phụ lục Ngành công nghiệp hoá dầu non trẻ của việt nam trong tiến trình hội nhập
Trang 1Phụ lục 3
Bộ luật Anti-Dumping (AD) của Mỹ trong câu chữ
và cách áp dụng
Tác giả: Đỗ Tuyết Khanh
Các nguyên tắc cơ bản của bộ luật AD của Mỹ không khác các qui tắc của WTO, vấn đề là ở cách vận hành của bộ luật thông qua các điều lệ thi hành, và cách các cơ quan hữu trách áp dụng những điều lệ ấy Tức là chính sách AD của
Mỹ trong thực tế Trong các vụ tranh chấp trớc WTO, các nhóm hội thẩm phải xem xét là điều lệ liên can có hợp lệ hay không cả trong tự bản thân câu chữ (on its face and as such) lẫn trong cách áp dụng (as applied) Trong nhiều trờng hợp, nhóm hội thẩm quyết định là đạo luật liên can, tự bản thân phù hợp với luật WTO nhng cách
áp dụng thì lại trái luật của WTO, do đó họ không yêu cầu nớc bị kiện phải sửa đổi luật những vẫn yêu cầu các cơ quan hữu trách phải sửa đổi hay rút lại biện pháp cụ thể của mình Và nh thế là đủ để bên nguyên coi nh thắng kiện.
Cách vận hành của luật và hệ thống AD tại Mỹ
Mỗi vụ kiện AD diễn ra với sự tham dự của 3 bên: các công ty nội địa đệ đơn là nguyên đơn, các công ty ngoại quốc bị kiện là bị đơn và chính quyền nớc nhập khẩu phải xét xử để đi đến quyết định có áp thuế AD hay không Nếu vụ tranh chấp đợc
đa ra trớc WTO thì WTO chỉ xét xử các vấn đề giữa hai quốc gia nên bên nguyên là chính quyền nớc nhập khẩu, bên bị là chính quyền nớc xuất khẩu, mỗi bên đại diện cho các công ty của mình, và nhóm hội thẩm của WTO đóng vai trò trọng tài Nhng
dù ở mức độ nội bộ một nớc hay trớc WTO, không phải bất cứ ai cũng có thể đệ đơn
tố cáo một công ty ngoại quốc để khởi đầu tố tụng Điều 5.4 của hiệp ớc AD qui
định là cơ quan hữu trách chỉ có thể mở thủ tục điều tra nếu đơn kiện do ngành sản xuất nội địa đứng tên hay đợc đệ trình nhân danh họ Để hội đợc điều kiện này, đơn kiện phải đợc đa ra dới tên hay với sự ủng hộ của các công ty sản xuất ra ít nhất 25% tổng sản lợng mặt hàng tơng đơng trong nớc Do đó nhiệm vụ đầu tiên của cơ quan hữu trách là phải xác định tính đại diện của các công ty đệ đơn (petitioner’s standing determination)
Sau đó phải xác định hai điều cơ bản là có dumping hay không và có sự tổn hại hay không Tại Mỹ, hai nhiệm vụ này đợc giao cho hai cơ quan khác nhau: Bộ
Th-ơng mại (Department of Commerce- DOC) xác định có dumping hay không và nếu
có thì tới mức nào; Uỷ ban hiệp thơng quốc tế (International Trade Commission_ ITC) xác định có hay không tổn hại hay nguy cơ tổn hại cho ngành sản xuất nội địa
do hàng nhập bán phá giá gây ra DOC và ITC phối hợp làm việc trong những thời hạn qui định và cho biết kết luận trong những bản phán quyết sơ bộ và cuối cùng (preliminary and final determinations) Nếu DOC phán quyết là không có dumping,
Trang 2thủ tục đơng nhiên chấm dứt Nếu DOC phán quyết là có dumping, ITC sẽ xem xét vấn đề tổn hại Nếu ITC cũng phán quyết là có tổn hại hay nguy cơ tổn hại thì DOC
sẽ ra một pháp lệnh AD (antidumping order) ấn định biên độ dumping áp dụng cho những công ty ngoại quốc tham gia vụ kiẹn, và một mức khác cho tất cả các công ty khác xuất khẩu cùng mặt hàng từ nớc bị kiện nhng không tham gia Mức này không phải là mức thuế AD mà để tính số tiền mặt ký quỹ (cash deposit) công ty nhập khẩu Mỹ phải đóng cho Hải quan Mỹ để tiếp tục nhập món hàng, cho đến khi DOC
ấn định mức thuế AD chính thức, thờng là một năm sau khi pháp lệnh ban hành, và mỗi năm sau đó vào thời điểm ấy Nếu thuế suất cao hơn, công ty nhập khẩu phải trả
số sai biệt, cũng cộng thêm lãi Do đó, có khi công ty nhập khẩu đóng ký quỹ trên cơ sở biên độ dumping là 5% chẳng hạn, để rồi đập thuế AD 100% một năm sau, sau khi DOC đã xem xét lại vấn đề Tuỳ theo mặt hàng và số lợng nhập khẩu, số tiền sai biệt phải đóng cộng thêm lãi cũng đủ làm công ty điêu đứng
Nh điều 11.3 của hiệp ớc AD qui định, các thuế AD phải chấm dứt trễ nhất là 5 năm sau khi ban hành, trừ phi cơ quan hữu trách sau khi xem xét lại vấn đề khẳng
định rằng cần phải duy trì thuế để tránh việc bán phá giá tiếp tục hay tiếp diễn Do
đó luật AD của Mỹ cũng dự trù DOC phải xem xét lại thuế AD 5 năm sau ngày ban hành, khi biện pháp tới lúc phải chấm dứt Điều khoản và việc xem xét lại này do đó
đợc gọi là “hoàng hôn” (sunset provision, sunset review)
Cho tới đây thì không có gì trái luật WTO cả, và chẳng có gì sai trái Vậy thì các bạn hàng của Mỹ quá quắt ở chỗ nào? Chính sách của Mỹ quá quắt ở chỗ nào? Cũng nh khi trớc khi đặt bút ký một hợp đồng, chúng ta nên đọc kỹ mấy hàng chữ nhỏ li ti cuối trang, cái “chết ngời” ở đây cũng nằm trong các chi tiết
Những điểm chính gây tranh cãi trong cách áp dụng luật AD ở Mỹ là gì?
Chúng ta có thể theo tuần tự diễn tiến của một vụ kiện AD để nêu lên những
điểm gây vấn đề Giai đoạn điều tra dẫn tới phán quyết là giai đoạn quan trọng nhất
và cũng “hiểm nghèo” nhất đối với công ty bị tố cáo, tập trung đủ thứ trở ngại phải vợt qua
Bảng câu hỏi
Trớc tiên, để phân xử cho công minh, DOC phải nghe lý lẽ của cả hai bên Sau khi nhận đợc đơn của các công ty Mỹ, trong đó họ viện dẫn các lý do tố cáo, DOC gửi đến các công ty ngoại quốc bị kiện một hoặc nhiều bảng câu hỏi để cho họ cơ hội trả lời và tự bào chữa Đây là thử thách đầu tiên và cũng là cái bẫy cho nhiều công ty nhất là từ các nớc nghèo ít kinh nghiệm làm ăn với bên ngoài, thiếu ngời và thiếu của để đáp ứng các đòi hỏi của DOC Những câu hỏi rất phức tạp, tràng giang
đại hải, viết trong một thứ ngôn ngữ kỳ dị, đặt ra những vấn đề xa lạ đối với thế giới ngoài Mỹ (và chính ở Mỹ cũng ít ngời hiểu nổi!) Ngay cả khi nhân viên công ty
Trang 3ngoại quốc thông thạo tiếng Anh đi nữa, cũng có mấy ngời biết (EP, CEP, POI, POR, CONNUM, FUPDOL, TOTPUDD PCTMARG, DIFMER…))* là cái quái gì! Không kể là phải trả lời trong thời hạn rất ngắn: thí dụ trong vụ kiện công ty điện tử Matsushita, DOC đòi hỏi họ phải dịch sang tiếng Anh 3000 trang tài liệu về tài chính Lệnh của DOC ban ra chiều thứ sáu và hạn nộp là sáng thứ hai tuần sau Công ty Matsushita chịu thua và rút ngay mặt hàng của mình ra khỏi thị trờng Mỹ
Thông tin tốt nhất có thể có
Cho nên, nếu vì không hiểu các câu hỏi hay vì coi nhẹ vấn đề, công ty nớc ngoài không trả lời hay trả lời vớ vẩn, hay chỉ vấp phải một trong các “tội” nh đa các con số không thể kiểm tra đợc, trả lời chậm chễ, không đầy đủ, hay không đúng theo mẫu mã quy định thì DOC sẽ coi là họ không hợp tác và quay sang các dữ liệu sẵn có (facts available) và thông tin tốt nhất có thể có (best ìnirmation available) Các dữ kiện và thông tin này thờng chỉ là những gì các công ty Mỹ viện dẫn trong
đơn kiện, tức là những con số, dữ liệu hết sức bất lợi cho công ty nớc ngoài Tệ hơn nữa, DOC sẽ lấy lại nguyên si, không thắc mắc, biên độ dumping do các công ty Mỹ
đề nghị Và dĩ nhiên là biết trớc nh vậy, các công ty Mỹ đã tính mức cao nhất có thể tính đợc, “tốt nhất” đối với họ chính là “xấu nhất” cho các công ty nớc ngoài!
Chính vì có nhiều nớc xuất khẩu than phiền điều trên mà hiệp ớc AD dành riêng một phụ đính về các thông tin tốt nhất có thể có, qui định rõ ràng hơn bổn phận của đôi bên, giới hạn lại quyền chuyên quyết của cơ quan hữu trách trong việc chấp nhận hay bác bỏ các thông tin của các công ty xuất khẩu đa ra Tuy thế, đây vẫn là một điểm gây nhiều khó khăn cho các nớc bị kiện AD ở Mỹ
Kiểm tra tại chỗ
Nếu công ty nớc ngoài qua đợc cửa ải đầu, trả lời sao cho khéo, cho đúng tiêu chuẩn thì cũng cha nên vội mừng, vì DOC sẽ gửi ngời tới tận nơi kiểm tra xem khai báo có thành thật, đầy đủ không, so sánh với những gìcông ty Mỹ nói Lại là một dịp
để bắt bẻ nhau, cãi lý cãi chầy, bới lông tìm vết, không kể là soi mói vào những chi tiết thầm kín nhất của công ty là điều chẳng có anh làm ăn nào thích Và nếu công
ty ngoại quốc không qua đợc khẩu này thì DOC lại có thể dùng các “thông tin tốt nhất” do phía Mỹ đa ra
Điều chỉnh giá cả (price adjustments)
DOC không bao giờ so sánh trực tiếp các giá thực tế mà dùng rất nhiều phép tính rắc rối, dựa trên đủ mọi yếu tố, để điều chỉnh các con số này rồi mới so sánh chúng với nhau Mỗi yếu tố đều có thể làm sai lệch kết quả cuối cùng, tuỳ theo cách tính của DOC: các khoản chi tiêu cho tiếp thị, chi phí vận chuyển, chiết khấu (discounts), sự khác biệt giữa món hàng, sự phân biệt đối xử giữa các khách hàng có
Trang 4quan hệ hữu cơ với ngời bán (arm’s length test)…) DOC hay dùng yếu tố cuối cùng này để bóp méo các con số và đi đến kết luận là có dumping
Tính gộp thành số không (zeroing)
Đây là một trong những điểm tranh cãi gay gắt và dai dẳng nhất về đề tài AD tại WTO, đơc coi là một trong những bất công lớn nhất Thật ra không phải chỉ có
Mỹ mới làm chuyện này, nhng Mỹ là “ chuyên gia” dùng cách này để đợc tính biên
độ dumping cao nhất bất kể thực tế ra sao, thậm chí ngay cả khi không có dumping cũng biến thành có, cứ nh trò ảo thuật Vấn đề nh sau: nếu sau khi cộng trừ nhân chia đủ thứ xong, kết quả là những công ty ngoại quốc không bán phá giá mà còn bán ở Mỹ với giá cao hơn giá bán trong chính nớc mình, thành thử biên độ âm (negative margin), thì thay vì công nhận điều đó, DOC coi nó nh là ngang với số không Vì trong các tính toán để ra biên độ dumping cuối cùng, có rất nhiều biên độ khác nhau nên nếu không trừ đi các biên độ âm mà chỉ gộp thành số không thì con
số cuối cùng, đợc coi nh biên độ dumping chính thức, hoặc cao hơn thực tế hoặc là dơng trong khi nó thật ra phải là âm Từ đó, có thê hiểu đợc tại sao tuyệt đại đa số các điều tra của DOC đều dẫn đến một phán quyết có dumping (affirmative determination)
Quy chế phi kinh tế thị trờng
Đối với một số nớc, vấn đề lại còn phức tạp hơn khi DOC quyết định là không thể so sánh trực tiếp các giá cả (và cách tính giá) tại các nớc ấy và tại Mỹ vì họ không theo kinh tế thị trờng (non-market economy- NME) DOC khẳng định giá ở
Mỹ là giá thị trờng còn giá trong các nớc ấy là do Nhà nớc ấn định hay chi phối Trong trờng hợp ấy, DOC dùng các dữ liệu của một nớc thay thế (surrogate country), đợc coi nh tơng đơng với nớc bị kiện về trình độ phát triển kinh tế, sức mạnh thơng mại…) Tuy thế, sự so sánh qua trung gian một nớc thứ ba này thờng bị bất lợi cho bên bị kiện Đầu tiên, việc DOC đặt ra vấn đề phi kinh tế thị tr ờng đã là dấu hiệu không tốt lắm Trong giai đoạn từ 1986 đến 1992, chẳng hạn, các nớc NME chỉ chiếm 3% tổng số hàng nhập khẩu vào Mỹ nhng lại chiếm 20% số vụ kiện
AD Theo một bài phân tích, sự khác biệt ấy chứng tỏ Doc có chính sách nghi kỵ, phân biệt đối xử đối với các nớc bị liệt vào thành phần này
Sau đó việc chọn nớc nào là nớc thay thế dĩ nhiên cũng có thể tuỳ tiện, phản thực tế và thờng là bất lợi cho nớc bị kiện Thí dụ, trong vụ kiện Trung Quốc về đ-ờng hoá học, DOC chọn ấn Độ là nớc thay thế và dựa vào giá axit clohiđric của ấn
Độ là 2,8 USD/kg trong khi giá ở Mỹ chỉ 3 cents/kg Trong vụ kiện Trung Quốc về tôm hùm, DOC coi giá nhập của tôm hùm Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là tơng đơng với giá tôm hùm bán tại Trung Quốc bất kể sự khác biệt hiển nhiên giữa Trung Quốc
và 2 nớc này, ồi tính các biên độ dumping cho Trung Quốc là từ 90 đến 201%
Trang 5Phơng pháp áp dụng đối với các NME do đó có nhiều khả năng làm sai lệch kết quả cuối cùng và thiệt thòi cho nớc bị kiện Điều đáng để ý là chính một cựu quan chức cap cấp Mỹ, Bà Charlene Barchefsky, nguyên Bộ trởng Thơng mại trong chính quyền Clinton, trớc khi nhậm chức này đã có lần chỉ trích phơng pháp này trong một bài phân tích
Điều khoản hoàng hôn
Cuối cùng, sau khi đã thua kiện, nếu còn may là thuế AD không quá cao, không làm cho các bạn hàng là công ty nhập khẩu Mỹ bỏ chạy cả, thì các công ty mang tội bán phá giá cũng cha hết mệt Không phải cứ cắn răng chịu thuế hết 5 năm
la thoát nợ, vì việc xem xét lại vấn đề cũng rất gay go Hoàng hôn này lắm khi chẳng bao giờ chịu tắt Có những thuế AD dây da cả mấy chục năm vì cứ mỗi lần xét lại, các công ty Mỹ lại lên tiếng phản đối và DOC lại phán quyết là nguy cơ bán phá giá vẫn còn đấy Thí dụ, năm 1983, DOC ra pháp lệnh AD về bari clorua nhập
từ Trung Quốc và từ đó chỉ còn rất ít số lợng hàng nhập từ Trung Quốc vào Mỹ Tuy thế, năm 1999, Uỷ ban ITC quyết định giữ pháp lệnh này thêm 5 năm kể từ năm
2000, tức là cho đến năm 2005, hơn 20 năm say ngày ban hành Nói cách khác, trong nhiều trờng hợp, DOC và ITC sẽ duy trì các pháp lệnh và thuế AD bao lâu mà các công ty Mỹ còn muốn chặn món hàng nhập này
Nói tóm lại, vì mục đích các bộ luật AD trong các nớc nhằm bảo vệ các nhà sản xuất nội địa nên không ngạc nhiên nếu, khi áp dụng chúng, các cơ quan hữu trách khai thác triệt để các yếu tố bất lợi cho các công ty nớc ngoài Và Mỹ là nớc chuyên làm chuyện này một cách hiệu quả nhất Câu hỏi đặt ra là nếu muốn và phải tiếp tục buôn bán với Mỹ, vì không thể đứng ngoài cái thị trờng vừa không lồ vừa giàu có này, thì có cách nào đối phó để có thể sống chung với bộ máy AD này?
* EP= export, CEP= constructed export price, POI= period of investigation, POR= period of review, CONNUM= control number, FUPDOL= goreign unit price in dollar, TOTPUDD= total potentially uncollected dumping duties, PCTMARG= percentage margin, DIFMER= difference in marchandise
Vài bí quyết để sống còn với bộ máy AD
Bộ máy chống phá giá (AD) của Mỹ lợi hại nhng đã có nhiều trờng hợp công ty nớc ngoài thắng kiện và hay ít ra giảm đợc tối đa các hậu quả khi thua, nếu không thì còn ai dám làm ăn với Mỹ.
Để khai thác tất cả các yếu tố có lợi cho mình trong các vụ kiện AD, các công
ty nớc ngoài thờng phải nhờ đến chuyên gia nắm rõ luật của Mỹ Vì vậy, những vụ kiện AD cũng là cả một kỹ nghệ làm giàu cho các văn phòng luật s“ ” ở Mỹ Ông William Perry, một cựu nhân viên của ITC và DOC chuyển sang làm t vấn và chuyên biện hộ cho các công ty bị kiện AD, đã có các lời khuyên nh sau, dựa vào kinh nghiệm của Trung Quốc.
Trang 6Phải tham gia
Theo ông Perry, văn phòng của ông đã bênh vực thành công các công ty xuất khẩu Trung Quốc trong tất cả 12 vụ kiện AD họ đợc giao phó Trờng hợp duy nhất
họ thua là vụ kiện về tỏi Tuy các công ty nhập khẩu Mỹ tham gia vụ kiện với t cách
bị đơn và yêu cầu các nhà sản xuất Trung Quốc cùng tham gia nhng các công ty Trung Quốc từ chối với lý do: “Thị trờng Mỹ không quan trọng đối với chúng tôi” Vì phía Trung Quốc không có mặt, DOC bắt buộc phải dùng các con số của các nguyên đơn Mỹ và quyết định áp dụng cho tất cả các công ty Trung Quốc biên độ dumping 376% viện dẫn trong đơn kiện Và vì Trung Quốc không tham gia nên ITC cũng phán quyết theo đó là có sự tổn hại cho ngành sản xuất tỏi của Mỹ Kết quả là với một biên độ nh thế, không còn ai nhập tỏi Trung Quốc vào Mỹ từ năm 1994 đến nay
Cha hết, văn phòng luật s Mỹ thắng kiện trong vụ tỏi cũng “phát huy thành quả” ấy để khởi tố một số mặt hàng khác nhập từ Trung Quốc nh mật ong, xe đạp, nấm và cây chàm Giá trị các mặt hàng nhập này là 300 triệu USD Từ củ tỏi khiêm tốn, chỉ một vài văn phòng luật s thôi đã có thể ảnh hởng lên mấy trăm triệu xuất khẩu của Trung Quốc
Ngay cả trong nội bộ bên bị, cũng có sự khác biệt giữa công ty tham gia thủ tục
và các công ty đồng hơng nhng đứng ngoài vụ kiện Vì thuế AD áp dụng cho cả nớc xuất khẩu (country specific), nên mọi công ty của nớc ấy đều bị liên can Do đó, công ty nào không tham gia thủ tục là mất cơ hội đa ra các chứng từ, dữ liệu thuận lợi cho mình và sẽ phải chịu biên độ dumping và mức thuế do DOC ấn định theo con
số và đề nghị của nguyên đơn, tức là cao nhất, áp dụng chung cho một danh sách
“hổ lốn” gọi là “all others”
Cố gắng để cuộc điều tra so khởi dẫn đến kết luận tốt hơn
Để DOC quyết định áp thuế AD, các công ty nguyên đơn phải chứng minh hai
điều: thuyết phục DOC là có biên độ dumping và thuyết phục ITC là có sự tổn hại hay nguy cơ tổn hại Nếu họ đạt đợc hai kết quả này thì công ty ngoại quốc chỉ còn
có thể cứu vãn tình thế bằng cách tranh thủ DOC giảm tối đa biên độ dumping khi xét lại vấn đề trong những năm sau Do đó phải làm sao để cuộc điều tra sơ khởi dẫn
đến kết luận tốt nhất Có 3 cách:
1 Thuyết phục ITC là không có tổn hại (và thoát không bị thuế gì cả)
2 Thuyết phục DOC là biên độ dumping không đáng kể
3 Thơng lợng với chính quyền Mỹ một thoả thuận đình chỉ (suspension agreement) qua đó DOC ngng thủ tục AD, không áp thuế, với điều kiện công ty tuân thủ một hạn ngạch và một mức giá tối thiểu do DOC ấn định Tuy rằng cũng không dễ mà có đợc thoả thuận này
Trang 7Trong hơn 80 vụ kiện liên quan đến Trung Quốc, chính phủ Mỹ chỉ đồng ý thoả thuận đình chỉ trong hai vụ là mật ong và tôn thép carbon Trong vụ mật ong, lý
do là công ty Mỹ nhập và phân phối mật ong đã làm áp lực mạnh với DOC để khỏi mất nguồn nhập khẩu từ Trung Quốc và viện dẫn lý do bảo vệ công ăn việc làm cho lao động Điểm này dẫn chúng ta đến yếu tố sau, là “con bài” mạnh nhất của các công ty nớc ngoài
Liên kết với các công ty nhập khẩu của Mỹ
Các công ty nhập khẩu ở Mỹ là đồng minh tất yếu của các công ty xuất khẩu ngoại quốc vì cùng chung một quyền lợi: ngời này muốn bán thì ngời kia cũng muốn mua Do đó liên kết với nhau để thoát khỏi thuế dumping là đơng nhiên Trong hai vụ kiện về tôm hùm và nấm, các công ty Trung Quốc thua đậm vì đơn
ph-ơng ra trận Ngợc lại, trong các vụ đờng hoá học, các-bua silicon, lu huỳnh để nhuộm, những thuyết trình của các công ty nhập khẩu đã thuyết phục ITC quyết
định là không có tổn hại Các công ty nhập saccharin còn nói rõ là nếu họ không nhập từ Trung Quốc đợc vì bị thuế AD thì sẽ quay sang nhập của Hàn Quốc còn rẻ hơn nữa ITC bèn phán quyết là không có tổn hại khi thấy biện pháp AD sẽ không nâng đỡ nhà sản xuất Mỹ nào mà chỉ có lợi cho Hàn Quốc
Mặt khác, các công ty nhập khẩu cũng có thể tranh thủ sự ủng hộ của các công
ty tiêu thụ (end users),nh trong vụ các-bua silicon: sự tham gia của công ty General Motors, hãng chế tạo xe hơi lớn nhất nớc Mỹ và khách hàng đáng kể của các-bua silicon Trung Quốc là một trong những nguyên nhân chính khiến ITC quyết định là không có tổn hại
C xử với DOC
Một vấn đề không nhỏ là giữ đợc thái độ đúng đắn trong quan hệ vớiDOC Công việc của các thanh tra của DOC là kiểm tra xem các trả lời của công ty có
đúng không, tức là họ đợc trả lơng để nghi ngờ và bắt lỗi Tuy thế, cũng không nên coi họ nh địch thủ và miễn là các điều sai không quan trọng lắm và công ty bị điều tra tỏ ra có thiện chí hợp tác, DOC cũng sẽ nhân nhợng Ngợc lại, cũng không nên
hồ hởi thân thiện quá Trong vụ đờng hoá học, vì một cô nhân viên Trung Quốc muốn thực tập tiếng Anh với các thanh tra của DOC nên nói nhiều thành sơ hở, vô tình tiết lộ nhiều điều bất lợi cho công ty, xuýt làm hỏng hết mọi sự
Nói chung, các nguyên tắc sau đây cần phải để ý:
Xuất hiện đúng nơi, đúng lúc, biết phiên họp nào là quan trọng nhất thiết phải
có mặt, nh các buổi họp của ITC Trong tất cả các vụ mà công ty bị khởi kiện không đến tham dự các buổi họp, kết quả bao giờ cũng rất tệ
Hợp tác tích cực, trả lời tất cả các câu hỏi và cẩn thận tránh mọi hiểu lầm hay sơ ý bất lợi cho bản thân Trong vụ kiện về cồn polyvinyl, công ty sản xuất sơ
Trang 8ý viết sai giá của axit axetic là dung dịch chính, đa ra con số cao hơn thực tế gấp 6 lần khiến DOC ấn định biên độ dumping là 187% Sau khi phát hiện sai lầm, công ty xuất khẩu xin điều chỉnh lại và rốt cuộc kéo đợc biên độ dumping xuống còn 0% trong bản phán quyết cuối cùng
Đi tới cùng, không bỏ cuộc mặc dầu diễn tiến có vẻ bất lợi Trong vụ kiện đờng hoá học, tuy là DOC ấn định biện độ dumping là 145% trong bản phán quyết cuối cùng, nhng các công ty xuất khẩu Trung Quốc kiên trì theo đuổi thủ tục trớc ITC để rồi đạt đợc thắng lợi hoàn toàn vì ITC phán quyết là không có tổn hại
Nói tóm lại, bộ máy AD của Mỹ cũng vẫn để cho các công ty nớc ngoài và khả năng thắng kiện, hay ít ra vớt vát đợc tình hình Tham gia vào thu tục thì còn có cơ may thành công, chứ không tham gia thì cầm chắc thất bại