác nhau

* Theo tính chất của dự án: người ta có thể chia dự án đầu tư thành các loại dự án: dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển KT - XH, dự án đầu tư nhân đạo

* Theo nguồn vốn đầu tư: có dự án đầu tư bằng vốn trong nước, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, vốn ODA, vốn đầu tư của Chính phủ, vốn đầu tư của khu vực tư nhân, vốn liên doanh và vốn cổ phần…

* Theo ngành, lĩnh vực đầu tư: dự án thuộc ngành công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, kết cấu hạ tầng dịch vụ…

Trang 23

* Theo quy mô: dự án đầu tư quy mô lớn, dự án đầu tư quy mô vừa và nhỏ Phân loại dự án theo yêu cầu phân cấp quản lý của Nhà nước thì trong luật Xây dựng và Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng đã phân dự án thành các nhóm như sau [5]:

1 Theo tổng mức đầu tư:

2 Theo mức độ ảnh hưởng đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả

năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, bao gồm:

a) Nhà máy điện hạt nhân;

b) Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất vườn

quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu

rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 héc ta trở lên;

rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng

hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo vệ môi

trường từ 500 héc ta trở lên; rừng sản xuất từ 1.000 héc ta trở

lên;

c) Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng

lúa nước từ hai vụ trở lên với quy mô từ 500 héc ta trở lên;

d) Di dân tái định cư từ 20.000 người trở lên ở miền núi, từ

50.000 người trở lên ở các vùng khác;

đ) Dự án đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt

cần được Quốc hội quyết định

Không phân biệt tổng mức đầu tư

2

1 Dự án tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt

2 Dự án tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về

quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về quốc

phòng, an ninh

3 Dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ quốc phòng, an ninh có tính

chất bảo mật quốc gia

4 Dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ

5 Dự án hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất

Không phân biệt tổng mức đầu tư

Trang 24

TT LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TỔNG MỨC ĐẦU TƯ

II.2

1 Giao thông, bao gồm cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay,

đường sắt, đường quốc lộ

2 Công nghiệp điện

3 Khai thác dầu khí

4 Hóa chất, phân bón, xi măng

5 Chế tạo máy, luyện kim

6 Khai thác, chế biến khoáng sản

1 Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản

2 Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên

3 Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới

4 Công nghiệp, trừ các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp

quy định tại các Mục I.1, I.2 và I.3

Từ 1.000 tỷ đồng trở lên

II.5

1 Y tế, văn hóa, giáo dục;

2 Nghiên cứu khoa học, tin học, phát thanh, truyền hình;

Trang 25

TT LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TỔNG MỨC ĐẦU TƯ

1.1.2.5 Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản

Vốn đầu tư Xây dựng cơ bản được hình thành từ các nguồn sau :

- Nguồn trong nước: Đây là nguồn vốn có vai trò quyết định tới sự phát triển kinh

tế của đất nước, nguồn này chiếm tỷ trọng lớn, nó bao gồm từ các nguồn sau :

+ Vốn ngân sách nhà nước: Gồm ngân sách TW và ngân sách địa phương, được hình thành từ sự tích luỹ của nền kinh tế, vốn khấu hao cơ bản và một số nguồn khác dành cho đầu tư xây dựng cơ bản;

+ Vốn tín dụng đầu tư gồm: Vốn của Nhà nước chuyển sang, vốn huy động từ các đơn vị kinh tế và các tầng lớp dân cư, dưới các hình thức, vốn vay dài hạn của các

tổ chức tài chính tín dụng quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài;

+ Vốn trái phiếu Chính phủ;

+ Vốn của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc các thành phần kinh

tế khác;

- Vốn nước ngoài: Nguồn này có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình đầu

tư xây dựng cơ bản và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Nguồn này bao gồm:

+ Vốn ODA: Vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế như WB, ADB, các tổ chức chính phủ như JICA ( OFID);

Trang 26

1.1.3.1 Khái niệm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản và nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước

Vốn là toàn bộ giá trị của đầu tư để tạo ra các sản phẩm nhằm mục tiêu thu nhập trong tương lai Các nguồn lực được sử dụng cho hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu

tư, nếu quy đổi ra thành tiền thì vốn đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư[13]

Bất kỳ một quá trình tăng trưởng hoặc phát triển kinh tế nào muốn tiến hành được đều phải có VĐT, VĐT là nhân tố quyết định để kết hợp các yếu tố trong sản xuất kinh doanh Nó trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu đối với tất cả các dự án đầu tư cho việc phát triển kinh tế đất nước

Nghị định số 385-HĐBT ngày 07/11/1990 của hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) về việc sửa đổi, bổ sung thay thế điều lệ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đã ban

hành theo Nghị định số 232-CP ngày 06/06/1981 khái niệm “Vốn đầu tư XDCB là toàn

bộ chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác ghi trong tổng dự toán”[15]

Theo nghĩa chung nhất thì VĐT XDCB bao gồm: chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác theo một dự án nhất định

Các nguồn lực thuộc quyền sở hữu và chi phối toàn diện của Nhà nước được sử dụng cho hoạt động đầu tư XDCB được gọi là VĐT XDCB từ NSNN

NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước tham gia huy động và phân phối VĐT thông qua hoạt động thu, chi ngân sách[13]

- Căn cứ vào phạm vi, tính chất và hình thức thu cụ thể, VĐT XDCB từ NSNN được hình thành từ các nguồn sau:

+ Nguồn vốn thu trong nước (thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên của đất nước…và các khoản thu khác)

+ Nguồn vốn từ nước ngoài (vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, nguồn viện trợ phi Chính phủ)

Phân cấp quản lý ngân sách chia VĐT XDCB từ NSNN gồm:

+ VĐT XDCB của ngân sách trung ương được hình thành từ các khoản thu của

Trang 27

ngân sách trung ương đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia Nguồn vốn này được giao cho các bộ, ngành quản lý sử dụng

+ VĐT XDCB của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu ngân sách địa phương đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa phương Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) quản

lý thực hiện

- Mức độ kế hoạch hoá, VĐT từ NSNN được phân thành:

+ VĐT xây dựng tập trung: nguồn vốn này được hình thành theo kế hoạch với tổng mức vốn và cơ cấu vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho từng bộ, ngành và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

+ VĐT XDCB từ nguồn thu được để lại theo Nghị quyết của Quốc hội: thu từ thuế nông nghiệp, thu bán, cho thuê nhà của Nhà nước, thu cấp quyền sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất…

+ VĐT XDCB theo chương trình quốc gia

+ VĐT XDCB thuộc NSNN nhưng được để lại tại đơn vị để đầu tư tăng cường

cơ sở vật chất như: quảng cáo truyền hình, thu học phí,

Nguồn VĐT XDCB từ ngân sách nhà nước phần lớn được sử dụng để đầu tư cho các dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, có vốn đầu tư lớn, có tác dụng chung cho nền KT - XH mà các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư Nguồn vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước có tính chất bao cấp nên dễ bị thất thoát, lãng phí, đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ

- VĐT XDCB từ ngân sách nhà nước được đầu tư cho các dự án sau:

+ Các dự án kết cấu hạ tầng KT - XH, Quốc phòng - An ninh không có khả năng thu hồi vốn và được quản lý sử dụng phân cấp chi NSNN cho đầu tư phát triển

+ Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật

+ Chi cho công tác điều tra, khảo sát lập quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH vùng, lãnh thổ; quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Chính phủ cho phép

1.1.3.2 Vị trí, vai trò của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với đầu tư xây

Trang 28

dựng cơ bản

Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế và một phạm trù lịch sử Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ trong phương thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng Nói cách khác sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ là tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước[13]

Nói đến nguồn vốn là nói đến nguồn gốc xuất xứ để có được vốn đó Đứng trên giác độ một chủ dự án, để hình thành một dự án đầu tư xây dựng có thể sử dụng các nguồn vốn sau đây:

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước

- Nguồn vốn vay

- Nguồn vốn tự bổ sung

- Nguồn huy động, đóng góp trong quá trình xây dựng công trình

Nguồn vốn của ngân sách nhà nước là một bộ phận vốn đầu tư xây dựng cơ bản được Nhà nước tập trung vào ngân sách nhà nước dùng để đầu tư xây dựng công trình theo mục tiêu phát triển kinh tế cho đầu tư xây dựng cơ bản Trong mỗi thời kỳ, tùy vào điều kiện lịch sử cụ thể và nhiệm vụ phát triển KT - XH của đất nước mà nguồn vốn ngân sách nhà nước bố trí cho đầu tư xây dựng cơ bản với tỷ lệ khác nhau[12]

Hiện nay nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được bố trí trực tiếp cho các công trình văn hoá, y tế, giáo dục, quản lý nhà nước, cơ sở hạ tầng và những công trình trọng điểm quan trọng, có ý nghĩa làm thay đổi cơ cấu kinh tế của cả nước, của vùng lãnh thổ

và địa phương

Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước là quá trình Nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tập trung được dưới hình thức: Thuế, phí, lệ phí để đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hoá xã hội Các khoản chi này có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển Với ý nghĩa đó người ta coi khoản chi này là chi cho tích luỹ

Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi được ưu tiên hàng đầu trong tổng chi ngân sách nhà nước Chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước là quá trình

sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tập trung vào ngân sách nhà nước nhằm thực hiện

Trang 29

tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, từng bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước được thực hiện hàng năm nhằm mục đích để đầu tư xây dựng các công trình, kết cấu hạ tầng kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, các công trình không có khả năng thu hồi vốn

Để quản lý có hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước chúng ta cần tiến hành phân loại khoản chi này Phân loại các khoản chi là việc sắp xếp các khoản chi có cùng mục đích, cùng tính chất thành loại chi Chúng ta có thể phân loại chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước theo các tiêu thức sau[12]:

+ Xét theo hình thức tài sản cố định, chi đầu tư xây dựng cơ bản gồm:

- Chi xây dựng mới: là các khoản chi để xây dựng mới các công trình, dự án mà kết quả là làm tăng thêm tài sản cố định, tăng thêm năng lực sản xuất mới của nền kinh

tế quốc dân Đây là khoản chi có tỷ trọng lớn

- Chi cải tạo sửa chữa: là khoản chi nhằm phục hồi hoặc nâng cao năng lực của những công trình dự án đã có sẵn

+ Xét theo cơ cấu công nghệ vốn đầu tư, chi đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm:

- Chi xây dựng: là các khoản chi để xây dựng lắp ghép các kết cấu kiến trúc và lắp đặt thiết bị vào đúng vị trí và theo đúng thiết kế đã được duyệt

- Chi thiết bị: là các khoản chi cho mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị bao gồm

cả chi phí vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, chi phí bảo dưỡng tại kho bãi ở hiện trường, chi phí chạy thử cũng như các chi phí liên quan về thuế và bảo hiểm thiết bị

- Chi quản lý dự án: đây là khoản chi đảm bảo điều kiện cho quá trình xây dựng, lắp đặt và đưa dự án đi vào sử dụng Nó bao gồm các khoản chi như: chi tổ chức thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư, chi tổ chức khảo sát thiết kế, tổ chức đấu thầu

+ Xét theo giai đoạn đầu tư, chi đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm:

- Chi cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư: là những khoản chi để xác định sự cần thiết phải đầu tư, quy mô đầu tư, điều tra khảo sát thăm dò và lực chọn địa điểm xây dựng, lập dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư và quyết đinh đầu tư

- Chi phí cho giai đoạn thực hiện và kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác

sử dụng Đây là khoản chi liên quan đến quá trình xây dựng từ khi khởi công đến khi hoàn thành bàn giao dự án đưa vào khai thác sử dụng

1.1.3.3 Đặc điểm chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản

Trang 30

Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước có đặc điểm sau:

Một là: Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi lớn của ngân sách nhà nước

nhưng không mang tính ổn định, không hoàn trả trực tiếp và được xem xet hiệu quả trên tầm vĩ mô

Hai là: Chi đầu tư xây dựng cơ bản gắn liền với đặc điểm xây dựng cơ bản và

công tác xây dựng cơ bản, gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ

1.1.4 Nguyên tắc về quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước

Theo nguyên tắc, nguồn vốn ngân sách nhà nước phải được nhà nước quản lý chặt chẽ từ khâu giao kế hoạch cho đến khi đầu tư Do vậy nguồn vốn đầu tư xây dựng

cơ bản cũng được quản lý chặt chẽ [8]

* Công tác lập kế hoạch đầu tư: Bộ Kế hoạch đầu tư tổng hợp kế hoạch vốn

đầu tư từ ngân sách của tất cả các thành phần kinh tế trong nền kinh tế để dự báo, hướng dẫn các ngành, lĩnh vực cần tập trung đầu tư; những cơ chế áp dụng trong kỳ

kế hoạch Sở Kế hoạch đầu tư phải xác định cụ thể danh mục đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư của các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước Nhà nước quản lý chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch đầu tư phù hợp với quy hoạch, kế hoạch, cơ cấu ngành vùng Với các công trình, dự án quan trọng quốc gia trong kế hoạch hàng năm và từng thời kỳ phát triển thi do Quốc hội quyết định: Thủ tướng Chính phủ duyệt mục tiêu, tổng mức vốn đầu tư để bố trí kế hoạch cho các bộ, địa phương thực hiện

* Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Nhà nước quản lý chặt chẽ thông qua báo cáo đầu

tư, dự án đầu tư và thẩm duyệt dự án đầu tư, thẩm định các báo cáo nghiên cứu khả thi, báo cáo thiết kế kỹ thuật và quyết định đầu tư

* Giai đoạn thực hiện đầu tư: được nhà nước quản lý chặt chẽ thông qua việc

phê duyệt quyết định đấu thầu, kết quả đấu thầu, giám sát quá trình thực hiện đầu tư, phê duyệt quyết toán đầu tư

* Giai đoạn kết thúc đầu tư: Nhà nước quản lý thông qua việc nghiệm thu bàn

giao công trình (công trình hoàn chỉnh theo thiết kế được duyệt, vận hành đúng yêu cầu

kỹ thuật và nghiệm thu đạt yêu cầu chất lượng)

Nhà nước quản lý chặt chẽ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trên cơ sở tính toán

Trang 31

tổng mức thu, mức chi ngân sách xác định chi vào mục đích đầu tư xây dựng cơ bản Khối lượng vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước gồm: vốn trong nước, vốn nước ngoài, được phân bổ cho các bộ, ngành và các địa phương theo mục tiêu cụ thể Nguồn vốn này thuộc nguồn vốn nhà nước được nhà nước trực tiếp chi phối theo kế hoạch vì vậy

có khả năng theo dõi, nắm bắt được từ khâu giao kế hoạch cho đến khi thực hiện qua các bộ, ngành, địa phương, qua hệ thống ngành dọc thống kê, qua hệ thống cấp phát tài chính[3]

1.1.5 Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước

Công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN gồm những nội dung cơ bản sau đây:

1.1.5.1 Quản lý vốn đầu tư XDCB ở giai đoạn lập kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư XDCB từ NSNN

a Công tác lập kế hoạch vốn đầu tư XDCB

Kế hoạch vốn đầu tư của mỗi ngành, mỗi cấp thường được phản ánh trong kỳ kế hoạch của ngành, của cấp mình (cả nước, ngành, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã)

Theo quy định của Luật NSNN về việc lập dự toán NSNN hàng năm, căn cứ vào tiến độ và mục tiêu thực hiện dự án, chủ đầu tư lập kế hoạch vốn đầu tư của dự án gửi

cơ quan quản lý cấp trên Các Bộ tổng hợp, xem xét và lập kế hoạch vốn đầu tư gửi Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính UBND cấp tỉnh lập dự toán Ngân sách địa phương

về phần kế hoạch vốn đầu tư xin ý kiến Thường trực HĐND tỉnh trước khi gửi Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính Bộ Kế hoạch và đầu tư và Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội quyết định và giao chỉ tiêu kế hoạch vốn đầu

tư cho các Bộ và các tỉnh

Đối với chương trình Quốc gia, dự án quan trọng Quốc gia trong kế hoạch hàng năm và từng thời kỳ phát triển kinh tế do Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mục tiêu, tiến độ, tổng mức vốn đầu tư và nguồn vốn đầu tư làm cơ sở để bố trí kế hoạch hàng năm do các Bộ, địa phương thực hiện

- Điều kiện được ghi kế hoạch vốn hàng năm của các dự án:

Hiện tại, các cơ quan có thẩm quyền phân bổ vốn đầu tư phải căn cứ theo từng dự

án Các dự án chỉ được ghi kế hoạch vốn đầu tư hàng năm của Nhà nước khi có đủ các điều kiện sau:

+ Đối với các dự án quy hoạch: có đề cương hoặc nhiệm vụ dự án quy hoạch được

Trang 32

duyệt theo thẩm quyền

+ Đối với các dự án ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư: phải phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và lãnh thổ được duyệt theo thẩm quyền

+ Đối với các dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư: phải có Quyết định đầu tư từ thời điểm trước 31/10 năm trước năm kế hoạch

+ Đảm bảo thời gian và vốn bố trí để thực hiện các dự án nhóm B không quá 5 năm, dự án nhóm C không quá 3 năm

- Điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư năm: Định kỳ, rà soát tiến độ thực hiện và mục tiêu đầu tư của các dự án trong năm để điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư, chuyển vốn từ các dự

án không có khả năng thực hiện sang các dự án vượt tiến độ, còn nợ khối lượng, các dự

án có khả năng hoàn thành vượt kế hoạch trong năm

b, Công tác phân bổ vốn đầu tư XDCB

- Nguyên tắc phân bổ vốn đầu tư XDCB: Trên cơ sở tổng mức vốn được Quốc hội phê duyệt, Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ, các ngành phân bổ vốn cho các công trình,

dự án cụ thể Việc phân bổ vốn cho các công trình, dự án phải được thực hiện trên các nguyên tắc sau:

+ Thực hiện đúng theo quy định của Luật NSNN, vốn đầu tư thuộc NSNN chỉ bố trí cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng hoàn vốn trực tiếp + Các công trình dự án phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của ngành đề ra

+ Các công trình, dự án được bố trí vốn phải nằm trong quy hoạch đã được phê duyệt, có đủ các thủ tục đầu tư theo các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng + Bố trí vốn tập trung, bảo đảm bảo hiệu quả đầu tư Ưu tiên bố trí cho các dự án quan trọng Quốc gia và các dự án lớn khác, các công trình, dự án hoàn thành trong kỳ

kế hoạch, vốn đối ứng cho các dự án ODA; không bố trí vốn cho các dự án khi chưa xác định được rõ nguồn vốn

+ Phải dành đủ vốn để thanh toán các khoản nợ và ứng trước vốn đầu tư của năm

kế hoạch

+ Bảo đảm tính công khai, minh bạch, công bằng trong phân bổ vốn đầu tư

Trang 33

phát triển

- Định mức phân bổ vốn đầu tư:

Để đảm bảo sự công bằng, công khai, minh bạch trong phân bổ vốn đầu tư giữa

TW và địa phương, giữa các vùng miền trong cả nước, ngày 30/9/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 40/2015/QĐ-TTg về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân

bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN Theo đó, định mức phân bổ vốn đầu tư trong cân đối được tính toán trên các tiêu chí về dân số, trình độ phát triển, diện tích tự nhiên, đơn vị hành chính và các tiêu chí bổ sung (tiêu chí thành phố đặc biệt; thành phố trực thuộc TW; thành phố loại 1 thuộc tỉnh; các tỉnh, thành phố, các vùng kinh tế trọng điểm; các trung tâm phát triển của vùng và tiểu vùng)

- Thẩm quyền phân bổ vốn đầu tư:

UBND các cấp lập phương án phân bổ vốn đầu tư trình HĐND cùng cấp quyết định Theo Nghị quyết của HĐND, UBND phân bổ và quyết định giao kế hoạch vốn đầu tư cho từng dự án thuộc phạm vi quản lý đã đủ các điều kiện quy định, đảm bảo khớp đúng với các chỉ tiêu được giao

Riêng đối với các dự án được đầu tư bằng các nguồn vốn để lại theo Nghị quyết của Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và bổ sung có mục tiêu từ Ngân sách TW cho ngân sách địa phương còn phải tuân thủ các quy định về đối tượng đầu tư

và mục tiêu sử dụng của từng nguồn vốn đầu tư

- Thời gian lập, trình, duyệt, giao kế hoạch vốn đầu tư theo quy định của Luật NSNN:

Bước 1, hướng dẫn lập, xây dựng kế hoạch: Căn cứ Chỉ thị của Thủ tướng Chính

phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và số kiểm tra về dự toán Ngân sách năm kế hoạch (thường ban hành vào tháng 5 hàng năm), Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai vào tháng 6 hàng năm để chuẩn bị cho việc xây dựng kế hoạch năm

Bước 2, các Bộ, ngành, địa phương xây dựng và báo cáo kế hoạch: Căn cứ tiến độ

thực hiện dự án và các mục tiêu ưu tiên đã hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương phối hợp với các cơ quan liên quan xác định cụ thể các danh mục và vốn đầu tư các dự án, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên Kiến nghị các cơ chế cần thiết bảo đảm cho việc thực hiện

Trang 34

kế hoạch đầu tư

Bước 3, tổng hợp, cân đối và báo cáo kế hoạch đầu tư của cả nước: Bộ Kế hoạch

và Đầu tư nghiên cứu đề xuất các mục tiêu chiến lược, các quy hoạch phát triển kinh tế

- xã hội vùng, ngành và lãnh thổ, trong đó có những chương trình đầu tư công cộng, tổng mức và cơ cấu vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tổng mức vốn đầu tư

và danh mục chương trình, dự án đầu tư ưu tiên thuộc NSNN trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 9 trước năm kế hoạch

Căn cứ vào các chương trình, dự án đầu tư của các Bộ, ngành, địa phương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến phân bổ vốn đầu tư tập trung thuộc NSNN cho các Bộ, ngành, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 9 hàng năm

Bước 4, phân bổ kế hoạch vốn đầu tư: sau khi được Quốc hội phê duyệt, khoảng

tháng 11 hàng năm Thủ tướng Chính phủ giao cho các Bộ, ngành, địa phương các chỉ tiêu:

+ Tổng mức vốn đầu tư tập trung của NSNN, chia ra thành vốn trong nước và vốn ngoài nước

+ Vốn thực hiện dự án: gồm vốn theo cơ cấu vốn đầu tư theo một số ngành, mục tiêu quan trọng; danh mục và vốn đầu tư các công trình, dự án thuộc nhóm A

Căn cứ tổng mức vốn, cơ cấu vốn thực hiện dự án do Thủ tướng Chính phủ giao chỉ tiêu, Bộ kế hoạch và Đầu tư giao theo uỷ quyền và hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương bố trí, phân bổ vốn Việc bố trí, phân bổ vốn ở các Bộ, ngành, địa phương được tiến hành chậm nhất là đến ngày 31 tháng 12 hàng năm

1.1.5.2 Công tác tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư XDCB từ NSNN

a Quy trình tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư XDCB từ NSNN:

Tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư là quá trình Kho bạc nhà nước (KBNN) thực hiện

đề nghị của chủ đầu tư tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư đến tay các nhà thầu (tư vấn, xây dựng, cung ứng thiết bị) và chi tiêu cho việc quản lý của chủ đầu tư Bản chất của việc cấp vốn là Nhà nước (chủ đầu tư là người đại diện) mua lại sản phẩm xây dựng, lắp đặt, thiết bị công nghệ và các sản phẩm xây dựng cơ bản khác của các nhà thầu Do đó, việc cấp đúng, cấp đủ tức là cấp đúng giá trị của bản thân hàng hoá XDCB mà nhà thầu bán cho chủ đầu tư Cơ chế kiểm soát thanh toán vốn đầu tư từ NSNN là khâu quan trọng

Trang 35

trong việc giảm thất thoát, tiêu cực trong đầu tư xây dựng, góp phần nâng cao hiệu quả

- Tạm ứng vốn và thu hồi tạm ứng nguồn NSNN:

Việc tạm ứng vốn đầu tư XDCB được tiến hành qua hai khâu:

+ Tạm ứng Ngân sách:

Việc ứng trước dự toán ngân sách năm sau cho các dự án đầu tư được thực hiện theo quy định của Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 và của Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN

Theo đó, các dự án, công trình Quốc gia và công trình XDCB thuộc nhóm A đủ điều kiện thực hiện theo quy định về quản lý đầu tư và xây dựng đang thực hiện và cần đẩy nhanh tiến độ thì được ứng trước dự toán năm sau trong phạm vi khả năng cho phép của ngân sách

Thu hồi vốn ứng trước: các Bộ, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí trong dự toán ngân sách năm sau để hoàn trả số vốn ứng trước đó cho các dự án Khi thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư cho dự án, Bộ Tài chính đồng thời thông báo thu hồi vốn ứng trước Số thu hồi đúng bằng mức vốn được ứng trước Trường hợp các Bộ, UBND cấp tỉnh được ứng trước dự toán không bố trí hoặc bố trí không đủ trong dự toán ngân sách để hoàn ứng theo đúng quy định, Bộ Tài chính thu hồi số vốn tạm ứng đó bằng cách trừ vào dự toán chi đầu tư được giao của Bộ, UBND cấp tỉnh và có văn bản thông báo cho Bộ, UBND cấp tỉnh đó biết để phối hợp thực hiện

+ Tạm ứng vốn đầu tư cho nhà thầu:

Việc tạm ứng vốn đầu tư cho các nhà thầu thi công các dự án đầu tư là xuất phát

từ đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng thường có giá trị lớn, thời gian thực hiện thường kéo dài mà không một nhà thầu nào có thể đủ năng lực tài chính để thực hiện Do vậy,

Trang 36

để các nhà thầu có đủ vốn thực hiện dự án thì Nhà nước cần phải tạm ứng vốn cho các nhà thầu nhằm mục đích để nhà thầu chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện dự án đầu tư Để quản lý việc tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư Nhà nước đã quy định rõ tại Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính về quy định quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

b Quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình thanh toán vốn đầu

tư XDCB từ NSNN:

- Chủ đầu tư có quyền yêu cầu bồi thường hoặc kiện ra các toà án hành chính, kinh

tế đòi bồi thường về những thiệt hại do việc chậm trễ thanh toán của các tổ chức cấp

phát, cho vay vốn đầu tư

- Chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về giá trị đề nghị thanh toán với

tổ chức cấp phát, cho vay vốn (về tính chính xác, hợp pháp của khối lượng thực hiện, đơn giá, dự toán các loại công việc, ), KBNN không chịu trách nhiệm về các vấn đề này KBNN căn cứ vào hồ sơ thanh toán và thực hiện thanh toán theo hợp đồng KBNN chỉ kiểm soát trên cơ sở các tài liệu do chủ đầu tư cung cấp và theo nguyên tắc thanh

toán đã quy định

- Kho bạc Nhà nước được quyền yêu cầu chủ đầu tư cung cấp hồ sơ, tài liệu, thông

tin theo chế độ quy định để phục vụ công tác kiểm soát thanh toán vốn Khi cần thiết được nắm tình hình thực tế tại hiện trường Được phép tạm ngừng thanh toán vốn hoặc thu hồi số vốn mà chủ đầu tư sử dụng sai mục đích, sai đối tượng hoặc trái với chế độ

quản lý tài chính của Nhà nước

1.1.5.3 Công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Để đánh giá kết quả của quá trình đầu tư, rút kinh nghiệm nhằm tăng cường công tác quản lý đầu tư và xây dựng, tất cả các dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước bao gồm: vốn NSNN, vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn Trái phiếu (Chính phủ, Chính quyền địa phương), đều phải quyết toán sau khi hoàn thành hoặc khi kết thúc năm kế hoạch Vốn đầu tư được quyết toán là toàn

bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác, sử dụng Chi phí hợp pháp là chi phí được thực hiện trong phạm vi thiết kế, dự toán đã phê duyệt kể cả phần điều chỉnh, bổ sung, đúng với hợp đồng đã ký kết, phù hợp với các quy định của pháp luật Đối với các dự án sử dụng vốn NSNN thì vốn đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Trang 37

Quyết toán vốn đầu tư được thực hiện dưới 2 hình thức:

Thứ nhất là, quyết toán vốn đầu tư theo niên độ ngân sách:

Kết thúc năm, chủ đầu tư phải lập bảng đối chiếu thanh toán vốn đầu tư cho từng

dự án về số thanh toán trong năm và luỹ kế số thanh toán từ khi khởi công đến hết niên

độ ngân sách gửi KBNN Đồng thời chủ đầu tư phải báo cáo thực hiện vốn đầu tư trong năm của từng dự án gửi cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư, KBNN, cơ quan Tài chính cùng cấp (đối với dự án địa phương quản lý)

Các Bộ, UBND cấp tỉnh căn cứ vào báo cáo thực hiện vốn đầu tư trong năm của các chủ đầu tư, chỉ đạo cơ quan chức năng tổng hợp, lập báo cáo tổng hợp thực hiện vốn đầu tư của các dự án trong năm thuộc phạm vi quản lý gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng Báo cáo phải phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, kết quả đầu tư, vấn đề khó khăn tồn tại, kiến nghị các giải pháp giải quyết

Thứ hai là, quyết toán vốn đầu tư dự án XDCB hoàn thành

Tuỳ theo quy mô, tính chất và thời hạn xây dựng công trình, chủ đầu tư có thể thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng từng hạng mục công trình hoặc toàn bộ công trình ngay sau khi hạng mục công trình, công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng theo yêu cầu của người quyết định đầu tư Chủ đầu tư lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư gửi

cơ quan thẩm tra và phê duyệt quyết toán, cơ quan cấp trên trực tiếp của chủ đầu tư (nếu có), KBNN

Quyết toán vốn đầu tư phải xác định đầy đủ, chính xác số vốn đầu tư đã thực hiện hàng năm và tổng mức vốn đầu tư đã thực hiện dự án; phân định rõ nguồn vốn đầu tư; giá trị tài sản cố định, tài sản lưu động hình thành qua đầu tư; giá trị tài sản bàn giao đưa vào sản xuất, sử dụng; quy đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt bằng giá trị tại thời điểm bàn giao đưa dự án vào vận hành để xác định giá trị tài sản mới tăng và giá trị tài sản bàn giao nếu dự án kéo dài trong nhiều năm; phân định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu, KBNN, cơ quan quản lý Nhà nước liên quan trong quá trình đầu tư

Chủ đầu tư có trách nhiệm lập hồ sơ quyết toán vốn đầu tư công trình, hạng mục công trình hoàn thành để trình người quyết định đầu tư phê duyệt chậm nhất là 12 tháng đối với dự án quan trọng Quốc gia và dự án nhóm A, 9 tháng đối với dự án nhóm B và

6 tháng đối với dự án nhóm C kể từ khi công trình hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng Sau 6 tháng kể từ khi có quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn

Trang 38

thành, chủ đầu tư có trách nhiệm giải quyết công nợ, tất toán tài khoản của dự án tại cơ quan thanh toán, cho vay, cấp phát vốn đầu tư Riêng các dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư thì Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt quyết toán

Bên giao thầu và bên nhận thầu có trách nhiệm quyết toán hợp đồng xây dựng trong vòng 30 ngày sau khi bên nhận thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng (trừ nghĩa vụ bảo hành công trình theo quy định) và đề nghị quyết toán hợp đồng

Bên nhận thầu có trách nhiệm lập quyết toán hợp đồng gửi bên giao thầu để xác định rõ giá hợp đồng đã ký kết, giá đã thanh toán, giá được thanh toán và các nghĩa vụ khác mà bên giao thầu cần phải thực hiện theo quy định của hợp đồng Bên giao thầu có trách nhiệm kiểm tra và quyết toán với bên nhận thầu và chịu trách nhiệm về giá trị hợp đồng đã quyết toán

Thẩm quyền kiểm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư hoàn thành:

Bộ Tài chính là cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán vốn đầu tư đối với dự án do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư Đối với dự án thuộc các cơ quan TW quản lý, người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán giao cho đơn vị có chức năng thuộc quyền quản lý tổ chức thẩm tra Đối với các dự án thuộc tỉnh, thành phố thuộc TW quản lý, Sở Tài chính thẩm tra Đối với các dự án thuộc cấp quận, huyện phòng Tài chính thẩm tra Đối với các dự án còn lại, người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán giao cho đơn vị chức năng thuộc quyền quản lý tổ chức thẩm tra

Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt đối với dự án do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang

Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan TW của các đoàn thể, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW phê duyệt các quyết toán dự án nhóm A, B, C và được phân cấp phê duyệt quyết toán đối với các dự án nhóm B, C cho cơ quan cấp dưới

Thực hiện chế độ kiểm toán đối với các dự án sử dụng vốn NSNN Tất cả các dự

án quan trọng Quốc gia, dự án nhóm A, B sử dụng vốn Nhà nước khi hoàn thành đều phải kiểm toán quyết toán trước khi trình cấp có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt quyết toán Các dự án còn lại thực hiện kiểm toán theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền Tất cả nội dung, trình tự, thời gian quyết toán vốn đầu tư XDCB đã được quy định

cụ thể tại Thông tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính về quy định

Trang 39

về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước

1.1.5.4 Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Các Bộ và UBND các tỉnh, huyện kiểm tra, đôn đốc các chủ đầu tư thuộc phạm vi quản lý của mình thực hiện kế hoạch đầu tư, tiếp nhận và sử dụng vốn đúng mục đích, đúng chế độ quy định của Nhà nước

Cơ quan Tài chính các cấp phối hợp với cơ quan chức năng hướng dẫn và kiểm tra các chủ đầu tư, Kho bạc Nhà nước, nhà thầu về việc chấp hành chính sách, chế độ tài chính, tình hình quản lý, sử dụng vốn đầu tư

Kho bạc Nhà nước thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong quá trình thanh toán vốn đầu

Các cơ quan thanh tra Nhà nước (được tổ chức theo cấp hành chính, ngành, lĩnh vực) thực hiện theo nhiệm vụ, quyền hạn của mình là: thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ và vụ việc liên quan đến trách nhiệm quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo Luật định, phòng ngừa và phòng chống tham nhũng,…(Luật thanh tra) Vì vậy, thanh tra nhà nước có quyền thanh tra đối với việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý và sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN; có quyền thanh tra những vụ việc, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng ngừa và phòng chống tham nhũng liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Cơ quan Kiểm toán nhà nước theo chức năng của mình kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với các cơ quan, tổ chức quản lý và sử dụngngân sách, tiền và tài sản của Nhà nước (Luật kiểm toán) Các khoản chi đầu tư XDCB được kiểm toán trong khuôn khổ kiểm toán NSNN

Tóm lại, do đặc thù vốn đầu tư XDCB từ NSNN thuờng là nguồn vốn lớn, thời gian

đầu tư dài, khả năng thu hồi vốn thấp nên việc quản lý vốn là hết sức khó khăn, phức tạp

Cơ chế quản lý vốn đầu tư từ: phân cấp quản lý đầu tư, kế hoạch hóa vốn đầu tư, kiểm soát vốn đầu tư đến quản lý thanh toán, quyết toán vốn đầu tư nêu trên là cơ sở để các tổ chức, cá nhân, Nhà nước quản lý và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả hơn

1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước

* Các nhân tố về cơ chế chính sách

Trang 40

Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý vốn đầu tư Các chính sách này gồm chính sách định hướng phát triển kinh tế như: chính sách công nghiệp, chính sách thương mại, chính sách đầu tư và các chính sách làm công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô hoặc vi mô

Các chính sách kinh tế tác động đến việc quản lý vốn đầu tư góp phần tạo ra một

cơ cấu kinh tế hợp lý hay không hợp lý, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp Các chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vực đầu tư góp phần tạo ra một số cơ cấu đầu

tư nhất định, là cơ sở để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý hay không cũng như tác động làm giảm hoặc tăng thất thoát vốn đầu tư, theo đó mà vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả hoặc kém hiệu quả

* Hệ thống pháp luật quản lý vốn đầu tư xây dựng

Cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng là các quy định của Nhà nước thông qua các

cơ quan có thẩm quyền về các nội dung quản lý làm chế tài để quản lý hoạt động đầu tư

và xây dựng

Chủ trương đầu tư XDCB của nước ta có sự thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử nhất định như những năm 1990 tập trung đầu tư phục vụ phát triển lương thực, thực phẩm nhưng những năm gần đây lại chú trọng đầu tư phục vụ xây dựng nông thôn mới

* Trình độ quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước

Việc phân cấp quản lý vốn đầu tư XDCB tương đối cụ thể, rõ ràng nhưng công việc này lại tương đối khó, mang tính chất đặc thù riêng; do vậy đòi hỏi cán bộ làm công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN phải có năng lực, trình độ chuyên môn, nhất là trình độ chuyên ngành đầu tư xây dựng, nếu không sẽ không thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao

* Năng lực tổ chức thực hiện dự án của chủ đầu tư

Thực tế cho thấy, chủ đầu tư là một nhân tố không thể thiếu trong công tác quản

lý, điều hành và giám sát các công trình, dự án XDCB trên địa bàn huyện Việc chủ đầu

tư lựa chọn tổ chức tư vấn không đủ điều kiện, năng lực cũng như buông lỏng quản lý trong quá trình thi công, xây dựng hay giám sát sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng trong quản lý vốn, đặc biệt là tình trạng thất thoát vốn NSNN và thông tin không hoàn hảo sẽ

làm sai sót trong quá trình quản lý vốn đầu tư

* Về công tác lập các dự án đầu tư

Ngày đăng: 21/06/2020, 10:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w