1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ VỀ CHĂM SÓC NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI KHOA KHÁM BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ

56 210 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG ĐA KHOA MÃ SỐ: 51720501 KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ VỀ CHĂM SÓC NHIỄM KHU

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG ĐA KHOA

MÃ SỐ: 51720501

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA

BÀ MẸ VỀ CHĂM SÓC NHIỄM KHUẨN HÔ

HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI

KHOA KHÁM BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Ths NGUYỄN THỊ HỒNG NGUYÊN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG ĐA KHOA

MÃ SỐ: 51720501

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA

BÀ MẸ VỀ CHĂM SÓC NHIỄM KHUẨN HÔ

HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI

KHOA KHÁM BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Ths NGUYỄN THỊ HỒNG NGUYÊN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tiểu luận tốt nghiệp cử nhân điều dưỡng đa khoa niên khóa 2013 – 2017

em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:

Ban Giám Hiệu Trường Đại học Tây Đô cùng toàn thể quý thầy cô đã giảng dạy, truyền thụ cho em những kiến thức bổ ích trong suốt 4 năm học vừa qua

Ban Chủ Nhiệm, quý thầy cô trong khoa Dược – Điều Dưỡng

Thư viện Trường Đại học Tây Đô

Các cán bộ nhân viên Khoa khám Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Cần Thơ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em trong quá trình thực hiện và hoàn thành tiểu luận tốt nghiệp này

Đặc biệt em xin gửi lời cám ơn chân thành, sâu sắc nhất đến cô Nguyễn Thị Hồng Nguyên – người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện tiểu luận

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã dành nhiều tình cảm động viên và tạo điều kiện thuận lợi giúp em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành tiểu luận

Cuối cùng xin cảm ơn tất cả các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đã đồng ý tham gia vào cuộc khảo sát để em có được những số liệu khách quan và chính xác nhất cho tiểu luận này

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Hồng Gấm

Trang 4

LỜI CAM KẾT KẾT QUẢ

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả thu

thập được trong tiểu luận là trung thực Đề tài của tôi chưa từng được ai công bố trong

bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Sinh viên

Nguyễn Hồng Gấm

Trang 5

TÓM TẮT

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là bệnh thường gặp ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, trong đó chủ yếu do viêm phổi Tỉ lệ mắc bệnh cao và là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tử vong ở trẻ em tại các nước đang phát triển Dù hiện nay chương trình phòng chống NKHHCT đã được triển khai áp dụng và mở rộng

ở nước ta từ năm 1984 Nhưng hàng năm, NKHHCT vẫn còn là nguyên nhân có số lần mắc và tử vong khá cao ở trẻ em dưới 5 tuổi Nhận thức ra tầm quan trọng của bệnh NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Khảo sát kiến thức, thực hành của bà mẹ về chăm sóc Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại Khoa khám Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Cần Thơ năm 2017” với các mục tiêu hướng tới là: “Tìm hiểu kiến thức của bà mẹ về Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi” và “Tìm hiểu thực hành của bà mẹ về chăm sóc Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi”

Với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Khoa khám, Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Cần Thơ, năm 2017 với 50 mẫu ngẫu nhiên đơn Đượ các kết quả như sau:

Có 68% bà mẹ đã được nghe về bệnh NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi Có 74% bà mẹ nhận biết được biểu hiện trẻ khi mắc bệnh NKHHCT Có 78% bà mẹ đồng ý rằng bệnh NHHCT là bệnh viêm phổi Khi nhà có trẻ dưới 5 tuổi bị mắc NKHHCT có 84%

bà mẹ đưa trẻ đi bệnh viện khám Có 74% bà mẹ thay đổi chế độ sinh hoạt, ăn uống khi trẻ mắc bệnh NKHHCT Có 62% bà mẹ biết cần phải làm gì để phòng ngừa NKHHCT cho trẻ dưới 5 tuổi Có 96% bà mẹ cho rằng cán bộ y tế là nguồn thông tin đáng tin cậy để có thể tin và làm theo trong việc phòng ngừa cũng như chăm sóc trẻ bị NKHHCT

Nghiên cứu được tiến hành nhằm tìm hiểu tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành chăm sóc bệnh NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi Từ kết quả nghiên cứu này sẽ có kế hoạch giáo dục sức khỏe phù hợp cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Cần Thơ về nhận biết, phòng tránh và chăm sóc trẻ khi mắc NKHHCT cũng như công tác truyền thông giáo dục trong cộng đồng

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM KẾT KẾT QUẢ ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH BẢNG v

DANH SÁCH HÌNH v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 DỊCH TỄ BỆNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI 3

2.2 BỆNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH 5

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CHĂM SÓC TRẺ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH CỦA BÀ MẸ 10

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 14

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.3 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 20

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 21

4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

4.2 BÀN LUẬN 30

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38

5.1 KẾT LUẬN 38

5.2 KIẾN NGHỊ 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

PHỤ LỤC 44

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 2 1 Phác đồ xử trí trẻ NKHHCT từ 2 tháng đến 5 tuổi 7

Bảng 2 2 Phác đồ xử trí từ trẻ NKHHCT 0 – 2 tháng tuổi 8

Bảng 2 3 Phác đồ xử trí trẻ bị viêm họng 9

Bảng 2 4 Phác đồ xử trí trẻ bị viêm tai 9

Bảng 4 1 Kiến thức về bệnh NKHHCT 25

Bảng 4 2 Kiến thức dấu hiệu và biểu hiện bệnh NKHHCT 26

Bảng 4 3 Thực hành của bà mẹ về chăm sóc khi trẻ mắc bệnh NKHHCT 27

Bảng 4 4 Kiến thức phòng ngừa bệnh NKHHCT 29

Bảng 4 5 Nguồn cung cấp thông tin 30

Trang 8

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 4 1 Phân bố theo tuổi mẹ 21

Hình 4 2 Phân bố theo tuổi trẻ 21

Hình 4 3 Phân bố theo giới tính trẻ 22

Hình 4 4 Phân bố theo địa dư 22

Hình 4 5 Phân bố theo dân tộc 23

Hình 4 6 Phân bố theo tôn giáo 23

Hình 4 7 Phân bố theo trình độ học vấn 24

Hình 4 8 Phân bố theo nghề nghiệp 24

Hình 4 9 Phân bố theo số con trong gia đình 25

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) ở trẻ em, đã và đang là một trong những vấn đề mang tính chất toàn cầu, thu hút sự quan tâm của mọi quốc gia, là một trong những vấn đề mà Tổ chức Y tế thế giới (WHO) quan tâm NKHHCT là bệnh thường gặp ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ dưới 5 tuổi Tỷ lệ mắc bệnh còn cao và là một trong ba nguyên nhân chủ yếu gây tử vong ở trẻ em tại các nước đang phát triển [5] Trong các nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em thì NKHHCT chiếm hàng đầu (37,6%), tiếp đến là tiêu hóa (26,4%), bệnh máu (4,3% ), tim mạch (4,2%) và thận (1,7%) , số còn lại là do các nguyên nhân khác

Theo số liệu của WHO (1990), trên toàn thế giới, hàng năm có khoảng 14 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết (95% ở các nước đang phát triển), trong đó có 4 triệu trẻ em chết vì NKHHCT [6], [7] Tại hội nghị Tham khảo Quốc tế về chống Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính lần thứ nhất tổ chức tại Washington năm 1991, cho biết hàng năm trên thế giới có khoảng 4,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi đã chết vì NKHHCT, trong đó chủ yếu do viêm phổi Đến tháng 7 năm 1997, hội nghị quốc tế của WHO tại Canberra đã tổng kết

là tử vong do NKHHCT dưới chiếm 19% tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi [4] Viêm phổi

đã gây tử vong 920136 trẻ em dưới 5 tuổi vào năm 2015, chiếm 16% tổng số ca tử vong trẻ em dưới 5 tuổi Viêm phổi gây ảnh hưởng đến trẻ em và gia đình ở mọi nơi, nhưng phổ biến nhất ở Nam Á và vùng cận Sahara ở châu Phi [32] Tại khu vực Đông Nam Á, tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp vẫn là nguyên nhân cao nhất (25%) trong các nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em, tiếp theo là tiêu chảy (14%) và chết sơ sinh (32%) kết hợp với các bệnh khác, còn lại là các nguyên nhân khác Theo số liệu WHO, mỗi trẻ trung bình trong 1 năm mắc NKHHCT từ 4 – 9 lần/năm, trong đó có 10% mắc viêm phổi nặng, ước tính trên toàn cầu mỗi năm có khoảng 2 tỉ lượt trẻ mắc NKHHCT, trong đó có khoảng 40 triệu lượt là viêm phổi [19]

Tại các bệnh viện, số lượng bệnh nhân đến khám vì NKHHCT chiếm tỷ lệ 1/3 so với các bệnh khác Theo thống kê của các bệnh viện ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trẻ đến khám vì bệnh hô hấp nhiều gấp 4,4 lần so với bệnh tiêu hóa Tại 1 xã thuộc đồng bằng Bắc Bộ có 8000 dân, trong đó có 1000 trẻ em dưới 5 tuổi, hàng năm có

1600 – 1800 lần trẻ mắc NKHHCT Ở Việt Nam, tỷ lệ tử vong do NKHHCT ở trẻ em chiếm 1/3 (30 – 35% so với tử vong chung) [5]

Như các bệnh khác ở trẻ nhỏ, vai trò của người chăm sóc trẻ, thường là người mẹ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nhận biết và xử trí bệnh cho trẻ Trẻ mắc bệnh NKHHCT chỉ có thể điều trị sớm nếu người mẹ có đầy đủ kiến thức để nhận biết sớm các dấu hiệu bệnh, biết cách chăm sóc trẻ Khi trẻ bệnh nặng, người mẹ cũng cần phải biết các dấu hiệu bệnh nặng hoặc nguy hiểm để đưa trẻ đến cơ sở y tế tránh dẫn đến

Trang 11

những hậu quả xấu và tử vong Nhận thức ra tầm quan trọng của bệnh NKHHCT ở trẻ

em dưới 5 tuổi, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát kiến

thức, thực hành của bà mẹ về chăm sóc Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới

5 tuổi tại Khoa khám Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Cần Thơ năm 2017” với 2

mục tiêu sau:

1 Tìm hiểu kiến thức của bà mẹ về Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi

2 Tìm hiểu thực hành của bà mẹ về chăm sóc Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi

Trang 12

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 DỊCH TỄ BỆNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ EM DƯỚI

5 TUỔI

2.1.1 Trên thế giới

NKHHCT có tỷ lệ tử vong cao, đặc biệt là viêm phổi Theo số liệu của WHO (1990), trên toàn thế giới, hàng năm có khoảng 14 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết (95% ở các nước đang phát triển), trong đó có 4 triệu trẻ em chết vì NKHHCT [6], [7] Nhìn chung, tại các nước đang phát triển, NKHHCT là nguyên nhân mắc bệnh hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi, là nguyên nhân đến khám bệnh cũng như vào điều trị hàng đầu tại các tuyến y tế và cũng là nguyên nhân tử vong làm trẻ chết nhiều nhất Thật vậy, nguyên nhân ước tính 12,8 triệu tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, 1990: NKHHCT 33,4% (4,3 triệu), tiêu chảy 24,8% (3,2 triệu), nguyên nhân khác 41,8% (5,4 triệu) Theo số liệu của WHO năm 2000 thì các nguyên nhân chính gây tử vong cho trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu là: do suy dinh dưỡng 54%, do tử vong chu sinh 22%, do viêm phổi 20%,

do tiêu chảy 12%, do sốt rét 8%, do sởi 5%, do HIV/AIDS 4% và do các nguyên nhân khác 29% [4] Năm 2001, có 3 triệu trẻ chết do NKHHCT, chiếm 19 – 20% số tử vong dưới 5 tuổi trên toàn cầu [19] Trong năm 2000 – 2003, sáu nguyên nhân gây ra 73% trong số 10,6 triệu người chết mỗi năm ở trẻ em dưới 5 tuổi: viêm phổi (19%), tiêu chảy (18%), sốt rét (8%), nhiễm khuẩn huyết (10%), sanh non (10%) và ngạt lúc sinh (8%) Bốn loại bệnh truyền nhiễm chiếm hơn một nửa (54%) tất cả các ca tử vong trẻ

em [28] Năm 2006, WHO ước tính 20% số trẻ tử vong là do nhiễm trùng hô hấp dưới cấp tính trong đó 90% do viêm phổi [11] Năm 2015, viêm phổi lấy đi tính mạng của gần 1 triệu trẻ em – tức là cứ khoảng 35 giây lại có một em tử vong, nhiều hơn con số

tử vong do các bệnh sốt rét, lao, sởi và AIDS cộng lại Gần 34 triệu trẻ em bị tử vong

vì viêm phổi và tiêu chảy từ năm 2000 Nếu không có sự đầu tư nhiều hơn vào các biện pháp phòng ngừa và điều trị cơ bản, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF ước tính rằng sẽ có thêm 24 triệu trẻ em nữa sẽ bị tử vong vì viêm phổi và tiêu chảy cho đến năm 2030 [26]

NKHHCT chiếm 30 – 35% tổng số các bệnh Bệnh có tỉ lệ mắc khá cao ở các nước đang phát triển Theo số liệu của Wajula (1991) tỉ lệ đến khám vì NKHHCT ở Ethiopia là 25,5%, ở Batda – Iraq là 39,3%, ở Sao Paulo – Brazil là 41,8%, ở London – Anh là 30,5%, ở Herston – Australia là 34% [7] Theo hội nghị quốc tế của WHO (1997), tỉ lệ mới mắc viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi hàng năm là 3% ở nước đã phát triển

và 7 – 18% ở nước đang phát triển [4] Số trẻ vào bệnh viện điều trị vì NKHHCT ở Daka – Bangladest là 35,8%, ở Rangun – Mianma 31,5%, ở Ixlamabat – Pakistan là 33,6% và ở Nadola – Zambia là 34%

Trang 13

NKHHCT không những có tỷ lệ mắc cao mà còn bị mắc nhiều lần trong 1 năm Tại hội nghị Washington (năm 1991) những số liệu sau đây đã được thông báo là số lần viêm phổi mỗi năm trong 100 trẻ ở Gadchiroli là 13,0, ở Basse – Gambia 17,0, ở Magagua – Kenia 18,0, ở Bangkok – Thái Lan là 7,0 Trong khi đó ở Chapel Hill – Hoa Kỳ là 3,6 và tại Seattle – Hoa Kỳ là 3,0 [6]

Viêm phổi là nguyên nhân lớn nhất gây tử vong trẻ em trên thế giới, giết chết 1,8 triệu trẻ em dưới năm tuổi mỗi năm, trong đó hơn 98% là ở 68 bước đang phát triển Giám đốc Điều hành của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF, Ann M Veneman, cho biết: “Viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, giết chết trên

4000 trẻ em mỗi ngày” [33]

Với tỷ lệ mắc và tử vong cao như vậy NKHHCT sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế gia đình cũng như là gánh nặng cho hệ thống y tế và kinh tế đất nước vì phải tốn những khoản chi phí lớn cho việc chăm sóc, điều trị trẻ

2.1.2 Tại Việt Nam

Theo nghiên cứu được đăng tải gần đây trên tạp chí Lancet, 5 nguyên nhân chính gây tử vong trẻ em là tử vong sơ sinh (44%), viêm phổi (13%), tiêu chảy (9%), sốt rét (7%) và tai nạn thương tích (5%) Cũng theo nghiên cứu này, 4 nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ sơ sinh là đẻ non (15%), ngạt (11%), nhiễm khuẩn nặng (7%) và dị tật bẩm sinh

(4%) [2]

Ở Việt Nam, NKHHCT ở trẻ em là bệnh đứng hàng đầu về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong Tại Bệnh viện Nhi Đồng I – Thành phố Hồ Chí Minh (1981 – 1983) số trẻ vào điều trị NKHHCT chiếm 23,3%, số tử vong là 15,9% (so với tử vong chung) Tại Bệnh viện Phú Xuyên (Hà Tây) trong 2 năm 1981 – 1982 số trẻ vào viện điều trị vì NKHHCT là 46%, tử vong do NKHHCT chiếm 42,3% so với tử vong chung Một điều tra tiến hành ở 5 tỉnh phía Nam cho biết số trẻ mắc NKHHCT là 47%, tỷ lệ tử vong do NKHHCT chiếm 40,8% so với tử vong chung Tại 18 xã vùng đồng bằng sông Hồng qua điều tra của Viện lao và bệnh phổi cho thấy tử vong do NKHHCT chiếm 38,5% so với tử vong chung (đứng hàng đầu) [6]

NKHHCT phổ biến ở thành thị hơn là nông thôn, tỉ lệ mắc bệnh ở các nước ta tăng lên vào tháng 4, 5 và tháng 9, 10 (Viện lao và Bệnh Phổi 1984) Nguyên nhân có thể do yếu tố ấm nóng, gió mùa Việt Nam Trung bình 1 xã 8000 dân có 1000 trẻ dưới 5 tuổi, hàng năm sẽ có khoảng 1600 – 1800 lượt mắc NKHHCT, trong đó khoảng 400 – 450 lượt là viêm phổi và khoảng 40 – 50 lượt viêm phổi nặng Bệnh viện St Paul (Hà Nội)

từ 1987 – 1989: Số trẻ đến khám do bệnh hô hấp là 37416, do bệnh tiêu hóa 8481 Số vào điều trị do bệnh hô hấp là 6115, do bệnh tiêu hóa 2287 Số tử vong do bệnh hô hấp

là 530, do bệnh tiêu hóa là 52 Tỉ lệ tử vong trong điều trị do bệnh hô hấp là 8,6%, do

Trang 14

bệnh tiêu hóa là 2,5% T.P Hồ Chí Minh (1991): số trẻ đến khám do bệnh hô hấp là

138020, do bệnh tiêu chảy 31092 Số vào viện do bệnh hô hấp là 24258, do bệnh tiêu chảy 12182 (theo Bs Nguyễn Thành Nhơn) [4] Trong năm 2000, tổng số bệnh nhi nhập vào Bệnh viện Nhi Đồng 2 là 43093 trong đó có 19557 bệnh nhi bị NKHHC, chiếm tỉ lệ 45,3%, đứng đầu trong tỉ lệ nhập viện [11]

Theo nghiên cứu của Đào Minh Tuấn (năm 2010) về thực trạng khám và điều trị Nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) tại Khoa hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương, cho thấy trẻ NKHHC đến khám chiếm 55,97% tổng số trẻ đến khám bệnh nói chung Đại

đa số trẻ đến khám ở lứa tuổi 2 tháng đến 5 tuổi (92,31%) với tỉ lệ viêm tiểu phế quản, viêm phế quản phổi và nhiễm trùng đường hô hấp trên chiếm ưu thế Tại phòng khám có 79,51% trẻ NKHHC được sử dụng kháng sinh, có 4,62% trẻ NKHHC phải nhập viện [8]

Nghiên cứu của Đặng Văn Tuấn về tình hình NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế năm 2017 cho thấy số lần trẻ mắc NKHHCT/năm: 4 – 6 lần chiếm tỷ lệ cao nhất là 48%, tiếp theo là 1 – 3 lần chiếm 36%

2.2 BỆNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH

2.2.1 Đại cương về NKHHCT

2.2.1.1 Khái niệm về NKHHCT

Hệ hô hấp bao gồm từ mũi xuống họng, thanh quản, khí quản, phế quản và phổi – có chức năng thu nhận không khí từ bên ngoài vào để cung cấp oxy cho cơ thể, đồng thời thải khí cacbonic ra ngoài Vì thế, bộ máy hô hấp đóng vai trò quan trọng trong cơ thể sống Người ta có thể nhịn ăn trong vài ngày, nhưng không thể nhịn thở được dù chỉ trong vài phút Khi bị NKHHC, nghĩa là trẻ bị viêm nhiễm ở bất cứ phần nào của đường hô hấp như: bị viêm nhiễm ở mũi họng, thanh quản, khí quản, phế quản; trong

đó đặc biệt viêm phổi là bệnh nguy hiểm nhất Tai cũng là một bộ phận của đường hô hấp và thông với họng, vì vậy những bệnh viêm nhiễm ở tai cũng được xếp vào các bệnh NKHHCT [12]

2.2.1.2 Định nghĩa NKHHCT

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là một nhóm bệnh do vi khuẩn hoặc virus gây nên những tổn thương viêm cấp tính ở một phần hay toàn bộ hệ thống đường hô

Trang 15

hấp kể từ tai, mũi, họng cho đến phổi, màng phổi [7] Thời gian bị bệnh không quá 30 ngày, ngoài trừ viêm tai giữa cấp là 14 ngày [4]

2.2.2 Nguyên nhân gây NKHHCT

Virus là nguyên nhân chủ yếu gây NKHHCT ở trẻ em (60 – 70%).Vì phần lớn các virus có ái lực đường hô hấp Khả năng lây lan của virus rất dễ dàng, tỷ lệ người lành mang virus cao và khả năng miễn dịch đối với virus yếu và ngắn

Ở Việt Nam, các nghiên cứu ban đầu của Viện Bảo vệ sức khỏe trẻ em và khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai, phối hợp với Viện Vệ sinh dịch tễ cho thấy virus gây bệnh NKHHCT ở trẻ em đứng hàng đầu là virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncitial virus) Sau đó là các loại virus cúm, á cúm và adenovirus

Vi khuẩn còn là nguyên nhân quan trọng gây NKHHCT ở trẻ em, đặc biệt là các nước đang phát triển Các loại vi khuẩn thường gặp xếp thứ tự như sau: Haemophilus influenza, Streptococcus pneumonia, Moracella catarrhalis, Staphylococcus aureus, Chlamydia trachomatis và các loại vi khuẩn khác [5]

2.2.3 Các yếu tố nguy cơ gây NKHHCT

 Tuổi: tuổi càng nhỏ càng dễ bị NKHHCT, thường gặp chủ yếu ở trẻ dưới 3 tuổi

 Yếu tố dinh dưỡng, bệnh tật: NKHHCT hay gặp ở trẻ suy dinh dưỡng, đẻ non, không được bú sữa mẹ, tim bẩm sinh,…

 Môi trường: môi trường vệ sinh kém, nhà ở chật chội, ẩm thấp, nhiều bụi, nhiều khói (thuốc lá, bếp than,…)

 Thời tiết: bệnh thường gặp vào mùa đông xuân, thời tiết lạnh, thay đổi độ ẩm và chuyển mùa (tháng 4 – 5 và tháng 9 – 10)

 Cơ địa: những trẻ có cơ địa dị ứng, thể tạng tiết dịch,…

 Ngoài các yếu tố trên, thiếu vitamin A cũng là những điều kiên làm trẻ dễ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Thiếu vitamin A làm giảm đáp ứng miễn dịch của

cơ thể và giảm khả năng biêt hoá của các tổ chức biểu mô dễ gây sừng hoá niêm mạc, đặc biêt là niêm mạc đường hô hấp và đường tiêu hoá, do đó trẻ dễ bị NKHHCT [5], [7]

2.2.4 Phân loại NKHHCT và dấu hiệu chính của bệnh

2.2.4.1 Phân loại theo vị trí giải phẫu (vị trí tổn thương)

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp được phân loại là nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (URIs) hoặc nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới (LRIs) Đường hô hấp trên bao gồm đường dẫn khí quản từ lỗ mũi đến dây thanh trong thanh quản, bao gồm xoang và tai giữa Đường

hô hấp dưới bao gồm sự tiếp tục của đường thở từ khí quản và phế quản đến các phế quản và phế nang NKHHC không chỉ giới hạn ở đường hô hấp mà còn có thể ảnh

Trang 16

hưởng đến gia tăng sự nhiễm khuẩn hoặc các độc tố vi khuẩn, viêm và giảm chức năng

phổi [31]

Nhiễm khuẩn hô hấp trên bao gồm ho, cảm lạnh, viêm tai giữa, viêm mũi – họng (trong đó có viêm VA, viêm amidan…) phần lớn các trường hợp NKHHCT ở trẻ em là nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (70 – 80%) và thường là nhẹ Nhiễm khuẩn hô hấp dưới ít gặp hơn nhưng thường là nặng bao gồm các trường hợp viêm thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản và viêm phổi – màng phổi [6]

2.2.4.2 Phân loại theo mức độ nặng nhẹ

Thực tế hay dùng để đánh giá xử trí kịp thời các trường hợp NKHHCT

NKHHCT ở trẻ em có thể có nhiều dấu hiệu lâm sàng như sốt, khó thở, ho, đau họng, chảy nước mũi, đau tai, nhịp thở nhanh, cánh mũi phập phồng, rút lõm lồng ngực, thở khò khè, thở rít, tím tái… Nhưng theo WHO thì có thể dựa vào các dấu hiệu cơ bản như ho, thở nhanh, rút lõm lồng ngực và một số dấu hiệu nguy hiểm khác để phân loại

Thở rít khi nằm yên

Suy dinh dưỡng nặng

Dấu hiệu rút lõm lồng ngực

Thở nhanh (50 lần/phút trở lên đối với trẻ

từ 2 – 12 tháng, 40 lần/phút trở lên với trẻ 1 – 5 tuổi)

Không rút lõm lồng ngực Không thở nhanh

Xếp loại Bệnh rất nặng Viêm phổi

nặng

Viêm phổi Không viêm

phổi (Ho hoặc cảm lạnh)

Xử trí Chuyển ngay đi

bệnh viện Tiêm ngay một liều kháng sinh

Dùng thuốc hạ nhiệt (nếu có sốt)

Điều trị thở sò

sè (nếu có)

Gửi ngay đi gửi bệnh viện Tiêm ngay một liều kháng sinh

Dùng thuốc hạ nhiệt (nếu có sốt)

Điều trị thở

Chăm sóc tại nhà

Cho một liều kháng sinh

Điều trị sốt (nếu có)

Điều trị khò khè (nếu có)

Theo dõi sát 2

Nếu ho trên 30 ngày thì cần đến bệnh viện khám tìm nguyên nhân

xử trí

Điều trị viêm tai, viêm họng nếu có

Trang 17

Nếu ở vùng sốt rét : thì cho thuốc chống sốt rét

khò khè (nếu có)

Nếu không có điều kiện chuyển tuyến trên, có thể điều trị bằng kháng sinh và theo dõi sát

ngày điều trị (hoặc sớm hơn nếu tình trạng xấu) cần đánh giá lại

Khám và chữa bệnh khác Điều trị sốt và khò khè nếu

Hướng dẫn chăm sóc tại nhà

Sau 2 ngày điều trị với kháng sinh cần đánh giá lại Nếu:

Dấu hiệu Tình trạng xấu hơn

Không uống được Rút lõm lồng ngực Các dấu hiệu nguy hiểm khác

Như cũ Không tiến triển tốt

Khá hơn Thở chậm hơn Giảm sốt

Ăn uống tốt hơn

Xử trí Gửi cấp cứu đi bệnh

viện

Đổi kháng sinh hoặc

đi bệnh viện

Cho đủ kháng sinh 5 – 7 ngày

Bảng 2 2 Phác đồ xử trí từ trẻ NKHHCT 0-2 tháng tuổi [4], [6]

Dấu hiệu Bú kém hoặc bỏ bú

Co giật Ngủ li bì khó đánh thức Thở rít khi nằm yên Khò khè

Sốt hoặc hạ thân nhiệt

Rút lõm lồng ngực mạnh

Thở nhanh (từ 60 lần/phút trở lên)

Không rút lõm lồng ngực mạnh

Không thở nhanh (dưới 60 lần/phút)

Xếp loại Bệnh rất nặng Viêm phổi nặng Không viêm phổi

(Ho, cảm lạnh)

Xử trí Gửi cấp cứu đi bệnh

viện Giữ ấm cho trẻ Cho liều kháng sinh đầu tiên

Gửi cấp cứu đi bệnh viện

Giữ ấm cho trẻ Cho liều kháng sinh đầu

Nếu chưa có điều kiện gửi đi bệnh viện phải điều trị kháng sinh và theo

Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc và theo dõi tại nhà

Giữ ấm cho trẻ Cho trẻ bú mẹ nhiều lần

Lau sạch mũi Đưa trẻ đến bệnh viện, Nếu:

Trang 18

dõi sát + Khó thở hơn

+ Thở nhanh hơn + Bú kém

+ Trẻ mệt hơn

Bảng 2 3 Phác đồ xử trí trẻ bị viêm họng [4], [6]

Dấu hiệu Không uống được Hạch cổ nổi to, đau

Chất xuất tiết trắng ở họng

Xử trí Gửi đi bệnh viện

Cho một liều kháng sinh đầu trước khi gửi đi bệnh viện Điều trị sốt (nếu có) Cho Paracetamol (khi đau)

Cho 1 kháng sinh điều trị viêm họng liên cầu

Cho thuốc làm dịu đau họng Điều trị sốt (nếu có)

Cho Paracetamol (khi đau)

Bảng 2 4 Phác đồ xử trí trẻ bị viêm tai [4], [6]

Dấu hiệu Sưng đau sau

tai

Ấn vùng sau tai đau

Chảy mủ tai dưới

2 tuần Đau tai hay Lắc đầu

Màng nhĩ đỏ, không di động (soi tai)

Chảy mũ tai trên 2 tuần

Mủ thối

Chảy mủ tai trên 2 tuần

Viêm tai giữa mạn

Xử trí Gửi đi bệnh

viện cấp cứu Cho liều kháng sinh đầu

Cho Paracetamol (nếu đau)

Cho 1 kháng sinh uống

Làm khô tai bằng quấn loa kèn Đánh giá lại sau 5 ngày điều trị Điều trị sốt (nếu có)

ChoParacetamol (nếu đau)

Gửi đi bệnh viện khám chuyên khoa Làm khô tai bằng loa kèn Điều trị sốt (nếu có) Cho Paracetamol (nếu đau)

Làm khô tai bằng loa kèn Điều trị sốt (nếu có) Cho Paracetamol (nếu đau)

Trang 19

 Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch

 Vệ sinh cá nhân và môi trường sạch sẽ, không đun bếp trong nhà, không hút thuốc trong phòng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ

 Giữ ấm cho trẻ vào mùa lạnh và khi thay đổi thời tiết

 Phát hiện sớm và xử trí kịp thời các trường hợp NKHHCT theo phác đồ

 Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho bà mẹ về cách thực hiện, xử trí và chăm sóc trẻ khi bị NKHHCT [5], [7]

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CHĂM SÓC TRẺ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH CỦA BÀ MẸ

2.3.1 Trên thế giới

Tại một cuộc nghiên cứu ở miền tây Nepal, năm 2006, của Chandrashekhar T

Sreeramareddy và et al., cho thấy rằng kiến thức nhận biết những dấu hiệu nguy hiểm

về NKHHCT của các bà mẹ còn rất thấp Không có bà mẹ nào biết đầy đủ các dấu hiệu nguy hiểm của bệnh, 3,4% bà mẹ không biết bất cứ dấu hiệu nguy hiểm nào, 51%

bà mẹ chỉ biết dấu hiệu sốt, 45,2% bà mẹ biết trẻ bệnh nặng hơn, 42,5% bà mẹ biết trẻ uống kém, 29,5% bà mẹ biết trẻ không uống được hoặc bỏ bú, 28,4% bà mẹ biết trẻ thở nhanh và 22,3% biết trẻ khó thở Đồng thời thấy rằng 56,8% bà mẹ chăm sóc kịp thời, 26,4% bà mẹ chăm sóc hợp lý Tổng hợp lại chỉ có 11,3% bà mẹ có chăm sóc vừa hợp lý và vừa kịp thời [29]

Một nghiên cứu có 500 trẻ em dưới 5 tuổi về tỷ lệ NKHHC và các yếu tố liên quan ở khu vực thành thị và nông thôn của huyện Kancheepuram, Nam Ấn Độ của

Dhananjaya Sharma và et al., (năm 2010), cho thấy tỷ lệ NKHHCT là 27%, có 49,4%

ở nhóm tuổi 1 – 4 sau đó là trẻ sơ sinh chiếm 39,6% Trẻ nam chiếm 51,4% và trẻ nữ chiếm 48,6% Đa số là các gia đình có đạo Hindu (96%) NKHHCT được nhận thấy nhiều hơn trong số các tầng lớp xã hội thấp (79,3%), khoảng 42,8% các bà mẹ được giáo dục đến trường trung học, trong khi 30% không có bằng cấp chính thức, những người ở nhà kutcha (52,6%), nhà ở quá tải (63,7%), sử dụng khói để nấu ăn (67,4%), thông khí (70,4%), tiền sử hút thuốc của bố mẹ (55,6%), trẻ sinh nhẹ cân (54,8%) và trẻ suy dinh dưỡng (57,8%) [30]

Trang 20

Một nghiên cứu cắt ngang về sự phổ biến nhiễm trùng hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi

thuộc huyện Meerut, Ấn Độ của Goel K và et al., (năm 2012) cho thấy tỷ lệ NKHHCT

được tìm thấy là 52% Tổng cộng có 234 trường hợp NKHHCT đã được tìm thấy trong quá trình nghiên cứu Số lượng các đợt NKHHCT trung bình là 2,25 lần mỗi trẻ một năm Theo giới tính, 53,84% là nam và 46,15% là nữ Các trường hợp NKHHCT được ghi nhận ở nhóm tuổi từ 1 – 4 (46,15%) và ở nhóm tuổi này là 45,24% là nam và 47,22% là nữ Tỷ lệ NKHHCT ở trẻ em có tình trạng kinh tế xã hội thấp (35,89%), mẹ

mù chữ (49,14%), điều kiện quá tải (70,94%), không thông thoáng (74,35%) và sử dụng chullah khói (56,83%), suy dinh dưỡng (26,49%), khói thuốc lá (78,20%) [27]

2.3.2 Tại Việt Nam

Nghiên cứu 393 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2005), của Phạm Ngọc Hà, cho thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chung đúng về bệnh NKHHCT là 7,9% rất thấp, bà mẹ biết về dấu hiệu bệnh là 42% trong đó sốt, ho biết khá cao, còn dấu hiệu khó thở các bà mẹ biết rất ít Bà mẹ biết các bệnh NKHHCT rất cao chiếm 98,2% Biết các dấu hiệu viêm phổi 48,6% Biết chọn nơi khám bệnh 98%, còn một số ít tự mua thuốc uống Biết cách cho ăn khi trẻ bị NKHHCT chiếm 75,8% Biết cách làm khô mủ tai đạt 63,4% Biết cách phòng ngừa NKHHCT đạt thấp 31,8% Nhưng trong các biện pháp phòng bệnh thì giữ ấm trẻ khi trời lạnh được các bà mẹ biết đến nhiều nhất 74%, biện pháp cho bú sữa mẹ biết đến ít nhất 22,5%, uống nhiều nước hơn bình thường khi trẻ bị sốt, ho, yêu cầu thành viên không hút thuốc lá trong nhà 88,3%, cho trẻ bú sữa mẹ đầy đủ 94,1%, tiêm chủng đúng quy định 97,2% Làm sạch mũi bằng giấy thấm đạt ở mức độ dưới trung bình là 47,5% [24]

Nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng, Nguyễn Thị Đài Trang về kiến thức chăm sóc của bà

mẹ có con bị viêm phổi tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ (từ tháng 12/2012 đến tháng 3/2013), kết quả cho thấy các bà mẹ nhận biết các dấu hiệu viêm phổi chủ yếu là: ho 77%, thở khò khè, thở rít 69%, sốt 30%, khó thở 20%, thở nhanh 13%, tím tái 4%, rút lõm lồng ngực 1%, bỏ bú 1% Có 96% bà mẹ biết rằng nếu trẻ bị viêm phổi thường xuyên kèm theo không ăn uống được thì sẽ bị sụt cân có thể dẫn đến suy dinh dưỡng

Có 64% bà mẹ biết rằng nên cho trẻ ăn uống hoặc bú bình thường hoặc nhiều hơn khi trẻ bị viêm phổi, 60% bà mẹ biết nên cho trẻ ăn loại thức ăn như bình thường hoặc bổ dưỡng hơn khi trẻ bị bệnh, có 61% các bà mẹ biết nên cho trẻ uống nước trái cây hoặc uống thêm sữa khi trẻ bị bệnh viêm phổi Có 97% bà mẹ cho rằng cần thiết phải theo dõi các dấu hiệu bệnh nặng khi trẻ bị ho cảm Có 64% bà mẹ sẽ dùng thuốc ho tây y để làm giảm ho cho trẻ, chỉ có khoảng 7% bà mẹ dùng các loại thuốc giảm ho đông y Có 29% bà mẹ biết nên lau sạch mũi cho trẻ khi trẻ sổ mũi để làm thông thoáng mũi Kiến

Trang 21

thức về phòng bệnh cho trẻ: giữ ấm cơ thể cho trẻ khi trời lạnh 87%, tránh tiếp xúc với những người bị ho 74%, tránh tiếp xúc với khói bụi, khói thuốc lá, lông súc vật là 52%

và có 32% bà mẹ nghĩ có thể phòng bệnh cho trẻ bằng cách bú sữa mẹ, không để trẻ bị suy dinh dưỡng [16]

Năm 2011, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm về tình hình NKHHC ở trẻ dưới 5 tuổi tại xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội cho thấy hiểu biết của bà mẹ về dấu hiệu NKHHCT thường gặp là: Đối với các dấu hiệu ho, hắt hơi sổ mũi tỷ lệ các bà

mẹ biết chiếm 77,2% và 79,3%, các bà mẹ không biết chiếm tỷ lệ rất nhỏ 1,3% Đối với dấu hiệu thở nhanh, thở rít các bà mẹ có biết chiếm 60,9% và 63% Riêng dấu hiệu rút lõm lồng ngực thì tỷ lệ các bà mẹ biết chiếm 22% và tỷ lệ các bà mẹ không biết là 76,4% Hiểu biết của bà mẹ về dấu hiệu bệnh nặng cần đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay chiếm tỷ lệ cao nhất từ khoảng 57,8% đến 74,1%, số bà mẹ không biết chiếm tỷ lệ từ 17,9% đến 30,8% Hiểu biết của các bà mẹ về biện pháp xử trí bệnh là 76,2% bà mẹ đưa con đến trạm y tế, 32,4% tự mua thuốc về nhà chữa, 6,7% đến khám thầy lang, 1,3% ở nhà không xử lý gì Hiểu biết của bà mẹ trong việc chăm sóc trẻ tại nhà chiếm cao với tỷ lệ bà mẹ có thái độ đồng ý từ 73,3% đến 80,8% [23]

Nghiên cứu của Lý Thị Chi Mai, Huỳnh Thanh Liêm (năm 2012) về tình hình mắc bệnh NKHHCT và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh cho thấy: Tỷ lệ NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi trong 2 tuần là 36,5% Tỷ lệ NKHHCT ở nhóm trẻ suy dinh dưỡng là 50% Tỷ lệ NKHHCT ở nhóm trẻ không suy dinh dưỡng là 35,5% Các bà mẹ có kiến thức đúng về NKHHCT thì con của họ mắc bệnh (31,2%), thấp hơn con của các bà mẹ có kiến thức không đầy đủ (47,9%) [13] Năm 2012, nghiên cứu của Hoàng Văn Thìn, Đàm Thị Tuyết về thực trạng NKHHCT

ở trẻ dưới 5 tuổi tại 2 xã huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang cho thấy tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT ở địa điểm nghiên cứu còn cao (39,5%), trong đó tỷ lệ không viêm phổi: Ho hoặc cảm lạnh (33,3%), viêm phổi và viêm phế quản (5,6%), viêm phổi nặng (0,6%) [10]

Năm 2012, Nguyễn Thị Thùy Hương, Lê Hoàng Ninh có một nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống NKHHCT của bà mẹ có con dưới 5 tuổi nhập viện tại Khoa nhi Bệnh viện Ninh Phước, Ninh Thuận cho thấy kiến thức đúng về phòng chống NKHHCT là 65,3%, thái độ đúng là 96,35%, thực hành đúng là 44,3% Nguồn thông tin bà mẹ tiếp cận nhiều nhất là truyền hình (79,45%), nguồn thông tin được tin cậy nhất là cán bộ Y tế (68,04%) Bà mẹ có kiến thức đúng có khả năng thực hành đúng gấp 1,71 lần bà mẹ có kiến thức không đúng [20]

Năm 2014, một nghiên cứu của Nguyễn Xuân Lành và cộng sự về kiến thức, sự nhận biết của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về bệnh viêm phổi và các yếu tố liên quan cho

Trang 22

thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về bệnh viêm phổi là 57,1% Trong đó bà mẹ có kiến thức đúng về khái niệm bệnh viêm phổi chiếm 67,1%, nguyên nhân viêm phổi chiếm 57,6%, các yếu tố nguy cơ gây bệnh viêm phổi chiếm 54,8%, tác hại của viêm phổi được bà mẹ biết đến với tỷ lệ cao nhất 71,9%, phòng ngừa bệnh viêm phổi chiếm 63,8%, xử lý khi trẻ bệnh viêm phổi chiếm 54,8% Tỷ lệ bà mẹ có nhận biết đúng về các dấu hiệu của bệnh viêm phổi là 65,7% [21]

Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự (năm 2016) về kiến thức, thái độ và thực hành về NKHHCT của bà mẹ có con dưới 5 tuổi nhập viện tại Khoa nhi Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên cho thấy trong 385 bà mẹ được khảo sát có biết đúng dấu hiệu NKHHCT chiếm 45,7 % Chỉ có 17,1% bà mẹ biết đúng dấu hiệu cần đưa trẻ

đi khám ngay và biết đúng dấu hiệu bệnh nặng hơn chiếm 14,0% 100% bà mẹ có thái

độ đúng về biện pháp phòng ngừa Thực hành đúng về phòng ngừa NKHHCT chiếm 88,8% 50,1% bà mẹ thực hành đúng về chọn nơi khám bệnh khi trẻ mắc NKHHCT Thực hành đúng về chăm sóc khi trẻ mắc bệnh chiếm 21,8% Kiến thức, thái độ và thực hành có mối liên quan với tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp của bà mẹ, dân tộc [22]

Theo Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ năm 2014 của Tổng cục Thống

kê, dấu hiệu phổ biến nhất để đưa trẻ tới cơ sở y tế là “khi trẻ bị sốt cao hơn” (90,8%) Chỉ có 4,8% cho rằng khi trẻ thở nhanh hơn và 25,5% cho rằng khi trẻ khó thở là cần đưa ngay tới cơ sở y tế Tỷ lệ mẹ nhận biết ít nhất một trong hai dấu hiệu nguy hiểm của viêm phổi cao nhất ở Đồng bằng sông Hồng (38,8%) và thấp nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (22,2%) Khả năng nhận biết này này tăng theo trình độ học vấn của người mẹ, 18,4% ở nhóm bà mẹ không có bằng cấp so với 32,5% ở nhóm trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trở lên Nhận thức về các dấu hiệu nguy hiểm của bệnh viêm phổi có xu hướng tăng lên theo nhóm mức sống, của các bà mẹ Kinh/Hoa (29,3%) cao hơn các bà mẹ nhóm dân tộc thiểu số (23,7%) Điều thú vị là 55,2% số phụ nữ được hỏi đã nêu ra các dấu hiệu khác cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế (ngoài 9 dấu hiệu đã cho) [25]

Trang 23

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những trẻ dưới 5 tuổi và các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và được chẩn đoán NKHHCT tại Khoa khám của Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Cần Thơ

3.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

 Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám đưa trẻ đến và được chẩn đoán NKHHCT

 Bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu

3.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

 Bà mẹ có khiếm khuyết khả năng nghe nói

 Bà mẹ có con trên 5 tuổi

 Bà mẹ bị rối loạn tâm thần

 Bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu

3.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

 Địa điểm: Khoa khám của Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Cần Thơ

 Thời gian: 27/03/2017 – 10/04/2017

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

3.2.2 Cỡ mẫu: 50 mẫu

3.2.3 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

3.2.4 Nội dung nghiên cứu

3.2.4.1 Đặc điểm chung về đối tượng:

 Tuổi mẹ: Được tính theo năm sinh dương lịch và chia thành các nhóm sau:

Trang 24

 Nghề nghiệp: Nghề đem lại thu nhập chính hay công việc chính

+ Cán bộ - Công chức (làm việc cho nhà nước hay doanh nghiệp)

+ Công nhân

+ Nông dân (làm ruộng, làm rẫy, làm vườn, nuôi tôm,…)

+ Buôn bán

+ Nội trợ (chỉ làm những công việc trong nhà)

+ Khác: Thợ may, uốn tóc, làm thuê,…

 Số con trong gia đình: Số con đang còn sống

Trang 25

+ Phương tiện thông tin (loa phát thanh, tivi, báo chí,…)

 Dấu hiệu nguy hiểm toàn thân của bệnh NKHHCT:

+ Không uống được hoặc bỏ bú (Không uống được là khi trẻ không uống được tí nào)

+ Nôn tất cả mọi thứ (Nôn tất cả mọi thức là trẻ nôn liên tiếp không giữ lại được tí thức ăn nào trong dạ dày)

Trang 26

+ Rút lõm lồng ngực (Dấu rút lõm lồng ngực là dấu thấy được ở thì hít vào, là phần dưới lồng ngực lõm vào khi hít vào Dấu rút lồng ngực xảy ra khi phải gắng sức để hít vào)

+ Thở rít khi nằm yên (Tiếng thở rít là một tiếng thở thô ráp được tạo ra khi trẻ thở vào Muốn nghe rõ tiếng này phải để sát tai vào miệng trẻ)

Trang 27

 Xử trí khi trẻ sốt nhẹ và ho:

+ Cho uống nước cây lá trong vườn

+ Mua thuốc tây cho trẻ uống

+ Không cho trẻ uống thuốc chỉ theo dõi

+ Đưa khám bác sĩ tư

Nếu bà mẹ chọn “Đưa khám bác sĩ tư” là “Đúng”

 Khi trẻ ho hoặc cảm lạnh, đưa trẻ đi bệnh viện ngay khi:

+ Trẻ khó thở hơn

+ Trẻ thở nhanh hơn

+ Trẻ bú kém hơn (Bú kém là trẻ bú ít đi chỉ bằng một nữa lượng sữa thường ngày

Bà mẹ có thể đánh giá thay đổi lượng sữa bú dựa vào thời gian trẻ bú)

 Khi trẻ bị NKHHCT, cho trẻ ăn:

+ Cho trẻ ăn ít hơn bình thường

+ Cho trẻ ăn bình thường

+ Cho trẻ ăn nhiều hơn bình thường, không kiêng cử

+ Cho trẻ ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng (thịt, cá, trứng, sữa,…)

Nếu bà mẹ chọn “Cho trẻ ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng (thịt, cá, trứng, sữa,…)” là

“Đúng”

 Khi trẻ bị NKHHCT, cho trẻ uống nước hoặc bú mẹ:

+ Cho uống nước hoặc bú mẹ bình thường

+ Uống nước hoặc bú mẹ ít hơn bình thường

+ Uống nước hoặc bú mẹ nhiều hơn bình thường bổ sung thêm nước trái cây Nếu bà mẹ chọn “Uống nước hoặc bú mẹ nhiều hơn bình thường bổ sung thêm nước trái cây” là “Đúng”

 Làm sạch mũi khi trẻ bị sổ mũi:

+ Hút mũi bằng miệng

+ Se mũi bằng giấy thấm hoặc vải mềm hoặc bằng khăn

+ Không làm gì cả

Trang 28

+ Khác: Xoa dầu lên mũi, nhỏ thuốc hoặc nước vào mũi trẻ,…

Nếu bà mẹ chọn “ Se mũi bằng giấy thấm hoặc vải mềm hoạc bằng khăn” là “Đúng”

 Làm sạch mủ tai khi trẻ chảy mủ tai:

+ Lau bằng khăn

+ Quấn giấy thấm thành loa kèn để se tai

+ Khác: Dùng các loại thuốc nhỏ tai trẻ, để bông gòn bịt kín tai trẻ,…

+ Không biết làm gì

Nếu bà mẹ chọn “Quấn giấy thấm thành loa kèn để se tai” là “Đúng”

 Phòng ngừa NKHHCT cho trẻ dưới 5 tuổi:

+ Giữ ấm cổ và ngực cho trẻ khi lạnh

+ Cho trẻ tránh khói bụi, khói thuốc lá

+ Cho trẻ bú sữa mẹ

+ Tiêm chủng đầy đủ cho trẻ

+ Không biết

3.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu

 Thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi đã được soạn sẵn

 Trước khi tiến hành khảo sát, các cộng tác viên sẽ được tập huấn kỹ, nhằm tránh sai sót trong quá trình phỏng vấn

 Phỏng vấn trực tiếp đối tượng, cộng tác viên ghi chép trong quá trình phỏng vấn

3.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số

 Trước khi tiến hành phỏng vấn các câu hỏi trong phiếu thu thập thông tin, cần tổ chức tập huấn cho các cộng tác viên thu thập số liệu nhằm tránh sai sót trong quá trình phỏng vấn Bộ câu hỏi được sử dụng điều tra thử ở những đối tượng tương tự sau đó được chỉnh sửa hoàn chỉnh và đưa vào nghiên cứu chính thức

 Các thông tin đưa ra cho đối tượng chọn lựa cần phải đơn giản, dễ đọc, dễ hiểu, dễ trả lời đúng

 Khi đối tượng được chọn nhưng phỏng vấn không được vì lí do nào đó thì sẽ chọn đối tượng khác vào mẫu nghiên cứu

Ngày đăng: 21/06/2020, 08:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w