1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

MÔ PHỎNG LŨ KHU VỰC HẠ DU SÔNG LAM BẰNG MÔ HÌNH TOÁN MIKE 11

52 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG Bảng 1 Phân bố diện tích một số sông nhánh lớn của hệ thống sông Lam 3 Bảng 2 Đặc trưng hình thái một số lưu vực sông lớn 3 Bảng 4 Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC

Nhâm Thị Ngọc Anh

MÔ PHỎNG LŨ KHU VỰC HẠ DU SÔNG LAM

BẰNG MÔ HÌNH TOÁN MIKE 11

Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy

Ngành Thủy văn (Chương trình đào tạo chuẩn)

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC

Nhâm Thị Ngọc Anh

MÔ PHỎNG LŨ KHU VỰC HẠ DU SÔNG LAM

BẰNG MÔ HÌNH TOÁN MIKE 11

Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy

Ngành Thủy văn (Chương trình đào tạo chuẩn)

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS.Nguyễn Thanh Sơn

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện khóa luận của mình với đề tài “ Mô phỏng lũ khu vực hạ du sông Lam bằng mô hình toán Mike 11” em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong Bộ môn thủy văn cùng với gia đình và bạn bè

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thanh Sơn

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua để hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn đến các cô chú trong Đài Khí tượng Thủy văn Khu vực Bắc Trung Bộ đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận

Do kinh nghiệm bản thân còn hạn chế nên nội dung khóa luận vẫn còn những thiếu sót Vì vậy, rất mong sự đóng góp của các thầy cô và các bạn đểkhóa luận của

em có thể hoàn thiện tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Nhâm Thị Ngọc Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG LAM 2

1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 2

1.2 ĐỊA HÌNH, ĐỊA MẠO 2

1.3 ĐỊA CHẤT, THỔ NHƯỠNG 4

1.4 THẢM THỰC VẬT 5

1.5 KHÍ HẬU 6

1.6 THỦY VĂN 11

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM LŨ LƯU VỰC SÔNG LAM VÀ GIỚI THIỆU MÔ HÌNH MIKE 1117 2.1 TÌNH HÌNH LŨ LỤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM 17

2.2 CÁC MÔ HÌNH TOÁN ĐỂ MÔ PHỎNG 27

2.3 GIỚI THIỆU MÔ HÌNH MIKE 11 VÀ CÁC MÔ PHỎNG LŨ 29

CHƯƠNG 3 ÁP DỤNG MÔ HÌNH MIKE 11 MÔ PHỎNG LŨ HẠ DU LƯU VỰC SÔNG LAM 34

3.1 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH SỐ LIỆU 34

3.2 THIẾT LẬP BÀI TOÁN MÔ PHỎNG LŨ BẰNG MIKE 11 CHO KHU VỰC HẠ DU SÔNG LAM 36

3.3 HIỆU CHỈNH MÔ HÌNH 38

3.4 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH 41

3.5 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42

KẾT LUẬN 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BĐ Báo động

DHI Viện thủy lực Đan Mạch

ECOLab Mô hình sinh thái (EcologicalModelling)

Lsông Chiều dài sông

GIS Hệ thông tin địa lý (Geographic Information System)

X1ngMax Lượng mưa 1 ngày lớn nhất

X7ngMax Lượng mưa 7 ngày lớn nhất

∆H Mực nước chênh lệch giữa chân lũ và đỉnh lũ

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Phân bố diện tích một số sông nhánh lớn của hệ thống sông Lam 3 Bảng 2 Đặc trưng hình thái một số lưu vực sông lớn 3

Bảng 4 Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm tại một số vị trí trên

lưu vực sông Lam

Bảng 16 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng hiệu chỉnh mô hình năm 2010 41 Bảng 17 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng kiểm định mô hình năm 2011 42 Bảng 18 Hệ số nhám của các đoạn sông trong hệ thống sông Lam 43

Trang 7

Hình 5 Đường quá trình mực nước từ ngày 10-30/IX/2002 tại các trạm

chính trên lưu vực sông Lam

222

3 Hình 6 Quá trình mưa, lũ từ ngày 28/IX - 28/X/2010 tại các trạm chính

trên lưu vực sông Lam

27

Hình 7 Diễn biến mực nước, lưu lượng dọc theo chiều dài sông và theo

thời gian

32

Hình 10 Sơ đồ mạng lưới lưu vực sông Lam có mặt cắt 38 Hình 11 Sơ đồ quá trình hiệu chỉnh bộ thông số mô hình 39 Hình 12 Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán tại trạm Dừa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Ở nước ta những năm gần đây tình hình thiên tai lũ lụt xảy ra hết sức phức tạp gây ra những thiệt hại nặng nề về người và của, đặc biệt là khu vực miền Trung – là nơi hứng chịu nhiều thiên tai lũ lụt vào loại bậc nhất ở nước ta gây nên những hậu quả lớn đến người và của Miền Trung với điều kiện địa hình dốc, sông ngắn cùng với sự khắc nhiệt của thời tiết nên lũ rất ác liệt Trên lưu vực sông Lam đặc biệt là khu vực hạ du sông Lam trong gần nửa thế kỉ qua đã xảy ra nhiều trận lũ lớn

có xu hướng ngày càng tăng về cường độ lần tần số gây thiệt hại về người và tài sản cho các tỉnh khu vực miền Trung như các trận lũ lớn năm 1954, 1960, 1978, 2010,… Vì vậy nhằm giảm nhẹ hậu quả do lũ lụt gây ra cần nâng cao hiệu quả công tác dự báo lũ lụt ở miền Trung

Với việc phát triển của nền khoa học công nghệ đã có rất nhiều mô hình được hình thành và sử dụng vào việc dự báo lũ lụt như mô hình thủy văn NAM, mô hình HEC- HMS …và các mô hình thủy lực FLWAV, MIKE 11 được nước ta áp dụng dự báo cho các con sông Trong đó có mô hình MIKE 11 là mô hình thủy lực một chiều, mô hình này được ứng dụng rất rộng rãi trong thực tế, thu được nhiều thành công, dựa vào mô hình này ta có thể tính được mực nước và lũ thiết kế từ đó

có thể đưa ra được công tác dự báo lũ lụt được hiệu quả

Xuất phát từ những lý do trên em chọn “ Mô phỏng lũ khu vực hạ lưu sông Lam bằng mô hình toán Mike 11”làm đề tài nghiên cứu khóa luận của mình

2 Mục đích của khóa luận

Mục đích của khóa luận là xây dựng mô hình toán mô phỏng quá trình lũ cho khu vực hạ du sông Lam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng: Mô hình Mike 11

+ Phạm vi nghiên cứu: Mùa lũ khu vực hạ du sông Lam

4 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương chính:

- Đặc điểm địa lý tự nhiên lưu vực sông Lam

- Đặc điểm lũ lưu vực sông Lam và giới thiệu mô hình Mike 11

- Áp dụng mô hình Mike 11 mô phỏng lũ hạ du lưu vực sông Lam

Trang 9

CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG LAM

1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Lưu vực sông Lam trải dài từ 18º15’50’’ đến 20º10’30’’ vĩ độ Bắc, từ 103º45’10’’ đến 105º15’20’’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp lưu vực sông Chu, phía Tây giáp lưu vực sông Mê Công, phía Nam giáp lưu vực sông Gianh và phía Đông giáp Biển Đông Tổng diện tích lưu vực là 27.200 km², phần diện tích tại Việt Nam

là 17.730 km², chiếm 65,2% diện tích lưu vực diện tích còn lại thuộc địa phận Lào Dòng chính sông Lam có chiều dài 531 km, trong đó 170 km chảy qua lãnh thổ Lào

và qua địa phận Nghệ An – Hã Tĩnh là 361 km.[5]

Hình 1 Bản đồ lưu vực sông Lam(phần lãnh thổ Việt Nam)

1.2 ĐỊA HÌNH, ĐỊA MẠO

Lưu vực sông Lam có các dạng địa hình chính [5]:

- Địa hình đồng bằng và đồng bằng ven biển nhỏ, hẹp và nằm sát với dòng chính.Toàn bộ đồng bằng được bảo vệ bằng đê hai bờ sông trừ vùng hữu ngạn Thanh Chương và vùng hữu ngạn Nam Đàn chỉ bảo vệ bằng đê bối Tổng diện tích vùng này vào khoảng 350.000 (ha) chiếm 10% diện tích lưu vực sông Lam

Trang 10

- Vùng đồi trung du thuộc các huyện Nghĩa Đàn, Qùy Hợp, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương (Nghệ An), Vũ Quang, Hương Sơn và Hương Khê (Hà Tĩnh) Đây

là dạng địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh có thể dốc theo nhiều chiều do các sông nhỏ tạo nên Tổng diện tích dạng địa hình này vào khoảng 680.000 (ha)

- Địa hình vùng núi cao chủ yếu tập trung ở phía Tây, Tây Bắc và Tây Nam lưu vực Dạng địa hình này có độ cao từ 12000 ÷ 15000 m như một bức tường ngăn giữa lưu vực sông Mê Kông và lưu vực sông Lam Dạng địa hình này có độ dốc lớn, thung lũng hẹp, chiếm tới 60% diện tích lưu vực Đây được xác định là vùng lâm nghiệp phòng hộ đầu nguồn

Bảng 1 Phân bố diện tích một số sông nhánh lớn của hệ thống sông Lam

TT Lưu vực sông Toàn bộ Phần Việt Nam Phần Lào

Độ cao bq (m)

Độ dốc bqlv (%o)

Mật độ lưới sông (km/km2)

HS không đối xứng

HS hình dạng

ở lưu vực đa dạng thích hợp cho phát triển kinh tế tổng hợp đồng thời rất thuận lợi cho nền nông nghiệp đa dạng hóa cấy trồng vật nuôi và có khả năng tạo ra các vùng chuyên canh cây hàng hóa, cây công nghiệp

Trang 11

1.3 ĐỊA CHẤT, THỔ NHƯỠNG

Đất trong lưu vực có các nguồn gốc hình thành khác nhau Ở vùng đồi núi, đất được phát triển trên nhiều loại nham thạch Ở vùng đồng bằng, đất được hình thành từ phù sa sông Phần lớn vùng đồi núi nằm dưới độ cao (800-1000) m, nên bị phong hoá mạnh Quá trình feralít là quá trình chủ yếu Nhóm đất feralít đồi và núi thấp, phân bố ở độ cao dưới (800-1000) m, chiếm diện tích lớn nhất và là nơi hoạt động của con người Các nhóm đất cát phù sa, đất phèn, đất mặn, đất than bùn và

đất đen ở vùng đồng bằng (Hình 2)

Nhìn chung, đất ở vùng đồi núi còn khá tốt, độ dày tầng đất hơn 50 cm, cấu tượng đất tốt; đất ở vùng đồng bằng, nhất là loại đất phù sa có nhiều dinh dưỡng phù hợp cho sản xuất nông nghiệp

Hình 2.Bản đồ thổ nhưỡng trong lưu vực sông Lam (phần lãnh thổ Việt Nam)

Trang 12

Bảng 3.Phân loại đất trên lưu vực sông Lam

Tên đất

Nghệ An Hà Tĩnh Toàn lưu vực Diện

tích (ha) %

Diện tích (ha) %

Diện tích (ha) % Tổng diện tích điều tra thổnhưỡng 1640849 100 395000 100 2035849 100 Trong đó diện tích các loại đất 1498492 100 320400 100 1818892 100

I Đất thuỷ thành 173600 11,58 126400 39,45 300000 16,49 Trong đó nhóm phù sa dốc tụ 146.400 84,33 93600 74,05 240000 80

II Đất địa thành 1324892 88,42 194000 60,55 1518892 83,51 Trong đó: Nhóm đất Feralít vàng

vùng đồi (170  200 m ) 381120 29,92 40740 21 423861 27,9 Nhóm đất Feralít vàng trên núi từ

+ Thảm phủ thực vật vùng canh tác nông nghiệp

Diện tích canh tác nông nghiệp trên toàn lưu vực chỉ chiếm khoảng 7% diện tích toàn lưu vực Trên diện tích đất này hiện nay canh tác với hệ số quay vòng ruộng đất từ 1,7 đến 1,8 lần trong năm nghĩa là trong một năm chỉ có khoảng 6 tháng có cây che phủ còn lại 6 tháng đất trống Trong 6 tháng phần cây có lá che phủ cho diện tích chỉ chiếm 3,5-4 tháng, có thể đánh giá thảm phủ thực vật trên đất nông nghiệp chỉ đạt 20-25%

+ Thảm phủ thực vật trên đất lâm nghiệp

Rừng ở lưu vực sông Lam tập trung chủ yếu ở ba tỉnh phía Lào (Bô-li-khăm-xay, Siêng Khoảng và Hủa Phăn) Theo khảo sát sơ bộ và đánh giá tài nguyên riêng phía Lào thảm phủ còn hơn 555.000 ha Ở Việt Nam Rừng tập trung ở phía Bắc, Tây Bắc và Tây Nam lưu vực trên cao độ từ 150 ÷ 1.500 m Toàn bộ lưu vực có hai

Trang 13

vùng rừng quốc gia là Pù Mát (Nghệ An) và Vũ Quang (Hà Tĩnh) Trước năm 1995 rừng trên lưu vực sông Lam bị suy giảm nhanh do chế độ khai thác kém bảo dưỡng

và trồng bổ sung không kịp với tốc độ cháy rừng, phá rừng làm nương rẫy và du canh du cư của đồng bào dân tộc ít người Theo tài liệu điều tra rừng trên lưu vực sông Lam phía Việt Nam năm 1943 có khoảng 1,2.106 ha, đến năm 1999 đánh giá rừng chỉ còn khoảng 710.000 ha, mức che phủ còn 35,5 % so với cùng thời kỳ các khu vực khác phía Bắc như rừng ở Tuyên Quang còn 28,5%, vùng Tây Bắc còn 8% thì lưu vực sông Lam rừng còn phong phú hơn Từ năm 1995 đến 2003 do tốc độ trồng rừng nhanh cộng với chính sách giao đất, giao rừng và các chương trình phát triển kinh tế miền núi cho tới nay rừng trên lưu vực đã bắt đầu được bảo tồn và phục hồi Độ che phủ rừng đã đạt 41,51% ở Nghệ An và 39,18% ở Hà Tĩnh Trong

Trang 14

tháng III cho thời tiết lạnh và khô vào các tháng mùa đông Mưa phùn vào các tháng cuối mùa đông

- Khối không khí xích đạo Thái Bình Dương với hướng gió Đông Nam hoạt động mạnh từ tháng V tới tháng X và mạnh nhất vào tháng IX , X Đặc điểm c ủa khối không khí này là nóng ẩm mưa nhiều , gây nên nhiều nhi ễu động thời tiết như bão, áp thấp nhiệt đới Những nhiễu động thời tiết có thể đơn thu ần là một hình thế thời tiết gây mưa hoặc t ổ hợp nhiều hình thế th ời tiết như bão và áp th ấp, áp thấp nhiệt đ ới kết h ợp với không khí lạnh gây mưa lớn trên diện r ộng tạo nên lũ lụt nghiêm trọng trên lưu vực sông Lam

- Khối không khí nhiệt đới ẩm Ấn Độ Dương hoạt động mạnh từ tháng V tới tháng VIII, mạnh nhất vào tháng VII mang đặc điểm khô nóng sau khi vượt núi tràn vào lưu vực Đây là thời kỳ hoạt động mạnh của gió Lào

Nhân tố khí hậu kết h ợp với yếu t ố địa hình đã tạo nên sự phân hoá khí h ậu giữa các vùng khá sâu sắc Phần phía Bắc và Đông Bắc của lưu vực mang đặc điểm của vùng khí hậu chuyển tiếp từ Bắc Bộ và Trung Bộ Với mùa mưa đến sớm hơn ở phía Nam, lượng mưa tháng lớn nhất xảy ra vào tháng VIII, ba tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VII, VIII, IX Mùa lạnh nhiệt độ xuống thấp nhất là vào tháng I, về phía Nam của lưu vực ảnh hưởng của các hoàn lưu phương Bắc yếu hơn , nhiệt độ tăng dần, mùa mưa đến chậm hơn và kết thúc sớm, lượng mưa tháng lớn nhất xảy ra vào tháng IX, ba tháng có lượng mưa lớn nhất là VIII, IX, X Những vùng được bao bọc bởi các dãy núi, ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam ít hơn dần, lượng mưa năm khá nhỏ như vùng Cửa Rào, Khe Bố, có năm lượng mưa chỉ đạt từ 500 - 700mm

Những vùng có điều kiện địa hình thuận lợi cho việc đón gió (dạng phễu) đã tạo nên những tâm mưa lớn trên lưu vực như vùng sông Ngàn Ph ố, Ngàn Sâu, sông Giăng với lượng mưa năm trung bình đạt 2.000 - 2.400mm [3]

1.5.1 Nhiệt độ

Mùa lạnh từ tháng XII tới tháng II và lạnh nhất là tháng I Thời kỳ này lưu vực ảnh hưởng chủ yếu của khối không khí cực đ ới lục địa Châu Á Tuỳ theo sự ảnh hưởng của khối không khí này tới các vùng trên lưu vực mà cho chế đ ộ nhiệt về mùa đông khác nhau Vùng đồng bằng nhiệt đ ộ trung bình cao hơn ở miền núi (Bảng 4) Nhiệt đ ộ trung bình tháng I tại đồng bằng cao hơn ở vùng núi thượng nguồn sông Hiếu Nhưng ở vùng thung lũng Cửa Rào nhiệt đ ộ tháng I, II lại cao hơn ở đồng bằng Nguyên nhân chính là do vùng này được bao bọc bởi các dãy núi

Trang 15

cao làm hạn chế sự xâm nh ập của gió mùa Đông Bắc, mùa đông trở nên ấm hơn Nhiệt độ tối thấp đạt 4°C ở Vinh (tháng I/1914), -0,5°C ở Quỳ Châu (I/1974), 1,7°C

ở Cửa Rào tháng I/1974

Mùa lũ từ tháng V tới tháng VIII với nhiệt đ ộ trung bình tháng đạt từ 27 -

29°C Tháng nóng nhất là tháng VII do hoạt động mạnh của gió Tây Nam (Bảng 2) Nhiệt đ ộ cao nhất tuyệt đ ối đạt 42,1°C tháng VI/1912 tại Vinh, 42,7°C tháng V/1966 tại Cửa Rào, 42,1°C tháng V/1931 tại Tây Hiếu

Bảng 4 Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm tại một số vị trí trên

lưu vực sông Lam

Đô Lương 17,2 18,2 20,6 24,2 27,3 28,7 29,1 27,9 26,4 24,3 21,3 18,6 23,7 Vinh 17,0 17,9 20,3 24,1 27,7 29,2 29,6 28,7 26,8 24,4 21,6 18,9 23,9 Quỳnh Lưu 17,0 17,6 20,1 23,7 27,5 28,9 29,4 28,3 26,8 24,4 21,4 18,5 23,6 Hương Khê 17,0 18,1 20,3 24,6 27,5 28,5 29,0 27,7 25,9 23,7 20,7 18,2 23,5

Nguồn : [7]

1.5.2 Độ ẩm

Độ ẩm trung bình đạt thấp nhất vào tháng VII, cao nhất vào tháng II, III (Bảng 5)

Bảng 5 Độ ẩm không khí tương đối tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam

Đơn vị: %

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Quỳ Châu 87,0 87,0 87,0 85,0 83,0 85,0 85,0 88,0 88,0 88,0 88,0 87,0 86,0 Tây Hiếu 87,0 89,0 82,0 86,0 81,0 82,0 80,0 85,0 88,0 87,0 87,0 86,0 86,0 Cửa Rào 81,0 80,0 79,0 78,0 78,0 80,0 79,0 80,0 85,0 85,0 85,0 82,0 81,0

Trang 16

Trạm Tháng Năm

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Con Cuông 89,0 89,0 89,0 85,0 81,0 81,0 78,0 84,0 87,0 88,0 88,0 87,0 86,0

Đô Lương 88,0 89,0 90,0 88,0 83,0 80,0 78,0 84,0 88,0 87,0 86,0 85,0 88,0 Vinh 89,0 91,0 99,0 88,0 82,0 76,0 74,0 80,0 87,0 86,0 89,0 89,0 85,0 Quỳnh Lưu 86,0 88,0 90,0 84,0 84,0 81,0 78,0 84,0 87,0 88,0 88,0 87,0 86,0 Hương Khê 91,0 91,0 90,0 86,0 80,0 78,0 74,0 81,0 87,0 88,0 88,0 89,0 85,0

1.5.3 Bốc hơi

Lượng bốc hơi năm đo bằng ống Piche toàn vùng dao động từ 700 – 1000

mm Vùng ven biển do t ốc độ gió trung bình lớn hơn nên bốc hơi đạt cao hơn ở vùng núi (Bảng 6) Lượng bốc hơi đạt cao nhất vào tháng VII và nhỏ nhất vào tháng II

Bảng 6 Lượng bốc hơi tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam

Cuông 43,8 39,9 52,7 74,4 103,3 102,1 116,8 82,1 55,2 50,5 44,5 47,6 813

Đô Lương 40,0 33,3 40,2 53,0 83,8 109,0 129,0 83,9 55,0 54,6 50,0 51,1 789

Vinh 39,4 28,9 35,5 54,1 110,0 155,0 180,0 121,0 65,6 59,9 54,7 50,5 954 Quỳnh

Lưu 56,1 42,9 44,2 53,4 102,0 127,0 159,0 103,0 69,8 76,2 77,0 72,3 983 Hương

Trang 17

- Từ 1.800 - 2.500 mm ở vùng mưa vừa và lớn như thượng nguồn sông Hiếu, vùng sông Giăng, khu giữa từ Cửa Rào - Nghĩa Khánh tới Dừa

- Từ 2.200 - 2.400 mm ở vùng mưa trung bình như vùng sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu

- Vùng đồng bằng ven biển lượng mưa năm đạt 1.800 - 1.900mm

Tâm mưa lớn nhất nằm ở thượng nguồn sông Hiếu, thượng nguồn sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu

Mùa mưa thay đổi theo từng vị trí của lưu vực Thượng nguồn sông Lam, sông Hiếu mùa mưa t ừ tháng V và kết thúc vào tháng X Lượng mưa tháng lớn nhất vào tháng VIII, ba tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VII, VIII, IX Càng về phía Nam mùa mưa muộn dần, bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào tháng X , XI Tháng

có lượng mưa lớn nhất là tháng VIII, IX, X, như vùng sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu (Bảng 7)

Cường độ mưa lớn nhất xảy ra khi có bão đổ bộ vào Lượng mưa 1 ngày lớn nhất có thể đ ạt 788mm (ngày 27/9/1978) và 3 ngày lớn nhất 958mm ở Đô Lương Lượng mưa 1 giờ cao nhất đạt 142mm trong trận mưa ngày 8/10/1965 tại Vinh

Tháng VIII, IX, X dải hội tụ nhiệt đới dịch chuyển dần về phía Nam kế t hợp với các loại hình thế th ời tiết gây mưa l ớn như áp thấp nhiệt đ ới, bão đã tạo ra những trận mưa lớn kéo dài từ 3 - 10 ngày gây lũ lớn trên các triền sông

Lượng mưa hai tháng IX, X đạt tới 40% lượng mưa năm Lượng mưa tháng

IX, X phân bố không đều trên lưu vực Vùng đồng bằng chịu ảnh hưởng của mưa

do bão gây ra, lượng mưa hai tháng đạt 1.000 - 1.100mm Càng về phía thư ợng lưu dòng chính lượng mưa hai tháng giảm dần do ảnh hưởng ít của bão chỉ đạt 500 - 800mm

Bảng 7 Đặc trưng lượng mưa tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam

Hiếu

(%)

40,0 27,6 48,1 102,9 199,0 148,6 120,8 231,9 408,6 412,2 130,1 38,9 1.909 2,1 1,4 2,5 5,4 10,4 7,8 6,3 12,1 21,4 21,6 6,8 2,0 100

Trang 18

Xén

(%)

41,0 33,2 41,2 61,5 125,1 122,0 97,0 216,1 464,3 552,3 179,2 69,6 2.003 2,0 1,7 2,1 3,1 6,2 6,1 4,8 10,8 23,2 27,6 8,9 3,5 100 Cửa

Rào

(%)

53,7 41,5 48,9 67,5 136,0 114,7 117,1 200,9 495,6 540,8 179,3 68,2 2.064 2,6 2,0 2,4 3,3 6,6 5,6 5,7 9,7 24,0 26,2 8,7 3,3 100 Con

Cuông

(%)

77,9 60,8 53,1 66,4 145,2 120,6 115,2 222,5 541,7 578,1 240,4 82,1 2.304 3,4 2,6 2,3 2,9 6,3 5,2 5,0 9,7 23,5 25,1 10,4 3,6 100 Dừa

(%)

31,9 25,4 36,6 62,7 134,9 126,4 102,4 184,3 540,3 553,5 188,3 63,5 2.05 1,6 1,2 1,8 3,1 6,6 6,2 5,0 9,0 26,4 27,0 9,2 3,1 100

Đô

Lương

(%)

26,2 27,8 36,2 69,0 143,6 139,0 112,0 227,5 403,9 399,5 119,4 42,7 1.747 1,5 1,6 2,1 4,0 8,2 8,0 6,4 13,0 23,1 22,9 6,8 2,4 100 Nam

Đàn

(%)

65,0 51,3 55,3 83,9 219,4 146,0 135,7 271,3 514,3 550,0 212,4 100 2.405 2,7 2,1 2,3 3,5 9,1 6,1 5,6 11,3 21,4 22,9 8,8 4,2 100 Hoà

Duyệt

(%)

36,8 29,4 41,5 68,0 148,3 128,0 123,6 212,9 419,9 454,7 148,3 50,4 1.862 2,0 1,6 2,2 3,7 8,0 6,9 6,6 11,4 22,6 24,4 8,0 2,7 100 Sơn

Diệm

(%)

41,0 33,2 41,2 61,5 125,1 122,0 97,0 216,1 464,3 552,3 179,2 69,6 2.003 2,0 1,7 2,1 3,1 6,2 6,1 4,8 10,8 23,2 27,6 8,9 3,5 100 Linh

Cảm

(%)

53,7 41,5 48,9 67,5 136,0 114,7 117,1 200,9 495,6 540,8 179,3 68,2 2.064 2,6 2,0 2,4 3,3 6,6 5,6 5,7 9,7 24,0 26,2 8,7 3,3 100 Chợ

Tràng

(%)

77,9 60,8 53,1 66,4 145,2 120,6 115,2 222,5 541,7 578,1 240,4 82,1 2.304 3,4 2,6 2,3 2,9 6,3 5,2 5,0 9,7 23,5 25,1 10,4 3,6 100 Vinh

(%)

31,9 25,4 36,6 62,7 134,9 126,4 102,4 184,3 540,3 553,5 188,3 63,5 2.05 1,6 1,2 1,8 3,1 6,6 6,2 5,0 9,0 26,4 27,0 9,2 3,1 100

Nguồn:“Trung tâm KTTV TW”

Nhìn chung lượng mưa giảm dần từ hạ du lên thượng nguồn Vùng mưa lớn thường tập trung ở trung lưu sông Lam

1.6 THỦY VĂN

1.6.1 Mạng lưới thủy văn

Các sông suối đổ vào dòng chính đều ngắn và dốc bắt nguồn từ vùng núi cao của các tỉnh Xiêng Khoảng, Nghệ An, Hà Tĩnh Tổng số có 44 sông nhánh cấp I, sông có diện tích lớn nhất là sông Hiếu F = 5.340km2 Những sông nhánh lớn của sông Lam là Nậm Mô, Huổi Nguyên, sông Hiếu, sông Giăng và sông La Các sông

Trang 19

này đóng góp lượng dòng chảy đáng kể vào dòng chính

Dòng chính sông Lam bắt nguồn từ dãy núi cao thuộc tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) có độ cao đỉnh núi 2.000m, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam vào Viêt Nam; cách cửa sông khoảng 40km chảy theo hướng Đông Nam rồi đổ ra biển tại Cửa Hội Sông Lam không có phân lưu, toàn bộ lượng nước đều đổ ra biển tại Cửa Hội Đặc điểm chính của các nhánh chính như sau:

+ Sông Nậm Mộ: Dòng chính của sông Nậm Mộ bắt nguồn từ dãy Phu Săm Sum có

độ cao 2.620m, thuộc tỉnh Xieng Khoảng (Lào), sông đổ vào sông Lam tại Cửa Rào Sông chảy qua vùng có lượng mưa năm nhỏ chỉ đạt trung bình từ 1.200-1.300mm, là tâm khô hạn của Bắc Trung Bộ Lượng dòng chảy năm chỉ chiểm 9,3% tổng dòng chảy năm toàn lưu vực

+ Sông Hiếu là sông nhánh cấp I lớn nhất bắt nguồn từ dãy núi cao Phu Hoạt có độ cao đỉnh núi 2.452m trên huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ đổ vào sông chính tại ngã ba Cây Chanh Diện tích toàn bộ lưu vực là 5.340km2, chiều dài sông là 228km, lượng mưa trung bình thượng nguồn sông là 2.200mm, hạ du là 1.600mm Dòng chảy năm chiếm 32,3% dòng chảy sông Lam tại Yên Thượng Lũ lớn trên sông Hiếu xảy ra vào các năm 1962, 1978, 1988, 2010, 2013

+ Sông Giăng: sông bắt nguồn từ vùng núi cao của dãy Trường Sơn, sông có chiều dài 77km Sông chảy qua vùng có lương mưa năm lớn trên lưu vực 2.200mm Lòng sông hẹp, ngắn và đổ vào sông Lam tại Thanh Tiên Dòng sông nhiều thác ghềnh + Sông La là hợp lưu của hai nhánh Ngàn Phố và Ngàn Sâu có tổng diện tích là 3.210km2 đổ vào hạ lưu sông Lam tại Chợ Tràng Sông nhánh lớn Ngàn Sâu, Ngàn Phố bắt nguồn từ vùng núi cao phía Tây Hà Tĩnh có lượng mưa năm lớn Lũ lớn và

lũ quét thường xảy ra trên lưu vực đặc biệt là trên sông Ngàn Phố gây thiệt hại nghiêm trọng tới cuộc sống và tài sản của dân trong vùng Những năm lũ lớn như năm 1960, 1989 và đặc biệt năm 2002, 2010, 2013 gây thiệt hại nghiêm trọng

1.6.2 Mạng lưới trạm KTTV

Các trạm khí tượng trên lưu vực hầu hết được thành lập từ sau năm 1957 Trước 1957 cũng có một số trạm khí tượng hoặc đo mưa được thiết lập nhưng quan trắc không liên tục do ảnh hưởng của chiến tranh

Tổng số trạm đo mưa trên lưu vực là 27 trạm, trong đó có 9 trạm khí tượng

đo các yếu tố như: mưa, nhiệt độ, độ ẩm, bốc hơi, gió, nắng…đó là các trạm: Quỳ

Trang 20

Châu, Quỳ Hợp, Tây Hiếu, Tương Dương, Con Cuông, Đô Lương, Vinh, Hương Khê, Hương Sơn

Một số trạm có số liệu dài như Vinh từ năm 1906, Tương Dương từ 1938,

Đô Lương từ 1935, Mường Xén từ 1931, Chu Lễ từ 1932, Linh Cảm từ 1933 Tuy nhiên số liệu các trạm này đều bị gián đoạn.Chỉ sau năm 1954 tại tài liệu mới được liên tục

Hiện nay trên lưu vực có 18 trạm thủy văn được đưa vào mạng lưới điện báo mùa mưa lũ như:

+ 07 trạm thủy văn cấp I: Quỳ Châu, Nghĩa Khánh, Mường Xén, Dừa, Yên Thượng, Hòa Duyệt và Sơn Diệm

+ 05 trạm thủy văn cấp III vùng sông không ảnh hưởng triều: Thạch Giám, Khe Bố, Con Cuông, Đô Lương, Nam Đàn, Chu Lễ

+ 04 trạm thủy văn cấp III vùng sông ảnh hưởng triều: Chợ Tràng, Bến Thủy, Cửa Hội, Linh Cảm Riêng trạm Bến Thủy không nằm trong mạng lưới điện báo

Bảng 8.Danh sách các trạm thủy văn trên lưu vực sông Lam

Các yếu

tố quan trắc

Trang 21

STT Tên trạm Địa danh Sông Vĩ độ Kinh độ Các yếu

tố quan trắc

Nhân tố khí hậu kết hợp với yếu tố địa hình đã tạo nên sự phân hoá khí hậu

khá sâu sắc giữa các vùng trong lưu vực sông Lam:

Mùa mưa kéo dài, từ tháng VIII đến tháng XI và chịu ảnh hưởng rõ rệt của địa hình Mùa hạ có gió Lào khô nóng hình thành một thời kỳ ít mưa từ tháng VI đến tháng VII Cuối mùa khô (khoảng tháng V) thường có lũ tiểu mãn liên quan đến

sự xuất hiện đường hội tụ theo kinh hướng giữa gió tây nam và đông nam

Lưu vực sông Lam thuộc loại mưa nhiều so với miền Bắc nhưng phân bố không đều

Vùng phía Bắc và Tây Bắc lưu vực sông Lam chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu chuyển tiếp từ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Vùng này thuộc thượng nguồn trung lưu sông Hiếu với mùa mưa lũ đến sớm từ tháng VI kết thúc muộn tháng XI Lũ lớn nhất năm tập trung vào tháng VIII, IX với tỷ lệ ngang nhau Phía sông Hiếu lượng mưa năm khoảng 1965mm.Vùng Mường Xén mưa ít nhất, lượng mưa năm khoảng

600 – 700mm

Vùng thượng nguồn sông Lam chịu ảnh hưởng gió mùa Tây Nam Mùa mưa

lũ xảy ra sớm lũ lớn nhất năm tập trung vào tháng VIII nhiều hơn

Trang 22

Vùng trung lưu sông Lam: Vùng này có lượng mưa trung bình từ 1.800 - 2.200 mm, mùa lũ từ tháng VII - XI, lũ lớn tập trung chủ yếu vào tháng IX Lượng mưa gia tăng do ảnh hưởng của Biển, lượng mưa trung bình năm khoảng 1800 - 2000mm, tại Đô Lương 1760mm, Vinh 2022mm, Nghi Xuân 2232mm và Cửa Hội 1944mm

Vùng đồng bằng hạ du sông Lam với lượng mưa năm trung bình 1.800 –

2000 mm, mùa lũ từ tháng VIII - XI, lũ lớn nhất năm xảy ra vào tháng IX

Phía Tây Nam và Nam lưu vực sông Lam mưa nhiều hơn, lượng mưa năm lưu vực sông Ngàn Sâu khoảng 1880mm

Thung lũng dòng chính sông Lam thuộc vùng ít mưa trong lưu vực; lượng mưa trung bình năm không quá 1500mm; phía thượng lưu, lượng mưa bình quân năm chỉ đạt khoảng 1360mm như Cửa Rào 1359mm

Do địa hình dãy Trường Sơn chia cắt mà mùa mưa trên lưu vực sông Lam có những khác biệt rõ rệt Phía Tây Trường Sơn mùa mưa từ tháng V đến tháng X, lớn nhất là tháng VI Phía Đông Trường Sơn mùa mưa từ tháng VIII đến tháng XI, lớn nhất là tháng IX hoặc tháng X Chế độ mưa như vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến chế

độ dòng chảy sông Lam

1.6.3.2 Mùa lũ, mùa kiệt

 Mùa lũ có thể chia làm hai thời kỳ chính là lũ tiểu mãn và lũ chính vụ.Lũ tiểu mãn vào khoảng tháng V, VI do hoạt động mạnh của tín phong bắc bán cầu và gió mùa Tây Nam Lũ chính vụ vào khoảng tháng IX, X, XI do hoạt động của các hình thế thời tiết gây mưa lớn

Thời gian bắt đầu, kết thúc mùa lũ và thời gian xuất hiện lũ lớn trên dòng chính sông Lam và các dòng nhánh là khác nhau.Ở thượng nguồn sông Lam, mùa lũ thường bắt đầu từ tháng VII và kết thức vào tháng XI, tuy nhiên lũ tiểu mãn cũng có thể xuất hiện vào tháng VI, và lũ lớn nhất thường xuất hiện vào tháng VIII.Ở trung

và hạ lưu sông Lam, mùa lũ thường bắt đầu từ tháng VII, kết thúc vào tháng XI, nhưng lũ lớn nhất lại xuất hiện vào tháng IX (muộn hơn 1 tháng so với thượng nguồn).Sông Hiếu mùa lũ bắt đầu từ tháng VIII, kết thúc vào tháng XI Lũ lớn nhất thường xuất hiện vào tháng X

 Mùa kiệt bắt đầu từ tháng I và kết thúc vào cuối tháng VIII hàng năm, kiệt vào tháng III ÷ IV và kiệt vào tháng VII ÷ VIII Thời gian bắt đầu và kết thúc mùa kiệt trên lưu vực sông Lam là không giống nhau

Trang 23

Vùng thượng nguồn dòng chính sông Lam thời gian bắt đầu kiệt từ tháng XI đến tháng X năm sau giống như thời gian kiệt của các sông miền Bắc.Vùng trung lưu sông Lam thời gian kiệt lại bắt đầu từ cuối tháng XI đầu tháng XII

và kết thúc vào cuối tháng VII và nửa đầu tháng VIII (vùng sông Hiếu, sông Giăng, sông La) Dòng chảy kiệt phân bố trên toàn lưu vực rất không đều nhau vùng từ thượng nguồn sông Lam.[5]

Trang 24

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM LŨ LƯU VỰC SÔNG LAM VÀ GIỚI THIỆU MÔ

HÌNH MIKE 11

2.1 TÌNH HÌNH LŨ LỤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM

Hiện nay trên lưu vực sông Lam thường xuyên xảy ra mưa lũ kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11 gây nên thiệt hại rất lớn về người và của Do đó cần nghiên cứu kĩ các đặc điểm lưu vực để thực hiện mô phỏng và dự báo lũ Về tình hình lũ lụt trên sông Lam em tìm hiểu về mực nước lũ, lưu lượng lũ và một số trận lũ điển hình

2.1.1 Mực nước lũ

Thượng nguồn sông Lam tại Cửa Rào mực nư ớc lũ lớn nhất vào VIII/1973 với Hmax = 76,3m Từ Dừa trở về hạ du mực nước lũ lớn nhất xuất hiện trận lũ tháng IX/1978 với Hmax = 19,71m tại Đô Lương Tại Nam Đàn mực nư ớc lũ lớn nhất thực

đo là 9,64m, Bến Thủy 5,68m vào IX/1978

Trên sông Hiếu mực nư ớc lũ lớn nhất đạt Hmax = 80,05m vào ngày 14/X/1988 tại Quỳ Châu

Trên sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm mực nư ớc lớn nhất là 15,82m vào ngày 20/IX/2002 Trên sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt , mực nư ớc lớn nhất là vào năm

1960 với Hmax = 12,74m ngày 5/X, tiếp đến là tr ận lũ năm 2002 với Hmax = 11,78m ngày 20/IX Mực nước lớn nhất tại Linh Cảm trên sông La xuất hiện vào năm 1978 với Hmax = 7,83m ngày 29/IX tiếp đến là trận lũ năm 2002, Hmax = 7,7m ngày 21/ IX

Bảng 9 Mực nước lũ thực đo tại một số vị trí

Trang 25

TT Trạm Sông Hmax(m) Thời gian

5690 m³/s tiếp theo là các trận lũ 1963 với Qmax = 5350 m³/s ngày 25/VII/1963, trận

lũ năm 1980 với Qmax = 4600 m³/s ngày 17/IX/1980, trận lũ năm 1988 với Qmax =

3890 m³/s ngày 18/X/1988 Trận lũ tháng IX/1978 đạt 2560 m³/s ngày 28/IX/1978

Trên sông Hiếu t ại Quỳ Châu, số liệu quan tr ắc lưu lượng lũ trung bình đạt

1470 m³/s Lưu lượng lũ lớn nhất tại Quỳ Châu xảy ra vào 14/X/1988 với Qmax =

2870 m³/s, tiếp theo các trận lũ năm 1980 Qmax = 2730 m³/s ngày 7/IX/1980, lũ năm 1966Qmax = 2530 m³/s, lũ năm 1991 với Qmax = 2430 m³/s ngày 18/VIII, lũ năm

1962 với Qmax = 2410 m³/s ngày 28/IX

Lưu lượng lũ lớn nhất tại Dừa 10200 m³/s ngày 28/IX/1978, tiếp theo là trận

lũ năm 1988 với Qmax = 8840 m³/s ngày 18/X/1988, trận lũ 1963 Qmax = 8630 m³/s ngày 26/7/1963, trận lũ 1973 Qmax = 7300 m³/s ngày 27/VIII/1973

Như vậy, ở thượng nguồn sông Lam lũ năm 1973 có lưu lượng lũ lớn nhất nhưng tại Dừa có sự nhập lưu của sông Hiếu, lũ năm 1973 còn có đỉnh lũ thấp hơn đỉnh lũ vào các năm 1978, 1988, 1963

Trên sông Giăng, dòng chảy lũ trung bình nhiều năm t ại Thác Muối là 1190 m³/s Lũ lớn nhất tại Thác Muối là vào năm 1974 với Qmax = 5150 m³/s

Tại Yên Thượng có sự gia nh ập của lượng nước khu giữa đặc biệt là lư ợng nước lũ của lưu vực sông Giăng Lưu lượng lũ lớn nhất trung bình đạt 4110 m³/s Lưu lượng lũ lớn nhất hoàn nguyên tại Yên Thượng là 13180 m³/s ngày 28/IX/1978, tiếp theo là các tr ận lũ tháng X/1988 với Qmax = 10280 m³/s ngày 19/X/1988, trận lũ năm 1996 với Qmax = 6210 m³/s ngày 25/IX/1996

Biến động dòng chảy lũ trên dòng chính sông Lam khá lớn, tại Cửa Rào năm

1973 Qmax = 5690 m³/s, năm lũ nhỏ nhất Qmax= 634 m³/s ngày 4/VII/1998, năm

Trang 26

1976 không có bão đổ bộ ảnh hưởng, Qmax = 1190 m³/s ngày 14/VIII/1976 Tại Dừa, năm có lưu lượng lũ nhỏ nhất đạt 862 m³/s ngày 4/VII/1998 lũ trên các sông nhánh lớn

Trên sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm lưu lư ợng lũ lớn nhất trung bình nhiều năm đ ạt

1730 m³/s Lũ đạt trị số lớn nhất là vào tháng IX/2002 với Qmax = 5200 m³/s Sau đó

là các trận lũ tháng V/1989 với Qmax = 4400 m³/s ngày 26/V Năm 1960 có Qmax =

3820 m³/s, vào tháng X/1988 Qmax = 3820 m³/s và tháng IX/1978 với Qmax = 3630 m³/s

Trên sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt, lũ lớn nhất trung bình nhiều năm là 1890 m³/s Lũ lớn nhất là trận lũ năm 1960 với Qmax = 3880 m³/s, tiếp theo là các tr ận lũ

1979, 1983, 1978 và 2002 Lũ năm 2002 trên sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt xét về

độ lớn Qmax chỉ ở vị trí thứ 5 sau các trận lũ 1960, 1979, 1983, 1978 trong khi đó trên sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm, lũ lớn nhất xảy ra vào tháng 9/2002

2.1.3 Một số trận lũ điển hình

2.1.3.1 Trận lũ lớn tháng IX năm 1978

Đây là trận lũ kép lịch sử với hai đỉnh ở hạ du lưu vực sông Lam [2]

Đợt lũ thứ nhất(Hình 4): Từ ngày 17 – 18/IX, lũ trên các sông bắt đầu lên và

đạt đỉnh vào các ngày từ 21 - 23/IX Cường suất trung bình từ 3 - 6cm/h, riêng sông Ngàn Phố lên nhanh hơn với cường suất trung bình từ 19 - 25cm/h Biên độ lũ lên trên sông Ngàn Phố là 7,28m, các sông khác từ 4,0 - 6,0m Trên sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố xuất hiện đỉnh vào ngày 21, hạ lưu sông La xuất hiện ngày 23 Đỉnh lũ tại Nam Đàn: 7,98m, cao hơn báo động 3 (BĐ3) là 0,08m; sông La tại Linh Cảm: 5,95m, trên BĐ2: 0,45m Mặc dù lũ trên sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố đã xuống từ trưa ngày 21, thời gian chảy truyền từ Hòa Duyệt và Sơn Diệm về Linh C ảm trung bình

là 9 - 12h nhưng đến tận ngày 23, mực nước tại Linh Cảm mới đạt đỉnh, như vậy có sự dồn ứ nước từ Nam Đàn sang Linh Cảm

Đợt thứ 2: Lũ trên sông Lam - La chưa kịp rút trong trận lũ đợt đầu lại được

bổ sung thêm đợt lũ thứ 2 Cường suất lũ lên trung bình của đợt lũ thứ 2 tại Nam Đàn: 4,8cm/h, tại Linh Cảm: 5,1cm/h; cường suất lũ lên lớn nhất tại Nam Đàn: 20cm/h, tại Linh Cảm: 22cm/h Đỉnh lũ đợt sau lớn hơn đợt trước Đỉnh lũ tại Nam Đàn: 10,38m, trên BĐ3: 2,48m; tại Sơn Diệm : 14,06m, trên BĐ3: 1,06m; tại Hòa Duyệt: 11,40m, trên BĐ3: 0,90m; tại Linh Cảm: 7,75m, trên BĐ3: 1,25m (Bảng 10, hình 4) Lưu lượng lũ lớn nhất thực đo tại Yên Thượng 9.000m3/s, tại Sơn Diệm :

Ngày đăng: 21/06/2020, 08:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm