1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Triển khai luật phòng chống bạo lực trong gia đình

17 545 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
Năm xuất bản 2007
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 115,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương I: Những quy định chung Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh; Các hành vi bạo lực gia đình; Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình; Nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực;

Trang 1

Nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình

25/12/2007

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình gồm 6 chương

và 46 điều

Chương I: Những quy định chung

Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh; Các hành vi bạo lực gia đình; Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình; Nghĩa vụ của người có

hành vi bạo lực; Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân; Bạo lực gia đình, chính sách của Nhà nước, hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình và

những hành vi bị nghiêm cấm

Trang 2

Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình dựa

trên biện pháp phòng ngừa là chính, kết hợp bảo

vệ kịp thời tính mạng, sức khỏe của nạn nhân

không để xảy ra hậu quả nghiêm trọng nhằm xây dựng và củng cố gia đình Việt Nam

Các hành vi bạo lực gia đình được liệt kê tại Điều

2, gồm 9 loại hành vi cụ thể thuộc 4 nhóm là: Bạo lực thể chất, tinh thần, tình dục và kinh tế Việc liệt

kê như trên có thể thiếu, nhưng đã tránh được một phần tình trạng luật khung; Tuy nhiên, về mức độ của các hành vi như thế nào mới gọi là bạo lực gia đình, thì các văn bản hướng dẫn thi hành sẽ phải

Trang 3

Các hành vi bị nghiêm cấm được thể

hiện trong Điều 8 đã bao hàm cả hành

vi gây bạo lực, xúi giục gây bạo lực;

Cản trở phòng, chống, bao che không

xử lý hành vi bạo lực gia đ ì nh, quy định như vậy sẽ hạn chế tình trạng một số người bị bạo lực đã báo cáo với chính quyền nhưng cán bộ cho rằng đó là

chuyện gia đình nên không xử lý, hoặc trì hoãn xử lý.

Trang 4

Chương II: Phòng ngừa bạo lực gia đình

Nội dung Chương này thể hiện quan

điểm coi trọng việc ngăn ngừa bạo lực gia

đình và chú trọng đến các giải pháp tại cộng đồng, phát huy vai trò gia đình và dòng họ, quy định phát hiện xử lý sớm từ mâu thuẫn xích mích nhỏ không để phát sinh thành mâu thuẫn lớn gây bạo lực gia đình Việc xử lý

xích mích, mâu thuẫn nhỏ thông qua các

biện pháp hòa giải cơ sở

Trang 5

Một điểm đặc biệt nữa quy định tại chương này là biện pháp mang tính cộng đồng: “Góp

ý, phê bình trong cộng đồng dân cư”, đối với người có hành vi bạo lực (chưa đến mức áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường)

nhằm ngăn ngừa hành vi bạo lực có thể tiếp tục xảy ra Đây là biện pháp đã được áp

dụng có hiệu quả tại một số địa phương

nông thôn và được đa số người dân đồng

tình.

Trang 6

Chương III: Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo

lực gia đình

Nội dung chương này quy định về phát hiện,

báo tin về bạo lực gia đình; Biện pháp ngăn chặn, bảo vệ; Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã và của Tòa án; Chăm sóc nạn nhân tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Tư vấn cho nạn nhân; Hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu; Các cơ sở trợ giúp nạn nhân (cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Cơ sở bảo trợ xã

hội; Cơ sở hỗ trợ nạn nhân; Cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; Địa chỉ tin cậy ở cộng

đồng)

Trang 7

Chương III quy định về một số biện pháp đặc thù trong việc hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân,

đó là:

Biện pháp cấm tiếp xúc giữa người gây bạo lực và nạn nhân bạo lực gia đình (nhưng phải có một số điều kiện cụ thể, trong đó có yêu cầu được cách ly của chính nạn nhân

bạo lực gia đình) Thẩm quyền ban hành

quyết định cấm tiếp xúc:

- Chủ tịch UBND cấp xã quyết định cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 3 ngày

(Điều 20).

Trang 8

- Một số trường hợp khi tòa án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa người gây bạo lực và nạn nhân bạo lực gia đình, tòa án

có quyền ra quyết định áp dụng

biện pháp cấm tiếp xúc trên cơ sở phải có yêu cầu của nạn nhân và một số điều kiện khác (Điều 21).

Trang 9

Thực tế hiện nay, một số trường hợp bạo lực gia

đình gây hậu quả rất nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng của nạn nhân, nếu không có biện pháp cấm tiếp xúc để cách ly giữa họ thì sẽ có nguy cơ chuyển thành tội phạm và thậm chí đến mức án mạng có

thể xảy ra Vì vậy, cấm tiếp xúc là một trong giải

pháp để bảo vệ nạn nhân, giảm thiểu hậu quả bạo lực gia đình, hạn chế tội phạm Tuy nhiên, với

nhiều điều kiện ràng buộc để ra quyết định cấm tiếp xúc, vì vậy chỉ một số ít vụ bạo lực gia đình áp dụng quyết định cấm tiếp xúc Đồng thời Luật cũng quy

định rất rõ về giám sát việc thực hiện biện pháp này (Điều 22)

Trang 10

Việc chăm sóc sức khỏe cho nạn nhân tại

cơ sở khám, chữa bệnh được quy định rõ là Quỹ Bảo hiểm y tế (BHYT) sẽ chi trả chi phí cho việc khám và điều trị đối với nạn nhân bạo lực gia đình có BHYT, còn các đối

tượng khác sẽ theo quy định của pháp luật

về viện phí Còn đối với vấn đề bồi thường thiệt hại thì thực hiện theo quy định của

pháp luật dân sự nên không cần thiết quy

định trong Luật này.

Trang 11

Cơ sở trợ giúp nạn nhân, gồm

các loại cơ sở sau đây: Cơ sở

khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tiếp nhận, chăm sóc về

sức khỏe và tạo điều kiện nơi

tạm lánh ngắn hạn (không quá 1 ngày); Cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước;

Trang 12

Các cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình (NGO,

tư nhân) đã đăng ký và được phép tổ chức các

hoạt động tư vấn hỗ trợ nạn nhân Một trong

những cơ sở trợ giúp nạn nhân BLGĐ tại cộng

đồng là địa chỉ tin cậy (muốn nhận làm địa chỉ tin cậy chỉ cần thông báo với UBND cấp xã nơi đặt địa chỉ) đó là các cá nhân, tổ chức có uy tín, khả năng

và tự nguyện giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình tại cộng đồng Đây là điểm mới và đặc thù theo điều kiện văn hóa Việt Nam, được quy định dựa trên

kinh nghiệm thành công của mô hình thí điểm

phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Thái Bình (Điều 30)

Trang 13

Chương IV: Trách nhiệm của cá nhân, gia

đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình

Chương này quy định về trách nhiệm của cá nhân, gia đình; Trách nhiệm của MTTQVN và các

tổ chức thành viên; Trách nhiệm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; Trách nhiệm của

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ LĐ -

TB và XH, Bộ GD và ĐT, Bộ Thông tin và Truyền thông, các cơ quan thông tin đại chúng và trách

nhiệm của cơ quan Công an, Tòa án, Viện kiểm

sát

Trang 14

Có 3 vấn đề nổi bật trong chương

này là:

Quy định cụ thể trách nhiệm giúp

Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước

về phòng, chống bạo lực gia đình cho

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trách nhiệm của các bộ, ngành liên quan chủ yếu đến vấn đề này được làm rõ; Đặc biệt là vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Bộ Y tế

Trang 15

UBND cấp xã hàng năm phải báo cáo trước

HĐND cùng cấp về tình hình và kết quả phòng,

chống bạo lực gia đình tại địa phương Quy định chỉ giới hạn báo cáo hàng năm ở cấp xã bởi vì đây

là nơi nắm rõ nhất tình hình bạo lực gia đình và có biện pháp can thiệp kịp thời nhất và cũng là nơi

mang đặc trưng văn hóa cộng đồng, họ hàng, làng

xã của Việt Nam, do đó thúc đẩy hoạt động ở cấp

xã trong phòng, chống bạo lực gia đình sẽ có hiệu quả củng cố gia đình Việt Nam Việc báo cáo về tình hình bạo lực gia đình trước HĐND các cấp

hay báo cáo QH, áp dụng như các vấn đề khác

thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước mà hiện nay

UBND các cấp và Chính phủ vẫn thực hiện

Trang 16

Chương V: Xử lý vi phạm pháp luật

về phòng, chống bạo lực gia đình và khiếu nại, tố cáo

Trong chương này có quy định rõ

cán bộ, công chức, viên chức, người

thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính theo pháp luật thì còn

bị thông báo cho người đứng đầu cơ

quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền

Trang 17

Chương VI: Điều khoản thi hành

Luật sẽ có hiệu lực thi hành kể từ

ngày 1.7.2008.

(Theo tài liệu Văn phòng Chủ tịch Nước)

Ngày đăng: 09/10/2013, 18:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w