Nợ xấu, theo cách hiểu chung nhất là những khoản nợ giảm giá trị, nguy cơ không thanh toán đầy đủ, đúng hạn cao. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, một khoản nợ trở thành nợ xấu sẽ tác động trực tiếp đến việc thu nợ của ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập, lợi nhuận của ngân hàng đó. Trong trường hợp một ngân hàng có nợ xấu quá lớn sẽ làm tăng chi phí. Một mặt chi phí cao sẽ làm ngân hàng giảm lợi nhuận, thua lỗ, thậm chí phá sản. Mặt khác, chi phí tăng buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay, giảm khả năng cạnh tranh.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGÔ THỊ TUYẾT NGA
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGÔ THỊ TUYẾT NGA
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH
Ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 8.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Thị Bạch Tuyết
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi; số liệu sử dụng và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho bất cứ một học vị nào
Luận văn đã sử dụng nhiều nguồn thông tin liên quan khác nhau để phục vụ cho việc nghiên cứu, các nguồn thông tin đã được xử lý và trích dẫn
rõ nguồn tài liệu tham khảo theo quy định Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện
đề tài đã được cảm ơn./
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Ngô Thị Tuyết Nga
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Sau hơn hai năm học tập tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên tôi đã được các thầy, cô truyền đạt kiến thức và hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học đào tạo thạc sĩ Trong quá trình học tập
và nghiên cứu ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường Đến nay tôi đã hoàn thành chương trình các môn học và luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của quý thầy, cô trong
và ngoài trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, các thầy cô trực tiếp giảng dạy trong suốt hơn hai năm qua, đặc biệt là cô giáo PGS - TS Vũ Thị Bạch Tuyết đã dành nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn Thạc sĩ này
Mặc dù bản thân tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn của mình bằng cả kiến thức đã được trang bị và vốn kinh nghiệm sẵn có Tuy nhiên, do thời gian và trình độ chuyên môn còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của quý thầy cô, cùng toàn thể các bạn
Một lần nữa tôi xin được trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Ngô Thị Tuyết Nga
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 4
1.1.1 Nợ xấu cảu ngân hàng thương mại 4
1.1.2 Nhận diện nợ xấu 6
1.1.3 Đánh giá, phân loại nợ xấu 8
1.1.4 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu 9
1.1.5 Tác động của nợ xấu 14
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 16
1.2.1 Quan niệm về quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 16
1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 17
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 23
1.3 Cơ sở thực tiễn về quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 29
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu ở một số nước trên thế giới 29
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu của ngân hàng TMCP Công thương VN 34
Trang 61.3.3 Bài học có thể vận dụng 36
Kết luận Chương 1 38
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 39
2.1 Câu hỏi khi nghiên cứu 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 39
2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 40
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 41
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 41
2.3.1 Chỉ tiêu nghiên cứu theo nhóm nợ 41
2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh tốc độ và phân loại theo chi tiết nợ quá hạn 42
2.3.3 Chỉ tiêu đánh giá về quy trình nghiệp vụ 43
Kết luận chương 2 43
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH 44
3.1 Khái quát về ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Bắc Ninh 44
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của BIDV Bắc Ninh 44
3.1.2 Mô hình tổ chức của BIDV Bắc Ninh 44
3.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV Bắc Ninh 47
3.2 Tình hình nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Bắc Ninh 52
3.2.1 Tổng dư nợ và nợ xấu tại BIDV Bắc Ninh 52
3.2.2 Dư nợ và nợ xấu theo kỳ hạn tại BIDV Bắc Ninh 56
3.2.3 Dư nợ và nợ xấu theo loại tiền tệ tại BIDV Bắc Ninh 58
3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Bắc Ninh 59
Trang 73.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan 59
3.3.2 Nhóm nhân tố khách quan 62
3.4 Thực trạng quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển việt nam - chi nhánh bắc ninh 65
3.4.1 Lập kế hoạch cho vay và xác định mức nợ xấu mục tiêu 65
3.4.2 Thiết lập bộ máy quản lý nợ xấu và thực hiện quy trình quản lý tín dụng 66
3.4.3 Trích lập quỹ dự phòng rủi ro 68
3.4.4 Xử lý nợ xấu 68
3.4.5 Kiểm tra, kiểm soát quản lý nợ xấu 70
3.5 Đánh giá thực trạng quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Bắc Ninh 71
3.5.1 Kết quả đạt được 71
3.5.2 Hạn chế 73
3.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 76
Kết luận Chương 3 81
Chương 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH 82
4.1 Định hướng phát triển của ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Bắc Ninh 82
4.1.1 Cơ hội và thách thức trước bối cảnh kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh 82
4.1.2 Định hướng tăng cường quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh 85
4.2 Giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Bắc Ninh 86
4.2.1 Nhóm giải pháp phòng ngừa nợ xấu phát sinh 86
4.2.2 Nhóm giải pháp xử lý nợ xấu 94
4.3 Kiến nghị đối với các bên có liên quan 96
Trang 84.3.1 Đối với Chính phủ 96
4.3.2 Đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam và NHNN Việt Nam chi nhánh Bắc Ninh 98
4.3.3 Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 98
Kết luận Chương 4 101
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 105
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BAMC Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư
và Phát triển Việt Nam BCBS Uỷ ban Basel
BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư
và Phát triển Việt Nam CIC Thông tin tín dụng CTCP Công ty cổ phần ĐT&PT Đầu tư và Phát triển IMF Quỹ tiền tệ quốc tế KSNB Kiểm soát nội bộ
TMCP Thương mại cổ phần TNHH Trách nhiệm hữu hạn TSĐB Tài sản đảm bảo
Trang 10DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng:
Bảng 3.1: Tình hình huy động vốn tại BIDV Bắc Ninh từ năm 2015 - 2017 47
Bảng 3.2: Tình hình dư nợ tín dụng tại BIDV Bắc Ninh từ năm 2015 - 2017 49
Bảng 3.3: Kết quả kinh doanh tại BIDV Bắc Ninh từ năm 2015 - 2017 51
Bảng 3.4: Tình hình nợ xấu tại BIDV Bắc Ninh từ năm 2015 - 2017 53
Bảng 3.5: Tình hình nợ xấu một số ngân hàng trong tỉnh Bắc Ninh 55
Bảng 3.6: Dư nợ và nợ xấu theo kỳ hạn tại BIDV Bắc Ninh từ 2015 - 2017 56
Bảng 3.7: Dư nợ và nợ xấu theo loại tiền tệ tại BIDV Bắc Ninh 2015 - 2017 58
Bảng 3.8: Kết quả phỏng vấn cán bộ tín dụng về nguyên nhân nợ xấu tại BIDV Bắc Ninh năm 2017 60
Bảng 3.9: Kết quả điều tra về nguyên nhân nợ xấu do việc thẩm định hồ sơ tại BIDV Bắc Ninh năm 2017 61
Bảng 3.10: Kết quả khảo sát về nguyên nhân nợ xấu do tác động của môi trường bên ngoài tại BIDV Bắc Ninh năm 2017 63
Bảng 3.11: Kết quả khảo sát về nguyên nhân nợ xấu do khách hàng vay vốn tại BIDV Bắc Ninh năm 2017 64
Bảng 3.12: Tỷ lệ nợ xấu tại BIDV Bắc Ninh từ năm 2015 - 2017 67
Sơ đồ: Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại 19
Sơ đồ 1.2: Trình tự thực hiện xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại 21
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức của BIDV Bắc Ninh 46
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nợ xấu, theo cách hiểu chung nhất là những khoản nợ giảm giá trị, nguy cơ không thanh toán đầy đủ, đúng hạn cao Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, một khoản nợ trở thành nợ xấu sẽ tác động trực tiếp đến việc thu
nợ của ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập, lợi nhuận của ngân hàng đó Trong trường hợp một ngân hàng có nợ xấu quá lớn sẽ làm tăng chi phí Một mặt chi phí cao sẽ làm ngân hàng giảm lợi nhuận, thua lỗ, thậm chí phá sản Mặt khác, chi phí tăng buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay, giảm khả năng cạnh tranh Nợ xấu còn là mối đe dọa đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân Khi nợ xấu của hệ thống NHTM quá lớn sẽ làm chậm quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế, các Doanh nghiệp khó tiếp cận vốn tín dụng, hoặc tiếp cận vốn tín dụng với lãi suất cao Hậu quả là các doanh nghiệp thiếu vốn, chi phí đầu vào tăng, giảm lợi nhuận, thua lỗ… nền kinh tế suy thoái, về lâu dài có thể là mầm mống của khủng hoảng kinh tế
Hệ thống NHTM Việt Nam sau một thời gian dài tăng trưởng tín dụng quá nóng - các NHTM theo đuổi doanh số, thị phần, các yêu cầu về quản trị rủi ro bị xem nhẹ - thêm vào đó là sự suy giảm kinh tế, tài chính toàn cầu và trong nước là nguyên nhân bùng phát không thể kiểm soát của nợ xấu Tỷ lệ
nợ xấu toàn hệ thống Ngân hàng Việt nam từ năm 2015 vượt con số 3% và có
xu hướng ngày càng tăng Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói chung, Chi nhánh Bắc Ninh nói riêng không nằm ngoài xu thế đó
Trong thời gian qua, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh cũng còn những hạn chế cần khắc phục, trong đó tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức cao, công tác quản lý nợ xấu còn nhiều bất cập Đây là vấn đề nan giải, đòi hỏi cần
Trang 12có sự quan tâm của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu trong hoạt động quản trị ngân hàng
Chính vì lý do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý nợ xấu tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng của
ngân hàng thương mại
Phạm vi nghiên cứu: Về không gian và về nội dung, luận văn đi sâu
vào đánh giá công tác quản lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh; đồng thời, các giải pháp nhằm quản lý nợ xấu chủ yếu được tiếp cận ở góc độ quản lý của BIDV Bắc Ninh Phạm vi về thời gian nghiên cứu từ năm
2015 đến hết năm 2017
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp, luận văn đã hệ
thống hoá và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nợ xấu và quản
lý nợ xấu của ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, luận văn cũng đã nghiên cứu kinh nghiệm về quản lý nợ xấu ở một số quốc gia trên thế giới và NHTM,
Trang 13từ đó rút ra những kinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng cho công tác quản
lý nợ xấu tại NHTM nói chung và BIDV Bắc Ninh nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đã phân tích có hệ thống về thực trạng
quản lý nợ xấu tại BIDV Bắc Ninh từ 2015 - 2017 Trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, luận văn cũng đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong quản lý nợ xấu tại BIDV Bắc Ninh Kết hợp với kinh nghiệm quản lý nợ xấu ở một số quốc gia trên thế giới và NHTM, luận văn đã
đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm góp phần tăng cường quản lý nợ xấu tại BIDV Bắc Ninh trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ xấu của Ngân hàng
thương mại
Chương 2: Phương pháp và chỉ tiêu nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
Chương 4: Một số giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
1.1.1 Nợ xấu cảu ngân hàng thương mại
Nợ xấu (thuật ngữ Tiếng Anh: “Bad debt” hoặc “Non - performing Loan”) là một thuật ngữ thường được đề cập khi đánh giá chất lượng hoặc khả năng thu hồi của một khoản nợ Cho đến nay chưa có một khái niệm nợ xấu thống nhất Mỗi quốc gia có cách khác nhau đề xác định nợ xấu Một số nước
sử dụng tiêu chuẩn định lượng (căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản nợ), một số nước khác sử dụng tiêu chuẩn định tính (căn cứ vào thông tin sẵn có
về năng lực tài chính, mức độ tín nhiệm của khách hàng vay), một số nước khác kết hợp cả chỉ tiêu định tính và định lượng
Một số tổ chức quốc tế đã đề cập đến khái niệm nợ xấu với nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Trong tài liệu “Hướng dẫn tính các chỉ số lành mạnh tài chính” của IMF năm 2004, đoạn 4.84 - 4.85 có đề cập “nợ xấu là những khoản nợ có lãi hoặc /và gốc quá hạn 90 ngày hoặc trên 90 ngày, các khoản lãi quá hạn 90 ngày hoặc trên 90 ngày được vốn hóa, tái tài trợ hoặc hoãn trả nợ theo thỏa thuận, hoặc quá hạn dưới 90 ngày nhưng có các dấu hiệu khác cho thấy người vay không có khả năng thanh toán đầy đủ về gốc và lãi”
Ủy ban Basel mặc dù không đưa ra khái niệm nợ xấu nhưng để đánh giá chất lượng nợ trong Hiệp ước Basel 2 có đề cập khái niệm “không trả được nợ” khi có 1 trong 2 (hoặc cả hai) sự kiện:
- Ngân hàng cho rằng người vay không thể thực hiện nghĩa vụ tín dụng cho Ngân hàng một cách đầy đủ, mà không có các hành động truy đòi của Ngân hàng như là xử lý TSBĐ
Trang 15- Nghĩa vụ tín dụng đối với ngân hàng của người vay đã quá hạn trên
90 ngày Trong đó khoản thấu chi được coi là quá hạn khi khách hàng vi phạm hạn mức tín dụng hoặc hạn mức tín dụng được thông báo sẽ thấp hơn hạn mức thấp hơn mức thấu chi hiện tại
Ngoài ra Ủy ban Basel còn đưa ra khái niệm nợ giảm giá trị (impaired loan): “Nợ giảm giá trị là khoản nợ bị suy giảm chất lượng dẫn đến ngân hàng không thể thu hồi hoặc không chắc chắn có thể thu hồi đủ gốc và lãi theo các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng vay nợ”
Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế số 39 (IAS 39) của Hội Đồng chuẩn mực kế toán Quốc tế (IASB): “nợ giảm giá trị là những khoản nợ được dự báo khả năng thu hồi thấp hơn số tiền đã cho vay”
Để có thể so sánh nợ xấu của ngân hàng ở các quốc gia, Viện Tài chính Quốc tế (Institute of International Finance) đề xuất phân loại nợ thành 5 nhóm bao gồm:
Nợ đủ tiêu chuẩn(standard): là nợ có gốc và lãi trong hạn, không có
dấu hiệu khó khăn trong thanh toán nợ và dự báo có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn, đầy đủ theo cam kết
Nợ cần chú ý (Watch): Là nợ trong tình trạng nếu không có các biện
pháp xử lý có thể tăng nguy cơ không thanh toán đầy đủ gốc và lãi Vì vậy đây là khoản nợ cần được chú ý hơn mức bình thường
Nợ dưới tiêu chuẩn (substandard): là khoản nợ nghi ngờ về khả năng
thanh toán đầy đủ gốc, lãi theo cam kết, hoặc gốc hoặc/ và lãi quá hạn trên 90 ngày, hoặc tài sản đảm bảo giảm giá trị dẫn đến nguy cơ giảm giá trị khoản vay nếu không xử lý kịp thời
Nợ nghi ngờ (Doubtful): là nợ được xác định không thể thu hồi đầy đủ
gốc, lãi trong điều kiện hiện hành hoặc lãi hoặc /và gốc quá hạn trên 180 ngày Nợ nhóm này đã bị giảm giá trị nhưng chưa mất vốn hoàn toàn vì còn
có những yếu tố được xác định có thể tác động cải thiện chất lượng nợ
Trang 16Nợ mất vốn (Loss): là nợ được đánh giá không có khả năng thu hồi
hoặc gốc hoặc/ và lãi quá hạn trên 1 năm
Theo đề xuất này, nợ xấu là nợ thuộc 3 nhóm cuối
Theo Điều 10, Điều 11 Thông tư 02/2013/TT - NHNN ban hành ngày 21/1/2013 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt nam: Nợ xấu có thể xác định theo phương pháp định tính hoặc định lượng, bao gồm nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Theo điều 10, nợ xấu xác định theo phương pháp định lượng bao gồm:
nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày (nợ nhóm 3), nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày (nợ nhóm 4) và nợ quá hạn trên 360 ngày (nợ nhóm 5) Theo Điều 11, nợ xấu xác định theo phương pháp định tính bao gồm: nợ không có khả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn, được đánh giá có khả năng tổn thất (nợ nhóm 3), nợ có khả năng tổn thất cao (nợ nhóm 4) hoặc nợ không còn khả năng thu hồi, mất vốn (nợ nhóm 5)
Như vậy nợ xấu thường được xác định căn cứ vào hai yếu tố chính là thời gian quá hạn hoặc khả năng trả nợ của khách hàng Có thể hiểu một cách
khái quát nợ xấu là những khoản nợ được đánh giá không có khả năng
thanh toán đầy đủ, đúng hạn theo cam kết
1.1.2 Nhận diện nợ xấu
Nhận diện nợ xấu là việc phát hiện, xác định nợ xấu trên cơ sở các tiêu chí để nhận diện nợ xấu Việc xác định đúng về con số và bản chất nợ xấu là một khâu quan trọng tác động đến hiệu quả hoạt động tín dụng và quản trị rủi
ro tín dụng của NHTM Nhận diện nợ xấu chủ yếu thông qua đánh giá lại các khoản tín dụng và phụ thuộc vào tiêu chí xác định nợ xấu do Cơ quan quản lý Ngân hàng từng quốc gia và hệ thống tiêu chí nội bộ do ngân hàng xây dựng
Hiện nay, có thể nhận diện nợ xấu thông qua: tiêu chí định lượng (nhóm này chủ yếu dựa vào thời gian quá hạn của khoản vay để xác định) và tiêu chí định lượng (căn cứ vào đánh giá khả năng tài chính, lịch sử vay
Trang 17mượn, dự báo khả năng trả nợ của khách hàng vay) và kết hợp tiêu chí định tính và định lượng
Theo tiêu chí định lượng việc nhận diện tương đối đơn giản vì căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản nợ Tuy nhiên sử dụng hình thức này thường không đánh giá đúng chất lượng nợ Vì trên thực tế có những khoản nợ chưa quá hạn nhưng chất lượng nợ đã suy giảm, thậm chí khó có khả năng thu hồi Những khoản nợ này nếu không được nhận diện sớm sẽ là nguyên nhân chính cho tổn thất tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu
Theo tiêu chí định tính việc nhận diện phức tạp hơn vì đòi hỏi ngân hàng phải có hệ thống dữ liệu đầy đủ, tin cậy và nội dung đánh giá hoàn thiện
để đánh giá chính xác năng lực tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng Xác định theo nhóm tiêu thức này nhận diện nợ xấu thường chính xác hơn vì không phụ thuộc vào thời gian quá hạn của khoản vay mà căn cứ vào năng lực trả nợ thực sự của khách hàng Vì vậy các khoản nợ chưa quá hạn nhưng chất lượng nợ giảm sẽ được nhận diện sớm từ đó ngân hàng có các biện pháp cần thiết để đối phó, hạn chế tốn thất cũng như những hẩu quả xấu khác cho ngân hàng
Chính vì vậy, hiện nay nhiều quốc gia cho phép các NHTM nhận diện
nợ xấu trên cơ sở kết hợp đánh giá năng lực trả nợ của khách hàng và thời gian quá hạn của khoản vay
Việc nhận diện nợ xấu thường được thực hiện theo định kỳ Tùy từng quốc gia mà kỳ đánh giá có thể là theo quí, nửa năm, hoặc 1 năm Ví dụ Ở Pháp qui định các ngân hàng phải đánh lại tín dụng tối thiểu 3 tháng/ lần, ở Đức mỗi năm 1 lần, ở Hà Lan đánh giá 6 tháng/ lần, Ở Hồng Kông mỗi năm/1 lần nhưng các khoản vay qui mô lớn phải đánh giá lại hằng quí….Tuy nhiên
để nhận diện đúng nợ xấu thường các khoản nợ có độ phức tạp cao, khả năng xảy ra rủi ro lớn (tín dụng qui mô lớn, phức tạp, tín dụng của những ngành, lĩnh vực rủi ro cao), hoặc các khoản nợ trước đó đã được nhận diện là nợ xấu phải được đánh giá lại thường xuyên hơn
Trang 181.1.3 Đánh giá, phân loại nợ xấu
Phân loại nợ xấu là việc đánh giá lại các khoản nợ, xác định nợ xấu và sắp xếp các khoản nợ xấu vào các nhóm có đặc điểm tương đồng (tương đồng
về rủi ro, về chất lượng…) Đánh giá và phân loại nợ nói chung và nợ xấu nói riêng là công cụ quan trọng của mỗi ngân hàng để quản lý chất lượng từng khoản tín dụng riêng lẻ và danh mục tín dụng
Hiện nay, các quốc gia đều có qui định về phân loại nợ trong đó có phân loại nợ xấu Phần lớn đều có hướng dẫn cụ thể về tiêu thức để phân loại
nợ (có thể tiêu thức thức định lượng hoặc định tính hoặc kết hợp định lượng
và định tính) cũng như qui định số lượng nhóm nợ để phân loại Ví dụ Mỹ; 5 nhóm nợ, Brazil: 9 nhóm nợ Mexico: 7 nhóm nợ, Singapore: 5 nhóm nợ, Việt nam: 5 nhóm nợ,… trên cơ sở đó qui định các nhóm thuộc nợ xấu Một
số nước không qui định cụ thể về số nhóm nợ mà cho phép các ngân hàng tự xác định và phân loại nợ theo hệ thống phân loại nợ nội bộ Trong trường hợp một khách hàng có nhiều khoản nợ, việc xác định nhóm nợ cho các khoản nợ của cùng một khách hàng vay ở các quốc gia cũng rất khác nhau Phần lớn qui định khi một khoản nợ được coi là nợ xấu thì các khoản nợ khác của cùng một khách hàng vay phải được xếp cùng 1 nhóm nợ (Ví dụ:ở Pháp, Việt nam, Úc, Chi Lê, Ấn độ…) Một số nước khác qui định khi một khoản nợ là nợ xấu, các khoản nợ khác của cùng một khách hàng vay phải đánh giá lại, có thể xếp cùng nhóm hoặc khác nhóm nợ xấu tùy kết quả đánh giá Theo quan điểm các nước này các khoản nợ khác của cùng một khách hàng có thể không xếp vào cùng nhóm nợ vì còn tùy thuộc vào tài sản thế chấp, cầm cố, bão lãnh và các hình thức đảm bảo khác của từng món vay riêng biệt (Ví dụ: Hồng Kông, Đức) Một số nước khác cho phép ngân hàng
tự quyết định (Anh, Hà Lan, Trung Quốc) Thậm chí ở Nhật cho rằng các món nợ khác không cần đánh giá lại khi một trong số các món nợ của cùng một khách hàng bị chuyển sang nợ xấu
Trang 191.1.4 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu
Nợ xấu về bản chất là những khoản nợ có khả năng trả nợ suy giảm, không thể đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ nợ theo cam kết Nguyên nhân chủ yếu gây nên sự suy giảm khả năng trả nợ bao gồm:
1.1.4.1 Nguyên nhân từ nội bộ ngân hàng
Nguyên nhân từ nội bộ bên trong ngân hàng được coi là những nguyên nhân cơ bản làm phát sinh nợ xấu
- Chiến lược, chính sách tín dụng không phù hợp
Chiến lược tín dụng là một chương trình, kế hoạch tổng thể, mang tính chất dài hạn về hoạt động tín dụng với mục tiêu hoạt động tín dụng tạo ra khả năng tối đa hóa lợi nhuận và phù hợp với khẩu vị rủi ro của ngân hàng
Chính sách tín dụng thực chất là văn bản cụ thể hóa chiến lược tín dụng bằng các qui định, hướng dẫn nội bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng
Trong trường hợp ngân hàng xây dựng chiến lược, chính sách tín dụng không phù hợp với khẩu vị rủi ro và khả năng quản lý, kiểm soát tín dụng của ngân hàng hoặc chính sách tín dụng chưa phản ánh đúng chiến lược tín dụng, không đồng bộ, không đầy đủ sẽ dẫn đến các rủi ro tín dụng cũng như suy giảm chất lượng tín dụng mà ngân hàng không thể kiểm soát được Nguyên nhân phát sinh nợ xấu có thể bắt nguồn từ chính sai lầm trong xây dựng chiến lược, chính sách tín dụng
- Cấp tín dụng không lành mạnh
Quyết định cấp tín dụng là một trong những khâu then chốt quyết định đến rủi ro và chất lượng của tín dụng Trong qui trình quản trị RRTD, đây được coi là tuyến đầu tiên và là tuyến chấp nhận rủi ro của ngân hàng Vì vậy việc cấp tín dụng lành mạnh, đảm bảo luôn trong phạm vi khẩu vị rủi ro ngân hàng đã xác định đòi hỏi việc cấp tín dụng phải tuân thủ theo chính sách tín dụng ngân hàng đã xây dựng
Cấp tín dụng thiếu lành mạnh, thể hiện:
Trang 20+ Cấp tín dụng cho khách hàng không đủ tiêu chuẩn hoặc bỏ qua những khách hàng đủ tiêu chuẩn cấp tín dụng theo qui định của ngân hàng
+ Không tuân thủ qui trình thẩm định, qui trình cấp tín dụng: bỏ sót, thiếu thận trọng trong một số khâu trong quá trình thẩm định nói riêng và qui trình cấp tín dụng nói chung
+ Không tuân thủ các hạn chế cấp tín dụng theo qui định của ngân hàng + Phê duyệt tín dụng sai thẩm quyền
Việc cấp tín dụng thiếu lành mạnh có thể do nhiều nguyên nhân: cán bộ tín dụng yếu kém về chuyên môn hoặc vi phạm đạo đức nghề nghiệp, cơ sở vật chất, hệ thống thông tin chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động chuyên môn nghiệp vụ… dẫn đến cán bộ tín dụng cố tình hoặc vô tình gây nên những sai sót trong quá trình thẩm định, phê duyệt tín dụng Những sai sót đó có thể dẫn đến việc ngân hàng bỏ qua những khách hàng có năng lực tài chính tốt, có khả năng sử dụng vốn hiệu quả và thanh toán nợ một cách đầy đủ, đúng hạn và quyết định cấp tín dụng cho những khách hàng không đủ khả năng tài chính
để vay ngân hàng Hậu quả là đến hạn khách hàng không có khả năng thanh toán nợ, phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu
- Thiếu kiểm soát hoặc hiệu quả kiểm soát tín dụng thấp
Một khoản tín dụng được cấp cho khách hàng có khả năng tài chính tốt,
có tín nhiệm không có nghĩa là khả năng thanh toán của khách hàng đó là chắc chắn Bởi vì khách hàng hoạt động trong một môi trường luôn biến động, khi những yếu tố môi trường kinh doanh tác động có thể làm cho khả năng trả nợ của khách hàng tốt lên, cũng có thể xấu đi Bởi vậy các khoản vốn
đã giải ngân cho khách hàng phải được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ Kiểm soát một mặt sẽ tạo động lực thúc đẩy khách hàng tuân thủ các điều khoản của hợp đồng tín dụng, đồng thời ngân hàng có thể kịp thời phát hiện các dấu hiệu suy giảm chất lượng của khoản nợ, từ đó có biện pháp ứng phó kịp thời Trong trường hợp hệ thống kiểm soát tín dụng hoạt động không hiệu quả:
Trang 21thiếu chặt chẽ, không tuân thủ qui trình kiểm soát, hoặc kiểm soát mang tính hình thức dẫn đến không thể phát hiện chính xác các khoản nợ có vần đề, từ
đó phát sinh nợ xấu
- Hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động thiếu hiệu quả
Hệ thống KSNB đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hạn chế, giảm thiểu rủi ro, sai sót trong hoạt động của ngân hàng Trong hoạt động tín dụng, KSNB giúp cho hoạt động tín dụng tuân thủ qui chế nội bộ, phát hiện sai sót, đánh giá rủi ro, đề xuất phương án khắc phục và truyền tải thông điệp kiểm soát đến từng cán bộ tín dụng Như vậy hệ thống KSNB sẽ là công
cụ hữu hiệu để giảm thiểu các sai sót trong qui trình nghiệp vụ, hạn chế vi phạm đạo đức nghề nghiệp, là động lực thúc đẩy sự tuân thủ qui chế nội bộ của ngân hàng
Trong hoạt động của ngân hàng, Hệ thống KSNB nói chung và KSNB hoạt động tín dụng nói riêng hoạt động thiếu hiệu quả, mang tính hình thức hoặc chưa được ngân hàng đặt đúng vị trí, vai trò của nó sẽ là nguyên nhân gây nên sự thiếu tuân thủ qui chế, vi phạm đạo đức nghề nghiệp Hậu quả là không nhận diện được RRTD hoặc đánh giá không chính xác RRTD Từ đó phát sinh nợ quá hạn và nợ xấu
- Nguyên nhân khác: nợ xấu còn có thể do các yếu kém trong quản trị
RRTD như: nhận diện, đo lường rủi ro, phân loại nợ không chính xác dẫn đến đánh giá không đúng chất lượng nợ, trích dự phòng không đầy đủ, không đảm bảo đủ vốn cho RRTD Những yếu tố này cũng có thể tác động làm cho nợ xấu của ngân hàng gia tăng
1.1.4.2 Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh
Đây là các nguyên nhân khách quan, về cơ bản ngân hàng và cả khách hàng vay rất khó kiểm soát nhưng trong những trường hợp nhất định lại là nguyên nhân chủ yếu phát sinh nợ xấu
Trang 22- Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế trong nước và quốc tế có tác
động mạnh mẽ đến các chủ thể kinh doanh trong đó có ngân hàng và các khách hàng vay vốn của ngân hàng Khi môi trường kinh tế có những biến động gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh như: lạm phát, thất nghiệp, đồng tiền mất giá, cạnh tranh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, biến động thị trường…sẽ gây ra những khó khăn nhất định cho các chủ thể trong nền kinh tế như giảm thu nhập cá nhân, kinh doanh khó khăn, thua lỗ, tài sản giảm giá trị… những yếu tố này sẽ làm cho khả năng trả nợ của khách hàng vay suy giảm thậm chí mất khả năng trả nợ, phát sinh nợ xấu
- Môi trường chính trị: bao gồm các yếu tố liên quan đến điều hành bộ
máy nhà nước: thể chế chính trị, quan điểm và mục đích hoạt động của Chính phủ trong đối nội, đối ngoại, sự ổn định Chính phủ,… Môi trường Chính trị
có tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp nói chung Một sự thay đổi trong quan điểm của hệ thống chính trị hoặc thay đổi liên quan đến Đảng phái chính trị cầm quyền hoặc sự xung đột chính trị giữa các đảng phái trong một quốc gia hoặc giữa các quốc gia có thể là những nguồn gốc sâu xa gây nên rủi ro tín dụng từ đó phát sinh nợ xấu
- Môi trường pháp luật: Pháp luật là hệ thống các qui tắc ứng xử được
ban hành bởi Nhà nước Mỗi chủ thể cho dù là cá nhân, doanh nghiệp hay các
tổ chức chính trị, xã hội thì hành vi, hoạt động của họ đều chịu sự chi phối của hệ thống pháp luật của một quốc gia, thậm chí trong điều kiện mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế có thể còn chịu sự chi phối bởi luật pháp của các quốc gia khác hoặc luật pháp quốc tế Ngân hàng thương mại và khách hàng của ngân hàng luôn hoạt động trong khuôn khổ pháp luật liên quan Vì vậy,
hệ thống pháp lý nếu không chưa hoàn thiện, chế tài xử phạt không nghiêm, pháp luật không đảm bảo tính tuân thủ, hoặc các văn bản pháp luật thiếu tính
ổn định một mặt sẽ làm cho hoạt động ngân hàng gặp nhiều rủi ro trong đó có
Trang 23rủi ro tín dụng Bên cạnh đó các chủ thể khác là khách hàng vay vốn của ngân hàng sẽ chịu tác động xấu: khó khăn về tài chính, suy giảm khả năng trả nợ
- Môi trường công nghệ: Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển
như hiện nay, công nghệ trở thành công cụ đắc lực hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh Trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, công nghệ hiện đại đã hỗ trợ đắc lực cho hoạt động nghiệp vụ cũng như tạo hạ tầng cơ sở cho công tác quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng không nắm bắt công nghệ mới phục vụ cho công tác quản trị RRTD sẽ rào cản trong việc cải thiện hiệu quả quản trị rủi ro, thậm chí công nghệ lỗi thời hoặc công nghệ mới nhưng không khai thác hiệu quả cũng là nguồn gốc gây ra RRTD và nợ xấu
Đối với các Doanh nghiệp, công nghệ là công cụ để cải thiện năng lực quản trị kinh doanh, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh và lợi nhuận Tuy nhiên việc đầu tư ứng dụng công nghệ đặt ra cho các doanh nghiệp rất nhiều thách thức: chi phí đầu tư lớn, đội ngũ nhân sự trình độ cao, khai thác công nghệ để có thu nhập bù đắp chi phí đầu tư…Trong điều kiện môi trường công nghệ có những biến động không tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới làm suy giảm sức cạnh tranh, hoặc đầu tư công nghệ mới nhưng không tương thích với mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp hoặc khả năng tiếp cận, quản lý công nghệ yếu kém sẽ dẫn đến các Doanh nghiệp kinh doanh sa sút, tổn thất về tài chính, thua lỗ Đây là nguồn phát sinh nợ xấu cho ngân hàng
- Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng: Trong điều kiện môi trường cạnh
tranh khốc liệt, các ngân hàng để tồn tại sẽ tìm mọi cách để dành thị phần về mình Trong cuộc chạy đua thị phần tín dụng có thể làm cho các ngân hàng bỏ qua các nguyên tắc thận trọng cần thiết trong việc cấp và kiểm soát tín dụng Đây cũng là nguyên nhân gây ra RRTD và làm phát sinh nợ xấu
Ngoài ra Môi trường tự nhiên, Môi trường văn hóa - xã hội trong
những trường hợp nhất định cũng có thể là nguyên nhân phát sinh nợ xấu Các yếu tố như văn hóa ứng xử, trình độ nhận thức, phong cách sống, thái độ đối
Trang 24với xã hội…sẽ có tác động mạnh mẽ đến khuynh hướng tiêu dùng, đầu tư, kinh doanh cũng như trách nhiệm của cá nhân đối với xã hội Các yếu tố về môi trường tự nhiên con người không thể kiểm soát được nhưng lại có tác động rất lớn đến cuộc sống của con người Những thay đổi của môi trường tự nhiên như thiên tai, lũ lụt, hạn hán, mùa vụ,… đều tác động không nhỏ đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, đặc biệt là các hoạt động thuộc các lĩnh vực, các ngành liên quan mật thiết đến môi trường tự nhiên như ngành sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp, chế biến, kinh doanh các sản phẩm từ Nông - Lâm - Ngư nghiệp
1.1.5 Tác động của nợ xấu
Nợ xấu được coi là tồn tại khách quan, không thể loại bỏ mà chỉ có thể hạn chế Trong trường hợp nợ xấu quá cao sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và nền kinh tế quốc dân
1.1.5.1 Tác động của nợ xấu đến hoạt động kinh doanh ngân hàng
- Tăng chi phí vốn, giảm lợi nhuận ngân hàng Một khoản nợ trở thành
nợ xấu đồng nghĩa với việc ngân hàng có nguy cơ không thu hồi đủ vốn gốc
và lãi Điều này sẽ trực tiếp làm giảm thu nhập và lợi nhuận của ngân hàng Trong trường hợp số tiền tổn thất quá lớn, làm cho ngân hàng thua lỗ, thậm chí phá sản Bên cạnh đó, khi phát sinh nợ xấu sẽ làm phát sinh thêm nhiều khoản chi phí như: chi phí quản lý nợ, chi phí dự phòng…các chi phí này một lần nữa sẽ ăn mòn vào lợi nhuận, là nguyên nhân dẫn đến thua lỗ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
- Giảm năng lực thanh toán của ngân hàng Với đặc thù là doanh
nghiệp kinh doanh tiền tệ, vốn kinh doanh chủ yếu là vốn huy động Các nguồn huy động này đều có thời hạn và ngân hàng phải trả lãi cho người gửi tiền Vì vậy, với nguồn vốn huy động, về cơ bản ngân hàng phải tìm mọi cách
để mở rộng cho vay, đầu tư tạo thu nhập bù đắp chi phí lãi huy động và có lợi nhuận Đồng thời các khoản cho vay đầu tư phải được thu hồi đúng hạn để có nguồn hoàn trả cho người gửi tiền Trường hợp phát sinh nợ xấu sẽ dẫn đến ngân hàng không thu đủ gốc và lãi đúng hạn, tác động xấu đến kế hoạch
Trang 25nguồn vốn của ngân hàng Trong trường hợp nợ xấu quá lớn sẽ làm cho ngân hàng thiếu nguồn chi trả cho người gửi tiền, giảm khả năng thanh toán của ngân hàng
- Tăng vốn để đảm bảo đủ bù đắp cho tốn thất tín dụng Theo khuyến
nghị của Ủy ban Basel, để hạn chế rủi ro và tổn thất tín dụng, ngân hàng phải luôn đủ vốn cho RRTD Nếu nợ xấu gia tăng sẽ gây áp lực ngân hàng phải tăng vốn Vì vốn tối thiểu được đo lường trên cơ sở tài sản có rủi ro, khi rủi ro tăng ngân hàng phải tăng vốn để đảm bảo hệ số an toàn luôn đạt tỷ lệ qui định
- Hạn chế tăng trưởng tín dụng: Khi ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao,
phải trích dự phòng RRTD đủ và kịp thời, nguồn vốn cung ứng ra thị trường
sẽ bị giảm Bên cạnh đó về nguyên tắc các khách hàng đã có nợ xấu tại ngân hàng sẽ bị hạn chế khả năng vay vốn Trong nhiều trường hợp, các khoản nợ xấu sẽ được ngân hàng xử lý bằng việc phát mại tài sản đảm bảo, khởi kiện tòa án…những biện pháp xử lý này trong chừng mực nhất định có thể làm tổn hại đến uy tín của ngân hàng cũng như mối quan hệ tốt đẹp giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn Những lý do trên cho thấy, nợ xấu còn là nguyên nhân làm giảm tăng trưởng tín dụng của ngân hàng
- Giảm uy tín của ngân hàng Khi nợ xấu tăng, chất lượng tín dụng của
ngân hàng giảm, giảm lợi nhuận hoặc thua lỗ sẽ làm ngân hàng mất tín nhiệm trên thị trường Đặc thù là đơn vị kinh doanh dựa vào chữ tín, mất tín nhiệm
sẽ là mối đe dọa phá sản đối với bất kỳ một ngân hàng thương mại nào Thực
tế đã chứng minh rất nhiều NHTM phải đóng cửa, phá sản mà nguyên nhân sâu xa là từ việc không kiểm soát được nợ xấu
1.1.5.2 Tác động của nợ xấu đến nền kinh tế
- Làm đình trệ hoạt động của nền kinh tế: Khi nợ xấu của hệ thống
NHTM quá lớn sẽ làm nghẽn dòng vốn lưu thông trong nền kinh tế do vốn
“bơm” vào nền kinh tế của hệ thống ngân hàng bị giảm Bên cạnh đó các Doanh nghiệp đang khó khăn về tài chính - không trả được nợ cũ cho ngân hàng, làm phát sinh nợ xấu - không thể tiếp cận vốn tín dụng để cải thiện tình hình tài chính Kết quả là các Doanh nghiệp ngày càng thiếu vốn, khó khăn về
Trang 26tài chính, kinh doanh thua lỗ, thậm chí là phá sản Những tác động tiêu cực này một lần nữa lại tác động kép đến thu nhập, công ăn việc làm của người lao động Hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng cũng vì thế ngày càng đình trệ Tình trạng kéo dài có thể dẫn đến suy thoái, khủng hoảng kinh tế
- Gây bất ổn cho thống tài chính - ngân hàng: Hệ thống ngân hàng
thương mại có mối liên kết chặt chẽ do các hoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng thường liên quan đến nhau Vì vậy, rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thường có tính chất dây chuyền: Một ngân hàng trong hệ thống có khó khăn hoặc phá sản sẽ kéo theo hàng loạt các ngân hàng khác trong hệ thống vào tình trạng tương tự Vì vậy nếu một hoặc một số ngân hàng thương mại trong hệ thống có nợ xấu quá lớn dẫn đến kinh doanh thua lỗ, phá sản sẽ
là mối đe dọa đến bất ổn, mạnh hơn có thể là sự sụp đổ của cả hệ thống tài chính - ngân hàng
- Tác động tiêu cực đến ngân sách nhà nước: Nợ xấu làm cho các
Doanh nghiệp (bao gồm NHTM) hoạt động đình trệ, thua lỗ, thu nhập người lao động giảm sẽ làm giảm nguồn thu từ thuế và các nguồn thu khác của ngân sách nhà nước Bên cạnh đó nếu nợ xấu của hệ thống ngân hàng quá lớn sẽ buộc Nhà nước phải can thiệp, xử lý để hạn chế tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế Trong một số trường hợp Nhà nước phải dùng ngân sách để xử
lý Ngân sách Nhà nước sẽ càng khó khăn hơn khi nguồn thu giảm và các khoản chi tăng lên
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
1.2.1 Quan niệm về quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng của NHTM luôn chứa đựng những rủi ro và khả năng phát sinh nợ xấu là một biểu hiện rõ nhất của rủi ro tín dụng Nợ xấu phát sinh sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh tế Vì thế, việc xác định mức rủi ro ngân hàng có thể chấp nhận, từ đó có những biện pháp ngăn ngừa, kiểm soát rủi ro và xử lý tổn thất là việc làm cần thiết và mang lại hiệu quả trong hoạt động tín dụng ngân hàng
Trang 27Khái niệm “quản lý” thường được hiểu là hệ thống các hoạt động dựa
trên những nguyên tắc nhất định nhằm đạt mục tiêu quản lý đã đề ra Theo cách tiếp cận này, quản lý nợ xấu là tổng hợp các hoạt động có hệ thống, dựa trên những nguyên tắc nhất định, từ việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện (ngăn ngừa và xử lý nợ xấu), kiểm tra kiểm soát quá trình thực hiện nhằm đảm bảo hoạt động tín dụng của NHTM an toàn và hiệu quả
Theo đó, mục tiêu của quản lý nợ xấu là hướng vào việc đảm bảo tính
an toàn, hiệu quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM Quản lý nợ xấu phải hướng vào mục tiêu kiểm soát nợ xấu
ở mức độ ngân hàng có thể chấp nhận trên cơ sở cân đối giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng trong từng giai đoạn cụ thể Hay nói cách khác, quản lý
nợ xấu phải luôn nhằm vào việc kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ở mức hợp lý để đảm bảo
an toàn trong hoạt động kinh doanh của mỗi NHTM bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp và các công cụ quản lý của mỗi ngân hàng
1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
Vận dụng các nguyên tắc do Basel đưa ra, quản lý nợ xấu gồm những nội dung sau:
1.2.2.1 Lập kế hoạch cho vay và xác định mức nợ xấu mục tiêu
Hàng năm vào trung tuần tháng 11, các ngân hàng thực hiện tổng kết hoạt động kinh doanh của mình và đánh giá, nhận định về xu hướng kinh tế
xã hội năm kế tiếp, từ đó xây dựng định hướng hoạt động kinh doanh
Trên cơ sở từ những định hướng chung đó, Hội sở chính đưa ra những
đề xuất cụ thể đối với nghiệp vụ quản lý Trong hoạt động tín dụng, các phòng, ban tại Hội sở chính xây dựng hệ thống các tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể về hoạt động tín dụng cho toàn hệ thống và thực hiện phân giao cho các đơn vị trực thuộc năm tiếp theo như Chỉ tiêu Dư nợ tín dụng cuối kỳ (Dư nợ tín dụng bán lẻ cuối kỳ, Dư nợ Tổ chức kinh tế cuối kỳ), Dư nợ tín dụng bình quân (Dư nợ tín dụng bán lẻ bình quân, Dư nợ tín dụng Tổ chức kinh tế bình quân),
Dư nợ xấu (Dư nợ xấu bán lẻ, Dư nợ xấu Tổ chức kinh tế), Tỷ lệ nợ xấu (Tỷ
lệ nợ xấu bán lẻ, Tỷ lệ nợ xấu tổ chức kinh tế)
Trang 28Các đơn vị trực thuộc dựa vào tình hình hoạt động kinh doanh cụ thể của mình và Kế hoạch Hội sở chính phân giao thực hiện xây dựng kế hoạch tại đơn vị mình
1.2.2.2 Thiết lập bộ máy quản lý và xây dựng quy trình quản lý nợ xấu
Quản lý nợ xấu được điều hành nhất quán từ Hội sở chính đến các đơn
vị trực thuộc
Tại Hội sở chính thực hiện điều hành, quản lý theo từng khối cụ thể như Khối Ngân hàng bán buôn, Khối Ngân hàng bán lẻ, Khối Quản lý rủi ro, Khối Tài chính kế toán, Khối tác nghiệp, Khối Đầu tư, Khối hỗ trợ, Khối Kinh doanh vốn và tiền tệ và Ban Kiểm soát Khối ngân hàng bán buôn phụ trách đối tượng khách hàng Định chế tài chính, khách hàng tổ chức; Khối ngân hàng bán lẻ phụ trách đối tượng khách hàng dân cư, hộ gia đình
Trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng, bên cạnh các khối phụ trách có các Khối quản lý rủi ro, Khối tác nghiệp, Khối hỗ trợ, Ban Kiểm soát cùng phối hợp quản lý để tăng cường tính an toàn, hiệu quả của các khoản vay cũng như chỉ đạo, hướng dẫn về mặt văn bản, chế độ cho các đơn vị trực thuộc trong việc quản lý, xử lý nợ
Các phòng, ban ở Hội sở chính thực hiện phân công cán bộ chuyên trách quản lý từng nhóm các đơn vị trực thuộc cụ thể Dưới sự điều hành chung của Hội sở chính các đơn vị trực thuộc thực hiện tìm kiếm, tiếp cận khách hàng, tiến hành giải ngân cho vay, thu nợ, thu lãi
Các phòng Quản trị tín dụng, Quản lý rủi ro, bộ phận hậu kiểm tại phòng Tài chính kế toán cùng phối hợp kiểm tra, rà soát đảm bảo tín an toàn, hiệu quả cũng như xử lý các khoản nợ vay chuyển nợ xấu
Ban lãnh đạo Chi nhánh phân công từng Phó Giám đốc trực tiếp chỉ đạo từng mảng nghiệp vụ, từng phòng nghiệp vụ và các phòng phân rõ nhiệm
vụ đến từng cán bộ chuyên trách cụ thể
Quá trình quản lý nợ xấu thực hiện theo Quy trình sau:
Trang 29Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
Khởi kiện ra tòa
Bán nợ, hoán đổi
Các biện pháp khác
Phê duyệt Giám sát và kiểm tra
Thu nợ
Trang 301.2.2.3 Trích lập quỹ dự phòng rủi ro
Ngân hàng sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp các thiệt hại do nợ xấu gây ra, khoản nợ xấu này sẽ được chuyển ra ngoại bảng để tiếp tục theo dõi và truy thu Để có thể sử dụng biện pháp này, định kỳ ngân hàng phải tiến hành phân loại nợ và trích lập quỹ dự phòng rủi ro Biện pháp này có tính chủ động cao, làm giảm nhanh chóng các khoản nợ xấu trên bảng tổng kết tài sản của ngân hàng
Hiện nay, ở Việt Nam, tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm
nợ quy định tại Thông tư 02/2013/TT -NHNN như sau:
A: Giá trị của khoản nợ
C: Giá trị của tài sản bảo đảm
gỡ khách hàng Thông thường, công việc này được giao cho bộ phận chuyên trách nhằm đảm bảo tính độc lập, khách quan Có thể khái quát giai đoạn này qua sơ đồ sau:
Trang 31Nếu không chấp thuận Nếu chấp thuận
Nếu không thành công Nếu thành công
- Xử lý TSĐB, truy đòi người bảo lãnh
Đối với các khoản nợ xấu được ngân hàng đánh giá là không có khả năng thu hồi thì ngân hàng áp dụng các biện pháp xiết nợ như:
+ Phát mại, thanh lý, khai thác TSĐB: Các ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng phát mại TSĐB cho khoản vay hoặc chủ động xử lý TSĐB theo các hình thức như chào bán công khai trên thị trường, bán cho công ty mua bán nợ và xử lý tài sản, bán qua trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc đưa các tài sản đó vào khai thác, sử dụng
Khoản vay bị xếp vào nợ xấu
Trang 32+ Truy đòi người bảo lãnh: Nếu khoản nợ xấu không có TSĐB mà có
sự bảo lãnh của bên thứ ba thì ngân hàng thực hiện quyền truy đòi buộc người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho người vay
- Kiện ra Toà án
Khi ngân hàng đã sử dụng các biện pháp có thể để tạo điều kiện cũng như hối thúc khách hàng trả nợ nhưng vẫn không thể thu hồi khoản nợ thì ngân hàng có thể nhờ Toà án can thiệp Biện pháp này thường đem lại hiệu quả không cao do khách hàng thường không còn khả năng trả nợ, hơn nữa thủ tục lại phiền hà, kéo dài
- Bán các khoản nợ
Ngân hàng có thể bán các khoản nợ xấu cho các công ty mua bán nợ, các tổ chức tài chính hoặc các chủ thể kinh tế khác để sớm thu hồi nợ Những chủ thể mua lại các khoản nợ này thường hoạt động một cách chuyên nghiệp
và tận dụng được những lợi thế về thông tin, quy mô, quyền hạn và đặc biệt là không chịu áp lực bởi mối quạn hệ với khách hàng như ngân hàng nên việc thu hồi nợ sẽ hiệu quả hơn
- Bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro
Ngân hàng sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp các thiệt hại do nợ xấu gây ra, khoản nợ xấu này sẽ được chuyển ra ngoại bảng để tiếp tục theo dõi và truy thu Định kỳ ngân hàng phải tiến hành phân loại nợ và trích lập quỹ dự phòng rủi ro Biện pháp này có tính chủ động cao, làm giảm nhanh chóng các khoản nợ xấu trên bảng tổng kết tài sản
Ngoài ra cũng còn một số biện pháp khác mà ngân hàng có thể sử dụng
để xử lý nợ xấu như chuyển nợ thành vốn cổ phần, thu nợ có chiết khấu, sử dụng sự trợ giúp của Chính phủ, xoá nợ, …
1.2.2.5 Đánh giá và kiểm soát quản lý nợ xấu
Để đánh giá và kiểm soát công tác xử lý và thu hồi nợ xấu đòi hỏi bản thân các ngân hàng phải thường xuyên có các văn bản chỉ đạo tín dụng đối với các cấp điều hành, thành lập Bộ phận kiểm tra và giám sát đối với việc xử
Trang 33lý và thu hồi nợ xấu đồng thời tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
áp dụng công nghệ tiên tiến trong quản lý nợ xấu, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại cho quản lý nợ xấu là nhân tố quyết định đến hiệu quả quản lý
nợ xấu của NHTM
- Thứ nhất, chính sách quản lý nợ xấu của ngân hàng
+ Cho đến nay hầu như chưa có ngân hàng thương mại nào ban hành chiến lược, chính sách phát triển và quản lý nợ xấu của một ngân hàng một cách đầy đủ bằng văn bản Tất cả các chỉ đạo từ NHTW mới chỉ là từ văn bản hướng dẫn thi hành quy chế cho vay, bảo lãnh, bảo đảm tiền vay và các quy chế khác Các NHTW chưa thực sự làm tốt công tác dự báo và định hướng cho các chi nhánh trong từng giai đoạn phát triển kinh tế Kế hoạch tín dụng chỉ mang tính thủ tục Những khuyến cáo về các ngành không nên cho vay, đầu tư hay khống chế thường chỉ được đưa ra sau khi nợ xấu đã phát sinh ở một số chi nhánh khác hay tín dụng đã tăng trưởng đến mức nóng
+ Các ngân hàng cũng không có chính sách cho vay thận trọng đối với doanh nghiệp có vấn đề Có những doanh nghiệp chỉ gặp khó khăn mang tính tạm thời, nếu được ngân hàng hỗ trợ vốn với loại sản phẩm, kỳ hạn phù hợp và tư vấn nâng cao hiệu quả kiểm soát chi phí, kiểm soát vốn thì có thể phục hồi và trả được nợ cho ngân hàng
Trang 34+ Tầm nhìn chiến lược không tốt của các ngân hàng cũng là nguyên nhân của tình trạng cạnh tranh thu hút khách hàng bằng cách giảm giá Lãi suất cho vay được giảm bất chấp rủi ro là một yếu tố tác động lớn đến tính rủi
ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng
- Thứ hai, tổ chức công tác quản lý nợ xấu
+ Một ngân hàng có cơ cấu tổ chức quản lý RRTD tốt, phù hợp tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế và một phương thức quản lý rủi ro bài bản góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý nợ xấu Do đó, các ngân hàng luôn cơ cấu, sắp xếp lại bộ máy tổ chức tín dụng, hoàn thiện cơ chế quản lý RRTD nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng
+ Quản lý nợ xấu là cả một quá trình, tập hợp nhiều hoạt động khác nhau, liên quan chặt chẽ với nhau Chính vì vậy, việc phân cấp là rất cần thiết
để kết hợp được các hoạt động trong một tổng thể, kế thừa, hỗ trợ cho nhau sẽ
có tác động đáng kể đến quản lý nợ xấu
+ Công tác tổ chức quản lý nợ xấu được thực hiện chặt chẽ, khoa học
sẽ phát huy năng lực, sức mạnh của từng cá nhân, hạn chế được những mặt yếu của họ, liên kết các cá nhân trong toàn ngân hàng, loại bỏ được những rủi
ro đạo đức nghề nghiệp, khai thác tối đa mọi nguồn lực phục vụ cho công tác quản trị, đồng thời tạo ra được cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ và chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Giám đốc thì hạn chế được những rủi ro trong việc quản lý
- Thứ ba, hệ thống thu thập và xử lý thông tin
+ Trong quá trình quản lý nợ xấu, ngân hàng phải tiến hành thu thập các tài liệu, thông tin cần thiết cho việc phân tích, đánh giá khách hàng, dự án
và tiến hành sắp xếp các thông tin một cách hợp lý, khoa học theo các nội dung của quy trình quản lý Nhưng để có những kết quả tính toán chính xác
về hiệu quả dự án, phương án thì cán bộ quản lý RRTD cần phải có lượng thông tin đầy đủ, chính xác về dự án, phương án trên nhiều mặt, nhiều góc độ khác nhau
Trang 35+ Thông tin có thể thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: Từ khách hàng của ngân hàng (trong đó hồ sơ xin vay vốn của khách hàng là nguồn thông tin
cơ bản nhất); từ trung tâm thông tin tín dụng của NHNN; từ các nguồn thông tin tài chính phi tài chính khác; căn cứ vào các dự án, phương án vay vốn cùng loại đã và đang thực hiện
+ Trong thời điểm hội nhập của Việt Nam và tốc độ phát triển khoa học công nghệ trên thế giới như hiện nay, ngày càng có nhiều nguồn thông tin hữu ích phục vụ cho công tác quản lý RRTD cũng như quản lý nợ xấu Tuy nhiên, với việc bùng nổ thông tin thì việc xử lý, sàng lọc và chọn lựa những thông tin chính xác, có giá trị có thể đưa vào hệ thống quản lý thông tin nhằm tạo điều kiện tốt nhất để phục vụ hoạt động quản lý nợ xấu là một việc đang còn khó khăn của các ngân hàng hiện nay
+ Thông tin không chính xác thì việc quản lý không có ý nghĩa Sự thiếu thông tin sẽ khiến cho việc quản lý có chất lượng không tốt hoặc không thể tiến hành quản lý được, những thông tin không cân xứng sẽ dẫn tới chọn lựa đối nghịch, gây rủi ro cho ngân hàng Tính kịp thời của thông tin cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng quản lý vì nó không chỉ ảnh hưởng đến quan hệ của ngân hàng với khách hàng mà còn có thể làm mất đi cơ hội tài trợ cho dự án tốt trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay Bên cạnh đó, phương pháp thu thập, xử lý, lưu trữ thông tin của ngân hàng cũng rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến chất lượng thông tin và khả năng đảm bảo thông tin cho công tác quản trị tài chính dự án đầu tư
- Thứ tư, trình độ, kinh nghiệm của cán bộ làm công tác quản lý
+ Con người là nhân tố quan trọng nhất quyết định chất lượng quản lý
nợ xấu, bởi vì con người là chủ thể trực tiếp tổ chức và thực hiện hoạt động tài chính theo phương pháp, kỹ thuật của mình Con người là trung tâm liên kết, phối hợp các nhân tố khác trong quản lý, chi phối các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ xấu
Trang 36+ Quản lý nợ xấu còn là việc phát hiện, đưa ra các dấu hiệu dẫn đến rủi
ro tín dụng trên quan điểm cá nhân nhưng chất lượng quản trị lại ảnh hưởng đến tài sản của cả ngân hàng Trong công tác quản trị của ngân hàng, cán bộ quản lý là người trực tiếp thu nhận thông tin từ các nguồn và thực hiện toàn
bộ quy trình quản lý.Việc lấy thông tin thế nào, chất lượng ra sao hoàn toàn
do người quản lý quyết định, áp dụng phương pháp quản trị gì, các chỉ tiêu nào, kỹ thuật phân tích ra sao cũng phụ thuộc vào kinh nghiệm và trình độ của người quản lý
+ Quản lý nợ xấu không phải công việc đơn giản, đòi hỏi cán bộ quản
lý không những phải có kiến thức chuyên sâu về nghiệp vụ, am hiểu các lĩnh vực cho vay, đầu tư của ngân hàng mà còn phải nắm vững các kiến thức về kinh tế, pháp luật, tâm lý học và phải nhanh nhạy trong thực tế Bên cạnh
đó, tính kỷ luật cao và phẩm chất đạo đức tốt của người quản lý cũng đảm bảo chất lượng quản lý nợ xấu, sự an toàn trong hoạt động cho vay, mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng Kinh nghiệm của cán bộ quản lý cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc quản lý nợ xấu, như qua nhiều lần tiếp xúc với khách hàng họ có thể đánh giá được khách hàng nào là trung thực, khách hàng nào thiếu trung thực nhờ biết quan sát, phân tích, đánh giá tâm lý và nhận diện được khách hàng, từ đó đưa ra kết luận quản trị hoàn chỉnh hơn
+ Với xu thế phát triển kinh tế của đất nước, trong tiến trình hội nhập nhanh, chắc chắn sẽ tạo ra sự cạnh tranh gay gắt, đặc biệt là nhân tài trong đó người làm công tác quản trị được quan tâm hàng đầu Chính vì vậy, đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ ngân hàng nói chung và cán bộ quản lý nợ xấu nói riêng
Trên thực tế, việc quản lý nợ xấu ngày càng được các ngân hàng đặc biệt chú trọng và được đề cập nhiều bằng việc đưa ra các mô hình nghiên cứu
và ứng dụng trong quản lý nợ xấu Khía cạnh rủi ro đạo đức tuy đã được
Trang 37nghiên cứu nhưng rất khó đo lường vì tính chất định tính và việc quản lý là rất khó khăn do liên quan đến yếu tố con người Do đó, có thể nói đây là yếu tố tiên quyết đến hiệu quả của quản lý nợ xấu
- Thứ năm, trang thiết bị kĩ thuật, công nghệ
Cùng với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin, các ngân hàng không ngừng đưa nhanh các ứng dụng của công nghệ vào trong hoạt động của ngân hàng và hiện đại hóa hệ thống thông tin của mình Bằng các trang thiết
bị hiện đại ngày nay đã hỗ trợ nhiều trong công tác quản lý nợ xấu Sự phát triển của các máy tính hiện đại và việc ứng dụng các phần mềm chuyên dụng giúp các ngân hàng lưu trữ được cơ sở dữ liệu lịch sử lớn, nhất quán của khách hàng, từ đó tính toán các chỉ tiêu nhanh chóng, chính xác hơn, rút ngắn được thời gian quản lý nợ xấu Với sự trợ giúp của các trang thiết bị hiện đại, ngân hàng có thể giải quyết được một khối lượng lớn thông tin xung quanh các dự án, phương án, có khả năng truy cập nhanh chóng vào các cơ sở dữ liệu, khai thác các thông tin cần thiết cho quản lý, áp dụng các phương pháp quản lý tài chính hiện đại, sử dụng những mô hình ma trận, hàm số phức tạp nhưng vẫn có thể tính toán, phân tích và dự đoán một cách nhanh chóng, chính xác Do đó, chất lượng quản trị nợ xấu ngày một nâng cao
1.2.3.2 Các nhân tố khách quan
- Thứ nhất, nhân tố pháp lý
+ Hệ thống pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng bao gồm Luật và các văn bản dưới luật Hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ là cơ
sở sẽ tạo thuận lợi cho mọi hoạt động trong đời sống kinh tế -xã hội, đặc biệt
là hoạt động ngân hàng đang còn chịu sự chi phối trực tiếp bởi Luật Ngân hàng Nhà nước; Luật Các tổ chức tín dụng Tuy nhiên, hệ thống pháp luật chỉ thực sự phát huy được tác dụng khi được tuân thủ một cách nghiêm túc có
sự giám sát của các cơ quan chức năng Có thể khẳng định rằng môi trường
Trang 38pháp lý hoàn chỉnh là yếu tố quan trọng đảm bảo cho công tác quản lý rủi ro NHTM, trong đó có công tác quản lý nợ xấu
+ Chủ trương, chính sách của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước ban hành chưa đầy đủ, kịp thời, thiếu tính đồng bộ, có nhiều kẽ hở; sự quản lý lỏng lẻo hoặc sách nhiễu của các cấp chính quyền sẽ gây khó khăn trong việc quản lý nợ xấu của các NHTM Hậu quả là nợ quá hạn, nợ xấu và nguy cơ nợ xấu sẽ cao Ngược lại, nếu chủ trương, chính sách và pháp luật được ban hành đầy đủ, kịp thời, đồng bộ sẽ góp phần tích cực vào hiệu quả quản lý nợ xấu
- Thứ hai, khách hàng vay vốn
+ Nợ xấu xuất phát từ khách hàng vay vốn chia làm hai loại đối tượng: Không thực hiện nghĩa vụ cam kết; không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết
+ Cũng không ít khách hàng để đạt được mục tiêu vay vốn của mình đã tạo hồ sơ giả, hợp đồng mua bán vòng vo nhằm vay vốn ngân hàng Điều đó đòi hỏi NHTM nói chung, cán bộ tín dụng, thẩm định nói riêng phải làm tốt, chính xác việc phân loại đối tượng phòng ngừa rủi ro tương ứng, hữu hiệu
+ Sự tiếp cận các nguyên nhân gây rủi ro trên giúp ta nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan hơn, từ đó có được đề xuất phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro trong công tác quản lý nợ xấu của NHTM một cách hữu ích, thiết thực hơn
- Thứ ba, môi trường cạnh tranh
+ Trong một môi trường cạnh tranh rất quyết liệt như hiện nay giữa các NHTM nhằm mục đích khẳng định vị trí của mình trên thương trường, với chênh lệch đầu vào của nguồn vốn và đầu ra là lãi suất và phí thu được từ hoạt động tín dụng ngày càng bị thu hẹp Nhiều ngân hàng cùng hoạt động cũng dẫn tới việc cạnh tranh gay gắt để phân chia thị phần, không ít trường hợp các ngân hàng hạ các điều kiện tín dụng để tranh giành khách hàng dẫn đến công tác quản lý RRTD bị buông lỏng, tăng nguy cơ nợ xấu
Trang 39+ Ngoài ra các nhân tố như môi trường kinh tế không ổn định: sự biến động của thị trường thế giới; quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế; sự gắn kết giữa các hiệp hội và cơ quan chính quyền với NHTM cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nợ xấu
1.3 Cơ sở thực tiễn về quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu ở một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Ở Mỹ
Mỹ là một trong những quốc gia đi đầu trong việc quản lý nợ xấu Để quản lý nợ xấu, Cục Dự trữ liên bang (FED) đã đưa ra điều khoản FAS 114 quy định về mối quan hệ giữa quyết định cho vay, phân loại khoản vay, tình trạng các khoản nợ và việc dự phòng rủi ro
Bên cạnh đó Mỹ đã thành lập Công ty tín thác xử lý tài sản quốc gia Hoa Kỳ (The Resolution Trust Company in the United State - RTC) Như một
cơ quan nhà nước, RTC được thành lập với rất nhiều mục tiêu như: Tối đa hoá thu nhập ròng từ việc bán tài sản được chuyển nhượng, tối thiểu hoá tác động lên các thị trường địa ốc và thị trường tài chính nội địa, tối đa hoá việc tạo ra nhà ở cho các cá nhân có thu nhập thấp, RTC thực hiện việc xử lý đối với vả hai loại nợ luân chuyển thông thường và nợ tồn đọng, khó xử lý (performing and non - Performing loans) Tổng số tài sản RTC đã xử lý được
là 465 tỷ USD bằng 8,5% tổng tài sản trong khu vực tài chính, tương đương 8,5% GDP của Mỹ năm 1989
Nguyên nhân thành công của RTC là do khối lượng nợ xấu chỉ bằng 3% tổng tài sản tài chính trong giai đoạn khủng hoảng trầm trọng nhất Hơn thế nữa, khoảng 50% tài sản là các khoản vay bất động sản và vay cầm cố, 35% là tiền mặt và các loại chứng khoán khác Vì vậy, nhiều tài sản được chuyển nhượng là rất tốt và dễ dàng bán thông qua chứng khoán hoá và đấu giá trên thị trường tài chính phát triển nhất thế giới Một trong những yếu tố tạo nên sự thành công này các nhân sự cao cấp của RTC được lấy từ công ty
Trang 40bảo hiểm tiền gửi liên bang - cơ quan có sự hiểu biết rõ về vấn đề lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại trong hoạt động tài chính - và đội ngũ nhân viên của họ rất nhiều kinh nghiệm trong việc xử lý các tổ chức tài chính khó khăn, lâm vào tình trạng phá sản Mặt khác, RTC đã dựa vào những nhà đầu tư tư nhân
để đánh giá, quản lý và bán nhiều tài sản Một cấu trúc quản lý hiệu quả đã cho phép RTC thu hồi 1/3 tài sản được chuyển nhượng, giảm thiểu đáng kể khối lượng nợ phải bán
Mặc dù tỷ lệ thu hồi trên tổng tài sản được chuyển nhượng đạt 86% nhưng tổng chi phí hoạt động của RTC là tương đối lớn khoảng 88tỷ USD, bằng 20% giá trị tài sản được chuyển nhượng bằng 1,5% GDP năm 1989 Có nhiều yếu tố không thuận lợi ảnh hưởng đến hoạt động của RTC như: việc tài trợ của Chính phủ không kịp thời và đầy đủ đã làm gia tăng chi phí xử lý, việc xử lý tài sản nhanh chóng bị cản trở bởi nhiều mục tiêu không nhất quán đan xen
1.3.1.2 Ở Trung Quốc
Trung Quốc là một trường hợp riêng biệt trong việc lựa chọn mô hình quản lý nợ xấu do những đặc điểm riêng với hệ thống Ngân hàng có quy mô rất lớn với tổng dư nợ cho vay nền kinh tế lên đến gần 2.000tỷ USD gấp 1,5 lần GDP Tổng khối lượng nợ xấu khoảng 480 tỷ USD bằng 36% GDP Nếu xét về số tuyệt đối thì khối lượng nợ xấu này tương đương khối lượng nợ xấu của Mỹ vào năm 1989, nhưng tỷ lệ so với GDP lại gấp hơn 5 lần
Theo quy định của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (với tư cách là NHTW) bộ phận tín dụng của NHTM cần phải có các quy trình kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay, kịp thời thu thập thông tin để phân loại, thiết lập và hoàn chỉnh hồ sơ phân loại, kịp thời đề xuất kiến nghị kiểm tra lại; chịu trách nhiệm về tính chân thực, tính chuẩn xác, tính hoàn chỉnh của các dữ liệu phân loại, đề xuất ý kiến và lý do phân loại; định kỳ báo cáo cho bộ phận quản lý rủi ro những thông tin phân loại của bộ phận tín dụng; căn cứ vào kết