Đại cương Hỏi bệnh - Ngắn gọn, tập trung vào: − Tiếp xúc trực tiếp bệnh nhân và khai thác lý do vào viện − Hoàn cảnh chấn thương hoặc bệnh tật, vị trí cơ quan bi tổn thương − Thời gian
Trang 1MỤC TIÊU
1 Nêu được các điểm chính về
tâm lyst gặp ở bệnh nhân và gia
đình bệnh nhân khi vào cấp cứu
2 Trình bày được kiểm soát bệnh
nhân theo các bước ABC
3 Trình bày được các biện pháp
theo dõi đánh giá, đảm bảo
chức năng cơ bản và các biện
pháp chăm sóc hồi sức khác
Trang 2I Đại cương
1 Hỏi bệnh
2 Tâm lý của người bệnh và
người nhà của người bệnh khi
đến cấp cứu
2.1 Về phía người bệnh
2.2 Về phía gia đình người bệnh
II Đánh giá và xử trí ban đầu
1 Đánh giá chức năng hô hấp
1.1 Khai thông đường dẫn khí
1.2 Đặt ống nội khí quản hoặc
2 Chức năng tuần hoàn
3 Chức năng thần kinh và tâm thần
3 Nhu cầu về nước và dịch
4 Nhu cầu về calo
5 Đường nuôi dưỡng
IV Xử trí một số chuyên đề cấp cứu
Trang 3I Đại cương
Hỏi bệnh - Ngắn gọn, tập trung vào:
− Tiếp xúc trực tiếp bệnh nhân và khai thác lý do vào viện
− Hoàn cảnh chấn thương hoặc bệnh tật, vị trí cơ quan bi tổn
thương
− Thời gian xuất hiện triệu chứng
− Tình trạng ý thức trước và sau khi bị chấn thương hoặc bệnh
tật Nếu hôn mê cần hỏi rõ hôn mê từ bao giờ, đột ngột hay
từ từ
− Tình trạng sức khoẻ trước khi nhập viện cấp cứu
− Bệnh nhân có tiền xử gì đặc biệt không : ĐTĐ, THA, dị ứng …
− Bệnh nhân có đang bị đau không, nếu có thì đau ở mức độ
nào ?
Trang 44
Bệnh sử hay phần hỏi bệnh của một bệnh nhân là những dữ liệu
thu thập được bởi một nhân viên y tế thực hiện qua việc hỏi những
câu hỏi cụ thể, hoặc hỏi trực tiếp bệnh nhân hoặc gián tiếp qua người
quen bệnh nhân có thể cung cấp các thông tin cần thiết về bệnh nhân,
với mục đích là nắm được các thông tin có ích trong việc xây dựng
một chẩn đoán y khoa và việc chăm sóc y khoa cho bệnh nhân
Các dấu hiệu có liên quan đến bệnh lý được bệnh nhân hay người
thân của bệnh nhân tường trình được gọi là các triệu chứng chủ quan,
phân biệt với các triệu chứng khách quan là những biểu hiện được xác
định bởi thăm khám trực tiếp do các nhân viên y tế thực hiện
Các bệnh sử khác nhau về chiều sâu và trọng tâm Ví dụ,
một chuyên viên cấp cứu làm việc trên xe cứu thương thường giới hạn
bệnh sử trong các thông tin quan trọng, như là tiền sử của dấu hiệu
hiện thời, dị ứng, vân vân Ngược lại, một bệnh án tâm thần thường
dài dòng và sâu sắc, do nhiều chi tiết về cuộc sống bệnh nhân đáng giá
trong việc xây dựng một phác đồ quản sóc một chứng tâm thần
Trang 5Các thông tin thu thập bằng cách này, cùng với thăm khám
trực tiếp, cho phép bác sĩ và các chuyên viên y tế hình thành một
chẩn đoán và phác đồ điều trị và chăm sóc
Nếu không thể đưa ra chẩn đoán xác định, một chẩn đoán sơ
bộ và các khả năng khác (chẩn đoán phân biệt) có thể được đưa
ra, ghi theo thứ tự nguy cơ theo quy ước Phác đồ điều trị sau đó
có thể bổ sung các xét nghiệm sâu hơn để làm rõ chẩn đoán
Những người bị cấp cứu hay chấn thương đa phần đều không
có khả năng nói chuyện được nên cần cố gắng lấy thông tin từ đội
cấp cứu, người chứng kiến và người nhà
Nội dung bệnh sử cần hỏi được trình bày trong bảng Nó bắt
đầu bằng các từ AMPLE trong tiếng Anh, rất dễ nhớ
Trang 6Bảng 1 Thông tin cần khai thác (AMPLE)
3 Past illness-Pregnancy / Có tiền sử bệnh khác hay đang mang thai không ? /
4 Last meal / Bữa cơm cuối cung (cách mấy giờ)? /
5 Event/Eviroment / Tai nạn liên quan đén chấn thương – thông tin hiện trường /
Trang 7Phần hỏi lược qua các cơ quan - thường bao gồm toàn bộ các hệ
cơ quan chính trong cơ thể nào có thể cung cấp cơ hội để người
khai nhắc đến triệu chứng hay lo lắng mà họ đã không nhắc đến
trong phần bệnh sử Chuyên viên y tế có thể cấu trúc phần sơ
lược các cơ quan như sau:
− Hệ tim mạch: cơn đau ngực, khó thở, phù mắt cá chân, đánh
trống ngực là các triệu chứng quan trọng nhất và có thể phải
bao gồm một đoạn mô tả ngắn cho mỗi triệu chứng dương
tính
− Hệ hô hấp: ho, ho ra máu, khó thở, đau khu trú vùng ngực
tăng lên khi hít hay thở
− Hệ tiêu hóa: thay đổi về cân nặng, trung tiện, nóng sau tim
(heart burn), nuốt khó, đau bụng, nôn ói và tình trạng đi tiêu
− Hệ niệu sinh dục: tần suất đi tiểu, cơn đau trong thời gian tiểu
tiện, màu nước tiểu, các loại tiết dịch niệu đạo, thay đổi kiểm
soát tiểu tiện như tiểu gấp, tiểu không tự chủ, kinh nguyệt hay
hoạt động tình dục
Trang 8phát âm và các chức năng liên quan như kĩ năng đọc, viết và trí
nhớ
Các triệu chứng dây thần kinh sọ (thị lực, nhìn đôi, tê mặt,
điếc, nuốt khó hầu miệng, các triệu chứng vận động và cảm
giác chi, mất phối hợp vận động
− Hệ nội tiết: mất cân, uống nhiều, tiểu nhiều, thèm ăn và dễ
cáu gắt
− Hệ vận động: bất kì cơn đau xương hay khớp kèm phù khớp
hay mềm khớp, yếu tố tăng mạnh hay giảm nhẹ các cơn đau
và các tiền sử gia đình dương tính với bệnh khớp
− Da: các kiểu nổi mẩn đỏ (phát ban), các loại mỹ phẩm hay kem
chống nắng dùng gần đây
Trang 92 Tâm lý của người bệnh và người nhà của người bệnh khi đến cấp cứu − Tổn thương hoặc bệnh tật không những gây ra các thay đổi
sinh lý mà còn gây ra các thay đổi tâm lý cho bệnh nhân và gia
đình họ
− Không nắm được các biến động tâm lý của bệnh nhân và gia
đình bệnh nhân thì người cán bộ y tế gặp phải khó khăn lớn
trong quá trình cấp cứu cũng như xử trí cho bệnh nhân
2.1 Về phía người bệnh
− Hiểu những lo lắng của bệnh nhân về bệnh tật, khả năng tử
vong cũng như gánh nặng kinh tế, người cán bộ y tế phải tôn
trọng quyền của người bệnh cũng như những nhu cầu chính
đáng của họ , lắng nghe, giải thích và thông cảm chia xẻ với
bệnh nhân và người nhà họ bằng cử chỉ, thái độ ân cần và
dùng ngôn ngữ thông dụng mà họ có khả năng hiểu được
− Ngay cả khi bệnh nhân hôn mê, cần tôn trọng họ như những
người tỉnh táo, tránh bàn luận về tình trạng bệnh trước mặt
họ, nếu được thì động viên gia đình cùng tham gia chăm sóc
Trang 10triệu chứng của cơn rối loạn hoảng sợ (panic disorder)
Tham khảo - Cơn rối loạn hoảng sợ: Cơn hoảng sợ kịch phát có một giai đoạn sợ hãi
rất mạnh mẽ, với 4 (hoặc hơn) triệu chứng trong các triệu chứng sau xuất hiện và
phát triển nhanh chóng trong khoảng 10 phút
1 Mạch nhanh trên 100 lần/phút, có thể tăng đến 160 lần/phút Bệnh nhân đánh
trống ngực dữ dội (cảm thấy vỡ tung lồng ngực)
2 Ra nhiều mồ hôI như tắm, mặc dù thời tiết không nóng
3 Run tay, run chân nên bệnh nhân thường gục ngay xuống đất
4 Cảm giác nghẹt thở như bị ai bóp cổ gây khó thở, thiếu không khí
5 Cảm giác thở nông, thở hổn hển nên thông khí kém
6 Đau hoặc khó chịu ở ngực trái khiến bệnh nhân nhầm với cơn nhồi máu cơ tim
7 Buồn nôn hoặc đau bụng nên dễ nhầm với viêm dạ dày
8 Cảm giác chóng mặt, mất thăng bằng, vì vậy bệnh nhân dễ ngã
9 Giải thể thực tế hoặc giải thể nhân cách nghĩa là bệnh nhân không còn cảm
nhận đúng về thế giới xung quanh và bản thân trong khi nên cơn hoảng sợ
10 Sợ mất kiểm soát và phát điên, bệnh nhân cho rằng mình không còn kiểm soát
được các ý nghĩ và hành vi của mình nữa
11 Sợ chết, bệnh nhân cho rằng mình chết đến nơi rồi
12 Cảm giác chết lặng, không cử động được
13 Lạnh cóng hoặc nóng bừng cơ thể
Trang 11Khi cơn rối loạn hoảng sợ xuất hiện thì cần làm gì?
− Ngồi tại chỗ cho đến khi cơn hoảng sợ qua đi
− Tập trung vào việc chế ngự lo âu song không cần quan tâm
đến các triệu chứng về cơ thể
− Tiến hành thở chậm, thư giãn, không thở quá sâu hay quá
nhanh (tăng thông khí) vì có thể gây ra các triệu chứng cơ thể
của cơn hoảng sợ Việc kiểm soát nhịp thở làm giảm các triệu
chứng cơ thể này
− Tự nhủ rằng đó là một cơn hoảng sợ, các cảm giác và ý nghĩ sợ
hãi sẽ mau chóng qua đi
− Xác định những nỗi lo đã bị khuếch đại và xuất hiện trong cơn
hoảng sợ là không phù hợp với thực tế (ví dụ bệnh nhân cho
rằng mình bị nhồi máu cơ tim nhưng sự thực tim họ bình
thường)
− Thảo luận cách đương đầu với nỗi lo trong cơn hoảng sợ đó
(ví dụ bệnh nhân tự nhủ tôi không bị nhồi máu cơ tim, đó chỉ
là một cơ hoảng sợ và sẽ qua đi trong vài phút)
− Các nhóm tự giúp đỡ lẫn nhau có thể giúp bệnh nhân chế ngự
Trang 12− Nên gặp gỡ, thông báo cho gia đình BN biết người nhà họ
đang nằm ở đâu? Có nặng hay không ? Bệnh viện đang cố
gắng làm gì để cứu BN
− Lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng từ phía gia đình cũng
như khả năng tài chính của họ
− Ghi nhận những thông tin, cảm nhận của họ về quá trình của
BN trước khi vào khoa cấp cứu
− Nên chủ động thông báo cho gia đình tình trạng diễn biến của
người bệnh, đặc biệt trong tình huống có diễn biến đột ngột
xấu đi hoặc nguy cơ tử vong để gia đình cùng theo sát được
diễn biến của người bệnh, hợp tác cứu chữa người bệnh
− Khi biết tin người thân phải cấp cứu, nói chung về phía gia
đình rất có nhiều biến động, cần chú ý về tâm lý là các “rối
loạn lo âu”
Trang 13II Đánh giá và xử trí ban đầu
A Nguyên tắc cấp cứu ban đầu
− Cấp cứu ban đầu là sự hỗ trợ và can thiệp ban đầu của người
cấp cứu với người bị nạn, bị thương tích, bị bệnh cấp tính
− Mục đích là để cứu sống nạn nhân, hoặc làm hạn chế những
nguy hiểm đe dọa người bệnh, hoặc ngăn không cho tình trạng
xấu đi, thúc đẩy quá trình hồi phục
− Khi phát hiện nạn nhân ở hiện trường, phải tiến hành các biện
pháp xử trí cấp cứu ban đầu cho nạn nhân, gọi người trợ giúp,
gọi cấp cứu 115
− Cấp cứu ban đầu có vai trò rất quan trọng, quyết định sự sống
chết người bị nạn, phục hối chức năng hay tàn tật vĩnh viễn
Thời gian là tối quan trọng trong xử trí cấp cứu
Trang 14− Khi có mặt ở nơi xảy ra tai nạn phải bình tĩnh, đánh giá nhanh
hiện trường, kiểm tra hiện trường xung quanh nạn nhân Loại bỏ
hoặc tránh những yếu tố nguy hiểm , gây tai nạn hoặc có nguy cơ
gây tai nạn để có thể vừa cứu được nạn nhân vừa bảo vệ được
bản thân
− Đưa nạn nhân ra chỗ an toàn gần nhất để có thể thực hiện ngay
các biện pháp cấp cứu ban đầu đạt hiệu quả Khi đưa nạn nhân ra
khỏi nơi nguy hiểm cần có tối thiểu 2 người, nên kéo nạn nhân từ
phía sau, luồn tay vào nách nạn nhân để kéo, luôn chú ý giữ cổ
thẳng và bảo vệ cột sống lưng
− Đánh giá nhanh tổn thương của nạn nhân
− Tiến hành các biện pháp cấp cứu và xử trí ban đầu thương tổn
theo ưu tiên, gọi người hỗ trợ vì có thể có các tổn thương mà bản
thân không tự xử trí được, ngay cả khi người cấp cứu là nhân viên
y tế, nên liên hệ sớm nhất có thể với đơn vị cấp cứu 115
− Nhanh chóng đưa nạn nhân tới cơ sở y tế
Trang 15C Đánh giá ban đầu và kiểm soát các chức năng sống
− Đánh giá ban đầu và kiểm soát các chức năng sống theo trình
tự được trình bày trong bảng 2 Trong tiếng Anh, các bước này
được đặt tên theo trình tự ABCDE, rất dễ nhớ
− Khi tiến hành thăm khám, cần để bệnh nhân ở tư thế nằm
ngửa, không nên để bệnh nhân ngồi hoặc đứng Nếu có nhiều
nhân viên y tế cùng tham gia xử lý thì mọi người phải tiến hành
đồng thời dưới sự điều phối chung của một trưởng nhóm có
thể là một bác sỹ hay một y tá điều dưỡng cấp cứu thạo việc và
nắm vững các phác đồ cấp cứu Cần phải đánh giá lại nhiều lần
để có thể xử trí kịp thời khi có tiến triển
− Trong trường hợp có nhiều bệnh nhân được chuyển tới thì cần
ưu tiên cấp cứu bệnh nhân không ổn định hoặc nguy kịch
trước Bác sỹ phụ trách cấp cứu và y tá trưởng tua trực hay đội
cấp cứu thực hiện phân loại thứ tự ưu tiên cấp cứu
Trang 17D Các biện pháp xử trí cấp cứu ban đầu
1.Bảo đảm chức năng hô hấp
Là chức năng phải kiểm tra trưốc tiên trong mọi tình huống Ớ bất
kỳ bệnh nhân nào cũng phải bảo đảm khai thông đường dẫn khí,
dù có hay không có suy hô hấp
1.1 Khai thông đường dẫn khí – bảo đảm đường thở (Airway)
Trước tiên cần nhanh chóng kiểm tra xem đường thở có thông
thoáng không
Cần đặc biệt chú ý thăm khám phát hiện tắc nghẽn đường thở nếu
thấy có dị vật trong họng miệng hoặc trong đường thở, chấn
thương mặt, vùng cổ, chấn thương sọ não có điểm glassgow ≤ 8
điểm, sốc nặng
Trang 19− Nếu nghi ngờ tắc nghẽn đường thở: cho thở ô xy và thực hiện các
giải pháp chống đường thở: kéo hàm nâng cằm (chin lift and jaw
thrust) nhưng cần tránh ưỡn ngửa đầu, đặt canuyn tránh tụt lưỡi ;
lấy bỏ dị vật trong miệng/ hút đờm dãi họng miệng; sau đó, cân
nhắc đặt NKQ hoặc MKQ hoặc các kỹ thuật khác (mặt nạ thanh
− Tư thế nằm ngửa ưỡn cổ cho bệnh nhân đang cấp cứu ngừng tim
− Tư thế Fowler cho bệnh nhân suy hô hấp, phù não, tai biến mạch
Trang 201.2.1 Đặt Nội khí quản:
Không nên vội đặt nội khí quản ngay mà cần kiểm tra chắc chắn
bệnh nhân không bị tràn khí màng phổi áp lực hoặc bị ép tim cấp
Nếu bệnh nhân bị tràn khí màng phổi áp lực và bị ép tim, khi đặt
ống NKQ, áp lực lồng ngực tăng sẽ gây ngừng tim nên phải ưu
tiên làm thông thoáng đường thở Nên chọn đặt ống NKQ qua
miệng, nhất là trong những trường hợp nghi ngờ bệnh nhân có
+ Tắc nghẽn đường hô hấp trên
+ Tổn thương nhiệt đường thở (hít)
Trang 211.2.2Mở khí quản:
Nếu tắc nghẽn đường hô hấp trên mà đặt NKQ (hoặc kỹ thuật
khác) thất bại hoặc không thực hiện được: có thể chọc kim qua
màng nhẫn giáp hoặc mở màng nhẫn giáp Chỉ định:
1.3.Hút đờm phế quản, rửa phế quản
Cho bệnh nhân có ứ đọng đờm Khi nghe phổi có rên ứ đọng thì
phải giải quyết bằng các biện pháp tích cực trên, không thể giải
quyết bằng kháng sinh liều cao
Trang 22thường hoặc gần bình thường, lồng ngực di động tốt, bệnh nhân
hết tím, và SpO2 > 95% thì phải tiến hành thông khí nhân tạo
− Hô hấp miệng - miệng, miệng - mũi trong cấp cứu ban đầu khi
có ngừng thở, ngừng tim
− Bóp bóng Ambu Hô hấp nhân tạo bằng máy:
− Cần làm sóm trước khi bệnh nhân ngừng thở
− Cần làm ngay khi có dấu hiệu suy hô hấp cấp: xanh, tím, vã mồ
hôi, rối loạn ý thức
− Bắt buộc phải thực hiện ngay khi có hôn mê do ngộ độc nặng
barbituric và ôpi
1.5.Các xét nghiệm cần làm
− Các khí trong máu
− Sinh hoá: đường máu, urê máu
− X quang chụp phổi tại giường Tuy nhiên các dấu hiệu X quang
không phải lúc nào cũng phù hợp với các dấu hiệu lâm sàng và
không có ý nghĩa tiên lượng
Trang 232.Chức năng tuần hoàn - Đánh giá, đảm bảo huyết động và cầm
máu (Circulation) - Mục tiêu:
1) đánh giá tình trạng tưới máu và thể tích lòng mạch;
2) khôi phục thể tích lòng mạch nếu có giảm thể tích lòng mạch;
3) kiểm soát chảy máu; theo dõi và định kỳ đánh giá lại
2.1 Nhanh chóng đánh giá tình trạng tuần hoàn (sốc, đe dọa sốc
hay ổn định?):
− Quan sát toàn trạng và phát hiện chảy máu
− Mạch và tần số tim: giảm thể tích thường gây nhịp tim nhanh
− Da: hồng, ấm, khô hay nhợt,lạnh ẩm
− Thời gian phục hồi tưới máu mao mạch
− Huyết áp (tụt huyết áp do mất máu thường chỉ xuất hiện khi
mất trên 30% thể tích máu)
− Ghi ECG để đánh giá nhịp tim…
− Để giúp tìm kiếm nguồn gốc mất máu trong, có thể làm siêu âm
định hướng nhanh (FAST), ngoài ra còn có thể chụp xquang
phổi, xquang khung chậu, chọc rửa ổ bụng, chụp CTscan bụng
Trang 24− Thở oxy 100% qua mặt nạ (mặt nạ không thở lại)
− Đặt 2 đường truyền ngoại biên đường kính lòng lớn (trên 18G đối
với người lớn) Đối với trẻ em nên đặt đường truyền tĩnh mạch
hiển lớn, trường hợp khẩn cấp có thể truyền dịch qua màng
xương ở vùng tuỷ xương chày
− Truyền nhanh (bolus) 20 ml/kg Tại phòng cấp cứu, đối với người
lớn, cần truyền lượng lớn dung dịch (Ringer lactat hoặc natri
clorua 0,9%) từ 2000 - 3000 ml, cần làm ấm dịch lên 39oC và điều
chỉnh tốc độ truyền để đảm bảo huyết áp tâm thu ở mức 100
mmHg Trong chấn thương, cần truyền một lượng dịch truyền lớn
hơn lượng máu đã mất Nếu có sốc mất máu thường cần truyền
đến 10 đơn vị máu
− Lưu ý đến tam chứng bệnh lý của chấn thương khi hồi sức bệnh
nhân chấn thương có sốc: hạ thân nhiệt, toan chuyển hóa, rối
loạn đông máu
− Nếu mất máu mà không kiểm soát được thì sẽ phải chuyển nhanh
vào phòng mổ để mổ cấp cứu cầm máu (“damage control”
surgery)
Trang 252.3 Trong tổn thương lồng ngực, ngoài sốc do giảm thể tích máu,
còn có thể là sốc tim hoặc sốc do ép tim cấp Tổn thương có thể
gặp là tràn khí màng phổi áp lực và tràn máu màng ngoài tim cấp,
tổn thương tim cấp Có thể giải quyết tạm thời tình trạng sốc bằng
dẫn lưu lồng ngực (TKMP áp lực) hoặc chọc màng tim (đối với ép
tim cấp)
2.4 Tổn thương tuỷ sống có thể dẫn tới sốc thần kinh, trong trường
hợp này có thể phân biệt bằng các triệu chứng điển hình như
mạch chậm, liệt tứ chi và vã mồ hôi lạnh từ vị trí tổn thương trở
xuống Trong hầu hết các trường hợp, truyền dịch có thể giúp ổn
định tình trạng tuần hoàn Nếu huyết áp không kiểm soát được
sau khi đã bù dịch, thì cần dùng catecholamines Với chấn thương
sọ não nặng, đặc biệt là với người già và trẻ em, có thể gây tụt
huyết áp, những trường hợp này cũng điều trị giống như tổn
thương tuỷ sống
Trang 26biện pháp duy trì một tình trạng huyết động gần như bình thường
− Cần phải theo dõi nhiều lần, nhiều khi liên tục, tình trạng huyết
động của bệnh nhân cấp cứu
− Bắt đầu bằng mạch, huyết áp, điện tim, nước tiểu 1 giờ, 3 giờ, 24
giờ
− Tiếp theo là áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP)
− Nếu có điều kiện, đặt catheter Swan - Ganz theo dõi áp lực trong
buồng tim, áp lực động mạch phổi, áp lực mao mạch phổi bít và
cung lượng tim Phương pháp này trong tương lai sẽ được thay thê
bằng bio - impedance
− Có thể sơ bộ đánh giá CVP bằng cách cho bệnh nhân nằm thẳng,
theo dõi tĩnh mạch cảnh:
+ Tĩnh mạch cảnh xẹp: CVP thấp, thường kèm theo huyết áp thấp
+ Tĩnh mạch cảnh nổi: CVP tăng, nâng dần dần lưng bệnh nhân lên
cho đến khi tĩnh mạch cảnh xẹp, khoảng cách giữa hai tư thế là CVP
(tính từ điểm 0 ở đường nách giữa ngang vói liên sườn II), đây là
biện pháp để thực hiện trong hoàn cảnh không đo được CVP bằng
catheter tĩnh mạch trung tâm
Trang 27− Ngoài ra còn có thể xác định xem lượng máu và dịch truyền có
đủ hay không bằng cách cho bệnh nhân ngồi dậy, theo dõi trong
10 phút nếu huyết áp lại tụt xuống thì đó là lượng dịch và máu
truyền chưa đủ để hồi phục thể tích máu
− Trong việc hồi phục thể tích máu, nâng huyết áp cũng như khi
điều trị cơn tăng huyết áp cần chú ý đến thời gian phấn đấu để
huyết động trở lại bình thường Không thể để tình trạng sốc kéo
dài hàng ngày bằng cách truyền dịch thánh thót với một kim
nhỏ đặt vào một tĩnh mạch xẹp Cũng như không thể để một
cơn huyết áp kéo dài quá 3 giờ Khi bệnh nhân đã có rối loạn ý
thức thì ngay lập tức trong vòng 15 phút là cũng phải làm cho
tình trạng huyết động trở lại gần mức bình thường
− Các chỉ định điều trị rốì loạn nhịp tim cũng phải chịu sự chi phối
khắt khe của tình trạng huyết động
− Thí dụ nhịp tim trên 140 lần/phút hoặc mạch dưới 40 lần/phút
có thể gây sốc cần nhanh chóng xử trí loạn nhịp để huyết động
trở lại bình thường Khi bệnh nhân đã có rốỉ loạn ý thức thì ngay
lập tức phải tìm biện pháp hiệu quả nhất, tối ưu đế giải quyết
Trang 28− Đánh giá nhanh tình trạng ý thức và tình trạng thần kinh ngay
sau khi kiểm soát sơ bộ được đường thở, thông khí và tuần
hoàn:
+ A- Tỉnh (Alert)
+ V- Đáp ứng với lời nói (Responds to voice)
+ P- Đáp ứng với đau (responds to Pain)
+ U- Mất ý thức (Unconscious)
+ Khám đồng tử (kích thước và phản xạ đồng tử với ánh
sáng)
+ Đánh giá và theo dõi điểm Glasgow
− Tiến hành đánh giá thần kinh chi tiết sẽ thực hiện sau khi đã
đánh giá ban đầu và xử trí hồi sinh ổn định tình trạng bệnh
nhân Cho dù có bị tổn thương ý thức cũng không nên chụp CT
scan não ngay mà cần đợi cho tới khi thực hiện xong xử trí và
tình trạng tuần hoàn và hô hấp của bệnh nhân đã tạm ổn định
Trang 29− Ngoài tổn thương ý thức cần tìm các dấu hiệu khác của tăng
áp lực nội sọ như mạch chậm, buồn nôn, giãn đồng tử một
hoặc hai bên Nếu tình trạng tuần hoàn ổn định, nhẹ nhàng
nâng cao đầu và cho bệnh nhân tăng thông khí nhự (PaCO2
khoảng 32-35 mmHg)
− Nếu có hiệu ứng khỗi choáng chỗ cùng với tổn thương nội sọ,
cần giảm áp lực bằng phẫu thuật và cho dùng Manitol 1ml/kg
trước khi phẫu thuật Khi tới bệnh viện dù ý thức bệnh nhân
còn tốt nhưng vẫn có những trường hợp đột nhiên xấu đi, phải
đánh giá lại mức độ ý thức nhiều lần, nếu tình trạng ý thức trở
nên suy đồi đi, cần chụp CTscan để xem xét lại tổn thương
− Khi ngừng tim, sau 3 - 5 phút là tế bào não đã tổn thương
không hồi phục vì thiếu oxy và glucose Mọi biện pháp hổi íứe
về hô hấp và tuần hoàn chính là để hồi sức não Có thê nói
được là hồi sức hô hấp, tuần hoàn, não là cơ bản nhất
Trang 30hô hấp
+ Tổn thương não có thể gây ra truy mạch, ngừng thở, nhịp
tim chậm
+ Suy hô hấp có thể gây phù não
+ Truy mạch có thể gầy nhũn não ở người già
− Các biện pháp để bảo vệ não:
+ Cung cấp oxy cho cơ thể (hồi sức cấp cứu)
+ Cung cấp glucose
+ Chông phù não và tăng áp lực nội sọ
+ Hồi sức tuần hoàn, điều chỉnh nước và điện giải
Trang 314 Chức năng thận
− Tổn thương trực tiếp ở thận có thê gây suy thận cấp như viêm
ống thận cấp, sỏi niệu quản gây viêm mủ bê thận
− Trong hồi sức cấp cứu, thường gặp hơn lại là các tổn thương
gián tiếp do các trạng thái cấp cứu khác gây ra như sốc, rối
loạn nước và điện giải
− Việc theo dõi lượng nước tiểu vẫn là cơ bản nhất Tuỳ theo
tình hình phải theo dõi nưóc tiểu:
+ 1 giờ/lần trong sốc
+ 3 giờ/lần khi có rốĩ loạn nưóc và điện giải
+ 24 giờ cho tất cả các bệnh nhân cấp cứu
− Các thông số huyết áp, CVP, lượng nước tiểu vẫn là các thông
sô" cần thiết nhất để theo dõi bệnh nhân về mặt tuần hoàn và
tiết niệu
− Lọc màng bụng và thận nhân tạo là những biện pháp tích cực
nhất để điều trị suy thận cấp và một số nhiễm độc cấp như
ngộ độc barbituric Trong hoàn cảnh Việt Nam, việc phát triển
lọc màng bụng là điều kiện nên làm
Trang 321 Thăng bằng nước, điện giải, toan kiềm
− Phải được thực hiện trên tất cả bệnh nhân
− Việc kiểm soát thăng bằng nước - điện giải, kiềm toan là rất
cần thiết đối với các bệnh nhân có rối loạn hô hấp tuần hoàn
và não Công việc này cũng đòi hỏi thăm khám bệnh nhân một
cách toàn diện, đặc biệt phải lưu ý đến các chức năng đã kể
trên
2 Chăm sóc dinh dưỡng và phòng loét ép do đè ép
− Sau khi duy trì được các chức năng sống cho bệnh nhân thì
việc chăm sóc dinh dưỡng chống loét bảo đảm cho công tác
hồi sức thành công một nửa
− Vận động trị liệu đặc biệt là dẫn lưu tư thế, vận động trị liệu
hô hấp phải là thường quy cho mỗi bệnh nhân
Trang 33− Bảo đảm đủ lượng nước, calo, muối khoáng, vitamin Tỷ lệ tủ
vong ở bệnh nhân mổ lên tối 60% nếu như bệnh nhân bị suy
dinh dưỡng nặng (gày đi quá 30% trọng lượng cơ thể) Vì vậy
khi một bệnh nhân cấp cứu vào viện, sau khi được hồi sức,
phải đánh giá ngay tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân
− Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng cách xem xét:
− Cân nặng: bệnh nhân mất 10% hoặc mối mất 6% phải được
điều trị bằng nuôi dưỡng
− Đánh giá lớp mỡ dưối da ỏ vùng cơ tam đầu và vùng cánh tay
− Làm các test miễn dịch: làm công thức máu và đếm tân bào,
đánh giá phản ứng tuberculin Nếu có suy dinh dưỡng, tân bào
thường thấp và phản ứng tuberculin sẽ giảm
− Phân tích máu: đo huyết cầu tố, đếm hồng cầu, định lượng
albumin và protein huyết thanh Albumin huyết thanh xuống
dưới 2,8g/100ml là biểu hiện một tình trạng suy dinh dưỡng
nặng
Trang 34nhân sử dụng glycogen để cung cấp năng lượng cho cơ thể Dự
trữ glycogen chỉ đủ để đáp ứng trong 12 giờ Sau đó glycogen
được lấy từ protein
− Từ ngày thứ 17 trở đi, nếu bệnh nhân tiếp tục phải ăn đói thì
dự trữ mỡ sẽ bắt đầu cung cấp năng lượng đến 90%
− Ớ bệnh nhân nhiễm khuẩn, protein dự trữ mất đi nhanh hơn 6
lần so vối bệnh nhân không nhiễm khuẩn
Trang 353 Nhu cầu về nước và dịch
− Mỗi ngày cơ thể cần 30 - 45ml/kg thể trọng Tuỳ theo lứa tuổi,
+ Mỗi ngày một em bé 5kg cần 500ml nước
+ Mỗi ngày một em bé 15kg cần 750ml nước
+ Mỗi người lớn 50kg cần (20 + 50) X 20 = 1400ml nước
− Ó thời tiết nóng, ở bệnh nhân sốt, sô' lượng nước cần thiết
nhiều hơn
− Số lượng nước tiểu nếu tính 50 - 60ml/h thì một ngày bệnh
nhân đái chừng 1500ml Sô lượng dịch cần dùng cho bệnh
nhân khoảng gấp 1,5 lần thể Tích nưóc tiểu Mỗi bệnh nhân
bỏng nặng (có tiêu cơ) cần đái trên lOOml/giờ
Trang 36− Mỗi ngày nhu cầu cơ bản của cơ thể cần trung bình 35Kcalo/kg
Bệnh nhân nhiễm khuẩn cần 50 Kcalo/kg, bệnh nhân bỏng cần
70 Kcalo/kg
− Nhu cầu về prôtêin: 0,7 - lg/kg/ngày
− Nhu cầu vê điện giải mỗi ngày:
+ Na: 2mEq/kg + số lượng Na mất đi, người bệnh tim:
0,5mEq/kg
+ K: l,25mEq/kg + số lượng K mất đi + Mg: 0,15 mEq/kg
− Ngoài ra còn có các nhu cầu vê vitamin và các chất vi lượng
5 Đường nuôi dưỡng
− Cố gắng cho ăn qua đường dạ dày, bệnh nhân tự ăn hoặc qua
ống thông Nếu có chống chỉ định (nôn, hôn mê, mất phản xạ
nuốt, co giật ); cho ăn qua ống thông tĩnh mạch trung tâm Các
dung dịch ưu trương nhất thiết phải cho qua ống thông tĩnh
mạch lớn, không truyền vào tĩnh mạch ngoại biên
− Trong mọi tình huống, cố gắng nuôi dưỡng bệnh nhân bằng cả
hai đường trên Vấn đề là lựa chọn thức ăn thích hợp
Trang 37I NHẬN ĐỊNH VÀ PHÂN LOẠI BỆNH NHÂN CẤP CỨU
II CẤP CỨU CHẤN THƯƠNG DO TAI NẠN
VIII CẤP CỨU ĐIỆN GIẬT
IX CẤP CỨU NGỘP NƯỚC
X CẤP CỨU BỎNG
XI CẤP CỨU GÃY XƯƠNG, TRẬT KHỚP, BONG GÂN
XII CẤP CỨU CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG
XIII CẤP CỨU CHOÁNG DO NÓNG VÀ SAY NÓNG
XIV MỘT SỐ CHẤN THƯƠNG VÀ TAI NẠN LAO ĐỘNG ĐẶC BIỆT
XV VẬN CHUYỂN NẠN NHÂN
XỬ TRÍ MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ CẤP CỨU
Trang 381 Đại cương
− Phân loại bệnh nhân (triage) đến cấp cứu là một đánh giá lâm sàng nhanh
để đưa ra hướng giải quyết
− Có thể hiểu việc phân loại này là để đánh giá sơ bộ, ở mức chính xác cho
phép để xác định mức độ ưu tiên cấp cứu cho các bệnh nhân đến khám
cấp cứu và thường do các điều dưỡng có kinh nghiệm tại khoa cấp cứu
thực hiện
2 Nhận định và phân loại
2.1 Phân loại bệnh nhân cấp cứu
Đích cần đạt của quá trình phân loại cấp cứu là nhanh chóng giải quyết
đúng hướng xử trí cấp cứu cho bệnh nhân theo ưu tiên cấp cứu
2.2 Phân loại bệnh nhân chấn thương
Phân loại trong thảm họa thường dùng các bảng , phiếu có màu, được
mã hóa như sau:
+ Đỏ: Cần ưu tiên cấp cứu (Emergency)
Trang 393 Phân loại
3.1 Ai tiến hành phân loại ?:
Các bác sĩ chuyên khoa cấp cứu có kinh nghiệm thực hiện việc phân
loại bệnh nhân cấp cứu là tốt nhất
3.2 Các thang điểm đánh giá bệnh nhân theo mức độ cấp cứu
- Thang điểm 3 bậc:
+ Khẩn cấp (đỏ)
+ Cấp cứu (vàng
+ Không cấp cứu (xanh)
- Thang điẻm 4 bậc; Thang điểm 5 bậc của Canada
- Phân loại theo chỉ số cấp cứu nặng (ESI)
- Phân loại theo nhóm bệnh cấp cứu
+ Nhóm 1 Cấp cứu rõ ràng
+ Nhóm 2 Nguy cơ cấp cứu cao
+ Nhóm 3 Có nguy cơ cấp cứu
+ Nhóm 4 Không cấp cứu