Pavlov đặc biệt thành công với các nghiên cứu về phản xạ có điều kiện, ông để lại dấu ấn trong lịch sử khoa học của nhân loại cũng chính bằng nghiên cứu này.. Tiếp tục những ý tưởng thu
Trang 1Bài 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÍ HÀNH VI - MỘT SỐ HỌC
THUYẾT VỀ HÀNH VI
MỤC TIÊU: Sau khi học xong chương này, sinh viên có thể:
- Phân tích một số thuyết hành vi: Thuyết điều kiện hoá thao tác; Thuyết học tập mang tính xã hội; Liệu pháp hành vi và Phân tích hành vi ứng dụng
- Hiểu rõ những ưu điểm của thuyết Phân tích hành vi ứng dụng
- So sánh ưu điểm, hạn chế của từng học thuyết
THỜI GIAN: 90 phút
1 Thuyết điều kiện hoá cổ điển (Classical Conditioning)
1.1 Những phát hiện mang tính kinh điển của I.P Pavlov
Ivan Pavlov
(1849 – 1936)
Nhà bác học đặt nền móng quan trọng và đưa ra phát hiện mang tính kinh điển về điều kiện hoá cổ điển là I.P Pavlov I.P Pavlov có tên đầy đủ
là Ivan Petrovitch Pavlov sinh năm 1849 ở Riazan, một vùng thuộc miền trung nước Nga trong một gia đình đông con
Năm 1860, Pavlov học trường dòng để nối nghiệp cha, trở thành một linh mục Tuy nhiên, ông không thích sách thần học mà tỏ ra rất say mê với sách khoa học về sinh lí, đặc biệt là những công trình nghiên cứu của Darwin về Thuyết tiến hoá
I.P Pavlov nhận học vị tiến sĩ vào năm 1875 và bắt đầu dạy y khoa nhưng không nhằm để trở thành bác sĩ thực hành, mà hi vọng được nghiên cứu sinh học Ông đã học 2 năm ở Đức sau đó quay về Xanh – Pêtecbua, nơi ông giữ chức trợ lý phòng thí nghiệm trong vài năm
Trang 2Cả cuộc đời của I.P Pavlov dành cho khoa học thực nghiệm theo đúng nghĩa của
nó Ông không quan tâm đến những vấn đề đời thường như tiền lương, quần áo, điều kiện sống… Trong suốt cuộc đời khoa học của mình, I.P Pavlov luôn nhận được sự ủng hộ của Nhà nước Xô Viết và nhân dân Liên Xô Ông được phép tiến hành mọi nghiên cứu của mình với những trang thiết bị tốt nhất thời bấy giờ, ngay cả khi đất nước trong giai đoạn khó khăn nhất
I.P Pavlov mất năm 1936, để lại cho nhân loại di sản khoa học đồ sộ Trên con đường khoa học của mình, I.P Pavlov đã nghiên cứu ba lĩnh vực cơ bản: các vấn đề liên quan đến dây thần kinh tim; các cơ quan tiêu hoá cơ bản và nghiên cứu các phản xạ có điều kiện Trong các lĩnh vực nghiên cứu của mình I.P Pavlov đặc biệt thành công với các nghiên cứu về phản xạ có điều kiện, ông để lại dấu ấn trong lịch sử khoa học của nhân loại cũng chính bằng nghiên cứu này I.P Pavlov được công nhận là người đã phát
hiện ra những nguyên tắc cơ bản của điều kiện hoá cổ điển và đã được trao giải thưởng
Nobel năm 1904 với công trình nghiên cứu này
Nguồn gốc của những phát minh khoa học vĩ đại này của I.P Pavlov bắt đầu từ các nghiên cứu quá trình tiêu hoá của loài chó Ông đưa những ống nhỏ vào trong các bộ phận và các tuyến tiêu hoá của một con chó để dẫn lưu các chất tiết dịch ra, cho chảy vào các đồ hứng đựng bên ngoài, sau đó ông định lượng và phân tích các chất dịch đó Nhân viên phụ tá của ông nhét bột thịt vào miệng con chó để khởi động cho quá trình này Sau nhiều lần lặp lại thí nghiệm, I.P Pavlov nhận thấy đàn chó này có các hành vi khác thường: chúng ứa nước dãi trước khi được nhét bột thịt vào miệng Khi chúng nhìn thấy người phụ tá mang món ăn đó đến thì ngay lập tức chúng ứa nước dãi Bất kì một yếu tố kích thích nào diễn ra đều đặn trước lúc đưa thức ăn vào miệng cũng gây ra hiện tượng ứa nước dãi Hoàn toàn ngẫu nhiên mà I.P Pavlov phát hiện ra rằng hành vi xuất hiện là do kết hợp giữa hai kích thích với nhau
Với I.P Pavlov khám phá này không có ý nghĩa về phương diện sinh học Chẳng hạn, chuẩn bị sẵn sàng để ăn khi nghe thấy tiếng bước chân đi tới thì có ý nghĩa gì về mặt sinh tồn? Tại sao lại phải thêm một kích thích mới vào một kích thích kèm theo đáp ứng
đã có và thấy là có hiệu quả? I.P Pavlov quay sang tìm hiểu các dạng “chế tiết tâm thần”
là các dạng đáp ứng tự động do các sự kiện tâm trí (tâm thần) gây ra chứ không phải do tác động của các yếu tố kích thích thuộc về môi trường Ông từ bỏ việc nghiên cứu về tiêu hoá từ đó
Trang 3Tiếp tục những ý tưởng thu được từ thí nghiệm về tiêu hoá, để tìm hiểu nguyên nhân vì sao con chó tiết nước dãi ông đã tiến hành thí nghiệm sau một cách đơn giản và tinh tế, đây là thí nghiệm tiêu biểu trong công trình nghiên cứu về phản xạ có điều kiện
do Ivan Pavlov thực hiện lần đầu vào những năm 1900
Hình minh hoạ trên cho thấy con chó có thể phản ứng bằng cách tiết nước bọt khi nghe âm thanh phát ra khi rung chuông Để việc điều kiện hoá xảy ra, Ivan Pavlov đã sử dụng kết hợp thức ăn với tiếng chuông (bước 3 trong hình vẽ) việc này phải được thực hiện lặp lại nhiều lần để con vật học cách liên kết hai yếu tố kích thích này Đây cũng chính là
những dẫn chứng khoa học để Ivan Pavlov đưa ra lý thuyết về điều kiện hoá cổ điển
Để tìm hiểu lý thuyết phản xạ có điều kiện của I.P Pavlov chúng ta cần phải bắt đầu bằng việc đi tìm hiểu một số khái niệm cơ bản của lý thuyết này Khái niệm đầu tiên
là liên tưởng Khái niệm này cho rằng khi hai cảm giác xuất hiện cùng một lúc, chúng sẽ
kết hợp với nhau (thức ăn và tiếng chuông) Nếu dựa vào các nghiên cứu về mặt thần kinh học, thực chất sự liên tưởng này chính là việc hình thành những đường liên hệ thần kinh tạm thời trên vỏ não, khi một điểm trên não được kích thích, xung động thần kinh sẽ lan truyền theo đường liên hệ thần kinh tạm thời này và kích thích một điểm khác trên
não Để chứng minh cho luận điểm này, chúng ta cần biết tới khái niệm điều kiện hoá cổ điển do Pavlov phát hiện, điều kiện hoá cổ điển là tên gọi khác của phản xạ có điều kiện,
tên gọi này được đặt ra nhằm phân biệt phản xạ có điều kiện do Pavlov phát hiện với phản
xạ có điều kiện do nhà tâm lý B Skinner phát hiện sau này (phản xạ có điều kiện do B
Trang 4Skinner phát hiện được gọi là điều kiện hoá có tác dụng) Điều kiện hoá cổ điển xây dựng
trên khái niệm liên tưởng bằng cách tạo mối liên hệ giữa kích thích và phản ứng
Điều kiện hoá cổ điển Điều kiện hoá cổ điển là phản xạ bị chế ước hay phụ thuộc
vào các điều kiện hình thành mối liên hệ (liên tưởng) giữa kích thích và phản ứng Điều
kiện hoá cổ điển là một quá trình học tập, trong đó một kích thích mới có thể tạo ra một phản xạ do kết hợp với một kích thích cũ Nó tạo ra một phản ứng cũ trong một tình huống mới Điều kiện hoá cổ điển thường được thành lập một cách chắc chắn khi trẻ ở độ tuổi từ ba tháng trở lên
Điều kiện hoá cổ điển là một loại hình học tập trong đó một phản ứng tự nhiên của loài vật đối với một vật kích thích hay một kích thích từ cơ quan cảm giác chuyển sang một kích thích khác Từ thí nghiệm của Pavlov, đã có 3 quá trình quan trọng được xác định là có liên quan đến cách học tập của con người là: khái quát hoá kích thích, phân biệt các kích thích và mất thói quen (còn có tên gọi khác là dập tắt/quên) Sau đây chúng
ta sẽ cùng nhau tìm hiểu các quá trình này
Khái quát hoá kích thích: Trong thí nghiệm trên, con chó không chỉ học cách tiết
nước bọt khi nó nghe thấy tiếng phát ra từ chiếc chuông mà nó còn học tiết nước bọt khi nghe những âm thanh khác cả ở cường độ cao hơn và thấp hơn Đồng thời chúng cũng học cách khái quát hoá hoặc có những phản ứng giống nhau khi có những kích thích tương tự (chẳng hạn như nốt nhạc) Kích thích mới giống kích thích ban đầu thì đáp ứng càng diễn ra mạnh mẽ Trong tự nhiên, ít khi các kích thích diễn ra hoàn toàn giống nhau,
do đó việc khái quát hoá kích thích có tác dụng như một nhân tố an toàn về tính tương đồng, mở rộng khả năng học tập ra ngoài trải nghiệm ban đầu
Khái quát hoá kích thích là quá trình hàng đầu của việc di chuyển trong học tập Giáo viên mong muốn học sinh có khả năng sử dụng kiến thức đã học vào các tình huống khác nhau Chúng ta hi vọng rằng nếu các em đã học được các phép toán trong nhà trường có thể tính toán khi mua hàng Nhưng cũng cần chú ý rằng tổ hợp các kích thích càng ít giống nhau thì phản xạ càng yếu Việc học các phép toán sẽ khác xa với việc tính nhẩm khi đi mua hàng Khái quát hoá xuất hiện để giải thích sự di chuyển phản xạ sang tình huống khác khi cái học được ban đầu xuất hiện Ví dụ, nếu học sinh sợ một giáo viên nào đó, em có thể sợ hãi và ghét tất cả những thứ liên quan như sách vở, nhà trường, việc
đi học… và ngược lại
Phân biệt các kích thích: Trong thí nghiệm trên, con chó cũng biết học cách phân
biệt âm thanh ở các cường độ khác nhau nếu như nó chỉ được cho thức ăn ở một cường
Trang 5độ âm thanh nhất định Đây là khả năng phân biệt hoặc phản ứng với những kích thích cùng loại nhưng không phải hoàn toàn giống nhau Phân biệt các kích thích là quá trình một con vật học cách đáp ứng khác nhau với các kích thích khác với kích thích ban đầu ở một khía cạnh nào đó
Sự phân biệt các kích thích có ứng dụng quan trọng trong lớp học Nếu trẻ nhỏ không phân biệt được đường tròn và đường cong, đường thẳng đứng và đường nằm ngang, chữ n và chữ u, chữ b và d các em sẽ gặp khó khăn trong việc đọc Các nguy cơ tương tự cũng xuất hiện đối với học sinh nhỏ tuổi khi gặp các số như 21 và 12, 25 và 52 Học cách phân biệt là yếu tố quy định thành công trong học tập và cuộc sống sau này
Mất thói quen: Khi một đáp ứng có điều kiện đã được hình thành thì nó được duy
trì mãi không? Trong thí nghiệm của Pavlov khi có âm thanh liên tục mà thức ăn không được đưa đến, thì phản xạ tiết nước bọt sẽ dần dần biến mất Mất thói quen là sự biến mất dần các phản xạ đã được học Trong học tập cũng vậy, nếu các kiến thức đã được học không được ôn luyện hay sử dụng thường xuyên, kiến thức đó sẽ mai một và mất đi Tất nhiên, không phải ghi nhớ mọi thứ là tốt, quên cũng là một liều thuốc quan trọng đối với não bộ và tâm hồn chúng ta, nhất là với những kỉ niệm đau buồn hoặc những điều khiến chúng ta phiền muộn Ngoài hiện tượng mất thói quen, còn xuất hiện cả hiện tượng phục hồi tự nhiên Pavlov gọi đó là sự trở lại của các phản xạ sau thời gian nghỉ
Những điều kiện của điều kiện hoá Công trình của Pavlov đã giúp cho chúng ta
có thể hiểu được những hành vi hàng ngày có ý nghĩa Điều kiện hoá cổ điển đã giải thích được nhiều điều mà chúng ta cảm nhận và thái độ của chúng ta Kế tục những nghiên cứu kinh điển của Pavlov, các công trình nghiên cứu hiện đại về điều kiện hoá cổ điển đã đi sâu hơn vào cách các hiện tượng diễn ra như thế nào, làm rõ hơn nữa các điều kiện của điều kiện hoá Trong thí nghiệm của mình Pavlov cho rằng muốn tạo ra các phản xạ có điều kiện thì hai kích thích phải diễn ra liên tiếp Tuy vậy, trong nghiên cứu của mình Robert Rescorla (1966) đối tượng (người học) phải liên tục được tiếp xúc với các kích thích và các kích thích có chọn lọc (được đưa ra một cách có chủ đích) thì các dụng hơn các kích thích mang tính ngẫu nhiên Điều này nhấn mạnh vai trò của việc giáo dục và tính liên tục của quá trình giáo dục trong việc hình thành các hành vi tích cực, hành vi mục đích của đối tượng (người học) Các nghiên cứu của Leon Kamin (1969) chỉ ra rằng một số trải nghiệm không phải chỉ có một kích thích báo trước mà có cả một loạt kích thích tuy nhiên, đối tượng không quan tâm đến tất cả các kích thích mà chỉ đáp ứng với kích thích nào cung cấp thông tin quan trọng nhất về môi trường
Trang 6Những nghiên cứu về điều kiện hoá cổ điển còn tiếp tục với rất nhiều các nghiên cứu khác và đó trở thành những nền tảng quan trọng cho thuyết hành vi
1.2 Watson và việc phát triển thuyết điều kiện hoá cổ điển
J.B Watson
(1878 – 1958)
J.B.Watson sinh năm 1878 tại một trang trại không xa Grinvila, bang nam Carolina, Hoa kỳ Thời trẻ J.Watson là người hay vi phạm pháp luật, là học sinh khó bảo, hay cãi lộn và không chịu được sự kiểm soát Năm 16 tuổi J.Watson học trường Đại học tổng hợp giáo phái Báptic Phurman ở Grinvila với mục tiêu trở thành linh mục như đã hứa với mẹ, nhưng do bướng bỉnh nên ông bị lưu ban, đến năm 1900 mới tốt nghiệp, nhưng khi mẹ ông mất, ông không theo đuổi nghề này nữa
J Watson là người chịu ảnh hưởng từ những tư tưởng của Pavlov, ông đã vận dụng những tư tưởng của nhà bác học lỗi lạc này vào việc nghiên cứu hành vi trên cơ sở phong cách Mĩ, con người Mĩ Giống như Pavlov, ông đã sử dụng những nguyên tắc của điều kiện hoá cổ điển trong việc làm thí nghiệm
Theo J Watson, đối tượng nghiên cứu cơ sở và những tư liệu ban đầu là các thành
tố cơ bản của hành vi như: các cử động cơ bắp hay tiết dịch Tâm lý học cần phải trở thành khoa học về hành vi và là lĩnh vực thực nghiệm khách quan của các khoa học tự nhiên, chứ không phải là các nghiên cứu mang tính nội quan về ý thức Cả hành vi của con người và động vật đều được nghiên cứu như nhau Nhiệm vụ của tâm lý học là dự báo và điều khiển hành vi Vấn đề chủ yếu của tâm lý học là nghiên cứu các kích thích để tạo ra phản ứng của cả người và động vật chứ không phải là tìm ra sự khác nhau giữa các loại phản ứng đó Hai khái niệm cơ bản nhất trong lý thuyết hành vi là khái niệm: phản ứng và kích thích, ngoài ra còn có khái niệm hành vi, hình thành hành vi
Phản ứng có thể công khai hay ngầm ẩn Những phản ứng công khai là những
phản ứng bên ngoài và quan sát trực tiếp cũng như đo đạc được Còn phản ứng ngầm là
sự co bóp của các cơ quan bên trong, sự tiết dịch, các xung động thần kinh Mặc dù chuyển động đó không mang tính chất bề ngoài, nhưng chúng cũng được coi là các thành
tố của hành vi, có thể quan sát được nhờ sử dụng các thiết bị kĩ thuật đặc biệt Giống như
phản ứng, các tác nhân kích thích mà nhà hành vi nghiên cứu cũng có thể mang tính đơn
giản hay phức tạp
Trang 7J.Watson phân biệt hành vi người không giống với hành vi động vật, theo ông sự
khác biệt đó thể hiện ở ba điểm: Một là: sự khác biệt trong bản chất sinh học dẫn đến sự khác biệt trong hành vi Hai là: ngoài thế giới vật thể mà động vật cũng có, con người còn có thế
giới từ ngữ, cái có thể thay thế cho thế giới đồ vật tạm thời Chính vì vậy mà các yếu tố kích thích đến với con người nhiều hơn rất nhiều Với ông, ý nghĩ chẳng qua chỉ là hoạt động của
bộ máy ngôn ngữ Ba là: con người là “tồn tại xã hội”, vì chỉ trong môi trường xã hội con
người mới kích thích lần nhau làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển
J.Watson đã đấu tranh để nhà tâm lý học luôn luôn chỉ giới hạn ở những tư liệu khoa học tự nhiên, tức là những đại lượng quan sát được – nói cách khác, đó chính là hành vi Watson được coi là người có công viết lên những cương lĩnh đầu tiên của thuyết hành vi, sau đây là nội dung cụ thể của những cương lĩnh đó:
1 Tâm lí học hành vi tuyên bố không quan tâm đến việc mô tả, giảng giải các trạng thái tâm lí của ý thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của tồn tại người, đối tượng của tâm lí học hành vi là hành vi của con người Hành vi được xem là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài
2 Theo Watson, có 4 loại hành vi: hành vi bên ngoài, hành vi bên trong, hành vi
tự động minh nhiên và hành vi tự động mặc nhiên Theo ông, mọi việc con người làm kể
cả suy nghĩ đều thuộc một trong bốn loại hành vi này Nghiên cứu dúng các phương pháp khoa học khách quan, sử dụng phương pháp ghi chép các sự kiện kiểm soát được về quá trình cơ thể thích nghi với môi trường
3 Trong tâm lí học hành vi cổ điển, hành vi của động vật và người bị đơn giản hoá thành những cử động cơ thể Nhờ những cử động đó với tính chất là “một cơ quan biết phản ứng” hay “một hệ thống vật lí” thích nghi với môi trường để đảm bảo sự sống còn Quan sát cũng như giảng giải hành vi đều phải tuân theo công thức S – R Trong đó S (viết đầy đủ là Stimuli) là kích thích, R (Response) là phản ứng Kích thích có thể là một tình huống tổng quát của môi trường hay một điều kiện bên trong chủ thể, phản ứng là bất cứ điều gì chủ thể thực hiện
4 Với công thức S – R, Watson đã đặt cho thuyết hành vi mục đích cao cả là điều khiển hành vi của động vật và con người Lấy nguyên tắc thử – sai làm nguyên tắc khởi thuỷ cho việc điều khiển hành vi Hành vi chỉ là mối liên hệ trực tiếp “cơ thể – môi trường”; theo đó, tâm lí, ý thức chẳng qua chỉ là những hiện tượng thừa.Tâm lí học với tư cách là khoa học hành vi có trách nhiệm vứt bỏ toàn bộ các thuật ngữ của tâm lí học cấu trúc và tâm lí học chức năng như ý thức, trạng thái, lí trí và hình ảnh…
Trang 8Watson cho rằng, con trẻ tuỳ theo kiểu cách điều kiện hoá mà nó bị áp đặt trong những năm đầu cuộc đời, có thể đạt tới những hình thức về nhân cách rất khác biệt Nói một cách khác, tuỳ theo ảnh hưởng của môi trường đứa trẻ có thể trở thành một kỳ nhân hay côn
đồ Và như vậy, nhân cách của đứa trẻ là một mặt bàn bằng phẳng, trên đó cha mẹ, những nhà giáo dục hay những tâm lí có thể ghi khắc một cách không bôi xoá được những đường nét họ muốn Quan điểm này của ông có phần phiến diện khi bỏ qua những vấn đề liên quan đến phẩm chất sinh học của đứa trẻ cũng như hoạt động cá nhân của chúng
Mặc dù còn một số vấn đề hạn chế trong quan điểm khoa học, song những đóng góp của Watson cho thuyết hành vi là thực sự lớn lao Một số quan điểm khoa học của ông được xem là cương lĩnh của thuyết hành vi
2 Thuyết điều kiện hoá thao tác (Operant Conditioning)
Thuyết điều kiện hoá thao tác còn có tên gọi khác là thuyết điều kiện hoá có tác dụng Đây là một học thuyết có vai trò vô cùng quan trọng trong tiến trình phát triển các học thuyết về hành vi, là nền tảng cho các phương pháp quản lí hành vi hiện đại Nói đến thuyết điều kiện hoá thao tác là nói đến tên tuổi của hai nhà hành vi học nổi tiếng Edward Thorndike và B.F.Skinner
2.1 Những nghiên cứu nền tảng của Edward Thorndike
Edward Thorndike
(1874 – 1949)
Edward Thorndike, sinh ngày 31 tháng 8 năm
1874 tại Williamsburg, Mass Hoa kì Ông là một trong những nhà hành vi học người Mĩ nổi tiếng Trong cả sự nghiệp của mình, phần lớn thời gian ông gắn bó với trường đại học Columbia, Hoa kì
Vào thời kì Pavlov sử dụng điều kiện hoá cổ điển khiến những con chó ở Nga ứa nước dãi khi nghe tiếng chuông thì tại Hoa Kỳ Edward Thorndike (1898) cũng đang quan sát những
con mèo tìm cách ra khỏi cái cũi thử tài
Thorndike là một trong những người đầu tiên ứng dụng những nguyên tắc của của điều kiện hoá thao tác trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi của giống vật (phản ứng) với những điều kiện của môi trường, đặc biệt là mối quan hệ giữa hành vi và
Trang 9yếu tố hậu hành vi Những nghiên cứu của Thorndike đã tạo nguồn cảm hứng cho Skinner – một trong những nhà hành vi học kiệt suất mà chúng ta sẽ nói tới ở phần sau
Trở lại với thí nghiệm cái cũi thủ tài Trong thí nghiệm này, Thorndike đã ghi lại
những điều nhận xét và suy diễn về kiểu học tập đã diễn ra ở con vật đó như sau:
Khi bị nhốt vào cũi, con mèo thể hiện những biểu hiện hoang dã và sục sạo tìm cách thoát ra Nó cố chui len qua các khe, cào và cắn các thanh hoặc các dây chằng, nó lùa chân qua các khe hở và lấy chân cào vào mọi thứ và cào đúng vào sợi dây hay cái nút bấm để mở được cửa ra Và dần dần, những thao tác xung đột vô hiệu sẽ được xoá đi chỉ riêng các thao tác xung đột hữu hiệu được in vào đầu óc nó vì có kết quả mang lại khoái cảm, và nhiều lần làm thử thì khi đưa con mèo vào cũi, nó cào ngay lập tức vào các nút bấm hay sợi dây một cách dứt khoát
Theo quan điểm của Thorndike, học tập là một kiểu gắn liền với nhau, không phải giữa hai kích thích (như trong phòng thí nghiệm về loài chó của Pavlov) mà là kích thích trong một tình huống và một đáp ứng mà chủ thể học cách thực hiện, đó là mối liên kết kích thích - đáp ứng Thorndike cho rằng, các kích thích đem lại khoái cảm (được khen thưởng, hưởng lợi) lặp lại nhiều lần sẽ được củng cố hoặc in vào đầu óc, còn các đáp ứng không mang lại điều đó sẽ bị yếu dần hoặc xoá bỏ Qui trình điều kiện hoá của Thorndike cho thấy con vật đáp ứng tự do, song trong các đáp ứng của nó chỉ có một đáp ứng mang lại hiệu quả khiến nó được thoả mãn mà thôi
Định luật hiệu quả Theo lý thuyết của Thorndike, việc học tập các mối liên kết
kích thích - đáp ứng đã được củng cố diễn ra dần dần và tự động một cách máy móc, ông gọi mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả của hành vi đó là định luật hiệu quả Định luật
hiệu quả được nêu lên như sau: đây là định luật cơ bản của việc học tập, cho thấy sức mạnh của một kích thích nhằm gợi ra một đáp ứng, sẽ được củng cố khi đáp ứng đó nhận
Trang 10được một ân thưởng theo sau v
Khi Thorndike dựa vào cách h
ông cũng tin rằng định luật hiệu quả cũng có thể đ
người, tuy nhiên, ông nhận thấy việc nghi
thể kiểm soát các biến số có li
tưởng của ông đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến khoa học tâm lí
Tuy nhiên, có thể thấy rằng quan điểm cho rằng việc học tập bao gồm các h
sai mà không cần tư duy có ý th
3.2.2 B.F.Skinner và s
B.F.Skinner
(1904 - 1990)
Khi 24 tuổi, ông ghi danh v
đây, ông say sưa với một khoa học mới hứa hẹn rất nhiều điều m
ấn tượng và thú vị Tại đại học Harvard ông đ
ra sự ghi nhớ tích luỹ, một khuynh h
tương tác giữa nhân tố mới lạ trong t
con vật vượt qua mê trận không chỉ phụ thuộc v
Pavlop và Watson đã khẳng định) m
phản xạ mà Pavlop đã nghiên c
thể và chịu ảnh hưởng của các nhân tố trong môi tr
ởng theo sau và yếu dần đi khi không được ân thưởng
ào cách học của giống vật để xây dựng lý thuyết của m ũng tin rằng định luật hiệu quả cũng có thể được vận dụng vào việc học tập của con
ận thấy việc nghiên cứu về học tập của giống vật dễ h
ể kiểm soát các biến số có liên quan dễ hơn so với việc học tập của con ng
ởng mạnh mẽ đến khoa học tâm lí – giáo d
ể thấy rằng quan điểm cho rằng việc học tập bao gồm các h
ý thức của công còn nhiều điều phải bàn cãi
B.F.Skinner và sự phát triển của thuyết điều kiện hoá thao tác
Một trong những nhà hành vi h ảnh hưởng từ những tư tưởng của Thorndike l B.F Skinner, ông là người có công đầu ti trong việc phát triển hệ thống lí luận cũng nh chứng minh bằng thực nghiệm thuyết h thao tác Skinner cũng là người có công đổi mới thuyết hành vi cũ của Watson, h
thuyết hành vi thao tác của mình Skinner c
đã hình thành quan điểm về “công ngh vi” và nó đã trở thành cơ sở của toàn b hành vi xã hội của ông B.F Skinner có t
đủ là Burrhus Frederic Skinner sinh ngày 20 tháng 3 năm 1904 tại New York, Hoa kỳ
ổi, ông ghi danh vào khoa Tâm lí học trường Đại học Harvard Tại
ới một khoa học mới hứa hẹn rất nhiều điều mà ông cho là vô cùng
ị Tại đại học Harvard ông đã tiến hành các thực nghiệm v
ỹ, một khuynh hướng mang tính cơ chế Sự ghi nhớ n
ữa nhân tố mới lạ trong tình huống với phản ứng Skinner cho rằng việc
ận không chỉ phụ thuộc vào các nhân tố kích thích ban đầu (nh ẳng định) mà còn phụ thuộc vào chính mê trận đó Khác với
ã nghiên cứu, loại hành vi này chỉ vận hành trong môi trư ởng của các nhân tố trong môi trường đó, ông gọi đó l
ống vật để xây dựng lý thuyết của mình
ệc học tập của con
ứu về học tập của giống vật dễ hơn và có
ới việc học tập của con người Những ý
giáo dục học thời đó
ể thấy rằng quan điểm cho rằng việc học tập bao gồm các hành vi thử và
ự phát triển của thuyết điều kiện hoá thao tác
à hành vi học chịu ởng của Thorndike là
ời có công đầu tiên
ệc phát triển hệ thống lí luận cũng như ứng minh bằng thực nghiệm thuyết hành vi
ời có công đổi
ũ của Watson, hình thành
ình Skinner cũng ông nghệ hành
àn bộ thuyết
ội của ông B.F Skinner có tên đầy
à Burrhus Frederic Skinner sinh ngày 20
ại New York, Hoa kỳ
ờng Đại học Harvard Tại
à ông cho là vô cùng
ực nghiệm và phát hiện
ế Sự ghi nhớ này thể hiện ống với phản ứng Skinner cho rằng việc
ố kích thích ban đầu (như
ận đó Khác với ành trong môi trường cụ ờng đó, ông gọi đó là các hành vi