1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ: Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam Chi Nhánh Kinh Bắc​

126 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại đã và đang là một trong những hoạt động kinh doanh chính, đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất. Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thường rất nặng nề: làm tăng thêm chi phí của ngân hàng, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn vay cùng với sự thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính, tính thanh khoản, ảnh hưởng đến uy tín và lợi nhuận của ngân hàng.

Trang 1

NGUYỄN DUY THƯỞNG

QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN

VIỆT NAM - CHI NHÁNH KINH BẮC

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

NGUYỄN DUY THƯỞNG

QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN

VIỆT NAM - CHI NHÁNH KINH BẮC

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 8.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Thị Tình

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày … tháng năm 2018

Học viên

NGUYỄN DUY THƯỞNG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc TS Dương Thị Tình đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Quản lý Luật kinh tế - Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Kinh Bắc đã giúp

đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018

Học viên

NGUYỄN DUY THƯỞNG

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn hoặc đóng góp mới của luận văn 3

5 Bố cục của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHTM 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Các khái niệm liên quan 5

1.1.2 Đặc điểm và vai trò của quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 13

1.1.3 Sự cần thiết quản lý rủi ro tín dụng 15

1.1.4 Các biện pháp cơ bản trong quản lý rủi ro tín dụng 17

1.1.5 Nội dung nghiên cứu quản lý rủi ro tín dụng của NHTM 19

1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro tín dụng 22

1.2 Cơ sở thực tiễn 27

1.2.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng trên thế giới 27

1.2.2 Kinh nghiệm quả lý rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại trong nước 29

1.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan 31

1.2.4.Các nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng của Basel 32

1.2.5 Bài học đối kinh nghiệm đối với ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc 37

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 39

Trang 6

2.2 Phương pháp nghiên cứu 39

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 39

2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 40

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 40

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 41

2.3.1 Chỉ tiêu dư nợ trên tổng nguồn vốn 41

2.3.2 Dư nợ trên vốn huy động 41

2.3.3 Hệ số thu nợ 42

2.3.4 Tỷ lệ nợ quá hạn 42

2.3.5 Tỷ lệ nợ xấu 42

2.3.6 Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD 42

2.3.7 Tỷ lệ nợ xử lý rủi ro 43

Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN KINH BẮC 44

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 44

3.1.1 Một số đặc điểm cơ bản của tỉnh Bắc Ninh 44

3.1.2 Tổng quan về Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Chi nhánh Kinh Bắc 46

3.2 Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV chi nhánh Kinh Bắc 50

3.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc 50

3.2.2 Thực trạng hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc 58

3.2.3 Đánh giá tình hình quản lý rủi ro tại BIDV Chi nhánh Kinh Bắc 78

3.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV chi nhánh Kinh Bắc 84

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI BIDV CHI NHÁNH KINH BẮC 91

4.1 Định hướng chiến lược về quản lý rủi ro tín dụng của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc 91

4.2 Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Chi nhánh Kinh Bắc 92

Trang 7

4.2.1 Tổ chức xây dựng và thực hiện một cách hợp lý và khoa học các quy

chế, quy trình tín dụng 92

4.2.2 Xây dựng và thực hiện các chính sách tín dụng phù hợp 96

4.2.3 Nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát khoản vay 98

4.2.4 Các giải pháp hạn chế, bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra 101

4.2.5 Tăng cường xử lý nợ xấu 104

4.2.6 Các giải pháp khác 105

4.3 Kiến nghị 108

4.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 108

4.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 108

4.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam 108

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 114

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Khuyến cáo mức trích lập dự phòng rủi ro cho các tổ chức tín dụng 22

Bảng 2.1 Bảng ý nghĩa của điểm số các biến 40

Bảng 3.1 Kết quả tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2015-2017 53

Bảng 3.2 Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn vay của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc 53

Bảng 3.3 Cơ cấu dư nợ theo loại tiền của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc từ năm 2015-2017 54

Bảng 3.4 Cơ cấu dư nợ theo khách hàng của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc từ năm 2015-2017 55

Bảng 3.5 Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc từ năm 2015-2017 56

Bảng 3.6 Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc 57

Bảng 3.7 Tình hình nợ quá hạn và nợ xấu của BIDV Chi nhánh Kinh Bắcgiai đoạn 2015 - 2017 59

Bảng 3.8 Tình hình trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 2015 - 2017 61

Bảng 3.9 Tình hình dư nợ phân theo nhóm nợ của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc giai đoạn 2015 - 2017 61

Bảng 3.10 Tình hình xấu theo thời gian cho vay của BIDVChi nhánh Kinh Bắc giai đoạn 2015 - 2017 63

Bảng 3.11 Nợ quá hạn theo lĩnh vực cho vay của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc giai đoạn 2015-2017 64

Bảng 3.12 Tình hình nợ xử lý rủi ro của BIDV Kinh Bắc giai đoạn 2015-2017 66

Bảng 3.13 Những rủi ro do tác động của môi trường bên ngoài 68

Bảng 3.14 Rủi ro từ ý thức của khách hàng vay vốn 69

Bảng 3.15 Rủi ro trong quản lý tài chính của khách hàng 71

Bảng 3.16 Những nguyên nhân rủi ro do ngân hàng 72

Bảng 3.17 Những nguyên nhân rủi ro do kiểm soát các khoản vaycủa BIDV Chi nhánh Kinh Bắc 74

Bảng 3.18 Những nguyên nhân rủi ro do cán bộ làm sai 77

Bảng 3.19 Những nguyên nhân rủi ro do không thực hiệnđúng quy chế quy trình tín dụng 78

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức của BIDV Kinh Bắc 48Biểu đồ 3.1 Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn vay của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc năm 2016 54Biểu đồ 3.2 Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc

năm 2015-2016-2017 56Biểu đồ 3.3 Tình hình nợ quá hạn và nợ xấu của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc

giai đoạn 2015 - 2017 60Biểu đồ 3.4 Tình hình NQH, NX theo nhóm nợ của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc

giai đoạn 2015 - 2017 62

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại đã và đang là một trong những hoạt động kinh doanh chính, đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thường rất nặng nề: làm tăng thêm chi phí của ngân hàng, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn vay cùng với sự thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính, tính thanh khoản, ảnh hưởng đến uy tín và lợi nhuận của ngân hàng

Rủi ro tín dụng luôn song hành với hoạt động tín dụng, không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu thiệt hại tối đa khi rủi ro xảy ra Đứng trên quan điểm quản lý toàn bộ hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng, một tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng phải luôn được xác định trong chiến lược hoạt động chung Khi ngân hàng kinh doanh với một mức tổn thất thấp hơn hoặc bằng mức tỷ

lệ tổn thất dự kiến thì đó là thành công trong lĩnh vực quản trị rủi ro Ngân hàng phải bằng nhiều biện pháp tác động đến hoạt động tín dụng để hạn chế tối đa rủi ro tín dụng nhằm góp phần đạt tới mục tiêu hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả trong tăng trưởng

Hiện nay, thu nhập từ hoạt động tín dụng vẫn đang chiếm tỷ trọng lớn trong

cơ cấu thu nhập của BIDV, vì vậy yêu cầu tăng cường và hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý rủi ro tín dụng là một vấn đề thiết yếu ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động chung của BIDV nói chung và các chi nhánh nói riêng, trong đó có Chi nhánh Kinh Bắc

Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng trong điều kiện môi trường kinh doanh đầy biến động và phức tạp Việc cần thiết phải có những biện pháp linh hoạt để hạn chế rủi ro là vô cùng quan trọng và cấp thiết Cũng như mọi doanh nghiệp khác, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro và bị mất vốn Rủi ro xảy ra làm cho ngân hàng tổn thất về mặt tài chính, bị thua lỗ, nghiêm trọng hơn có thể bị phá sản Không những thế nó còn làm giảm úy tín của ngân hàng, đây là tổn thất

Trang 12

còn lớn hơn rất nhiều so với những tổn thất về mặt tài chính Vì vậy rủi ro trong ngân hàng đặc biệt là rủi ro tín dụng có tầm quan trọng và ảnh hưởng sâu rộng trong nền kinh tế xã hội Đây là một vấn đề rất đáng để quan tâm và nghiên cứu

BIDV Chi nhánh Kinh Bắc là một trong những chi nhánh ngân hàng hoạt động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, trong những năm qua cũng như các ngân hàng khác, tốc

độ tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng khả năng quản lý rủi ro chưa cao Điều đó đã dẫn đến nợ xấu của BIDV Chi nhánh Kinh Bắc đã tăng một cách nhanh chóng Những năm gần đây, BIDV Chi nhánh Kinh Bắc đã thực hiện được một số giải pháp

để hạn chế được rủi ro tín dụng, do vậy tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn có xu hướng giảm qua các năm 2015, 2016 và 2017 Việc quản lý nợ xấu, hạn chế rủi ro xảy ra trong hoạt động tín dụng là mục tiêu cao nhất mà BIDV - Chi nhánh Kinh Bắc đặt ra trong giai đoạn này (Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Chi nhánh Kinh Bắc, 2017)

Đã có rất nhiều đề tài về Quản lý rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Kinh Bắc giai đoạn 2015-2017

Với những lý do trên, và từ thực tế làm việc tại BIDV Kinh Bắc, tôi mạnh dạn

chọn đề tài “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư

và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc” để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 13

- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiệp vụ quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc Đối tượng điều tra là các khách hàng đã và đang vay vốn của Ngân TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc

3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn từ đó phân tích thực trạng quản lý rủi ro tín dụng cụ thể là rủi ro cho vay (nợ xấu, nợ quá hạn) tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại

- Nghiên cứu thực trạng việc quản lý và điều hành trong việc quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc

- Nghiên cứu đánh giá thực trạng về rủi ro và quản lý rủi ro tín dụng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý rủi ro

* Về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc

* Về thời gian: Các thông tin, số liệu điều tra trong đề tài được thu thập trong

3 năm 2015, 2016, 2017

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn hoặc đóng góp mới của luận văn

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần nhưng chưa có đề tài nào thực hiện về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc Hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu

tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế

- xã hội của tỉnh Bắc Ninh Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ

Trang 14

phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại

cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc Bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị có ý nghĩa hết sức tích cực, phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn hiện nay

5 Bố cục của luận văn

Luận văn bao gồm 04 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt

động NHTM

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP đầu tư và

phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc

Chương 4: Các giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng

TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kinh Bắc

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ RỦI RO

TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHTM 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1.1 Tín dụng

Tín dụng xuất hiện từ khi xã hội có phân công lao động, sản xuất và trao đổi hàng hoá Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì sự hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả ba khâu: dự trữ - sản xuất - lưu thông Do đó, thường xảy ra hiện tượng thừa vốn và thiếu vốn ở các doanh nghiệp Tín dụng ngân hàng góp phần điều tiết các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế không bị gián đoạn, sử dụng hợp lý hơn trong nền kinh tế Lý luận và thực tiễn cho thấy, tín dụng là hoạt động chủ yếu tại NHTM Có nhiều khái niệm về tín dụng như :

Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển

giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền cam kết hoàn trả theo điều kiện đã thoả thuận (Lê Văn Tú, 2005)

Tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ, có hoàn trả cả gốc và lãi sau

một thời gian nhất định (Nguyễn Đức Tú, 2011)

Tín dụng là một giao dịch về tài sản, (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay

(Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các tổ chức tín dụng khác) trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán (Huỳnh Kim Trí, 2012)

Như vậy, tín dụng chính là việc chuyển giao quyền sử dụng chứ không thay đổi quyền sở hữu, việc chuyển giao này có thời hạn nhất định và có tính hoàn trả cả gốc và lãi Phần lãi chính là một phần thu nhập của người sở hữu vốn tín dụng

Như vậy, bản chất của tín dụng ngân hàng đó là việc cấp một khoản tiền cho khách hàng sử dụng và có nguyên tắc hoàn trả (Nguyễn Văn Tiến, 2009)

Trang 16

Đặc điểm của tín dụng

Phân phối của tín dụng mang tính hoàn trả;

Hoạt động của tín dụng có sự vận động đặc biệt của giá cả

Vai trò của tín dụng

Tín dụng là công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng và góp phần điều tiết

vĩ mô nền kinh tế;

Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn;

Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội;

Tín dụng góp phần thực hiện chính sách xã hội

1.1.1.2 Khái niệm về rủi ro tín dụng

Ngân hàng với chức năng trung gian tài chính giữa người cho vay và người đi vay, là kênh dẫn vốn quan trọng nhất trong nền kinh tế Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường rất nhạy cảm, có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan như kinh tế, chính trị, xã hội Hơn nữa, ngân hàng không chỉ hoạt động trong lĩnh vực huy động vốn mà còn rất nhiều lĩnh vực khác như thanh toán, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán, phát hành thẻ Do đó, hoạt động của các ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro Rủi ro chung đối với một ngân hàng có nghĩa là mức độ không chắc chắn liên quan đến những sự kiện, những tình huống gây nên tổn thất kinh tế, làm chi phí tăng lên, thu nhập và lợi nhuận ngân hàng giảm đi so với dự kiến ban đầu Rủi ro có thể được đo lường cho các sản phẩm, dịch vụ khác nhau của ngân hàng Thông thường mức lợi nhuận ngân hàng càng cao thì xác xuất xảy ra rủi ro cũng càng cao (Nguyễn Đức Tú, 2011)

Các ngân hàng được coi là kinh doanh thành công khi mức độ rủi ro của họ được giữ ở mức hợp lý, được kiểm soát trong phạm vi và năng lực hoạt động tài chính của ngân hàng

Do đặc thù kinh doanh nên hoạt động của ngân hàng phải đối mặt với các loại rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro hoạt động ngoại bảng, rủi ro công nghệ và những rủi ro khác Trong tất cả các rủi ro

kể trên thỉ rủi ro trong hoạt động tín dụng là loại rủi ro lớn nhất, phức tạp nhất và là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng thương mại

Trang 17

Rủi ro tín dụng ngân hàng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng Đây là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề nhất cho ngân hàng

Hoạt động cho vay là hoạt động lớn nhất và chủ yếu của ngân hàng thương mại Thông thường các nghiệp vụ này mang lại 2/3 thu nhập cho ngân hàng, còn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay thu nhập từ hoạt động tín dụng mang lại thường chiếm 90% tổng thu nhập của mỗi ngân hàng Nhưng trong lĩnh vực này cũng chứa nhiều rủi ro bởi các khoản tiền vay bao giờ cũng có xác xuất vỡ nợ cao hơn với những tài sản có khác

Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn,

nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Rủi ro tín dụng nếu không được phát hiện và sử lý kịp thời sẽ làm nảy sinh các rủi ro khác (Nguyễn Đức Tú, 2011) Tại Việt nam, rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng, theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích , phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài của Thống đốc NHNN, “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” (Ngân hàng Nhà nước, 2013)

Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại chúng ta có thể rút ra các nội dụng cơ bản của rủi ro tín dụng như sau:

Xét trên khía cạnh nhất định, rủi ro tín dụng có thể được xem xét là:

Là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng có thể không trả một phần hoặc hoàn toàn không trả được nợ hoặc chậm trả nợ

Là sự tổn thất hoặc giảm sút chất lượng hoạt động của khách hàng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng

Cũng có thể rủi ro tín dụng xảy ra khi xuất hiện các biến cố bất thường khiến khách hàng không thực hiện được các cam kết với ngân hàng

Như vậy, cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khả năng, do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá

Trang 18

hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản lý rủi ro tín dụng được chủ động trong phòng ngừa, trích lập

dự phòng, đảm bảo chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra

Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng, việc phân loại rủi ro tín dụng tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và phân tích Đối với hệ thống NHTM thì việc phân loại rủi

ro tín dụng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập chính sách, qui trình, thủ tục và cả mô hình tổ chức quản lý và điều hành nhằm bảo đảm nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu trong toàn bộ quá trình tác nghiệp thẩm định, cấp tín dụng giám sát thu hồi nợ

và xử lý khoản nợ nếu nó có dấu hiệu không bình thường Thực tế cho thấy sự phân chia trách nhiệm càng rõ ràng, càng cụ thể, sẽ giúp cho quá trình quản lý rủi ro tín dụng có hiệu quả (Nguyễn Đức Tú, 2011)

- Theo đối tượng sử dụng vốn vay:

+ Rủi ro khách hàng cá thể: Thông thường số lượng khách hàng sẽ rất nhiều,

tuy nhiên mức độ rủi ro của từng khoản vay đơn lẻ sẽ thấp, mức độ ảnh hưởng của việc mất khả năng thanh toán của từng khoản vay là nhỏ; loại hình giao dịch, cơ cấu giao dịch dễ quản lý

+ Rủi ro khách hàng công ty, tổ chức kinh tế: Tùy theo qui mô của công ty, tổ

chức kinh tế là lớn hay nhỏ thì mức độ ảnh hưởng của rủi ro các khoản vay vào đối tượng này sẽ được đánh giá ở mức vừa hay lớn, tác động của nó đến khả năng thanh toán khoản nợ là vừa hay cao

+ Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý: Những Ngân hàng hoạt động phạm vi

toàn cầu có sự phân chia theo lãnh thổ quốc gia, nếu trong phạm vi một quốc gia phân chia RRTD tập trung theo khu vực địa lý, ví dụ như mức độ rủi ro khu vực Miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam (Nguyễn Đức Tú, 2011)

- Theo phạm vi ảnh hưởng:

+ Rủi ro giao dịch đơn lẻ: Được hiểu là rủi ro gắn với một giao dịch đơn lẻ

nào đó, cụ thể như rủi ro của một khoản vay đối với một khách hàng Loại rủi ro

Trang 19

này gắn liền và xuất phát chủ yếu do đặc điểm cá biệt của khoản vay hoặc khách hàng vay vốn

+ Rủi ro hệ thống: Được hiểu là rủi ro tín dụng gắn liền với nhóm khách hàng,

một ngành hàng, thậm chí với cả một nền kinh tế Rủi ro hệ thống mang tính chất vĩ

mô và liên quan nhiều đến việc quản lý danh mục cho vay (Nguyễn Văn Tiến, 2010)

- Theo giai đoạn phát sinh:

+ Rủi ro trong thẩm định: Là rủi ro mà tổ chức tín dụng đánh giá sai khách hàng + Rủi ro khi cho vay: Là rủi ro mà khi vốn vay sử dụng sai mục đích, làm cho

khoản vay không phát huy hiệu quả

+ Rủi ro trong quản lý, thu hồi nợ: Là rủi ro phát sinh do quá trình giám sát thu

hồi nợ không theo dõi được dòng tiền của khách hàng để khách hàng sử dụng vốn quay vòng vào việc khác không thu được nợ đúng kỳ hạn, hoặc không thu được nợ

- Theo sản phẩm tín dụng:

+ Rủi ro sản phẩm tín dụng nội bảng: Là phát sinh từ những khoản cho vay,

chiết khấu, thấu chi được hạch toán trong nội bảng

+ Rủi ro các sản phẩm phái sinh: Là rủi ro tín dụng phát sinh từ những sản

phẩm ngoại bảng trong tài trợ thương mại, như mở L/C, bảo lãnh

Việc phân loại rủi ro tín dụng theo sản phẩm tín dụng khác nhau có đặc điểm khác nhau cấu thành nên rủi ro khác nhau, để có thay đổi trong qui trình quản lý rủi

ro tín dụng thích ứng (Nguyễn Văn Tiến, 2010)

Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan

- Nguyên nhân khách quan

+ Khi thẩm định cho vay, cán bộ tín dụng cần phân tích các yếu tố thiết yếu trong quá khứ, hiện tại, tương lai có ảnh hưởng đến tình hình trả nợ vay của khách hàng Tuy nhiên, những tình huống giả định trong tương lai không phải khi nào cũng diễn ra, cũng được kiểm soát Sự tác động của môi trường bên ngoài thường khó dự đoán, vượt quá tầm kiểm soát gây ra những thiệt hại lớn cho người vay và

ngân hàng, bao gồm các loại sau:

Trang 20

+ Sự thay đổi chính sách của chính phủ ảnh hưởng đến tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng Hoạt động của ngân hàng và khách hàng đều chịu tác động của môi trường kinh tế - xã hội Chính sách kinh tế vĩ mô ổn định sẽ giúp cho hoạt động của khách hàng ít bị biến động, do vậy mà việc dự báo về tình hình tài chính, kinh doanh của khách hàng cũng thuận lợi hơn và ngược lại Chính sách của chính phủ ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, qua đó

tác động đến hoạt động của ngân hàng trên các phương diện:

+ Môi trường tự nhiên: Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nằm ngoài tầm kiểm soát của con người nên tổn thất do tự nhiên gây ra cũng ảnh hưởng rất lớn đến phương án kinh

doanh của khách hàng

+ Môi trường kinh tế - xã hội: Môi trường kinh tế - xã hội trong nước biến động chịu ảnh hưởng của những biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới những lĩnh vực như ngân hàng, là ngành chứa đựng nguy cơ rủi ro lớn nhất Trong giai đoạn kinh tế phát triển, người đi vay hoạt động hiệu quả nhưng trong giai đoạn khủng hoảng, khả năng trả nợ của người vay sẽ bị giảm sút Thông thường các khoản cho vay khó thu hồi trong trường hợp khủng hoảng kinh tế xảy ra (Nguyễn Văn Tiến, 2010)

Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào thói quen, truyền thống, tập quán của người dân Những yếu tố đó nhiều khi gây khó khăn và hạn chế trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng

- Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn

+ Trình độ của người đi vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, trong quản

lý chưa đáp ứng được yêu cầu và có những khách hàng còn chủ định lừa đảo, chây

ỳ, là các nguyên nhân gây rủi ro tín dụng

+ Khách hàng hạn chế trong quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính, không tính toán kỹ lưỡng hoặc không có khả năng tính toán những bất trắc có thể xảy ra, không có

Trang 21

khả năng thích ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh sẽ dẫn đến vốn vay không được sử dụng hiệu quả Ngoài ra, hạn chế trong quản lý tài chính có thể dẫn đến trường hợp dù dự án hay quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả song nguồn trả nợ ngân hàng sẽ không được đảm bảo Như vậy, doanh nghiệp không có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng

+ Khách hàng gặp rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh: Khi người vay gặp những rủi ro từ thị trường (ví dụ nhu cầu về loại sản phẩm của doanh nghiệp bất ngờ giảm sút do một số thông tin bất lợi), từ bạn hàng (ví dụ doanh nghiệp bị bạn hàng chiếm dụng vốn và không hoàn trả đúng thời hạn theo quy định) hoặc từ những rủi ro không dự kiến được tác động lên nguồn thu của doanh nghiệp và khả năng trả nợ ngân hàng

+ Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, cố tình lừa đảo ngân hàng Trường hợp người đi vay kinh doanh có lãi song không trả nợ cho ngân hàng theo đúng hạn hoặc không muốn trả nợ ngân hàng Họ chây ỳ với hy vọng có thể quỵt nợ hoặc sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt (Nguyễn Văn Tiến, 2010)

- Nguyên nhân từ ngân hàng

+ Đầu tiên là do các ngân hàng lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do vậy việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức

+ Do bản thân lãnh đạo các ngân hàng thương mại bố trí cán bộ thiếu đạo đức

và trình độ chuyên môn nghiệp vụ Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian qua có liên quan đến cán bộ NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao

so với thực tế để rút tiền ngân hàng

+ Công tác giám sát và quản lý sau khi cho vay chưa thực sự được chú trọng Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho

Trang 22

vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo được hoàn trả

+ Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều tổ chức tín dụng Trong quản lý tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó Nếu do việc thiếu trao đổi thông tin dẫn đến nhiều ngân hàng cùng cho vay đối với một khách hàng vượt quá mức độ giới hạn thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không trừ một ngân hàng nào (Nguyễn Văn Tiến, 2010)

1.1.1.3 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro: Chính là trung tâm của hoạt động quản lý điều hành của mỗi NHTM Hiểu một cách đơn giản thì quản lý rủi ro chính là quá trình các NHTM áp dụng các nguyên lý, các phương pháp và kinh nghiệm quản lý ngân hàng vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình để giám sát phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, đầu tư và các hoạt động kinh doanh khác để ngăn chặn tổn thất thiệt hại cho ngân hàng, đồng thời không ngừng nâng cao sức mạnh và uy tín của ngân hàng trên thương trường Quản lý rủi ro là bộ phận quan trọng trong chiến lược kinh doanh của mỗi NHTM, đồng thời với mỗi loại rủi ro cụ thể lại áp dụng các phương pháp quản lý riêng (Nguyễn Văn Tiến, 2010)

Quản lý rủi ro tín dụng: Là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững Đồng thời, phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM

Theo quan điểm hiện đại, quản lý rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm tối đa hoá lợi nhuận trong phạm vi mức rủi ro có thể chấp nhận Kiểm soát rủi ro tín dụng ở mức

có thể chấp nhận là việc NHTM tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, nhằm tăng doanh thu tín

Trang 23

dụng, giảm thấp chi phí bù đắp rủi ro, nhằm đạt được hiệu quả trong kinh doanh tín dụng cả trong ngắn hạn và dài hạn “Hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử cho

sự thành công của Ngân hàng trong dài hạn” (Nguyễn Văn Tiến, 2010)

Trên góc độ quản trị Ngân hàng thì việc định nghĩa quản lý rủi ro tín dụng là việc trả lời ngắn gọn 3 câu hỏi chính: Ai là người có trách nhiệm quản lý? Đối tượng cần quản lý là ai? Mục đích và các công cụ quản lý là gì? Từ ba yêu cầu trên,

ta có thể nêu ra một định nghĩa khái quát về quản lý rủi ro tín dụng như sau: "Quản

lý rủi ro tín dụng là việc các nhà quản trị Ngân hàng lập kế hoạch hoạt động và sử dụng các công cụ quản lý thích hợp nhằm ối ưu hóa khả năng thu hồi vốn vay từ khách hàng và hạn chế tối đa tác động tiêu cực của các khoản nợ xấu”

Tóm lại, có thể đề cập khái niệm quản lý rủi ro tín dụng ở các góc độ khác nhau, nhưng bản chất là giống nhau và đứng trên góc độ của quản lý học, chúng ta

có thể diễn giải khái niệm quản lý rủi ro tín dụng là quá trình các Ngân hàng tiến hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hoá lợi nhuận của Ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận

1.1.2 Đặc điểm và vai trò của quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Đặc điểm của quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

- Quản lý rủi ro tín dụng bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của Ngân hàng thương mại

Quá trình xây dựng khung lý thuyết cho quản trị hoạt động của NHTM đa phần được đúc kết từ thực tiễn hoạt động của NHTM Vì vậy, trong lịch sử hoạt động NHTM, RRTD là loại rủi ro được đề cập sớm nhất và cũng là nhiều nhất Điều này xuất phát từ bản chất của hoạt động NHTM với vai trò của một trung gian tài chính, huy động vốn để cho vay Hoạt động tín dụng là chức năng chính của NHTM với việc trao quyền sử dụng vốn cho người khác sử dụng và nhận được lời cam kết

sẽ hoàn trả đủ gốc và lãi sau một thời gian nhất định Như vậy, bản thân khi khoản tiền vay xuất ra khỏi NHTM đã tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thu hồi, một khi kinh doanh của khách hàng vay vốn gặp rủi ro thì ngay lập tức khoản vốn cho vay

Trang 24

của NHTM cũng bị ảnh hưởng Vì vậy, giống như bảo hiểm, hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động kinh doanh rủi ro Hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính của NHTM, mang lại thu nhập chính cho sự tồn tại và phát triển của NHTM, nhưng đi liền bên cạnh là RRTD cũng mang lại hậu quả thiệt hại thu nhập, thậm chí

có thể phá sản một NHTM; ở mức cao có thể gây khủng hoảng cả hệ thống tài chính ngân hàng Vấn đề là để chấp nhận một mức rủi ro và đạt được lợi nhuận tối đa NHTM cần phải tổ chức quản trị tốt RRTD Hay nói cách khác quản lý RRTD chính là chốt hết sức quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của một NHTM

- Quản lý rủi ro tín dụng phải đảm bảo thực hiện đúng các quy định của nhà nước và quy định của pháp luật Tuân thủ quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của NHTM không những từng bước đưa hoạt động của các NHTM Việt Nam xích gần tới các thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế mà còn nâng cao chất lượng cho hoạt động ngân hàng nói chung và giảm thấp rủi ro tín dụng nói riêng

- Quản lý rủi ro tín dụng nhằm hoàn thiện chính sách tín dụng an toàn và hiệu quả, vừa đáp ứng được các tiêu chuẩn pháp lý vừa đảm bảo đạt được các mục tiêu kinh doanh của mỗi NHTM Bởi vì, chính sách tín dụng cung cấp cho cán bộ tín dụng và các nhà quản trị ngân hàng một khung chỉ dẫn chi tiết để ra các quyết định tín dụng và định hướng danh mục đầu tư tín dụng của một NHTM phải góp phần hạn chế phòng ngừa rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vay vốn của khách hàng

1.1.2.2 Vai trò của quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

Quản lý rủi ro tín dụng để giảm thiểu thiệt hại cho ngân hàng Trong môi trường hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, nếu công tác quản trị rủi ro tín dụng yếu kém, khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ có thể gây ra thiệt hại nặng nề không thể kiểm soát được cho ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2009)

Quản lý rủi ro tín dụng là cơ sở để đảm bảo ngân hàng có thể hoạt động ổn định và phát triển, tăng khả năng cạnh tranh và gia tăng lợi nhuận trong kinh doanh Khả năng quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng yếu kém sẽ ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng trên thị trường, khiến công tác huy động vốn công tác tín dụng của ngân hàng bị hạn chế, đồng thời ngân hàng sẽ mất dần khách hàng tốt, giảm thị

Trang 25

phần trên địa bàn Khi đó lợi nhuận sẽ giảm sút nghiêm trọng, ngân hàng có thể bị thua lỗ và đối mặt với nguy cơ phá sản

Quản lý rủi ro tín dụng cũng có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng Vì khi để khoản vay chuyển thành nợ quá hạn, nợ xấu, khách hàng sẽ phải chịu mức lãi phạt cao hơn lãi vay trong hạn nhiều, tạo ra áp lực tài chính, khiến khách hàng càng khó khăn hơn trong việc thanh toán nợ gốc và lãi Đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến uy tín của khách hàng với ngân hàng và các đối tác khác trong kinh doanh, ảnh hưởng đến việc thiết lập các quan hệ trong kinh doanh của khách hàng Quản lý rủi ro tín dụng còn có tác động đến hiệu quả đầu tư xã hội Khi rủi ro tín dụng xảy ra nghĩa là khoản đầu tư của khách hàng vay đã không hiệu quả như mong đợi, không thể mang lại lợi ích cho khách hàng vay, ngân hàng và xã hội Thậm chí nó còn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế Tóm lại, quản lý rủi ro tín dụng giúp ngân hàng tránh được thiệt hại và đem lại lợi ích cho ngân hàng và mọi đối tượng khác có liên quan đến hoạt động tín dụng Góp phần làm giảm bớt tổn thất cho ngân hàng và nền kinh tế, lành mạnh hoá hệ thống tài chính, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng, giúp tăng trưởng kinh tế bền vững hơn

1.1.3 Sự cần thiết quản lý rủi ro tín dụng

- Với đặc điểm của RRTD là căn nguyên chủ yếu tạo ra các vấn đề của Ngân hàng vì vậy rất cần thiết phải quản lý RRTD:

Sự đổ vỡ hàng loạt Quĩ tín dụng tại Việt Nam trong những năm 1989-1990 do chất lượng các khoản cho vay yếu kém, không thu hồi được Những năm 1999 -

2000, cũng từ nguyên nhân này NHNN đã đặt một số NHTMCP vào tình trạng giám sát đặc biệt, những vụ án lớn và việc xử lý một khối lượng hàng ngàn tỷ đồng

nợ tồn đọng của các NHTMNN từ năm 2000 về trước đều bắt nguồn từ những khoản cho vay khó đòi Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 bắt nguồn từ Đông Nam Á đã làm cho nhiều Ngân hàng ở Châu Á bị mất hàng tỷ đô la Mỹ, bị phá sản, hoặc buộc phải sáp nhập, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là tỷ lệ nợ quá hạn của các Ngân hàng tăng cao Thời điểm trước cuộc khủng hoảng, tỷ lệ nợ quá hạn của các Ngân hàng Thái Lan là 13%, Indonesia 13%, Phillippines 14%, Malaysia

Trang 26

10% Gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế Mỹ bắt nguồn từ làn sóng cho vay thế chấp nhà đất rủi ro cao đã minh chứng rất rõ căn nguyên cơ bản tạo ra ở vấn đề của Ngân hàng là RRTD Vì vậy, vấn đề quản lý rủi ro tín dụng luôn luôn là vấn đề sống còn của NHTM (Nguyễn Đức Tú, 2011)

- QLRRTD rất cần thiết bởi mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng ngày càng gia tăng

Tính cấp thiết của quản lý RRTD không chỉ xuất phát từ tính chất phức tạp và nguy cơ rất lớn của RRTD mà còn do xu hướng kinh doanh của Ngân hàng ngày nay càng trở nên rủi ro hơn Theo nghiên cứu của các chuyên gia, trong giai đoạn từ 1970 đến 1995, trên thế giới trung bình một năm có một cuộc khủng hoảng Ngân hàng; thì trong giai đoạn 1980 đến 1995, tỉ lệ này là 1,44

Một số nguyên nhân chủ yếu làm cho rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng ngày càng gia tăng:

Thứ nhất, do quá trình tự do hoá, nới lỏng qui định trong hoạt động Ngân hàng

trên phạm vi toàn thế giới Trong những thập kỷ gần đây, xu hướng toàn cầu hoá, tự

do hoá kinh tế, đề cao cạnh tranh đã trở thành phổ biến Khi gia tăng cạnh tranh cũng đồng nghĩa với rủi ro và phá sản gia tăng Trong lĩnh vực Ngân hàng, cạnh tranh làm cho chênh lệch lãi suất biên ngày càng giảm xuống Tác động này làm cho các Ngân hàng ngày càng có xu hướng mở rộng qui mô kinh doanh để bù đắp

sự sụt giảm lợi nhuận, trong đó mở rộng qui mô tín dụng đồng nghĩa với việc RRTD cũng có nguy cơ gia tăng Bên cạnh đó, qui luật đào thải của cạnh tranh sẽ làm tăng mức độ phá sản của các khách hàng của Ngân hàng kéo theo sự thiệt hại cho Ngân hàng

Thứ hai, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ngày càng theo xu hướng đa

năng phức tạp, với công nghệ ngày càng phát triển, cùng với xu hướng hội nhập cạnh tranh gay gắt vừa tăng thêm mức độ rủi ro và nguy cơ rủi ro mới Trong lĩnh vực tín dụng các sản phẩm tín dụng có bước phát triển mạnh mẽ, vượt xa so với sản phẩm tín dụng truyền thống Các sản phẩm tín dụng dựa trên cơ sở của sự phát triển công nghệ như thẻ tín dụng, cho vay cá thể…luôn chứa dựng rủi ro mới Nhưng dưới áp lực của cạnh tranh thì việc mở rộng và đa dạng hoá sản phẩm cũng như

Trang 27

phạm vi của hoạt động tín dụng trở nên cấp thiết hơn, mang ý nghĩa sống còn với các Ngân hàng Với sự đa dạng phức tạp của sản phẩm tín dụng cũng như RRTD càng đòi hỏi quản lý RRTD phải được chú trọng nâng cấp tương xứng

Thứ ba, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước đang trong quá

trình chuyển đổi như Việt Nam, thì môi trường kinh tế chưa ổn định, hệ thống pháp luật đang xây dựng, mức độ minh bạch của thông tin thấp, thì hoạt động Ngân hàng càng trở nên rủi ro hơn, vì vậy việc bắt tay ngay từ đầu thực hiện tốt công tác quản

lý RRTD là một công việc tối quan trọng (Nguyễn Đức Tú, 2011)

Quản lý rủi ro tín dụng tốt là một lợi thế cạnh tranh và là công cụ tạo ra giá trị của NHTM

Hãy nói cho tôi biết bạn quản lý rủi ro ra sao, tôi sẽ nói Ngân hàng bạn thế nào?” - Tiến sĩ S L Srinivasulu, Chủ tịch tập đoàn KESDEE Inc - nơi cung cấp các giải pháp học tập trực tuyến (e-learning) về tài chính có trụ sở tại California, Hoa

Kỳ - nói như vậy để mở đầu câu chuyện về quản lý rủi ro trong Ngân hàng Dù nền kinh tế thế giới đang hứng chịu hậu quả của sự “sơ suất” trong công tác quản lý rủi

ro của các Ngân hàng, song điều ông Srinivasulu muốn nói là: Hãy quay về những

gì đơn giản nhất Từ lâu, công tác quản lý rủi ro được xem như là một chức năng nhằm thoả mãn yêu cầu tuân thủ pháp chế và kiểm soát nội bộ Dưới góc nhìn này, rủi ro được xem như là “điều không mong muốn nhưng phải chấp nhận” trong kinh doanh, và hoạt động quản lý rủi ro được coi là một trung tâm chi phí Ông Srinivasulu cho rằng các Ngân hàng nên chuyển hướng tiếp cận ngược lại: Quản lý rủi ro tốt chính là một nguồn lợi thế cạnh tranh và là một công cụ tạo ra giá lý, cũng góp phần tạo ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn (Nguyễn Đức Tú, 2011)

1.1.4 Các biện pháp cơ bản trong quản lý rủi ro tín dụng

Xuất phát từ nghiên cứu và phân tích những nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro tín dụng để tìm ra các biện pháp hữu hiệu và phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi ngân hàng trong những giai đoạn phát triển cụ thể Tuy nhiên, để biến các mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng thành hiện thực cần phải tuân thủ các biện pháp quản trị rủi ro tín dụng Hiện nay, một số biện pháp quản trị rủi ro tín dụng chủ yếu đã và đang được các NHTM áp dụng phổ biến đó là:

Trang 28

Xây dựng và hoàn thiện chính sách tín dụng an toàn và hiệu quả, vừa đáp ứng được các tiêu chuẩn pháp lý vừa đảm bảo đạt được các mục tiêu kinh doanh của mỗi NHTM Bởi vì, chính sách tín dụng cung cấp cho cán bộ tín dụng và các nhà quản trị ngân hàng một khung chỉ dẫn chi tiết để ra các quyết định tín dụng và định hướng danh mục đầu tư tín dụng của một NHTM (Nguyễn Đức Tú, 2011)

Áp dụng các mô hình đo lường, đánh giá rủi ro truyền thống và hiện đại trong phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng giúp các nhà lãnh đạo ngân hàng lượng hóa chính xác mức độ rủi ro tín dụng, phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro, nhận biết chính xác các nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro tín dụng (Nguyễn Đức Tú, 2011)

Nâng cao trình độ chuyên môn, nhận thức và phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ ngân hàng nói chung và các cán bộ tín dụng nói riêng, đảm bảo mỗi cán bộ tín dụng đều là những chuyên gia giỏi trong lĩnh vực phân tích, đánh giá và thẩm định các dự án, phương án vay vốn và khách hàng vay vốn

Hoàn thiện mô hình bộ máy quản trị điều hành, với sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cho mỗi cấp, mỗi bộ phận từ hội sở đến các chi nhánh hết sức rõ ràng, cụ thể; Xác lập được mối quan hệ về quyền hạn cũng như về nghiệp

vụ giữa các cấp và các bộ phận trong toàn hệ thống Đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất

từ trên xuống dưới, vừa phát huy được thế mạnh của mỗi chi nhánh, mỗi địa bàn, vừa tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát, chỉ đạo sâu sát của ban lãnh đạo các cấp trong hoạt động tín dụng (Nguyễn Đức Tú, 2011)

Xây dựng các chế tài để đảm bảo rằng các qui định về an toàn trong hoạt động ngân hàng luôn được mỗi cán bộ quản lý cũng như cán bộ nghiệp vụ nắm vững và chấp hành nghiêm chỉnh Cụ thể là duy trì các tỷ lệ đảm bảo an toàn như: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; Giới hạn tín dụng đối với mỗi khách hàng; Tỷ lệ về khả năng chi trả;

Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn; Giới hạn góp vốn, mua cổ phần (Nguyễn Đức Tú, 2011)

Hoàn thiện quy trình cho vay và quản lý tín dụng: Quy trình cho vay và quản lý tín dụng được xây dựng và triển khai thực hiện phải đảm bảo cho quá trình cho vay của NHTM được diễn ra trong toàn hệ thống được thống nhất và khoa học;

Phải góp phần hạn chế phòng ngừa rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vay vốn của khách hàng

Trang 29

Qui trình cho vay và quản lý tín dụng phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của tất cả các bộ phận và cá nhân liên quan đến tất cả các giai đoạn, các khâu trong quá trình cho vay

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tín dụng: Giám sát tín dụng là quá trình kiểm tra, theo dõi, phân tích các thông tin có liên quan đến tình hình sử dụng tiền vay, tiến độ thực hiện kế hoạch kinh doanh, khả năng trả nợ và mức trả nợ của khách hàng vay vốn Tăng cường công tác kiểm tra giám sát giúp NHTM phát hiện sớm dấu hiệu rủi ro, phân tích nguyên nhân và có biện pháp hữu hiệu để xử lý kịp thời từ đó giảm thấp những khoản nợ tồn đọng và hạ thấp tổn thất thiệt hại trong hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng

- Tuân thủ quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của NHTM không những từng bước đưa hoạt động của các NHTM Việt Nam xích gần tới các thông lệ và tiêu chuẩn quốc

tế mà còn nâng cao chất lượng cho hoạt động ngân hàng nói chung và giảm thấp rủi ro tín dụng nói riêng (Nguyễn Đức Tú, 2011)

1.1.5 Nội dung nghiên cứu quản lý rủi ro tín dụng của NHTM

Quá trình quản lý rủi ro tín dụng gồm 4 nội dung: Tổ chức hệ thống quản lý rủi ro tín dụng, thực hiện quản lý rủi ro tín dụng, nhận diện rủi ro liên quan đến khách hàng vay và đánh giá, nhận xét quá trình quản lý rủi ro Mặc dù có sự phân đoạn trong quy trình quản lý rủi ro tín dụng song một nguyên tắc có tính xuyên suốt

là các khâu được phân ra trong quy trình phải luôn có sự liên hệ gắn bó với nhau, tạo thành một chu trình liên tục có vậy mới bảo đảm kiểm soát được rủi ro theo mục tiêu đã định RRTD một khi đã xác định thì cần phải được phân tích, đánh giá và đưa ra các biện pháp quản lý theo dõi Cũng trong quá trình quản lý theo dõi, hệ thống quản lý rủi ro tín dụng phải có khả năng xác định tìm ra các nguy cơ rủi ro

mới và công việc của quản lý rủi ro lại được lặp lại

Quản lý rủi ro là điều mà tất cả những nhà quản lý ngân hàng rất quan tâm vì nếu quản trị được thì việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro trở nên dễ dàng hơn Việc quản trị rủi ro tín dụng bao gồm các nội dung sau:

Trang 30

a Thứ nhất, tổ chức hệ thống quản lý rủi ro tín dụng

Có 02 mô hình tổ chức hệ thống quản trị rủi ro tín dụng là mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung và phân tán

- Mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung

Mô hình này có tách độc lập trong 3 chức năng: quản lý rủi ro, kinh doanh và hoạt động Sự tách biệt giữa 3 chức năng trước hết nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro

ở mức thấp nhất cũng như tối đa hóa các kỹ năng chuyên môn của từng viên chức làm việc trong hoạt động tín dụng

(3) Thiết lập chính sách quản lý rủi ro thống nhất cho toàn bộ hệ thống (4) Thích hợp với các ngân hàng quy mô lớn

Điểm yếu:

(1) Việc thành lập và thực hiện các mô hình quản lý tập trung này đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức

(2) Các nhân viên phải có kiến thức cần thiết và biết làm thế nào để áp dụng

lý thuyết vào thực tế (Nguyễn Đức Tú, 2011)

- Mô hình quản lý rủi ro tín dụng phân tán

Mô hình này không có sự tách biệt giữa các chức năng của quản lý rủi ro, kinh doanh và hoạt động Trong đó, các văn phòng tín dụng của một ngân hàng thực hiện đầy đủ 3 chức năng và chịu trách nhiệm cho tất cả các giai đoạn chuẩn bị cho một khoản vay

Điểm mạnh:

(1) Có trật tự

(2) Cơ cấu tổ chức đơn giản

(3) Thích hợp với các ngân hàng quy mô nhỏ

Trang 31

Điểm yếu:

(1) Nhiều phương thức tập trung ở một nơi, thiếu chuyên sâu

(2) Việc quản lý tín dụng là trong phương thức từ xa dựa trên số liệu báo cáo của ngành, quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng (Nguyễn Đức Tú, 2011)

b Thứ hai, thực hiện quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý tín dụng: Là việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro được thực hiện theo quy định của ngân hàng Nhà nước và chỉ dẫn của Tổng giám đốc ngân hàng

Việc phân loại các khoản nợ của ngân hàng sẽ giúp ngân hàng có điều kiện theo dõi và đánh giá cấp độ rủi ro của từng món vay, từng khách hàng vay để từ đó có các giải pháp kịp thời Việc phân loại nợ sẽ là cơ sở cho việc đưa ra mức độ giám sát và mức trích lập dự phòng rủi ro cho từng món vay

Tỷ lệ trích lập quỹ dự phòng rủi ro thường được quy định ở mỗi nước là khác nhau Tỷ lệ này thường được đưa ra trên cơ sở con số thống kê hiện tại về mức độ rủi ro của các ngân hàng Ở những nước có hệ thống luật pháp cho việc quản lý các khoản nợ phát triển thì áp dụng tỷ lệ trích lập thấp hơn Điển hình như ở Mỹ thì quy định mức trích lập khoảng 10% đối với các khoản tín dụng không đủ tiêu chuẩn, 50% đối với các khoản nợ khó đòi và 100% đối với những khoản tín dụng mất mát thua lỗ Còn những nước đang phát triển như Thái Lan thì mức độ trích vào khoảng

20 - 25% đối với những khoản nợ không đủ tiêu chuẩn, 50 - 75% đối với khoản nợ khó đòi và 100% đối với khoản nợ mất mát Quỹ dự phòng là nguồn bù đắp chủ yếu của những khoản tín dụng bị tổn thất Quỹ thường được trích ra từ lợi nhuận sau thuế Với việc lập quỹ dự phòng rủi ro khi rủi ro xảy ra việc mất vốn cho vay sẽ không gây nhiều tác động đến ngân hàng Việc trích lập quỹ dự phòng ở Việt Nam hiện nay áp dụng theo Khoản 4 Điều 6.10 Quyết định 22/VBHN-NHNN như sau:

Tỷ lệ trích lập quỹ dự phòng cụ thể đối với 5 nhóm nợ như sau: (i) Nhóm 1: 0%; (ii) Nhóm 2: 5%; (iii) Nhóm 3: 20%; (iv) Nhóm 4: 50%; (v) Nhóm 5: 100%

Khi rủi ro xảy ra ngân hàng có thể làm việc tiếp với khách hàng tới khi khoản vay được hoàn trả một phần hoặc tất cả mà không sử dụng luật pháp Hoặc ngân hàng có thể buộc khách hàng phải tuân thủ các điều khoản xử lý của hợp

Trang 32

đồng tín dụng Ngân hàng mua bảo hiểm tín dụng nếu rủi ro xảy ra thì công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho ngân hàng theo quy định Hiện nay NHNN Việt Nam khuyến cáo mức trích lập dự phòng rủi ro cho các tổ chức tín dụng như bảng 2.1:

Bảng 2.1: Khuyến cáo mức trích lập dự phòng rủi ro cho các tổ chức tín dụng

Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (2013)

c Thứ ba, nhận diện rủi ro liên quan đến khách hàng vay

Thông qua quá trình kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay bằng các kênh thông tin cán bộ tín dụng phải luôn bám sát theo dõi khoản vay để kịp thời nhận diện rủi ro, từ đó có những biện pháp tối ưu để khắc phục Các dấu hiệu có thể gây

ra rủi ro tín dụng từ phía khách hàng như khách hàng trì hoãn gây khó khăn cho ngân hàng trong việc kiểm tra định kỳ hay kiểm tra đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng: chậm gửi hoặc hoãn gửi báo cáo tài chính; chậm thanh toán các khoản nợ đến hạn… (Nguyễn Đức Tú, 2011)

d Thứ tư, đánh giá, nhận xét tình hình quản lý rủi ro

Chấm điểm khách hàng là quá trình xếp hạng khách hàng theo các cấp độ khác nhau dựa trên các yếu tố định tính và định lượng Việc chấm điểm khách hàng

sẽ giúp ngân hàng sàng lọc được những khách hàng không tốt từ đó có những chính sách cụ thể đối với mỗi loại khách hàng (chính sách cấp tín dụng, chính sách lãi suất) (Nguyễn Đức Tú, 2011)

1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro tín dụng

1.1.6.1 Các yếu tố chủ quan

Các nhân tố chủ quan là các nhân tố xuất phát từ chính bản thân ngân hàng là những nhân tố quan trọng nhất quyết định đến mức độ quản trị rủi ro tín dụng Các nhân tố này bao gồm:

Trang 33

a Chiến lược phát triển và mục tiêu của hệ thống

Chiến lược phát triển và mục tiêu của hệ thống ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản lý rủi ro tín dụng Bối cảnh thực tế có thể thấy rằng: đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận Rủi ro cao hơn hứa hẹn một mức lợi nhuận cao hơn Ở nhiều ngân hàng tồn tại một vòng tròn luẩn quẩn của sự phát triển tín dụng của các Ngân hàng Chiến lược về chính sách và quy trình cho vay lỏng lẻo, định hướng tín dụng chưa đạt được tầm chiến lược, chưa triệt để nguyên tắc của thị trường sẽ ảnh hưởng lớn tới quản lý rủi ro tín dụng Các Ngân hàng đề ra chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng lợi nhuận, việc áp các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng lợi nhuận làm cho các Chi nhánh, cán bộ tác nghiệp chạy theo doanh số, lúc này việc Quản lý rủi ro bị bỏ ngỏ Đến khi ngừng phát triển nóng, nợ xấu phát sinh, các Ngân hàng quay lại quản lý rất chặt, ngừng cấp tín dụng, lợi nhuận ngân hàng giảm, các doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, hoạt động ngân hàng không mang lại hiệu quả Sau đó các ngân hàng lại thúc đẩy phát triển dư nợ… Đây cũng là một bất cập của hệ thống Ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua Vì vậy, việc tạo ra chiến lược phát triển

và mục tiêu phù hợp ảnh hưởng lớn tới công tác quản lý rủi ro tín dụng

b Quan điểm về quản lý rủi ro, nhận thức và chủ trương của lãnh đạo về quản lý rủi ro

Để xây dựng được hệ thống quản lý rủi ro và duy trì hoạt động có chất lượng thì quan trọng nhất là quan điểm và nhận thức của lãnh đạo đơn vị về hoạt động quản lý rủi ro Nếu lãnh đạo nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của hoạt động quản

lý rủi ro và truyền đạt đến toàn thể nhân viên thì chất lượng quản lý rủi ro được nâng cao Ngược lại, với những nhà lãnh đạo cho rằng hoạt động này chỉ mang tính chất hình thức và thực hiện cho đủ quy định thì hệ thống hoạt động không thể có chất lượng cao

c Năng lực, kinh nghiệm đội ngũ cán bộ

Yếu tố con người luôn là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành bại của bất cứ một hoạt động nào trên mọi lĩnh vực Đối với hoạt động tín dụng thì yếu

tố con người lại càng đóng vai trò quan trọng, nó quyết định đến chất lượng tín dụng, chất lượng dịch vụ và hình ảnh của NHTM Cán bộ tín dụng giỏi còn tư vấn

Trang 34

cho khách hàng có phương án kinh doanh hiệu quả, đem lại lợi nhuận cho cả khách hàng và ngân hàng Một ngân hàng có đội ngũ cán bộ, nhân viên có chất lượng tốt thì công tác quản trị rủi ro diễn ra hiệu quả hơn vì họ nắm bắt được công việc, phân tích, đánh giá các sự vật, sự việc một cách toàn diện, vận dụng linh hoạt trước những thay đổi của môi trường Ngược lại, nếu chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng của ngân hàng chưa cao, thiếu trình độ chuyên môn, không đủ khả năng thẩm định phương án vay vốn của khách hàng cũng như thiếu kinh nghiệm phát hiện những điều bất thường trong phương án của khách hàng và không đủ khả năng nhận biết tình hình kinh tế xã hội tác động như thế nào đến lĩnh vực kinh doanh của khách hàng Điều này dẫn đến việc đưa ra các quyết định cho vay không đúng (Bùi Thị

Lan, 2010) Trong bố trí sử dụng, cán bộ tín dụng cần phải được sàng lọc kỹ càng và

phải có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng những kiến thức cần thiết để theo kịp với nhịp độ phát triển và biến đổi của nền kinh tế thị trường Ngoài ra, họ còn phải có tiêu chuẩn về đạo đức và sự liêm khiết, bởi lẽ nếu người cán bộ tín dụng thiếu trách nhiệm hay cố tình vi phạm có thể sẽ gây tổn thất rất lớn cho ngân hàng

d Sự phát triển của hệ thống thông tin của NHTM

Hiện nay, kinh tế nước ta đang hội nhập mạnh mẽ, quy mô của nền kinh tế liên tục tăng lên Quy mô của các ngân hàng thương mại vì vậy cũng tăng lên nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Với sự phát triển của kinh tế thì máy tính, hệ thống thông tin ngân hàng là tất yếu không thể thiếu Hệ thống thông tin, báo cáo của ngân hàng giúp được các nhà quản trị có thể theo dõi, phân tích, đánh giá được những giao dịch đáng ngờ, cập nhật được tình hình nợ xấu, phân loại nợ hàng ngày, đánh giá và phân tích nguyên nhân nợ xấu để có thể phát hiện

và xử lý sớm các sai phạm xảy ra, giúp cho việc quản trị tín dụng hiệu quả hơn Với hệ thống thông tin nội bộ tốt hơn, việc ứng dụng công nghệ tốt hơn để phân tích, đánh giá khách hàng đưa ra các thông tin cho nhà quản trị, lãnh đạo hoặc cán

bộ tác nghiệp để đưa ra nhận định Hệ thống thông tin ngân hàng còn là hệ thống thông tin cảnh báo tín dụng, hệ thống trao đổi về các ngành nghề lĩnh vực, khách hàng Với sự tích lũy thông tin sẽ đưa ra được một cái nhìn toàn cảnh về hoạt động của hệ thống cho đến từng khách hàng

Trang 35

1.1.6.2 Yếu tố khách quan

Nhân tố khách quan ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro tín dụng có thể kể đến là: nhân tố khách hàng, môi trường thông tin, môi trường pháp lý, môi trường

tự nhiên và kinh tế xã hội

a Môi trường kinh tế, văn hóa - xã hội

+ Sự biến động của nền kinh tế thị trường như: lạm phát, tỷ giá, suy thoái,… ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tình hình tài chính của khách hàng vay, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng vay, gây ra rủi ro tín dụng ở các mức độ khác nhau

+ Các nhân tố thuộc về môi trường tự nhiên như: lũ lụt, hỏa hoạn, bệnh dịch,… Đây là những yếu tố bất khả kháng, yếu tố này không thể lường trước được, bản thân các doanh nghiệp vay vốn cũng không thể dự tính được Trong các năm gần đây chúng ta đều được chứng kiến tai họa xảy đến đối với các doanh nghiệp chăn nuôi, khi mà vốn liếng của họ bị thiêu huỷ hết do dịch cúm gia cầm Rất nhiều gia đình vay vốn ngân hàng để chăn nuôi nhưng nay bị mất trắng Họ gần như không có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng, đồng nghĩa với điều đó là việc ngân hàng mất vốn hay rủi ro tín dụng xảy ra (Nguyễn Văn Tiến, 2009)

b Các chính sách của nhà nước

Một trong những nhân tố của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng là hệ thống pháp luật Trước hết đó là các vấn đề về chính sách vĩ mô của chính phủ đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung và lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng của ngân hàng thương mại nói riêng Hoạt động ngân hàng chịu sự tác động của nhiều nhân tố thuộc về môi trường kinh tế xã hội, pháp lý nói chung Môi trường pháp lý cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới vấn đề rủi ro trong tín dụng Khi mà các quy định về quy trình trong hoạt động tín dụng không được quy định chặt chẽ và hợp lý, nó sẽ không chỉ gây khó khăn cho hoạt động tín dụng, mà còn tạo khả năng rủi ro xảy ra Khi mà quy định hợp lý và chặt chẽ nó sẽ hạn chế được những trường hợp xấu trong hợp đồng tín dụng Ngoài ra, những chính sách đó có thể có lợi cho ngân hàng, nhưng cũng có thể có hại Khi mà ngân hàng nhà nước

Trang 36

thay đổi lãi suất huy động, hoặc tỷ lệ dự trữ bắt buộc… nó làm thay đổi mọi kế hoạch của ngân hàng Khi mà lãi suất huy động tăng lên làm cho ngân hàng gặp khó khăn trong việc cho vay Với mức lãi suất huy động cao thì lãi suất đối với hoạt động tín dụng cũng phải được đẩy lên để đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc khách hàng trả lãi và gốc cho ngân hàng là rất khó, và rủi ro tín dụng cao lên (Nguyễn Đức Tú, 2011)

c Sự cạnh tranh trong môi trường ngành

Sự cạnh tranh càng gay gắt thì công tác quản lý rủi ro tín dụng càng có khả năng bị ảnh hưởng Ngân hàng cũng là một tổ chức hoạt động vì lợi nhuận, vì vậy khi môi trường cạnh tranh trong ngành càng gay gắt, mỗi hệ thống ngân hàng lại tự xây dựng cho mình những tiêu chuẩn tín dụng khác nhau, quy trình quản lý rủi ro tín dụng khác nhau Để có thể thu hút được khách hàng nhiều hơn thì việc các ngân hàng nới rộng tỷ lệ cho vay, giá trị định giá, để cạnh tranh với các ngân hàng khác Chính vì vậy, sự cạnh tranh trong ngành càng gay gắt thì các Ngân hàng càng đưa ra nhiều chiêu lôi kéo khách hàng và vì vậy công tác quản lý rủi ro tín dụng có thể bị giảm thấp Xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, trong đó các Ngân hàng có cơ chế quản lý rủi ro vươn tới chuẩn mực và cạnh tranh về dịch vụ và lợi ích sẽ giảm thiểu rủi ro trong hệ thống ngân hàng

d Sự phát triển của công nghệ thông tin và hệ thống thông tin Quốc gia

Chất lượng của quản lý rủi ro tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào thông tin đầu vào của quá trình thẩm định Trình độ công nghệ của một đất nước càng cao, hệ thống thông tin càng phát triển thì công tác quản lý rủi ro tín dụng càng được nâng cao Sự dễ dàng tiếp cận các thông tin có độ tin cậy sẽ giúp nhà quản trị NHTM cũng như các cán bộ tác nghiệp trực tiếp có những nhận định chính xác để ra quyết định Sự phát triển của công nghệ thông tin sẽ giảm thiểu được chi phí của việc có được thông tin (chi phí đi lại, chi phí chờ đợi để có được thông tin cần thiết) Một quốc gia xây dựng được hệ thống thông tin rộng lớn với sự liên thông thông tin của nhiều thành phần: thuế, hải quan, hệ thống ngân hàng, các cơ quan quản lý… thì sẽ tạo ra chất lượng thông tin tốt và nhiều mặt, không chỉ tốt cho các Ngân hàng mà còn thuận lợi hơn cho việc quản lý nhà nước

Trang 37

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng trên thế giới

a Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp trích lập dự phòng

Trích lập dự phòng là cách thức hữu hiệu để quản trị rủi ro do tổn thất tín dụng Việc trích lập dự phòng phải căn cứ vào thực tế trả nợ vay thay vì căn cứ vào khả năng trả nợ trong quá khứ của khách hàng Các nước chia sẻ kinh nghiệm rằng

họ áp dụng các nguyên tắc dự phòng khác nhau dựa theo việc phân loại nợ vay có khả năng gây tổn thất ở mức độ khác nhau

- Hồng Kông: Xếp loại rủi ro cho khách hàng và trích lập dự phòng tương ứng

- Hàn Quốc: Các nguyên tắc dự phòng phân lập theo loại tín dụng

- Singapore: Dự phòng tổn thất khoản vay ước tính từ danh mục vay được áp dụng cho các khoản vay tiêu dùng

- Thái Lan: Phân loại khoản vay được đưa vào luật Các cơ quan giám sát ngân hàng có quyền yêu cầu trích lập dự phòng cho các khoản vay cần chú ý

- Columbia: Dự phòng cho tín dụng tiêu dùng, thương mại, cầm cố thế chấp và tín dụng nhỏ theo thời hạn khoản vay từ 1-18 tháng (Bùi Thị Lan, 2010)

b Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp tuân thủ những nguyên tắc tín dụng thận trọng

- Hồng Kông: Giới hạn cho vay các đối tác ở mức 5% giá trị ròng doanh nghiệp Tổng dư nợ vay cho các đối tác không vượt quá 10% vốn tự có Ngân hàng

- Hàn Quốc: Giới hạn cho vay cổ đông ở mức 25% vốn tự có Ngân hàng hoặc

tỷ lệ mà họ sở hữu Giới hạn cho vay các đối tác liên quan ở mức 10% vốn tự có Ngân hàng

- Singapore: Ngân hàng không được phép tham gia vào các hoạt động phi tài chính Cũng không được phép đầu tư hơn 10% vốn vào các công ty hoạt động phi tài chính Mức đầu tư vốn vào một công ty đơn lẻ giới hạn ở mức 2% vốn tự có Ngân hàng Tổng vốn đầu tư giới hạn ở mức10% vốn tự có Ngân hàng

- Thái Lan: Giới hạn đầu tư ở mức 10% vốn khách vay và 20% vốn của Ngân hàng Giới hạn cho vay cho nhóm khách hàng ở mức 5% vốn ngân hàng, 50% giá trị ròng của doanh nghiệp và 25% giá trị nợ

Trang 38

- Columbia: Giới hạn cho vay cho nhóm khách hàng liên quan 10% vốn tự có

Mở rộng tới 25% nếu có tài sản đảm bảo tốt (Bùi Thị Lan, 2010)

Những thông tin này bổ sung thêm kinh nghiệm quản lý rủi ro của một số quốc gia trên thế giới Việc QLRR tại BIDV Kinh Bắc tuân thủ theo quy định quản

lý rủi ro của BIDV và của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

c Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp đặt ra hạn mức cho vay

Phòng ngừa rủi ro do tập trung tín dụng là hoạt động được xem là thường xuyên của Ngân hàng các nước trong việc quản lý danh mục tín dụng của mình Biện pháp sử dụng là đặt ra các hạn mức cho vay dựa trên vốn tự có của Ngân hàng đối với khách hàng vay riêng lẻ hay nhóm khách hàng vay:

- Hồng Kông: Giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ ở mức 25% vốn tự có của Ngân hàng

- Hàn Quốc: Giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ ở mức 20% vốn tự có của Ngân hàng và giới hạn cho vay nhóm khách hàng ở mức 25% vốn tự có của ngân hàng

- Singapore: Giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ ở mức 25% vốn tự có của Ngân hàng

- Thái Lan: Ggiới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ ở mức 25% vốn tự có của Ngân hàng

- Columbia: Giới hạn vay ở mức 40% giá trị ròng của khách hàng vay

(Nguồn World Bank 2015)

d Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp kiểm tra, giám sát

Kiểm tra và giám sát là các hoạt động thường xuyên được thực hiện trước khi cho vay, trong khi cho vay và sau khi cho vay:

- Hồng Kông: Sử dụng mô hình CAMELS (vốn, tài sản, quản lý, thu nhập, thanh khoản) để đánh giá

- Hàn Quốc: Sử dụng mô hình CAMELS (vốn, tài sản, quản lý, thu nhập, thanh khoản và thử nghiệm chịu đựng cực điểm) (Capital, Assets, Management, Earnings, Liquidity and Stress testing)

- Singapore: Kiểm tra trong quá trình phát vay, báo cáo hàng tháng và hàng quý

Trang 39

- Thái Lan: Kiểm tra trong quá trình phát vay và sau khi cho vay Giám sát hệ

số đủ vốn dự báo Có hệ thống báo cáo định kỳ

- Columbia: Kiểm tra trong quá trình phát vay, kiểm tra bởi Ủy ban giám sát

Ngân hàng (Huỳnh Kim Trí, 2012)

đ Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp quản trị hệ thống thông tin tín dụng

Tổ chức tốt hệ thống thông tin tín dụng sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác thẩm định khách hàng vay, giúp hạn chế phòng ngừa rủi ro ngay từ khâu thẩm định hồ

- Columbia: Ngân hàng báo cáo các khoản vay cho cơ quan giám sát theo định kỳ hàng tháng Sau đó thông tin về giá trị khoản vay, lãi suất vay, chất lượng khoản vay và

tư cách khách hàng vay sẽ được tập hợp lại (Huỳnh Kim Trí, 2012)

1.2.2 Kinh nghiệm quả lý rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại trong nước

Một số kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của một số ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong thời gian gần đây, đã có một sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu tổ chức bộ máy và quy trình cấp tín dụng của một số ngân hàng Việt Nam Những thay đổi cơ bản trong mô hình quản lý rủi ro tín dụng đang được các ngân hàng này áp dụng là:

- Hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro tín dụng từ Hội sở chính đến các chi nhánh với sự phân cấp rõ ràng về mức phán quyết, chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận, đồng thời xây dựng các chính sách quản lý rủi ro tín dụng, chính sách phân bổ tín dụng, chính sách khách hàng, xây dựng danh mục đầu tư…

- Chuyển đổi mô hình quản lý theo chiều ngang sang mô hình theo chiều dọc Theo mô hình này, các nghiệp vụ kinh doanh chính, trong đó có hoạt động cấp tín dụng, được quản lý tập trung tại Hội sở chính, các chi nhánh chủ yếu làm chức năng bán hàng

Trang 40

- Phân tách bộ phận tín dụng thành các bộ phận chuyên môn khác nhau như quan

hệ khách hàng (tập trung chủ yếu vào hoạt động tiếp thị, tiếp xúc khách hàng, khởi tạo tín dụng), bộ phận quản lý rủi ro tín dụng (thực hiện thẩm định tín dụng độc lập và ra các ý kiến về cấp tín dụng cũng như giám sát quá trình thực hiện các quyết định tín dụng của bộ phận quan hệ khách hàng), bộ phận tác nghiệp (thực hiện lưu trữ hồ sơ, nhập hệ thống máy tính và quản lý khoản vay…) Vietcombank đã triển khai mô hình quản lý tín dụng mới trong toàn hệ thống từ tháng 7/2006 Tuy nhiên, quá trình này đang diễn ra một cách khó khăn và theo các chuyên gia thì vẫn còn một chặng đường dài nữa các ngân hàng thương mại Việt Nam mới đạt được một mô hình quản trị rủi ro tín dụng hiện đại theo đúng nghĩa

Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của Vietinbank và Vietcombank:

Trước xu thế phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, thể chế tín dụng đã

có những thay đổi quan trọng, đó là: chuyển từ lãi suất cố định, sang lãi suất khung và đến nay là lãi suất thoả thuận; tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại; bổ sung các nghiệp vụ tín dụng mới; mở rộng đối tượng tiếp cận tín dụng; trao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm cho các NHTM…

Bước phát triển chính sách tín dụng của VietinBank và Vietcombank là quá trình

kế thừa, phát huy giá trị sẵn có, thay đổi để thích nghi với sự biến động của môi trường kinh tế, xã hội và phù hợp pháp luật trong từng thời kỳ, tiếp cận nhanh chóng xu thế mới, thông lệ quốc tế, các phương pháp quản lý tiên tiến… Giá trị cốt lõi là chuyển từ

tư duy bao cấp sang tư duy tín dụng thị trường Theo đó tín dụng đã hướng tới phục vụ nhu cầu hợp lý của khách hàng, tạo ra lợi nhuận trên cơ sở chấp nhận rủi ro đi kèm, các quyết định tín dụng dựa trên đánh giá lợi ích, rủi ro và có biện pháp kiểm soát rủi ro VietinBank đã chuyển đổi mô hình tổ chức bộ máy tín dụng trong toàn hệ thống với các chức năng độc lập, vừa đảm bảo tính chuyên nghiệp cao, vừa tăng cường khả năng giám sát giữa các chức năng, theo đó chức năng nghiên cứu tham mưu ban hành chính sách tín dụng được tách biệt với chức năng quản lý khách hàng, thẩm định và đề xuất tín dụng (Phòng khách hàng); thẩm định rủi ro và quản lý danh mục tín dụng (phòng Quản lý rủi ro); theo dõi, quản lý các khoản nợ bị suy giảm khả năng trả nợ (Phòng quản lý nợ có vấn đề); kiểm tra, giám sát tín dụng độc lập (Ban kiểm tra, kiểm soát nội bộ) Nhờ đó, quá trình đổi mới chính đã mang lại những kết quả quan trọng

Ngày đăng: 21/06/2020, 10:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w