Nhiệm vụ nghiên cứu Dựa vào việc khảo sát các tài liệu mang tính lịch sử ở Lai Tê và những tài liệu liên quan, người viết sẽ cố gắng phác họa lại những bước phát triển của đạo Công Giáo
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài
LƯỢC SỬ ĐẠO CÔNG GIÁO TRÊN QUÊ HƯƠNG LAI TÊ
Hướng dẫn : Linh mục Phanxicô Xaviê Đào Trung Hiệu,OP Thực hiện : Chủng sinh Giuse Hoàng Trọng Hữu
Trang 2KHOA THẦN HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê
Hướng dẫn: Linh mục Phanxicô Xaviê Đào Trung Hiệu,OP
Thực hiện: Chủng Sinh Giuse Hoàng Trọng Hữu Khóa XVI (2010 - 2018)
Giáo phận: Bắc Ninh
Hà Nội, ngày 11 tháng 3 năm 2018
Trang 3Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê
Lưu hành nội bộ
2018
Trang 4Nhận xét của Cha giáo hướng dẫn
………
Bài luận văn thành công, Giáo hội Việt Nam hiện nay rất cần các bài nghiên cứu kỹ những giáo xứ lâu đời như Lai Tê. ………
………
………
………
………
………
………
Điểm
9/10
Sài Gòn, ngày 22 tháng 04 năm 2018
Ký tên
Linh mục Fx Đào Trung Hiệu, OP
Trang 5Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê
……
Giuse Hoàng Nguyên
Trang 6Tìm về quá khứ và tái hiện lại quê hương một thuở đã qua không phải là việc đơn giản Song nhờ sự cộng tác tích cực của biết bao bàn tay, biết bao khối óc và biết bao con tim nồng cháy tình yêu quê hương đất nước, người viết đã có đủ nghị lực và tài liệu để hoàn tất được tiểu luận Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê
Con xin chân thành cảm ơn cha Phanxicô Xaviê Đào Trung Hiệu đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo con trong quá trình làm tiểu luận
Con xin gửi lời tri ân tới cha xứ Đaminh Nguyễn Xuân Hùng, quý cha, quý thầy đã cho con những thông tin hữu ích cũng như góp ý và sửa bài cho con
Con xin cảm ơn quý Ban Hành Giáo, các hội đoàn, quý cụ ông bà và toàn thể cộng đoàn giáo xứ Lai Tê đã nhiệt tình cộng tác và dành nhiều thời gian cho con trong việc hoàn tất tiểu luận này
Dù đã cố gắng rất nhiều nhưng trong quá trình tìm kiếm và sưu tầm tài liệu, người viết không tránh khỏi những lầm lỗi, thiếu sót Ước mong sao những điều ấy sẽ được góp ý
và bổ sung trong thời gian gần nhất
Hà Nội, ngày 11 tháng 3 năm 2018
Giuse Hoàng Trọng Hữu
Trang 8DẪN NHẬP
1.4.Làng Bùi, Kẻ Bùi, Làng Sải hay Bùi Sải 14
CHƯƠNG I
2.Hạt giống Tin Mừng được gieo vãi 22
1.Thời kỳ nhà Nguyễn cấm đạo (1833 - 1862) 24
3.Giáo điểm Xóm Trại, xã Lai Xá Tây 29 3.1 Trộm cướp thôn Lường Xá 29 3.2 Đối diện với việc cấm đạo 30
Trang 9Tiểu kết chương I
CHƯƠNG II
1.2.Tình hình Giáo Hội Việt Nam 52 1.3.Giáo phận Bắc Đàng Ngoài 52
2.6.Ngôi Thánh Đường Cổ Kính Lai Tê 69
Tiểu kết chương II
CHƯƠNG III
Trang 103.1.Những người phục vụ cộng đoàn 81 3.2.Những người sống đời dâng hiến đang phục vụ tại giáo phận 83 3.3.Những người sống đời dâng hiến đang phục vụ ngoài giáo phận 85
1.1.Hội Đồng Giáo Xứ (HĐGX) 86
1.3.Huynh Đoàn Dòng Ba Đaminh Giáo Dân 87
1.5.Hội Gia Trưởng (Giuse) 88
1.11.Hội Con Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp 90
1.13.Hội Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình 90
Trang 11PHẦN PHỤ CHƯƠNG
I.KINH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO BẮC NINH 107 II.KINH 100 VỊ ĐẦU MỤC BẮC NINH 108
THƯ MỤC SÁCH THAM KHẢO
Trang 12Kẻ Bùi và Lai Tê
1.1 Lai Xá
Lai Xá có tên từ bao giờ không ai rõ Trong các sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi,
“Đại Nam Nhất Thống Chí” của quốc sử quán triều Nguyễn, “Các Tổng Trấn Xã Danh
Bị Lãm” và “Địa Lý Hành Chính Tỉnh Bắc Ninh” của Nguyễn Văn Huyên, các tác giả
đều cho rằng: Trước thế kỷ XV, vùng đất này thuộc huyện Thiện Tài, châu Gia Lâm, phủ
Bắc Giang 1
Đầu thời Lê (1428), huyện Thiện Tài đổi thành huyện Lang Tài2, sau lại đổi thành
Lương Tài và trực thuộc phủ Thuận An Sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi còn ghi lại:
Đầu thế kỷ XV, huyện Lương Tài có 74 xã 3
Trên những văn bia tiến sĩ của Văn Miếu Bắc Ninh, Văn Miếu Hà Nội4 và văn bia Kim Bảng Lưu Phương của họ Bùi ở Lai Tê, có khắc:
1 Tiến sĩ Hoàng Sĩ Dịch 5 黃仕懌 (1450-?) người xã Lai Xá, huyện Lang Tài (nay thuộc thôn Lai Tê, xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh) Ông là thân phụ của tiến sĩ Hoàng Sĩ Khải Ông đỗ Đệ Nhị Giáp Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa Nhâm Tuất, thời Lê, niên hiệu Cảnh Thống năm thứ 5 (1502) Ông làm tham chính
2 Tiến sĩ Bùi Khắc Thầm 6 (1493-?) người xã Lai Xá, huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ
1 Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, Đồng Khánh Dư Địa Chí, trang 510
2 Đào Duy Anh, Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời, Nxb.Hồng Đức, 2017, trang 213
3 Xã là đơn vị hành chính cơ bản thời bấy giờ Không giống như ngày nay, khi ấy, có những xã chỉ có một thôn (nhất xã nhất thôn) và tên thôn cũng là tên xã; nhưng cũng có những xã bao gồm nhiều thôn (nhất xã nhị thôn, nhất xã tam thôn, nhất xã tứ thôn ) thì tên thôn lớn nhất hoặc có trước nhất được đặt làm tên xã Ví dụ:
Xã Bùi Xá có 3 thôn: Bùi Xá, Thiện Dũ, Trạm Trai Do đó, cần phân biệt cách hiểu về việc gọi tên “xã” của ngày xưa với “xã” như hiện nay
4 http://www.hannom.org.vn
5 Số 55, bia thứ 3 (1490 - 1505) tại Văn Miếu Bắc Ninh
6 Số 58, bia thứ 4 (1508 - 1526) tại Văn Miếu Bắc Ninh
Trang 13Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa Giáp Thìn, niên hiệu Quảng Hòa thứ
4 (1544), đời Mạc Phúc Hải Ông làm quan đến chức Thượng Thư, tước Vịnh Kiều Hầu và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc), về trí sĩ
4 Bùi Lượng Thái 8 (1542-?) người xã Lai Xá, huyện Thiện Tài (nay thuộc thôn Lai
Tê, xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa Quý Mùi, niên hiệu Diên Thành thứ 6 (1583) đời Mạc Mậu Hợp Sau theo về nhà Lê, ông làm quan đến chức Tham Chính, tước Tử và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc) Sau khi mất, ông được tặng Tự Khanh, tước Bá Có tài liệu ghi ông là Bùi Lượng Cảo
5 Đào Trung Hòa 9 (1462-?) người xã Lai Xá, huyện Lương Tài (nay thuộc huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh) Ông đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 (1511) Ông làm quan Tổng Binh Sau khi mất, ông được phong Phúc Thần
6 Nguyễn Thu 10 (1488-?) người xã Lai Xá, huyện Thiện Tài (nay thuộc huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh) Ông đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 (1511) Ông ra làm quan thời nhà Mạc đến chức Thượng Thư, tước Bá
7 Phạm Kính Trung 11 (?-?) người xã Lai Xá, huyện Lương Tài (nay thuộc huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa Quý Mùi, niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 6 (1514) Ông làm quan nhà Mạc đến Đại Lý
Tự Khanh, tước Hầu
7 Số 64, bia thứ 5 (1529 - 1550) tại Văn Miếu Bắc Ninh
8 Số 64, bia thứ 6 (1553 - 1592) tại Văn Miếu Bắc Ninh
9 Số 26, bia thứ 4 (1508 - 1526) tại Văn Miếu Bắc Ninh
Trong sách Làng xã tỉnh Bắc Ninh, ông Nguyễn Quang Khải cho rằng: Tiến sĩ Đào Trung Hòa, tiến sĩ
Nguyễn Thu và tiến sĩ Phạm Kính Trung là người Lai Xá, tổng Lường Xá, nay là thôn Lai Đông, xã Trung
Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919, do tác giả Ngô
Đức Thọ chủ biên cho rằng: Tiến sĩ Đào Trung Hòa và Nguyễn Thu là người Lai Xá, huyện Thiện Tài nay là thôn Lai Xá, xã Quảng Phú, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh; còn tiến sĩ Phạm Kính Trung là người Lai Xá,
huyện Thiện Tài nay là thôn Lai Xá, xã Phú Lương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Sách Tiến Sĩ, Thạc Sĩ
tỉnh Bắc Ninh thời hiện đại, do các tác giả Trần Đình Luyện và Đỗ Thị Thu Thủy biên soạn lại cho rằng:
Ba tiến sĩ kể trên là người Lai Xá, tổng Lường Xá, nay là xã Phú Lương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Mặc dù đã tìm hiểu thực tế song người viết chưa tìm thấy dòng dõi con cháu của các vị tiến sĩ này hiện nay là
ai Tuy nhiên, hiện nay, tên thôn Lai Xá không còn được sử dụng Vì thế, người viết chỉ ghi quê quán hiện tại của ba vị này là thuộc huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
10 Số 27, bia thứ 4 (1508 - 1526) tại Văn Miếu Bắc Ninh
11 Số 40, bia thứ 4 (1508 - 1526) tại Văn Miếu Bắc Ninh
Trang 1413
Như vậy, đến thế kỷ XVI, xã Lai Xá đã là một khu vực giàu truyền thống văn hoá, đóng góp bảy vị tiến sĩ trong các năm 1502 – 1583 Dựa vào quê quán của các vị này, người viết cho rằng: Xã Lai Xá nằm trong địa hạt xã Trung Chính và xã Phú Lương bây giờ Tuy nhiên, thật khó để xác định địa giới chính xác của xã Lai Xá Dù vậy, dựa theo gia phả của
họ Bùi12 và họ Hoàng,13 người viết cho rằng: Lai Tê ngày nay là phần đất nằm trọn vẹn trong xã Lai Xá
Năm 1802, sau khi thống nhất, Vua Gia Long cho lập bản đồ cả nước thì không còn thấy sử dụng tên xã Lai Xá nữa; các tên mới là xã Lai Xá Đông và xã Lai Xá Tây được dùng để chỉ vùng đất này Như thế, có thể nói: Xã Lai Xá là tên gọi được sử dụng từ khoảng năm 1802 trở về trước
1.2 Lai Xá Tây, Lai Tây
Như trên đã viết: Bản đồ Gia Long được thiết lập năm 1802, trong đó: Huyện Lương Tài bao gồm 74 xã, chia về 9 Tổng: Lang Tài, Ngọc Trì, Quảng Bố, Lâm Thao, Lương Xá,
An Tráng, Tỳ Bà, Đặng Xá và Phá Lãng
Tổng Lương Xá có 8 xã Đó là: Lương Xá,14 Ông Lâu,15 Lãng Dương, Bích Khê, Thọ Ninh, Lai Xá Tây, Lai Xá Đông và Tuần La
Theo bản đồ này thì xã Lai Xá không còn Thay vào đó, có hai xã là Lai Xá Tây và Lai
Xá Đông còn giữ lại chữ Lai Xá Phải chăng xã Lai Xá chia thành hai xã là Lai Xá Đông
và Lai Xá Tây? Quả vậy, ông Nguyễn Quang Khải cho rằng Lai Xá Tê và Lai Xá Đông là hai xã tách ra từ xã Lai Xá hồi đầu thế kỉ XIX.16
Có thể nói, Lai Xá Tây là tên gọi hành chính chính thức kể từ năm 1802 theo bản đồ Gia Long
1.3 Lai Xá Tê, Lai Tê
Như trên đã kể, Lai Xá Tây là tên gọi được sử dụng trong bản đồ Gia Long năm 1802 Đến thời Đồng Khánh (1885 - 1889), sách Đồng Khánh Dư Địa Chí (1886) lại ghi:
Tỉnh Bắc Ninh có 4 Phủ chính, 2 phân phủ và 20 huyện. 17 Trong đó, huyện Lương Tài có 9 Tổng, 75 xã, thôn và xã Lai Xá Tê là một trong 8 xã của Tổng Lương Xá (xã Lương Xá, xã Phú Lâu, xã Lãng Dương, xã Lai Xá Đông, xã Lai Xá Tê, xã Thọ Ninh,
xã Bích Khê và xã Tuần La).18
12 Họ Bùi: Cụ Bùi Khắc Thầm và cụ Bùi Lượng Thái là cụ tổ của dòng họ Bùi ở Lai Tê
13 Họ Hoàng: Cụ Hoàng Sĩ Dịch và cụ Hoàng Sĩ Khải là cụ tổ của dòng họ Hoàng ở Lai Tê
14 Lương Xá: Còn được gọi là thôn Lường
15 Xã Ông Lâu: Đổi tên thành Phúc Lâu năm 1824
16 Nguyễn Quang Khải, Làng Xã Tỉnh Bắc Ninh, Nxb Thanh niên,2011,tập I, trang 232; 234
17 Đồng Khánh Dư Địa Chí, trang 483
18 Đồng Khánh Dư Địa Chí, trang 511
Trang 1514
Như vậy, có thể nói, tên Lai Xá Tây đã được đổi thành Lai Xá Tê trong khoảng thời
gian này hoặc trước đó Sách còn chỉ rõ: Khi ấy, trong huyện có 6 xã, thôn theo đạo
Thiên Chúa gián tòng 19 là: Đức Trai, Thọ Ninh, Lai Xá Tê, Khải Mông, 20 Trạm Du, 21 Phượng Trì 22
Tên gọi Lai Tê thực chất là việc gọi vắn hay gọi nhanh của Lai Xá Tê
Sau Cách Mạng tháng 8 năm 1945, đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ; đơn vị hành chính cấp xã được giữ nguyên và trực thuộc huyện Lương Tài Năm 1946, một số xã nhỏ (tương đương với đơn vị làng) được sáp nhập lại thành xã lớn Do đó, xã Trung Chính ra đời trên cơ sở một số làng thuộc Tổng Phá Lãng Xã Trung Chính khi ấy có 18 làng và Lai
Tê là một làng thuộc xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Tuy tên gọi làng Lai Tê không thay đổi kể từ sau Cách Mạng Tháng 8 năm 1945 đến nay, nhưng các đơn vị hành chính cấp huyện và tỉnh thì thay đổi trọn một vòng Tháng 8 năm 1950 huyện Lương Tài hợp nhất với huyện Gia Bình và lấy tên là Gia Lương Tháng 6 năm 1969 – tháng 1 năm 1974, hai huyện Gia Lương và Thuận Thành hợp nhất và gọi tên
là huyện Gia Thuận Từ tháng 8 năm 1999 cho tới nay, huyện Gia Lương chia thành 2 huyện như trước là Gia Bình và Lương Tài Tương tự như thế, hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang cũng sát nhập rồi tách ra như hiện nay
1.4 Làng Bùi, Kẻ Bùi, Làng Sải hay Bùi Sải
Gia phả họ Bùi có ghi lại: Thuở xưa, cụ tổ họ Bùi cùng con cháu di cư từ khu vực làng Phú Lộc, tỉnh Hải Dương ngày nay, sang xã Lai Xá lập nghiệp Khi ấy, các cụ cùng con cháu sống tại bãi bồi của sông Cẩm Giàng, phía bên Bắc Ninh, đối diện với làng Kiều Oanh, thuộc Hải Dương Khi cuộc sống ổn định, các cụ có xây chùa (nay gọi là Đống Chùa) và dựng đình ở đầu làng, từ đó gọi tên là làng Bùi Làng Bùi nổi tiếng là đất học, đã cống hiến cho quốc gia hai tiến sĩ là Bùi Khắc Thầm và Bùi Lượng Thái như đã kể trên Theo các cụ cao niên kể lại, làng Bùi chỉ bao gồm phần đất xóm trên, kể từ nhà Bà Tuyết đến nhà ông Bạ và Đống Chùa ngày nay Làng Bùi nằm trong phần đất xã Lai Xá như đã trình bày ở trên
Ngày xưa, tên gọi của các xóm, thôn, xã, tổng đều được đặt tên bằng chữ Nôm, rồi sau
đó, do nhu cầu chính trị, mới được Hán hóa mà có tên gọi bằng chữ Hán Do đó, hầu như thôn, xã, tổng nào cũng có hai tên bằng chữ Nôm và bằng chữ Hán Chẳng hạn: Làng Ngọc Cục, tên Nôm là Guộc; làng Lương Xá, tên Nôm là Lường; làng Trung Trinh, tên Nôm là
19 Gián tòng: tức xôi đỗ, phân biệt với toàn tòng
20 Xã Khải Mông: Gồm 3 thôn là Tử Nê, Hương La và Ngọc Cục Tên Nôm là Nê-La-Guộc
21 Trạm Du: Nay là giáo họ Trạm Ngoại, giáo xứ Phú Lộc, giáo phận Hải Phòng
22 Phượng Trì: Nay là giáo xứ Phượng Giáo
Trang 16là tên gọi giống như những làng Công Giáo lân cận là Kẻ Nê, Kẻ Mốt và Kẻ Sặt Tên gọi
Kẻ Bùi chủ yếu phổ biến với người Công Giáo trong khu vực chứ không quen thuộc với người ngoại giáo Theo những tài liệu sưu tập được, tên gọi Kẻ Bùi được sử dụng nhiều nhất vào khoảng từ năm 1900 – 195423 Ngày nay, tên gọi này hầu như không còn được sử dụng nữa
Tóm lại, làng Bùi có từ bao giờ không ai biết nhưng ngày hôm nay khi nói tới làng Bùi, người ta vẫn hiểu là làng Lai Tê; hoặc nhiều người còn gọi bằng tên kép: làng Bùi Lai Tê
để phân biệt với một làng Bùi không có đạo ở gần đó là làng Bùi Giàng
1.5 Xứ họ Lai Tê
Có lẽ Lai Tê được coi như là một họ đạo, có nhà thờ mang tước hiệu thánh Phanxico Xavie, thuộc giáo xứ Kẻ Mốt,24 giáo phận Bắc Đàng Ngoài kể từ năm 1883 Trước đó, Lai Tê chỉ là một giáo điểm truyền giáo, gọi là xóm Trại25, thuộc giáo phận Đông Đàng Ngoài
Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng: Tính đến năm 1848, Lai Tê có một linh mục; năm 1862, Lai Tê có 13 vị đầu mục và 3 thầy giảng hiền phúc tử đạo; có cha đến dâng lễ, có các chú giúp lễ hay thầy giảng; có Kiệu Vàng Bát Cống và dựa vào sự việc khi thánh Vicentê Đỗ Yến, cha xứ Kẻ Mốt chịu tử đạo, bà con giáo dân Lai Tê và Thọ Ninh rước xác về Thọ Ninh…ta có thể nói rằng: Khi ấy, Lai Tê là một giáo điểm lớn mạnh và sầm uất
Khoảng những năm 1902 – 1925, Đức Cha Maximino Velasco Khâm đến kinh lý các giáo xứ, giáo họ khu vực huyện Lương Tài và đã tách các giáo họ Lai Tê, Thọ Ninh và Nghĩa La; lập ra một giáo xứ mới, gọi là giáo xứ Lai Tê Khi đó, giáo xứ Lai Tê bao gồm toàn bộ phía tả ngạn sông Thái Bình, nằm trong địa giới xã Trung Chính và xã Phú Lương hiện nay Về sau, có thêm họ Quốc Trinh (Ấp Chanh) Tuy nhiên, giáo họ này chỉ tồn tại cho tới năm 1947 Bởi vì sau khi chiến tranh Việt – Pháp leo thang, toàn bộ gia đình chủ
Ấp (Quan Thị) di rời đi nơi khác Số giáo dân còn lại trở về bản hương, đa phần là Thứa
23 Sổ rửa tội Lai Tê 1906 - 1931 và hôn phối Lai Tê 1908 - 1952 có chỗ ghi Kẻ Bùi, có chỗ ghi Bùi Mốt
24 Cũng có người cho rằng: Lai Tê khi ấy là họ lẻ của giáo xứ Tử Nê Tuy nhiên, dựa vào những gì thu thập được, người viết cho rằng Lai Tê là họ lẻ của giáo xứ Kẻ Mốt thì hợp lý hơn
25 Xóm Trại: Là cách gọi những người theo Đạo Công Giáo trong xã Lai Xá, nhằm phân biệt với tên gọi hành chính thay đổi theo từng thời kỳ Tên gọi này được sử dụng cho tới khi Lai Tê trở thành một làng Công Giáo toàn tòng
Trang 1716
Hiện nay, giáo họ Nghĩa La đang quản lý Khu Vườn Thánh26 của giáo họ này Ngoài ra, bên cạnh Thọ Ninh còn có một giáo điểm mà trong sổ rửa tội Lai Tê 1906-1932, sổ hôn phối Lai Tê 1908-1952 có ghi, đó là họ Thủy Xá Họ đạo này bao gồm một số gia đình sinh sống ở trên thuyền, thường đậu ở sông Cẩm Giàng, đoạn Thọ Ninh Về sau bà con giáo dân của họ đạo này lên bờ và nhập vào Thọ Ninh
Năm 1952, Đức Cha Đaminh Hoàng Văn Đoàn tách Thọ Ninh ra khỏi giáo xứ Lai Tê, gọi là xứ Thọ Ninh Khi ấy, Thọ Ninh có cha Thanh về coi xứ Tuy nhiên, do những biến
cố thời đại, phần đông bà con giáo dân Thọ Ninh di cư vào Miền Nam (4/5 giáo dân di cư) Sinh hoạt đạo của các giáo xứ trong vùng đều do Cha quyền coi sóc Như thế, đến năm
1952, Lai Tê chỉ có một họ lẻ là họ Nghĩa La và địa giới thu hẹp lại, chỉ trong xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Đến nay, xã Trung Chính chỉ có hai làng Công Giáo toàn tòng là Lai Tê và Nghĩa La
Cả giáo xứ Lai Tê có khoảng 1940 tín hữu/ 10134 người dân trong toàn xã,27 trong đó, giáo
họ Lai Tê có khoảng 1470 tín hữu, giáo họ Nghĩa La có khoảng 470 tín hữu
2 Địa lý
Làng Lai Tê có vị trí hết sức đặc biệt Phía Đông có sông Đồng Khởi Đây là con sông nhân tạo dài khoảng 7 km, được đào khoảng năm 1966 - 1968, nối sông Cẩm Giàng với sông Ngụ, nhằm dẫn nước cho các cánh đồng xung quanh
Phía Nam và phía Tây có sông Cẩm Giàng28 (khúc Sông Bùi) – là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Bắc Ninh và Hải Dương
Phía Bắc là những cánh đồng bằng phẳng, bao la Như vậy, Lai Tê nằm trong vòng bao bọc bởi hai dòng sông, hợp nguồn ở phía Đông Nam làng rồi cùng đổ ra sông Thái Bình tại cống Văn Thai, cách đó chừng 5km
Lai Tê cách Tòa Giám mục Bắc Ninh 35 km về phía Đông Nam; cách Hà Nội 75km về hướng Đông Lai Tê được mệnh danh là vùng đất cuối tỉnh, cuối huyện, cuối xã Vì thế, đường xá đi lại còn nhiều khó khăn Đó chỉ là những con đường liên xã nhỏ và hẹp nhưng cũng đã được đổ bê tông mấy năm gần đây
27 Thống kê dân số năm 2014 của Ủy Ban Nhân Dân xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
28 Là một nhánh sông nhỏ, qua mỗi vùng lại mang tên khác nhau: Sông Cẩm Giàng,sông Sặt,sông Bùi…
Trang 1817
Nằm trong cái nôi văn hóa Kinh Bắc, Lai Tê tiếp tục đóng góp các bậc hiền tài cho quốc gia Hiện tại có tiến sĩ Bùi Quang Tề, nguyên Trưởng phòng Sinh học thực nghiệm, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy Sản I Xin mượn đôi dòng tóm tắt sự nghiệp của ông trên trang Thuysanvietnam.com.vn:
“Gần 40 năm làm nghiên cứu khoa học, Tiến sĩ Bùi Quang Tề đã có 9 đề tài cấp Nhà nước, 6 đề tài cấp Bộ, 1 đề tài hợp tác với Đan Mạch được nghiệm thu Ông đã viết 20 bài báo đăng trong tạp chí trong nước và quốc tế và xuất bản 9 cuốn sách
Được nhận Giải thưởng Nhà nước về Khoa học công nghệ: “Nghiên cứu công nghệ
sản xuất giống một số loài tôm biển” năm 2000 Thành viên tham gia; Giải Nhì
VIFOTEC đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá lăng chấm
(Hemibagrus guttatus Lacépè, 1830) trong điều kiện nuôi Năm 2006, thành viên
tham gia; Huy chương Chiến sỹ vẻ vang; Huy chương Vì sự nghiệp nghề cá Ngày
26.4.2010 Hội đồng xét chọn do Ban tổ chức Festival Thủy sản Việt Nam 2010 đã
bình chọn ông là “Gương cá nhân điển hình đóng góp cho ngành Thủy sản Việt
Nam” với tư cách nhà khoa học.” 29
Bên cạnh đó, Lai Tê còn có tiến sĩ Bùi Thị Tào và đội ngũ đông đảo các thạc sĩ, cử nhân đại học và cao đẳng
II LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Cây có gốc mới nảy cành sinh ngọn Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu Người ta nguồn gốc từ đâu?
Tổ tiên có trước, rồi sau có mình.” 30
Ngày nay, Lai Tê được xem như là một trong những giáo xứ năng động và trưởng thành thuộc giáo phận Bắc Ninh Thế nhưng, có mấy ai biết được rằng cộng đoàn đức tin này đã phải trải qua biết bao thăng trầm, thử thách Dường như ít người biết đến Lai Tê là quê ngoại của thánh Đa Minh Cẩm, là nơi thánh nhân lớn lên và cũng chính là nơi thánh nhân gửi lại thân xác mình Đâu mấy người biết được rằng trong 100 vị đầu mục tử đạo tại thành Bắc Ninh năm 1862, Lai Tê được phần vinh dự và tự hào vì có 13 vị là người Lai
Tê Thêm vào đó là ba vị hiền phúc tử đạo đang gửi thân xác mình tại Lai Tê Tìm lại những hình ảnh, những câu chuyện vui buồn ít người biết đến ấy, người viết ước mong có thể góp phần nhỏ bé của mình, hướng tới việc kỷ niệm 90 năm xây dựng ngôi thánh đường, hơn 100 năm thành lập giáo xứ và hơn 200 năm đón nhận Tin Mừng Do đó, người
viết xin chọn đề tài: Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê
29 http://www.thuysanvietnam.com.vn,nha-khoa-hoc-giau-tam-huyet-article-4435.tsvn đăng ngày 15.4.2013
30 Ca dao Việt Nam
Trang 1918
III NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Nguồn tư liệu
Để nghiên cứu đề tài này, người viết sử dụng những tài liệu còn lưu giữ tại giáo xứ Lai
Tê, bao gồm: sổ Rửa tội, sổ Thêm sức, sổ Hôn phối, biên bản các cuộc họp và các giấy
tờ khác Cùng với đó là những cuộc phỏng vấn nhân chứng gồm các vị Ban Hành Giáo qua các thời kỳ, các bậc cao niên và những chứng nhân khác Thêm vào đó, người viết còn sử dụng tài liệu lưu trữ tại văn khố và thư viện Tòa Giám mục Bắc Ninh Đặc biệt, các tài liệu của Đức Giám Mục Cosma Hoàng Văn Đạt, linh mục Đào Trung Hiệu, linh mục Đỗ Quang Chính, linh mục Bùi Đức Sinh, Đinh Đồng Phương, Trần Trọng Kim, Ngoài ra, người viết còn tham chiếu từ gia phả của các dòng họ, cách riêng là của họ Bùi, họ Nguyễn, họ Hoàng và nhiều nguồn tài liệu khác
Mặc dù đã rất cố gắng khai thác nhiều nguồn tư liệu, tiến hành so sánh, đối chiếu, phân tích để có được kết quả đáng tin cậy, nhưng thiết nghĩ vẫn còn nhiều điều sơ lược, thiếu sót
và khiếm khuyết Người viết ước mong nhận được sự quan tâm, những góp ý, bổ sung cho bài luận này
2 Phương pháp nghiên cứu
Với đặc trưng của đề tài, người viết sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic là chủ yếu Thêm vào đó, người viết còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp định lượng toán học, phương pháp điều tra, phương pháp nhân chứng và phương pháp tiếp xúc Ngoài ra, tiểu luận còn sử dụng các phương pháp liên ngành khác phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
IV ĐÓNG GÓP CỦA TIỂU LUẬN
1 Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài này, người viết ước mong có thể giúp cho những người trẻ Lai Tê có được sự hiểu biết đầy đủ và chính xác hơn về quê hương nguồn cội; ngõ hầu có thể củng cố thêm tình yêu quê hương trong họ, hối thúc lòng khao khát dựng xây và phát huy truyền thống đức tin cao quý mà các bậc tiền nhân truyền lại Hướng đến những người con Lai Tê xa xứ, người viết hy vọng có thể ôn lại những kí ức về cố hương đang phai nhạt từng ngày do bụi
mờ thời gian
2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài làquá trình hình thành và phát triển của đạo Công Giáo tại Lai Tê kể
từ khi có sự hiện diện của người Công Giáo trên mảnh đất này Tuy nhiên, người viết cũng đề cập đến bối cảnh xã hội, Giáo Hội Việt Nam cũng như giáo phận Bắc Ninh trong những giai
Trang 2019
đoạn lịch sử tương đương, có ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt ở nơi này Dù vậy, trong khả năng và giới hạn, người viết chỉ tập trung tìm hiểu đạo Công Giáo trong vùng đất giáo xứ Lai Tê hiện nay, cụ thể là họ nhà xứ Lai Tê
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Dựa vào việc khảo sát các tài liệu mang tính lịch sử ở Lai Tê và những tài liệu liên quan, người viết sẽ cố gắng phác họa lại những bước phát triển của đạo Công Giáo trên mảnh đất Lai Tê; đồng thời, nhận định về hướng phát triển trong tương lai cũng như gợi
ý những hoạt động mục vụ phù hợp
4 Đóng góp trực tiếp
Vì mục đích của đề tài, người viết sẽ cố gắng tìm lại những bước phát triển của đạo Công Giáo trên quê hương Lai Tê Trong phạm vi cụ thể, tiểu luận bước đầu thống kê, khảo sát và đánh giá tình trạng đời sống đạo qua những bước thăng trầm của lịch sử
Qua quá trình khảo sát các tài liệu mang tính lịch sử ở Lai Tê, người viết thu thập được những dữ liệu liên quan góp phần xây dựng trang lịch sử cho giáo xứ Từ đây có thể làm một tiền đề cho việc tìm lại các dấu ấn lịch sử đầy giá trị của rất nhiều giáo xứ, giáo họ trong giáo phận Bắc Ninh mà do các biến động cùng khó khăn lịch sử nay đã bị phôi pha hoặc quên lãng
Trang 2120
3 Kết cấu tiểu luận
Xuất phát từ giới hạn của đề tài, ngoài phần dẫn nhập, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ chương, tiểu luận triển khai ba chương chính như sau:
Chương I: GIAI ĐOẠN SƠ KHAI (… - 1883)
Dựa vào lời kể của các bậc cao niên và những sử liệu liên quan, người viết tìm về thời điểm hạt giống Tin Mừng được gieo trên mảnh đất Lai Tê Dần dần, cây đức tin phát triển theo thời gian và trở thành một giáo họ
Chương II: GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VÀ TRƯỞNG THÀNH (1883 - 1954)
Khi cuộc sống tương đối ổn định, bà con giáo dân chăm lo nhiều hơn đến việc xây dựng
và củng cố đức tin Hoa trái thơm lành chính là việc trở thành một giáo xứ lớn mạnh Từ khi giáo xứ có sự hiện diện của các mục tử, đời sống kinh tế văn hoá, giáo dục được phát triển, công cuộc loan báo Tin Mừng cũng được mở mang hơn Nhiều đoàn hội được thành lập Gia đình giáo xứ được thăng tiến và triển nở về nhiều mặt
Chương III: GIÁO XỨ LAI TÊ TRONG THỜI CUỘC MỚI (1954 - nay)
Biến cố 1954 đã làm cho giáo xứ có phần xáo trộn nhưng những cố gắng và nỗ lực của các Đấng, Bậc cùng cộng đoàn đã giúp cho Lai Tê có thể từng bước bắt nhịp với giáo phận
và tiếp tục tiến bước trong sự quan phòng của Thiên Chúa
Trong chương này người viết đề cập đến một số sinh hoạt tiêu biểu của xứ họ: giờ kinh, nguyện ngắm cũng như sinh hoạt của các hội đoàn đạo đức
VI CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Mt Tin Mừng theo thánh Mát-thêu Fx Phanxicô Xaviê / Phan-xi-cô Xa-vi-ê
Mc Tin Mừng theo thánh Mác-cô HĐGX Hội Đồng Giáo Xứ
Lc Tin Mừng theo thánh Lu-ca BHG Ban Hành Giáo
Ga Tin Mừng theo thánh Gio-an TNTT Thiếu Nhi Thánh Thể
Cv Sách Công Vụ Tông Đồ Tgm Tòa Giám Mục
Dt Thư gửi tín hữu Do Thái Gs Giáo sư
1 Cr Thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô Nxb Nhà xuất bản
OP Ordinis Praedicatorum: Dòng Đaminh Sđd Sách đã dẫn
SJ Societas Jesu: Dòng Tên X Xem
Nv Người viết
Trang 2221
GIAI ĐOẠN SƠ KHAI ( - 1883)
1 Lược sử truyền giáo
Trước khi về Trời, Đức Giêsu đã trao cho các môn đệ sứ mạng quan trọng: “Anh em
hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ.” 31Hơn hai ngàn năm qua, Tin Mừng vẫn luôn được loan báo; có biết bao lớp người tiếp tục sứ mạng cấp thiết này cũng như có biết bao dân tộc đón nhận được ánh sáng Đức Tin
Tại Việt Nam, bước chân nhà truyền giáo đầu tiên được ghi lại trong sử sách là năm
1533 Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (XXXIII, 6B) có thuật lại:
“Vào khoảng năm Nguyên Hoà (1533), đời vua Lê Trang Tông có người tây dương tên là Inikhu vào giảng đạo ở các xã Ninh Cường, Quần Anh, huyện Nam Chân và xã Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Sơn Nam (Nam Định) Nguyên Hòa nguyên niên, đời
Lê Trang Tôn có một dương nhân tên là I-nê-khu đi đường bể, lén vào giảng đạo Gia
Tô ở làng Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chân và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy.” 32
Tất cả các địa danh trên đều thuộc giáo phận Bùi Chu hiện nay
Theo truyền khẩu, Cha Felice Morelli, Dòng Tên, trong thời gian ở Thăng Long (1640-1647), đến truyền giáo ở vùng Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, nhưng chưa thấy có chứng cứ lịch sử chắc chắn Năm 1659, khi Đức Thánh Cha Alexandro VII thiết lập hai giáo phận đầu tiên ở Việt Nam là Đàng Trong và Đàng Ngoài, sử sách ghi nhận ít nhất đã có một số tín hữu trong phần đất của giáo phận Bắc Ninh là Kẻ Roi (Xuân Hoà), Kẻ Nê (Tử Nê) và Kẻ Mốt (Đức Trai) 33
Cách Lai Tê không xa, Kẻ Sặt, tỉnh Hải Dương, thuộc giáo phận Hải Phòng, là nơi quy
tụ nhiều người theo đạo thời bấy giờ Trên đây là những địa danh được nhắc đến nhiều lần như điểm dừng chân của các nhà truyền giáo Dòng Tên trong hành trình truyền giáo thuở ban đầu
31 Mc 16, 15
32 Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, bản Việt Ngữ của Viện Sử
Học, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1998, trang 720
33 Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt, Lược Sử Giáo Phận Bắc Ninh, Lưu hành nội bộ, 2009, trang 20-21
Trang 2322
Năm 1679, Đức Thánh Cha Innocento XI chia giáo phận Đàng Ngoài làm hai là giáo phận Đông Đàng Ngoài và giáo phận Tây Đàng Ngoài Tỉnh Bắc Ninh thuộc giáo phận
Đông Đàng Ngoài Lúc này, trên phần đất của Bắc Ninh đã có 32 nhà thờ 34
Ngày 5.9.1848, Đức Thánh Cha Piô IX ra sắc lệnh chia đôi giáo phận Đông Đàng Ngoài thành giáo phận Trung Đàng Ngoài và giáo phận Đông Đàng Ngoài Kinh Bắc (Bắc Ninh) thuộc về giáo phận Đông Đàng Ngoài mới.35 Trong giai đoạn này, quê hương chúng ta có Cha Thánh Đaminh Cẩm phục vụ tại giáo phận Trung Đàng Ngoài và được diễm phúc tử đạo tại Hưng Yên năm 1859
Ngày 29.5.1883, Đức thánh Cha Lêô XIII chuẩn phê và ban hành sắc lệnh thành lập giáo phận Bắc Đàng Ngoài Giáo phận Bắc Đàng Ngoài (Bắc Ninh) gồm các tỉnh Bắc Ninh (Bắc Ninh và Bắc Giang), Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, một nửa Hà Giang, một phần Tuyên Quang, Phú Thọ, Sơn Tây (Vĩnh Phúc) Lúc này, giáo phận Bắc Đàng Ngoài
có 25 000 giáo dân, quy tụ trong 11 giáo xứ và 28 họ, sống chủ yếu ở tỉnh Bắc Ninh và vùng lân cận36 Khi ấy, Lai Tê có thể đã hiện diện như là một trong những giáo điểm
truyền giáo Vậy Tin Mừng đến với mảnh đất Lai Tê từ khi nào?
2 Hạt giống Tin Mừng được gieo vãi
Chưa có tài liệu chính thức nào chỉ rõ đạo Công Giáo đến Lai Tê khi nào và bằng cách nào Tuy nhiên, dựa vào gia phả các chi họ và tham vấn các cụ cao niên trong làng cùng những sử liệu liên quan, người viết xin ghi lại như sau
2 Gia đình cụ Hiệp, người Cẩm Giang Cụ Hiệp có con tên là cụ Nho
Thánh Đaminh Cẩm là cháu ngoại của cụ Nho Gia đình cụ mua đất ở khu vực nhà bà Tuyết hiện tại và trải dài đến một phần đất phía tây của nhà chung hiện nay
3 Gia đình cụ Đò, người Phú Lộc Cụ Đò có con trai là cụ Trại, người
trở thành Lý Trưởng đầu tiên của xóm Trại và cũng là người đã đổ máu
34 Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt, Sđd, trang 25
35X Nguyễn Thanh Thảo, Lịch Sử Địa Phận Đông Đàng Ngoài Hay Giáo Phận Hải Phòng, Tgm Hải
Phòng, 2007, trang 158 – 159
36 X Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt, Sđd, trang 37
Trang 2423
mình ra để làm chứng cho Tin Mừng năm 1862 cùng các đầu mục khác tại Bắc Ninh Gia đình cụ mua đất ở khu vực xóm dưới, nằm ở phía Đông của nhà thờ hiện nay, thuộc khu đất nhà ông Xá đang ở
Ba gia đình này ở liền kề nhau và lập thành một xóm riêng, gọi là Xóm Trại, nằm ở phía Bắc khúc sông Vòng của sông Cẩm Giàng Theo thời gian, nhiều người Công Giáo cũng như những người mới theo đạo đã tìm đến và lập nghiệp ở đây, tạo nên một xóm đạo đông đúc Xóm đạo này sinh hoạt trong xã Lai Xá như một làng/xóm37 riêng biệt, giống bao làng/xóm khác trong xã
2.2 Dấu chân thừa sai
Sau khi lập thành xóm đạo, các gia đình Công Giáo thường tụ họp với nhau vào buổi tối
để đọc kinh Những dịp lễ lớn hay Tuần Thánh, họ trở về quê cũ để tham dự và lãnh nhận các Bí Tích Khi xóm đạo ngày một thêm đông, họ cũng tìm cách để đón các thừa sai đến làm phúc Các thừa sai có để đến Lai Tê bằng một trong hai đường sau:
Các thừa sai theo đường sông đến Lai Tê: Thông thường các thừa sai đến địa phận
Đông Đàng Ngoài từ Biển Đông vào sông Thái Bình Ngược dòng sông Thái Bình qua tỉnh Đông (Hải Dương) chừng 3km là tới Kẻ Mốt Kẻ Mốt tọa lạc tại bãi bồi phía hữu ngạn sông Thái Bình thuộc khu vực Văn Thai Từ đây đi ngược dòng sông Thái Bình khoảng 200m tới hạ lưu sông Cẩm Giàng (sông Bùi) Nếu ngược dòng sông nhỏ này chừng 5km sẽ tới Lai Xá (Lai Tê) và cứ tiếp tục ngược dòng thì tới Thọ Ninh, rồi tới Kẻ Sặt Ngược lại, các thừa sai cũng có thể đi từ Kẻ Sặt về Lai Xá hoặc Kẻ Mốt theo sông Cẩm Giàng kể trên
Các thừa sai cũng có thể đến với Lai Tê bằng một đường khác Đó là từ Kẻ Nê (Tử
Nê) đi theo đường tỉnh lộ 280 + 284 Bắc Ninh - Hải Dương chừng 7 km sẽ tới Lai Xá Các Ngài thường lui tới Kẻ Nê theo đường sông như sau: Từ Biển Đông, các Ngài đi vào cửa sông Thái Bình tới tỉnh Đông (Hải Dương) Vượt qua Hải Dương chừng 3km sẽ tới Kẻ Mốt, đi thêm chừng 2km sẽ tới Kênh Than Tại Kênh Than, có nhánh sông bên trái là sông
Bá Giang Ngược dòng sông này chừng 5km sẽ tới Kẻ Nê Cũng cần nhắc lại rằng: Ngay
từ những ngày đầu truyền giáo lên xứ Bắc, các tên như Kẻ Nê, Kẻ Mốt và Kẻ Sặt là những địa danh được các Thừa Sai biết đến nhiều hơn cả Đây cũng chính là những nơi các ngài
có thể ẩn náu, dâng lễ và từ đó lên đường truyền giáo tới các khu vực xung quanh Trong khi ấy, Lai Xá nằm ở vị trí rất gần với cả ba địa danh này
37 Hệ thống hành chính đầu thế kỷ XIX vùng đồng bằng Bắc Bộ được biết là: Trấn – Phủ – Huyện – Tổng –
Xã Như thế, đơn vị hành chính nhỏ nhất thời bấy giờ là xã Có xã chỉ có 1 làng hoặc 1 xóm (gọi là nhất xã nhất thôn) nhưng cũng có xã có nhiều làng hay nhiều xóm Do đó, làng và xóm khi ấy có thể hiểu theo nghĩa tương đương nhau Từ đây cho tới khi Xóm Trại trở thành giáo họ Lai Tê, người viết dùng tên Xóm Trại để chỉ những người theo Đạo Công Giáo trong xã Lai Xá - (Nv)
Trang 251838 khi Cha Vincentê Đỗ Yến chịu tử đạo tại Hải Dương hoặc khi cha Thánh Phêrô Nguyễn Văn Tự và các bạn bị bắt tại Kẻ Mốt Đặc biệt, năm 1848, Lai Xá đã dâng hiến cho Giáo Hội một linh mục là cha Đaminh Cẩm, dòng Ba Đaminh Như thế, nếu tính theo dòng họ nhà Thánh Cẩm, ta có thể kết luận chắc chắn rằng đạo Công Giáo đã hiện diện ở nơi đây từ trước năm 1800 Cũng vậy, nếu tính theo dòng họ cụ Trại (62 tuổi), tử đạo năm
1862, ta cũng có kết luận tương tự
II THÁCH ĐỐ THỜI ĐẠI (1833 - 1862)
1 Thời kỳ nhà Nguyễn cấm đạo (1833 - 1862)
Sau khi thống nhất đất nước năm 1802, Nguyễn Ánh xưng vương, hiệu Gia Long, lấy tên nước là Việt Nam, mở ra thời kỳ mới dưới triều đại nhà Nguyễn Triều đại này trải dài
143 năm (1802 - 1945) với 16 vị Hoàng Đế Tuy Bắc Nam thống nhất nhưng những vị vua đầu tiên còn phải vất vả cực nhọc để an định lòng dân Họ tìm nhiều cách để bảo vệ và
củng cố quyền bính của mình Về tôn giáo, nhà Nguyễn chọn độc tôn Tống Nho Với chính
sách này, mọi tôn giáo khác, kể cả Phật Giáo, đều bị coi là tà đạo, đáng bị tiêu diệt38
Kể từ ngày 01.6.1833 – 09.5.1862, các vua nhà Nguyễn đã ra biết bao chỉ dụ cấm đạo, gây thiệt hại nặng nề cho Giáo Hội Việt Nam
Khởi đầu là chỉ dụ cấm đạo ngày 01.6.1833, áp dụng trong toàn quốc Nội dung như sau:
“Trẫm, vua Minh Mạng, phán rằng: Từ nhiều năm nay, những người Tây Dương đến truyền Đạo Gia Tô, lừa gạt dân chúng Họ dạy rằng: Có một thiên đàng cực lạc
và hỏa ngục với những hình khổ khủng khiếp Họ chẳng tôn kính thần phật, cũng chẳng thờ kính tổ tiên Đó là một điều vô đạo trầm trọng Hơn nữa, họ còn xây cất nhà thờ, tiếp đón đông người, nam nữ lẫn lộn, mê hoặc đàn bà, con gái, họ móc mắt người bệnh Thử hỏi còn có gì nghịch luân thường đạo lý hơn chăng?
Năm ngoái, Trẫm đã trừng trị hai làng theo thứ tà đạo ấy, cho thấy rõ ý định của trẫm chỉ muốn người ta bỏ đường tội ác mà trở về con đường ngay chính Cho nên, nay Trẫm quyết định: Tuy đã có nhiều người, vì ngu dốt mà theo tà đạo, nhưng họ
38Px Đào Trung Hiệu, Hành Trình Ân Phúc, Chân Lý, 2013, trang 133
Trang 26Đây là lệnh của trẫm – Khâm thử - ngày 12.11, năm thứ 13 triều đại của Trẫm” 39
Thật ra trước đó, vua Minh Mạng đã có huấn dụ năm 1825 nhắm đến các thừa sai Giữa những cơn bão tố ấy, ngày 04.8.1939, Đức giáo Hoàng Gregorio XVI đã gửi thư an ủi các tín hữu Việt Nam:
“Các con yêu dấu trong Chúa Giêsu Kitô, Những tin mới nhất về Giáo Hội trên đất nước chúng con làm cha vừa đau lòng, vừa được an ủi vui mừng Vui mừng vì cha thấy một lần nữa, Giáo Hội đang chiến thắng những âm mưu phá hoại của kẻ thù, vui mừng vì Giáo Hội được thêm nhiều anh hùng tuẫn giáo, những Đấng cha không sợ quá đáng khi ca ngợi sự thánh thiện và lòng dũng cảm Đồng thời, cha cũng phải buồn sầu ứa lệ khi nghĩ đến chúng con đang lâm cảnh khốn khổ nhục nhã của một cuộc cấm cách…
Cha khuyên các con đừng nản lòng trước những thử thách sẽ qua đi mau chóng và chính những thử thách ấy sẽ đem lại cho chúng con cuộc sống vĩnh cửu… Chúng con hãy noi theo gương các Đấng, Bậc đã bằng lòng chịu khổ chịu chết vì sứ mạng, đã sống giữa chúng con…” 40
Sau khi vua Minh Mạng (1820 -1840) từ trần, lần lượt các vua Thiệu Trị (1841 - 1847),
Tự Đức (1847 - 1883) nối ngôi Họ dành cho người Công Giáo (Gia Tô) rất ít thiện cảm Ngày 30 tháng 3 năm 1851, Tự Đức viết:
“Đạo Gia Tô đã bị các tiên vương, Minh Mạng và Thiệu Trị cấm đoán, quả là một
tà đạo, vì trong đạo này, người ta không thờ cha mẹ ông bà đã qua đời, người ta móc mắt người sắp chết để làm một thứ nước bùa dùng để mê hoặc dân chúng, ngoài ra người ta còn làm nhiều điều mê tín và gớm ghiếc khác
Trang 2726
Vì lẽ đó, các tây dương đạo trưởng là những kẻ có tội nặng nhất, phải bị treo đá vào cổ mà ném xuống biển Sẽ thưởng 30 lạng bạc cho những ai bắt được một tên trong bọn họ
Các đạo trưởng Annam có tội nhẹ hơn các tây dương; phải tra tấn chúng để xem chúng có muốn chối đạo không, nếu chúng không chịu bỏ đạo, sẽ bị thích tự vào mặt
và bị lưu đầy đi những nơi độc địa nhất trong nước
Những ai trong dân chúng theo tà đạo này và không chịu bỏ đạo là những kẻ ngu ngốc, dại dột bị các đạo trưởng của họ mê hoặc Phải thương hại họ, cho nên vua, bởi hết lòng yêu thương con dân, truyền lệnh chúng không bị xử tử hình, lưu đày hay cầm tù nữa, các quan chỉ cần chừng phạt chúng thật nghiêm khắc, rồi trả
họ về gia đình.” 41
Ngày 04 tháng 02 năm 1859, học giả Trương Vĩnh Ký viết một thư bằng tiếng Latinh cho các bạn đồng môn ở Penang, trong đó có đoạn kể rằng:
“Từ khi hạm đội Pháp tới Đà Nẵng (31.8.1858) đối với người Kitô hữu mà người
ta phải đem đến sự cứu giúp, thì phương dược lại còn tệ hơn bệnh tật Họ bị phân tán
và phân tháp; họ trốn vào những chỗ hoang vắng và không hề nghỉ ngơi Người ta làm cho họ trở nên như những con cừu non không có đồng cỏ để ăn Nhà thờ bị triệt hạ; các linh mục và các chủng sinh bị giam tù… Trong các làng mạc, ở cửa các đô thị
và những nơi phải qua lại, người ta đặt các điếm canh để biết ai là Công Giáo do thái
độ tôn trọng hay chà đạp thánh giá.”42
Mặc dù đã dùng nhiều hình thức bách hại người Công Giáo song kết quả chẳng được như mong muốn Vì thế, trong các năm tiếp theo, vua Tự Đức liên tục gửi các chiếu chỉ như: Bắt các người coi sóc các họ đạo và chức sắc có đạo trong làng (tháng 10.1859); Bắt giam các quan có đạo (tháng 12.1859); Cấm đạo chung cho tất cả những người có đạo (ngày 17.1.1860); Bắt các nữ tu sĩ (tháng 7.1860) Khốc liệt nhất phải kể đến là chính sách
‘‘phân tháp’’ 43 tất cả những người có đạo ngày 05.8.1860 Chính sách ấy như sau:
‘‘Điều 1: Phàm các tín đồ Giatô, bất luận nam phụ lão ấu 44 , kể cả những người đã xuất giáo lâu năm, đều phải phân tháp vào các làng lâu năm, đều phải phân tháp vào các làng lương dân
Điều 2: Làng lương dân phải nhận phân tháp theo tỉ lệ này: Cứ năm người lương phải quản thúc một tín đồ Giatô
Điều 3: Triệt hạ bình địa các làng Giatô
Điều 4: Ruộng vườn nhà cửa tín đồ Giatô đều phải phân chia cho các làng kế cận
41 Nguyễn Thế Thoại, Công Giáo Trên Quê Hương Việt Nam, Lưu hành nội bộ, 2001, trang 182
42 Nguyễn Đình Đầu, Petrus Ký-Nỗi oan thế kỷ, Nxb Tri Thức, 2016, trang 23
43 Phân tháp: Có sách dùng từ ‘‘phân sáp’’ để chỉ chính sách này (Nv)
44 Nam phụ lão ấu: Già trẻ gái trai, ý muốn nói đến tất cả mọi người, không trừ một ai (Nv)
Trang 28‘‘Đang lúc chúng thần khổ cực nơi tù ngục lại nghe tin ở quê nhà phải phân sáp Theo đó, toàn bộ tài sản, đất đai, của nả có giá trị quan bản địa ấy cho lính khiêng
về nhà mình, số còn lại, quan hô hào những người khác tôn giáo hò nhau đến vét nốt…Vài vạn giáo dân bị đẩy khỏi nhà, màn trời chiếu đất, sống chết ra sao Tình nghĩa lân bang xóm làng được gìn giữ bao đời nay theo lệnh quan mà thành thù địch, biết có khi nào trở lại như xưa?’’46
Như thế, việc bách hại đạo của các vua thời Nguyễn đã đẩy người Công Giáo tới sự lựa
chọn nghiệt ngã: Theo vua thì phải chối bỏ đức tin hoặc là giữ lấy đức tin và bị khép vào
tội phản quốc Trước thách đố như vậy, các bậc tiền nhân đã làm gì?
2 Giáo phận Đông Đàng Ngoài
Thành lập từ năm 1679, giáo phận Đông Đàng Ngoài đặt Tòa Giám Mục ở tỉnh Nam.47Trong một thời gian dài, tình hình nội bộ giáo phận gặp nhiều khó khăn nên các hoạt động truyền giáo phần nào bị tê liệt Khi ấy, Bắc Ninh là vùng sâu, vùng xa của giáo phận Đông Đàng Ngoài48 nên rất ít được để ý
Đến năm 1757, Tòa Thánh quyết định trao giáo phận Đông Đàng Ngoài cho tỉnh dòng Đaminh Rất Thánh Mân Côi Nhờ sự tài khéo của các cha dòng Đaminh, nhất là trong cuộc bách hại của các vua nhà Nguyễn, giáo phận được hưởng bình an trong thời gian tương đối
dài Nhiều quan chức không những có thiện cảm với đạo, mà còn kính nể các thừa sai, linh
mục bản xứ, nâng đỡ giáo dân Vì thế, giáo phận tiến triển rất khả quan Số giáo dân lên đến trên 163000 người49 ngay cả khi có chỉ dụ năm 1824 của vua Minh Mạng Đức Cha Delgado Y (+1838) cùng với Đức Cha Henares Minh (1803-1838) đã tận dụng bối cảnh bình an thời Gia Long để tổ chức giáo phận Có thể nói:
‘‘Đây là thời hoàng kim của dòng Đaminh Việt Nam giai đoạn I, vì trong 38 năm, dòng có thêm 66 linh mục (chưa kể 16 vị thế kỷ trước) Cùng với các linh mục triều, giáo phận thường xuyên có trên 50 linh mục cho hoạt động mục vụ Số tín hữu tuy
45 Nguyễn Thế Thoại, Sđd, trang 220
46 Văn Thành, Lời Kinh Bắc, Lưu hành nội bộ, 2015, trang 115 – 116
47 Tỉnh Nam: Gồm tỉnh Nam Định và Thái Bình hiện nay (Nv)
48 X Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt, Sđd, trang 22 - 23
49 Bùi Đức Sinh, Sđd, trang 135
Trang 2928
không tăng nhanh, nhưng được giáo huấn một cách chu đáo hơn Việc thờ phượng được tiến hành công khai, nên các tín hữu cố gắng tu sửa các thánh đường sau nhiều năm bị bỏ bê.’’ 50
Tuy nhiên, chỉ dụ cấm đạo toàn quốc năm 1833 đã có ảnh hưởng rất lớn đối với cộng đoàn Công Giáo Việt Nam nói chung và giáo phận Đông Đàng Ngoài cách riêng Trong ba năm (1838-1840), tài nghệ của tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã phá hủy hầu hết các công trình của Giáo Hội Ngoài nhân sự, ba chủng viện, 22 nhà phước Đaminh, ba nhà Mến Thánh Giá, và trên 1.000 nhà thờ đã bị triệt hạ Gần chúng ta nhất cần nhắc đến là việc bao vây làng Kẻ Mốt năm 1838 Sách Lược Sử Bắc Ninh thuật lại:
‘‘Ngày 29.6.1838, lính đến vây làng Kẻ Mốt bắt được cha Phêrô Nguyễn Văn Tự, thầy giảng Đaminh Uý và ba thanh niên từ chối bước qua Thánh Giá: Âutinh Mới (nông dân, tân tòng), Tôma Đệ (thợ may) và Stêphanô Vinh (tá điền, dự tòng) Thầy giảng Phanxicô Xavier Mậu ở họ Nội gần đó đến huyện Lương Tài để dò hỏi tin tức cũng bị bắt Cả 6 người bị giam ở Bắc Ninh Tháng Bảy năm đó, cụ lương y Giuse Hoàng Lương Cảnh bị bắt tại làng Thổ Hà, tỉnh Bắc Giang, vì rửa tội cho một trẻ nhỏ Cụ Cảnh bị giam cùng với sáu người trước, các vị đã biến nơi lao tù thành nơi loan báo Tin Mừng Cha Tự và cụ Cảnh bị xử trảm ngày 05.9.1838; hai thầy giảng và
ba thanh niên bị xử giảo ngày 19.12.1839 Cả bảy người đã được tuyên thánh Ngoài các vị đó còn có cha thánh Anrê Dũng Lạc, quê gốc Bắc Ninh, làm linh mục giáo phận
Hà Nội, tử đạo tại Hà Nội năm 1838.’’ 51
Đức Cha Hermosilla Liêm (1841-1861), để được Đức Cha Retord tấn phong tại Vĩnh Trị, đã phải giả làm gia đinh, đội nón, bọc râu, xắn quần áo và trét bùn khắp người… rồi chạy theo đuôi ngựa của một lý trưởng Trở về nhà, Đức Cha Liêm liền tấn phong Đức Cha phó Jimeno Lâm Ngài họp các linh mục giáo phận, tu sửa các nhà thờ, nhà phước và các
cơ sở bác ái Đức Cha dời trường Latinh Nam Am về Lục Thủy, và mở trường thần học ở
Mỹ Động, Hải Dương Lễ đại triều kính thánh phụ Đaminh do ngài tổ chức đầu tháng
8-1844 khởi đầu cho tập tục "Lễ Đầu Dòng" (vị thủ lãnh dòng) trong giáo phận sau này Năm
1845, Đức Cha Hermosilla tấn phong Đức Cha phó Marti Gia (+1852)
Năm 1848, Tòa thánh chia khu vực Dòng Đaminh thành hai giáo phận Đông Đàng Ngoài và giáo phận Trung Đàng Ngoài Đức Cha Liêm cùng Đức Cha phụ tá Alcazar Hy coi giáo phận Đông (Hải Phòng, Bắc Ninh và Lạng Sơn hiện nay) với khoảng 45.000 tín hữu Giáo Hội ngày càng bị bách hại nặng nề.52
50 Fx Đào Trung Hiệu, Sđd, trang 141
51 Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt, SJ, Sđd, trang 26
52 X Nguyễn Thanh Thảo, Sđd, trang 159
Trang 3029
Năm 1858, một nửa số thừa sai Đaminh phải tạm lánh qua Macao.53 Đức Cha Liêm ở lại giáo phận bị bắt và chịu xử trảm tại Hải Dương cùng với Đức Cha Valentino Vinh và cha Amato Bình Ít lâu sau, thầy giảng Giuse Nguyễn Duy Khang cũng bị bắt và tử đạo Cha thánh Đaminh Cẩm.OP, người làng ta, đang phục vụ tại giáo phận Trung, cũng được phúc tử đạo tại Hưng Yên năm 1859 Cho tới năm 1862, một trăm vị đầu mục Bắc Ninh cũng dần bị bắt và tử đạo cùng một ngày, có lẽ là điều lịch sử Hội Thánh chưa có
Đức Cha Hilario Alcazar từng viết ngày 25.02.1860 về tình hình giáo phận:
“Cuộc bách hại trở nên dữ dội đến độ, nếu Chúa không gìn giữ, tất cả các họ đạo của chúng tôi sẽ bị tiêu diệt hết Những tai họa mà giáo dân Bắc Kỳ phải gánh chịu thật to lớn không thể tả được Chỉ những điều tôi nhận thấy từ ngày ở đây cũng có thể biên nhiều sổ sách Người giáo dân gặp tai nạn nhiều nhất là anh em trùm trưởng Người ta làm mọi cách để bắt họ chối đạo Người ta sợ ảnh hưởng của họ và sợ họ giục dân nổi loạn để theo Tây Họ bị tống giam, mang gông cùm Họ bị giam giữ bí mật, không xét xử Thẩm vấn không để làm gì hơn là ép bỏ đạo…”
Đất nước và giáo phận đang quằn quại trong cơn biến loạn, Lai Tê thì sao?
3 Giáo điểm Xóm Trại, xã Lai Xá Tây
3.1 Trộm cướp thôn Lường Xá
“Sự giặc giã ở đất Bắc thì từ năm Minh Mạng thứ hai (1822) trở đi Thỉnh thoảng
ở các trấn vẫn có những giặc cỏ quấy nhiễu ở các châu huyện Còn những giặc có thanh thế to mà quan quân phải đánh dẹp khó nhọc thì có Phan Bá Vành khởi ở Nam Định, Lê Duy Lương khởi ở Ninh Bình và Nông Văn Vân khởi ở Tuyên Quang. ” 54 Đôi dòng trên của nhà sử học lừng danh Trần Trọng Kim phần nào cho thấy hiện tình miền Bắc Việt Nam đầu thế kỷ XIX
Sách Dòng Đaminh Trên Đất Việt có đoạn:
“Dưới triều Gia Long, nói là Giáo Hội được hưởng thái bình lâu dài, nhưng thực
sự luôn bị đe dọa bởi những rối loạn nổi lên nhiều nơi Năm 1808, một số người ở xứ Bắc bất mãn với triều Nguyễn, đã vùng dậy chống nhà vua nhưng không thành Họ kéo nhau từng đoàn, từng đội đi cướp phá, khiến nhân dân nhiều người đói khổ; trong khi đó, quan quân nhà Nguyễn thẳng tay đàn áp những quân phiến loạn Những tai biến xảy ra ngay trên đất địa phận Dòng Đaminh.” 55
Quả thế, cách Lai Xá Tây không xa về hướng Tây Nam, giặc Tổng Lường nổi lên đánh phá nhiều dân xã trong vùng Hầu hết các xã phải vũ trang tự vệ và Lai Xá Tây cũng không
53 X Đào Trung Hiệu, Sđd, trang 142
54 Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Nxb Văn Học, 2017, trang 353
55 Bùi Đức Sinh, Sđd, trang 122
Trang 3130
ngoại lệ Giặc kéo đến quấy nhiễu nhiều lần nhưng nhờ sự đoàn kết tương trợ của các làng xóm trong xã mà thiệt hại không đáng kể Tuy nhiên, vì một chút hiểu lầm, đố kỵ mà có người ở Xóm Tây dẫn đám giặc về cướp phá Xóm Trại Họ phá tan nhà thờ và nhà chung, bắt một số người và cướp đi không ít đồ đạc của cải Thật may mắn là kiệu vàng đã được giấu từ trước ở một nơi kín đáo nên được an toàn
Sau đó ít lâu, giặc Tổng Lường cho người sang xin lỗi mà rằng: Vì đã trót nghe lời
người làng ấy mà đến quấy phá nhà thờ; nay xin đền trả ít nhiều Nhờ vậy, bà con Xóm
Trại cùng nhau góp công góp của dựng lại nhà thờ Các sinh hoạt của xóm đạo lại trở nên sôi động như xưa
3.2 Đối diện với việc cấm đạo
Như trên đã kể, việc vua Minh Mạng ra chỉ dụ cấm đạo trong toàn quốc ngày 01.6.1833
có ảnh hưởng rất lớn trên Giáo Hội Tuy nhiên, trong bức thư đề ngày 18.5.1835, thừa sai Maison viết:
“Trong các nơi đó, các người ngoại dùng đủ cách để sách nhiễu moi tiền người Công Giáo hoặc bắt họ phải đóng góp cho việc cúng tế các thần… Nhiều khi số tiền đòi hỏi quá lớn và chúng tôi không thể thỏa mãn lòng tham lam của họ Bấy giờ người Công Giáo không còn cách nào khác hơn là bỏ làng đi nơi khác Thật nhiều người đã can đảm lựa chọn giải pháp đau đớn ấy, chấp nhận những hy sinh lớn lao, vì thà mất hết mọi sự hơn là liều mất đức tin.” 56
Quả vậy, trong Tổng Lương Xá, các quan lại ra sức lùng bắt các linh mục để được lãnh thưởng, tìm nhiều cách để triệt phá các nhà thờ và tiêu huỷ các đồ đạo Không chỉ có thế, các quan còn bắt toàn dân phải theo đạo Phật và tham gia tế tự chung hàng xã
Trước tình thế khó khăn ấy, giáo dân Xóm Trại đã phải tháo dỡ nhà thờ và chờ đợi đến dịp thuận tiện thì dựng lại, đồng thời đem chôn giấu các đồ đạo, đặc biệt là kiệu vàng bát cống Tuy nhiên, việc tế tự Bụt thần mới thật là rắc rối Truyện kể rằng: Một nhóm đàn anh57 trong Xóm phải lên trình quan cho tế tự riêng theo làng xóm và thờ cúng thần mà mình tin Quan trên đồng ý nhưng lại yêu cầu phải thực hiện lệnh vua; nghĩa là phải dựng
chùa ngay trong xóm, đồng thời rước sớ ông thần tên Cường Bạo Đại Vương về thờ
Đúng là tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa Sau cùng, vì quá bí bách và yếu thế, Xóm Trại phải nhờ
người ngoại đạo xóm Tây lên rước sớ về cho qua lần qua lượt Được ít lâu, quan lại đòi phải lên rước tượng thần về thờ
56 Nguyễn Thế Thoại, Sđd, trang 114
57 Đàn anh: Đầu mục, thứ mục tương đương với Ban Hành Giáo ngày nay (Nv)
Trang 32Năm 1851, cha già Đoan về coi sóc mục vụ Ngoài những sinh hoạt thông thường của
họ đạo, cha còn mời các văn nhân, tú tài đến để trao đổi và cắt nghĩa sự đạo, ngõ hầu có thể mở mang sự đạo mỗi ngày một sáng hơn Thấy đoạn uốn khúc sông Bùi mỗi ngày một
ăn sâu vào khu vực nhà chung, cha đã vận động giáo dân trong vùng cùng nhau đào một đoạn sông mới để điều chỉnh dòng chảy, đồng thời đắp một con đê song song để bảo vệ hai bên bờ Công việc ấy đã hoàn thành tốt đẹp Sau này, người ta đắp bồi thêm cho bờ đê bên
tả để tạo thành đoạn đường từ ngã tư Ông Sung cho tới nhà ông Nhất Tám và kéo dài tới nhà Bà Năm bây giờ Đoạn uốn khúc ấy trở thành một cái hồ lớn bên cạnh nhà chung và hiện đang được sử dụng như lá phổi của làng
Thành công trong việc đê điều, Cha Đoan lại tiếp tục quan tâm đến việc dẫn thuỷ nhập điền cho cánh đồng Con Voi bằng việc đào cừ Lẫm Công việc này được khởi sự năm
1855 Tuy nhiên, những người ngoại giáo trong vùng cho rằng: Việc làm này gây “đoản
thương long mạch” và kiên quyết ngăn cản Họ kéo nhau ra nằm dài trước lưỡi mai để gây
sự Đây là va chạm không nhỏ giữa bên lương và bên giáo Sau cùng, xóm Trại kiên quyết bắt trói những ai ngăn cản rồi báo quan Nhận ra những ích lợi to lớn mà công việc này mang lại cho mùa màng, quan cho phép tiếp tục đào cừ Nhờ đó mà trong suốt bao năm, cừ Lẫm đã mang lại những mùa màng bội thu cho dân làng
Cuộc sống tưởng chừng như thanh bình êm ấm Ngờ đâu, đó là khoảng thời gian yên lặng cần thiết trước khi bão táp nổi lên Kể từ những năm cuối của thập niên 50 của thế
kỷ XIX, các chiếu chỉ bách hại đạo liên tục bay tới Liệu một giáo điểm nhỏ lẻ kia có thể đứng vững? Các bậc tiền nhân đã làm gì để gìn giữ đức tin? Người viết xin được ghi lại hành trình thánh Đaminh Cẩm và mười sáu chứng nhân đức tin anh dũng đã đi như bảo chứng đức tin của giáo điểm này
Trang 33là cụ cố Sinh, người Lai Xá Tây, thuộc chi nhà cụ Nho Mồ côi cha từ nhỏ, cậu Cẩm theo
mẹ về quê ngoại ở Xóm Trại, xã Lai Xá Tây, tổng Lương Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh sinh sống
Từ tấm bé, cậu Cẩm tỏ ra là người có tài trí thông minh, sắc sảo Cậu được gửi vào nhà Đức Chúa Trời, ở với Cha già Lễ Sau này, cậu được theo học ở những lớp cao hơn Mãn khoá thần học, thầy Cẩm lãnh nhận thừa tác vụ linh mục tại làng Cao Tựa, tỉnh Nam Định và chẳng lâu sau, Cha gia nhập Dòng Ba Đaminh Cha rất nhiệt thành với sứ vụ tông
đồ và được các bề trên cũng như mọi người quý mến
Năm 1848, Toà Thánh chia giáo phận Đông Đàng Ngoài thành hai giáo phận là giáo phận Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng) và giáo phận Trung Đàng Ngoài (Bùi Chu) Mặc
dù Cha là người Bắc Ninh, thuộc giáo phận Đông, song Cha được mời gọi phục vụ tại Hà Lạng,59 giáo phận Trung Đàng Ngoài
Tại đây, khi cuộc bách hại trở nên gay gắt hơn dưới triều Tự Đức (1847 - 1883), Cha phải lang thang hết nơi này đến nơi khác, vừa đảm bảo an toàn cho mình, vừa chăm lo mục vụ cho bà con giáo dân Đặc biệt, ‘‘dù đang ở nơi nào, mỗi khi trách nhiệm mục vụ
đòi hỏi, cha đều sẵn sàng lên đường đến bất cứ nơi đâu, kể cả đi vào vùng có nguy cơ bị bắt bớ, bách hại.’’ 60
Trong dịp này, cha có ghé về quê hương Lai Tê thăm dân làng Ở được ít lâu, cha nhận được thư của Đức Cha gọi người trở lại giáo phận Hay tin ấy, bà con dân làng kéo đến chật kín nhà cha Mọi người đều đồng loạt khuyên can cha đừng trở về vì trong đó
đang cấm đạo ngặt lắm Tuy vậy, cha bình tĩnh mà trả lời rằng: Phải vâng lời Bề Trên cùng
vâng theo Thánh Ý Chúa
Đầu năm 1859, khi cha về tới Hà Lạng, một người nhận diện cha và đi báo quan Quan quân liền đến vây bổ làng và bắt cha giải về thị xã Hưng Yên ngày 21.01.1859
Trang 3433
Trước mặt quan tuần phủ, cha Đaminh Cẩm không chút sợ hãi khi nhận mình là linh mục Công Giáo và sẵn sàng chấp nhận mọi hình khổ, chớ không chà đạp thánh giá Sau nhiều lần khuyến dụ và hăm dọa không đạt kết quả, quan Tuần Phủ ra lệnh nhốt vào cũi chật hẹp nhiều ngày Thỉnh thoảng chúng dìm cha xuống nước rồi lại kéo lên phơi nắng Thật là khổ nhọc mọi đàng
Tuy nhiên, trong thời gian bị giam, phong thái và đức độ của cha Cẩm đã khiến lính canh dần dần được cảm phục Vì vậy, theo thời gian, họ đối xử dễ dãi hơn và cho phép nhiều bổn đạo tới thăm nom và chăm sóc cha mỗi ngày Noi gương thánh Tông Đồ Phaolô,
dù trong tù nhưng cha vẫn tiếp tục rao giảng Tin Mừng và khuyên nhủ mọi người trung thành giữ vững đức tin; hết lòng tin tưởng và phó thác nơi Chúa Thời gian bị giam cầm, cha cũng gửi gắm nỗi lòng qua đôi dòng tâm sự:
‘‘Chỉ xin cho cả dân làng Được đầy ơn Chúa, dân làng bình an Cầu cho trong họ ngoài làng
Mở đàng công chính kẻo còn u mê.’’ 61
Có các bổn đạo làm người liên lạc, nhiều lần cha viết thư cho Đức Cha Valentino Vinh, giám mục địa phận, bày tỏ lòng trung kiên với Đức Kitô và khao khát được phúc tử đạo Đức Cha đã cử cha Hương vào thăm và giải tội cho cha ngày 30 tháng 01 năm 1859 Trong một bức thư bằng Tiếng Việt gửi đi Ma-cao, Đức Cha Valentino Vinh viết ở hầm trú Hương La, có đoạn:
“Lại ngày 20 tháng januarii 62 cụ Cẩm phải bắt tại hà lạng có một thằng tố tử các quan rằng có cụ ẩn tại hà lạng, đã điệu lên tỉnh hưng yên, tôi cũng đã lo liệu cho một
cụ vào giải tội cho thì tối ngày 30 tháng trước cụ Hương vào làm phúc, việc ấy đã xong rồi Xin Đức Cha và các đấng cầu xin cùng Đ.C.B. 63 soi sáng mở lòng cho ông Cẩm được ăn năn đền tội kêu van giở về cùng Đ.C.B cho vững Tôi cũng nghe nói rằng: quan án thết đãi cụ Cẩm hẳn hoi.” 64
Ngày 11.3.1859, cha Đaminh Cẩm tỏ ra hân hoan vui sướng khi nhận được bản án trảm quyết Pháp trường đặt tại Bến Đá,65 tỉnh Hưng Yên, bên bờ sông Hồng Trên đường
ra pháp trường, cha hiên ngang như người chiến sĩ khải hoàn Bà Maria Huệ (cụ Tuất), một
giáo dân có mặt trong giờ hành quyết đã làm chứng: Khi tới nơi xử, cha quỳ gối cầu
nguyện một lát, rồi vui vẻ làm hiệu cho lý hình thi hành phận sự.Cũng có chỗ ghi lại lời
61 Thơ về Thánh Cẩm – sưu tầm (Nv)
62 Januarii: Tháng 1 (Nv)
63 Đ.C.B: Viết tắt của chữ Đức Chúa Blời, tức là Đức Chúa Trời (Nv)
64 Bùi Đức Sinh, Sđd, trang 292
65 Bến Đá: Nay là Bến Đá, đường Bãi Sậy, phường Quang Trung, tp Hưng Yên (Nv)
Trang 3534
nói của cha với lý hình sau khi cầu nguyện: Hãy chém cho ngon để đầu của tôi rơi xuống
đất mau lẹ Thế nhưng vì quá lo lắng, lý hình vung gươm chém cha ba nhát mà đầu vẫn chưa đứt Họ phải dùng gươm mà cứa đi cứa lại nhiều lần, đầu cha mới lìa khỏi cổ Ông Chánh Thanh (tức ông Uyên), là bà con họ hàng với cha, có giữ được chiếc khăn niệm và sợi xích làm kỷ vật Mỗi lần mở ra đều thấy có hương thơm đặc biệt Theo thời gian, chiếc khăn niệm đã được chia ra cho nhiều người giữ, mỗi người một ít Hiện nay, ông Chánh Tú
và Ông Chánh Đảng còn giữ được một phần chiếc khăn niệm này và làm chứng Các phần
kỷ vật còn lại được mang vào miền Nam năm 1954 và hiện nay người viết chưa xác định được ở đâu
Ngày ấy, cụ Tuất và một số người thuộc chi họ của cha, người Lai Tê, mang theo ít tiền bạc và 10 vuông vải đượng để niệm xác Nhờ khéo léo dàn xếp với quân lính thông qua bà Mạnh Gian, cụ Tuất đã lấy được thủ cấp của cha cho vào bị của mình và mang về
Đi được quãng xa thì họ phải chạy vì lo sợ rằng quân lính sẽ đuổi bắt
Trên đường trở về, bà Tuất và mọi người chạy qua sông Cậy lúc nào chẳng hay Theo lẽ thường, họ phải đi qua sông ấy bằng đò Cậy,66 nhưng bằng cách nào đó, họ đã vượt sông
mà không cần đò Nhiều người tin rằng đó là sự lạ mà Chúa ban cho để đem được thủ cấp của cha về nhà bình an Về sau, bà con thân thuộc mới trở lại Hưng Yên để chuộc thân thể người Tất cả thủ cấp và thân thể người đều được an táng tại khu đất sân nhà thờ thứ hai của Lai Tê Khi xây dựng nhà thờ thứ ba, giáo họ đã cải táng và đặt hài cốt của cha ở gian thứ ba của nhà thờ này
Ngày 27-29.3.1940, cha Giuse Nguyễn Đức Huấn đưa hài cốt của cha Đaminh Cẩm cùng 16 vị chứng nhân đức tin lên táng tại ở gian thứ hai của nhà thờ thứ 4 cũng là ngôi thánh đường hiện nay Khi ấy, có những người chứng sau:
1 Cha D Kỳ Judex subdelegatus
2 Cha D Đức Promotor fidei
3 Thầy Phêrô Tịch và thầy Joseph Tuyển làm chứng
4 Cha Joseph Huấn sacerdos amanuensis
5 Và một số người khác nữa
Thứ tự phần mộ được đặt từ phải sang trái theo hướng nhìn lên cung thánh, tức là tính
từ bên Tòa Thánh Phanxicô sang bên Tòa Thánh Giuse, bắt đầu từ Thánh Đaminh Cẩm Phía trên phần mộ từng vị được đánh dấu bằng viên gạch chỉ, trên mặt viên gạch này có thích chữ để ghi nhớ
66 Đò Cậy: Bến đò thuộc khu vực gần Lai Cách, Cẩm Giàng, Hải Dương (Nv)
Trang 3635
Ngày 29.4.1951, Đức Thánh Cha Piô XII suy tôn cha Đaminh Cẩm cùng 24 vị khác lên bậc chân phước Ngày 19.6.1988, Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc hiển thánh Hiện nay, hài cốt cha Thánh Đaminh được tôn kính ở dưới bàn thờ, trong gian cung thánh nhà thờ Lai Tê Năm 2015, cha xứ Đaminh Nguyễn Xuân Hùng và
bà con giáo dân đã xây dựng và khánh thành Đền Thánh Đaminh Cẩm trong khuôn viên giáo xứ
Truyện kể rằng: Năm vua tự Đức bát niên,68 ông Lý Ngọc đi báo quan và dẫn quân binh
về xóm bắt đạo Kể từ ấy, nhiều chuyện lộn xộn xảy ra trong xóm do việc bắt bớ Đạo Một ngày nọ, vào khoảng canh tư,69 đang khi Cha già Đoan dâng lễ ở nhà ông Khoát, quan
quân ồn ào kéo đến bủa vây cả xóm Bấy giờ, dân làng liền tri hô “Cướp đến lấy của đốt
nhà” để đánh phá vòng vây và đưa cha thoát khỏi Vì biết rằng sẽ chẳng thể làm gì được
nữa sau cơn biến loạn vừa xảy ra, quân lính bèn kéo nhau ra ngoài đồng, bủa vây mọi đường đi lối lại Vừa tảng sáng, chúng tập trung dân làng để điểm mặt Nhờ có người chỉ điểm, họ bắt được ba chú giúp lễ đang ở trong xóm là chú Thư, chú Tư và chú Trịnh Ba chú là con Cha già Đoan, quê ở Nam Định Sau đó, chúng cũng tìm được và thu luôn cả Kiệu Vàng Ông Lý Hạnh là Lý Trưởng năm ấy và ông Khoát là gia chủ cũng bị bắt cùng Tất cả là năm người bị bắt và giải ra đình Thanh niên nam nữ tranh nhau khênh kiệu vàng
ra đình để lấy công Sau khi công bố tội trạng, họ giải tất cả lên Phủ Thuận An Sau ba ngày bị giam giữ ở Phủ, họ được giải lên tỉnh Bắc Ninh
Sau đó, ông trùm Trại đi theo lên tỉnh để xem xét tình hình Dân làng chạy theo ra đồng khóc lóc, cứ ngước trông theo cho tới khi chẳng thấy mới trở về Vừa đến tỉnh, ông trùm Trại bị thám báo là đầu mục và bị bắt giam cùng với mấy vị trước
Trước đó, tháng 10 năm 1859, vua Tự Đức ra dụ cấm đạo với nội dung: Ai bắt được đạo
trưởng hoặc đầu mục sẽ được thưởng tiền bạc hoặc quan tước.Ngay tức khắc trong toàn tỉnh, những nơi có người theo đạo đều nhận được lệnh rằng: Các đầu mục phải lên huyện đường trình diện Ở Xóm Trại, ông Đaminh Hưởng và ông Đaminh Đỉnh, đang làm lý trưởng, đến trình diện quan Phủ thì bị bắt, giam tại Phủ Thuận An
67 Nội dung phần này, người viết dựa theo các nguồn chính:
1 Px Bùi Quang Đa,Tiểu Sử Làng Lai Tê, bản thảo, 1999
2 Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt, SJ, Các Thánh Tử Đạo Giáo Phận Bắc Ninh,lưu hành nội bộ, 2010
3 Đinh Đồng Phương, Giáo phận Bắc Ninh, lưu hành nội bộ, 1993
4 Bùi Đức Sinh, Dòng Đaminh Trên Đất Việt, quyển 1, Sài Gòn,1993
68 Năm Tự Đức bát niên: Năm 1856 Vua Tự Đức nắm giữ vương quyền từ năm 1848 đến năm 1883 (Nv)
69 Canh tư: Khoảng từ 1 - 3 giờ sáng Theo bài Trường Ca Tử Đạo của ông trùm Trại, đó là canh tư, ngày 02
tháng 3 năm 1960 (Nv)
Trang 3736
Tháng 12 năm 1959, quan phủ, huyện đã giải đầu mục các họ đạo lên Bắc Ninh Bị giải lên Bắc Ninh, không chỉ có hai vị ở Xóm Trại mà đông đảo các đầu mục, thứ mục trong toàn tỉnh và vùng lân cận.70 Tại đây, họ được đưa tới công đường, nơi có ba vị quan tòa xét
xử Họ đã đặt sẵn tượng chịu nạn, ảnh Đức Mẹ hoặc ảnh Thánh Tôma ở đó để cho những
ai chối đạo bước qua
Đầu tiên, viên chánh án nói với các đầu mục: “Này đây chiếu chỉ vua đã ra, các ngươi
hãy quá khóa, ta sẽ tha cho các ngươi về với vợ con”
Những đầu mục đứng hàng trên thay mặt cho tất cả, thưa với quan chánh án: “Bẩm
quan lớn, chúng tôi theo đạo Chúa Giêsu do tổ tiên truyền lại, chúng tôi không dám bước qua Thánh Giá”
Thế là viên chánh án ra lệnh cho những tên lính đứng gần đó, khoảng chừng 50 người,
hỏi từng đầu mục một: Ai muốn quá khóa, ai không?
Ai được hỏi vậy mà trả lời không muốn liền bị viên chánh án mắng: “Ngươi trả lời như
thế sao? Ta sẽ sai lính về phòng điều tra đem roi và cọc tới đây”
Theo lệnh ấy, lính dẫn các đầu mục đi thẳng vào trại giam
Mười đầu mục được tách riêng ra, rồi mỗi lần năm người một bị lính bắt nằm sấp mặt xuống đất, hai tay, hai chân bị trói vào cọc đã đóng sẵn, bị đánh bằng những gậy đầu bịt tua, một phần để khỏi nát thịt hay gãy xương, phần khác để cho bị ngấm đòn đau hơn
Quan ra lệnh đánh đòn những ai không chịu bỏ đạo, cứ sau năm trượng lại hỏi: “Có
chịu quá khóa không?” Có mấy người chịu đòn đau quá nên bước qua ảnh tượng để
được tha Những người trung thành lại bị đánh tiếp năm trượng nữa, rồi lại được yêu cầu quá khóa
Qua năm hay sáu lần, nhiều đầu mục vẫn không chịu nghe quan mà chối đạo, lại còn tuyên xưng đức tin nữa Thấy không sao lay chuyển được các vị đầu mục, quan truyền đánh mỗi người sáu mươi trượng
Mười đầu mục trung thành với Chúa được quan cho đứng bên phải, còn những người yếu tin thì đứng bên trái Với mười người khác được coi như đầu mục, lính cũng tra khảo như vậy và bị đánh nhừ tử
bị chém, một số người bị đâm, đa số bị xô xuống hố và bị chôn sống, hôm sau lính cho voi đến dẫm lên để
chắc chắn tất cả đều chết” (x Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt, Sđd, tr 28-29)
Trang 3837
Các ông Phêrô Bình, Mátthêu Ba, Đaminh Canh, Tôma Phụng, Gioan Khải là những
người chứng kiến những điều trên và đã làm chứng: “Lần thẩm vấn thứ nhất này, chỉ đầu
mục làng Phượng Mao là ông Phêrô Hạt và Phêrô Tần không bị đánh đòn vì quen thân với lính Ông lang Nicôla Nghĩa, người Cẩm Đường, cũng không bị đòn vì đang lao dịch và cũng có quen biết với quan đầu tỉnh Đông, tức tỉnh Hải Dương.”
Hôm ấy là ngày 18 tháng 12 năm 1959 Thẩm vấn xong, tất cả đều bị giam vào ngục cùng mang gông nặng, riêng những người đã bước qua thánh giá thì được giam ở một nơi khác
Ba hôm sau, các vị lại bị điệu ra tòa Giống như hôm trước, ảnh tượng đã đặt sẵn ở ngưỡng cửa vào tòa án, còn thánh giá thì được vẽ trên đất Nhìn thấy thánh giá, những vị đi
đầu liền lấy tay xóa đi Vẫn câu hỏi cũ: Có bước qua thánh giá hay không? Và câu trả lời vẫn vậy: Chúng tôi không dám bước qua Thế là họ bị đánh dòn dữ tợn Cứ đánh năm
trượng lại hỏi một câu như vậy Sau một hồi, có những người đã bước qua thánh giá, còn những người vững vàng thì tiếp tục bị đánh Cứ như vậy cho tới chừng bốn mươi trượng Điều này các ông Đaminh Canh, Phêrô Bình, Tôma Phụng và Gioan Khải biết thật như vậy
và làm chứng
Hôm sau, quan án sát truyền dẫn các đầu mục tới công đường Khi các đầu mục bước vào, chúng tôi chỉ biết một số đầu mục thuộc địa sở Gia Bình và Lương Tài còn một số khác thì không biết đến từ đâu Vừa bước vào, quan liền truyền bước qua thánh giá để được tha Họ không chịu nghe Lập tức, quan truyền đánh đòn, cứ sau năm trượng lại hỏi:
“Ai muốn quá khóa?” Mấy người bị đòn đau quá thì chối đạo và được tách khỏi những
người khác; còn những người không chịu bước qua thì bị đánh tới bốn mươi trượng rất tàn nhẫn Cuối cùng, tất cả đều bị giam và những người chối đạo thì giam riêng Ông Nicôla Nghĩa không bị đòn vì đau ốm Lúc những người này vừa rời khỏi công đường thì nhiều đầu mục ở địa phương khác được dẫn vào Những người mới đến hỏi những người đang ra:
“Các bác kỳ này thi đỗ hết chứ?” Và câu trả lời: “Chúng em đỗ cả.” Ông Gioan Khải và
Tôma Phụng chính mắt trông thấy những điều trên và đứng ra làm chứng
Những người vào công đường đợt sau được quan án sát khuyên làm điều sai quấy:
“Hãy quá khóa để khỏi bất trung và bất hiếu với cha mẹ Không quá khóa là bất trung và bất hiếu với cha mẹ, vì xương thịt các ngươi là do cha mẹ mà có Nếu hủy hoại đi, các ngươi phạm tội bất hiếu rất lớn đối với cha mẹ” Nói như vậy vì quan nhớ lại lời đáp đầu
tiên của các đầu mục trong lần tra hỏi trước; họ đã nói: “Cha mẹ chúng tôi có phần riêng,
chúng tôi có phần riêng” Sau hết quan án sát nói: “Đêm đã khuya, cho các ngươi lui”
Trang 39truyền cho họ bước qua ảnh tượng nhưng câu trả lời vẫn là “chúng tôi không dám” Viên
chánh án ra lệnh cho lính lôi năm người ra, lọc xuống đất mà đánh, rồi đến năm người khác
và cứ như vậy cho đến hết Mỗi hồi đánh năm trượng, xen vào đó là bốn hay năm lần hỏi
có chịu bỏ đạo không Một vài người vì đau quá mà bước qua thánh giá Còn những người quan không lay chuyển được thì cho lính đánh đến năm mươi trượng rất tàn nhẫn Ông Đaminh Canh, Tôma Phụng và Gioan Khải được trông thấy tận mắt những điều trên đây và làm chứng đúng như vậy
Trong lần tra hỏi này, quan lớn nói với ông Giuse Khắc rằng: “Ngươi dại quá Hãy quá
khóa, không thì chết.” Ông Giuse Khắc không chút bối rối thưa lại rằng: “Xin quan lớn cứ giết cả hai cha con chúng tôi” Viên chánh án nói: “Không giết các ngươi làm gì, nhưng đánh cho nó chết rồi quăng ra ngoài thành” Ông Đaminh Canh đã nghe được điều này vì
lúc ấy ông có mặt ở đó Lần này, ông Nicôla Nghĩa, Giuse Mát và Phêrô Hiệu được quan tha không đánh đòn vì cáo ốm Ông Gioan Khải, người quen dùng giấy khi làm chứng đã theo yêu cầu của những người ốm đau xin lính trình lên quan để được tha đánh đòn, chứng thực là như vậy
Sau lần tra hỏi trên, mọi người lại được dẫn về ngục Vì bị đánh đòn rất dã man nên nhiều đầu mục bị rách da trên đầu, vết thương rất thối nên lính la lối ầm ĩ Ông Đaminh Canh, Tôma Phụng và Gioan Khải làm chứng như vậy
Ngày 26 tháng ấy, viên chánh án cùng với hai quan lớn ngồi trên tòa truyền điệu đầu mục các xứ tới công đường Tại đây đã đặt sẵn tượng Chúa chịu nạn, ảnh Đức Mẹ hay ảnh thánh Tôma và nhiều gậy Nhiều người không đi được vì những lần tra hỏi trước bị đánh đau quá, lại có nhiều vết thương nên lính phải dùng cáng mà khiêng Quần áo họ tơi tả Nhiều người khác, lính phải dìu đi Những người đi trước thấy dấu hiệu ơn cứu chuộc được
vẽ ngay ở ngưỡng cửa đã cố xóa hết rồi mới bước vào đứng trước các quan lớn Viên chánh án cho đánh đòn và cứ sau năm trượng lại lệnh cho lính bắt các đầu mục bỏ đạo Một số người đã không chịu được những loạt đòn độc ác nên đã không giữ được lòng trung thành Những người khác bị đánh đến năm mươi trượng mà vẫn trung thành tuyên xưng đạo thánh Sau hết, không lay chuyển được họ, các quan truyền giam những người này vào chung một ngục Vì bị tra tấn rất dã man nên có nhiều đầu mục không thể tự đi được; lính
Trang 4039
phải dìu hoặc khiêng họ đi Những vết thương ngày một nặng hơn và hôi thối hơn nên lính
kêu ca cằn nhằn “hôi thối không chịu được” Vì đạo Chúa, họ sẵn sàng chịu như vậy và bị
giam lâu ngày nhưng mặt họ luôn hớn hở và lòng họ thì vững vàng Họ vui vẻ khích lệ nhau và sốt sắng đọc kinh Mân Côi Ông Đaminh Canh, Tôma Phụng và Gioan Khải đã làm chứng những điều trên đây là thật Ông Gioan Khải xác nhận: Trong lần tra hỏi này, hai ông Nicôla Nghĩa và Đaminh Sử không bị đánh đòn vì đau ốm
Trở lại chuyện Xóm Trại, sau khi thu được kiệu vàng, bắt ba chú giúp lễ cùng gia chủ
là ông Khoát và Lý Trưởng là ông Hạnh, ông Lý Ngọc và những người liên quan được thưởng hậu hĩnh Tưởng mọi chuyện tạm yên lành, ai ngờ ông Lý Ngọc cùng bọn thám báo cứ quanh quẩn rình rập Lâu lâu, người ta lại kéo quân lính vây bắt và cướp phá làng xóm Hai lần vây bắt tiếp theo, họ đã bắt được tám ông kỳ mục là những người có thế giá trong làng mà giải về tỉnh, giam chung với những người trước Như vậy, cho tới lúc này, tổng cộng Xóm Trại bị bắt mười sáu vị Đó là các ông Đaminh Hưởng, Đaminh Đỉnh, Ông lý Hạnh, Ông Khoát, ba chú giúp lễ, ông trùm Trại và tám vị kỳ mục, thứ mục Tất
cả được nhập vào số những đầu mục, thứ mục bị bắt giam vào tháng 12 năm 1859 tại tỉnh Bắc Ninh
Sau bốn hay năm tháng trong tù ngục tỉnh Bắc Ninh, vì những thương tích do những trận đòn khó lành được nên các quan lựa những đầu mục chính bắt giam riêng, cho lính canh gác và mong lấy những lời ngọt ngào mà lay chuyển lòng kiên nhẫn của họ, nhờ đó
mà những người khác sẽ theo gương họ mà bỏ đạo chăng Bởi vậy, bảy đầu mục là ông Nicôla Nghĩa, Gioan Hậu, Giuse Phác, Tôma Vang, Gioan Linh, Gioan Hai Phác và Gioan
Ổn bị dẫn tới công đường và bị ép phải bước qua thánh giá Quan hứa rằng ai tuân lệnh sẽ được tha về nhà với vợ con Tuy nhiên, tất cả đều chống lệnh, nên phải no đòn với năm mươi trượng tàn bạo Ghi lại điều này, ông Gioan Linh viết:
‘‘Giam riêng một số phân minh Bảy người thượng hạng đàn anh trong làng
Là ông lang Nghĩa Cẩm Chương Thiết Nham Cai Ổn, trùm Hai Sen Hồ Cha con lang Hậu Xuân Hòa Lai Tê trùm Trại 71 cùng là Lý Vang Trẻ chẳng tha già chẳng thương
Cố tra hết sức họa là bước chăng Quan thì có ý nghĩ rằng
71 Trùm Trại là ông Gioan Linh và con trai ông là Gioan Phác tức Lý Vang, người Lai Tê (Nv)