Thanh Hoá có truyền thống văn hoá lâu đời, phong phú, đa dạng và đặc sắc: dân ca Mờng, Thái; hò sông Mã, hát Trống quân, múa Xuân phả, múa Tú Vân, chèo chải, trờng ca Để đất đẻ n“ ớc .”
Trang 1Lớp 6
Thanh Hoá từ thời kỳ tiền sử đến thế kỷ X
I Thanh Hoá từ thời kỳ tiền sử
1 Điều kiện tự nhiên và dấu tích của ngòi tối cổ trên đất Thanh Hoá
Thanh Hoá là vùng đất rất cổ Khắp nơi trên đất Thanh Hoá, các nhà địa chất đãtìm thấy trầm tích đá cổ Các đá ở tuổi Cam bi ri- Ođô vic lộ ra ở Bá Thớc, Điền L, HàmRồng Nghĩa Trang, đến tận núi Vân Hoàn (Nga Sơn)
Địa hình Thanh Hoá khá phức tạp, núi và trung du chiếm trên 70 % còn lại là
đồng bằng và ven biển, rừng núi rậm rạp, nhiều hang động, sông suối Khí hậu hai mùanóng- lạnh rõ rệt, thuận lợi cho cuộc sống của cỏ cây, muông thú và con ngời
Vào những năm 1960- 1978 các nhà khảo cổ học đã lần lợt phát hiện hàng loạt ditích của ngời tối cổ trên đất Thanh Hoá
ở núi Đọ (Thiệu Hoá) núi Nuông, núi Quan Yên (Yên Định) đã tồn tại một nềnvăn hoá sơ kỳ thời đại đá cũ Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những di vật mang dấu vếtchế tác của bàn tay con ngời nh: các mảnh tớc, rìu tay, hạch đá Các công cụ đá ghè đẽocòn thô sơ dùng để chặt, đập
Hình1: Rìu đá, mãnh tớc Núi Đọ
2 Địa điểm sinh sống của ngời tối cổ trên đất Thanh Hoá
Trang 2Ngời tối cổ sống trên các địa hình khác nhau: từ miền núi đến đồng bằng, trú ngụtrong các hang vào mùa đông Họ biết làm các lều nhỏ trên sờn núi bằng cây cối, bằngtre vít xuống, lót lá cây, da thú làm ổ nằm.
Họ sống thành bầy, sống chủ yếu bằng hái lợm và săn bắt, nhặt ốc ven sông, suối,hái quả, đào củ trong rừng cùng với săn thú
Quan sát núi Đọ, núi Nuông, núi Quan Yên ngày nay các nhà nghiên cứu thấy rằng đa số công cụ của ngời nguyên thuỷ để lại đều tập trung ở độ cao từ 25- 50m trên sờn núi phía đông và tây nam Sự lựa chọn ở tập trung hớng đông và tây nam, chọn sờn núi tránh rét Điều đó nói rằng ngời nguyên thuỷ đã có ý thức, kinh nghiệm trong việc lựa chọn, lợi dụng thiên nhiên để sinh sống.
- ở giai đoạn đầu ngời tối cổ trên đất Thanh Hoá sống nh thế nào?
Nh vậy, ngay từ buổi bình minh của lịch sử, cách ngày nay 30 đến 40 vạn năm,Thanh Hoá đã là nơi sinh sống của con ngời
3 Các giai đoạn phát triển của ngời tinh khôn
Từ núi Đọ, núi Nuông, núi Quan Yên ngời tối cổ trên đất Thanh Hoá đã mở rộngvùng sinh sống ra nhiều nơi nh: núi Một (Cẩm Thuỷ), Mái Đá Điều, Mái Đá Nớc, hangAnh Rồ, con Moong ở Thạch Thành
Trải qua hàng chục vạn năm với cuộc sống săn bắt và hái lợm, từ văn hoá núi Đọngời tối cổ đã chuyển dần sang giai đoạn phát triển mới với văn hoá Sơn Vi rồi pháttriển liên tục cho đến văn hoá Hoà Bình, Hoa Lộc
Công cụ sản xuất đợc cải tiến hơn nữa với việc dùng nhiều loại đá Hàng loạthang động, mái đá có dấu vết sinh sống ngời nguyên thuỷ đợc tìm thấy
Trong chế tác công cụ đá, họ đã biết mài lỡi cho sắc Họ còn biết dùng tre, gỗ,
x-ơng, sừng làm công cụ và đồ dùng cần thiết, sau đó biết làm gốm Họ biết trồng trọt vàchăn nuôi
- Ngời tối cổ ở Thanh Hoá đã phát triển qua những giai đoạn nào? Qua các giai đoạn
đó công cụ lao động có bớc tiến gì mới?
4 Tình hình kinh tế- Văn hoá xã hội trớc thời kỳ dựng nớc
a Kinh tế
Trang 3Trải qua các giai đoạn từ Cồn Chân Tiên đến giai đoạn Đồng Khối rồi Quỳ Chữcho đến văn hoá Đông Sơn, nền kinh tế của ngời Thanh Hoá ngày càng phát triển và đạt
đánh cá là những nghề phụ hết sức quan trọng vẫn tồn tại và phát triển
Lúc này, chăn nuôi đã gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp nhng cha tách thành nghềkinh tế độc lập
Nghề đánh cá, nghề đan lát, dệt vải, đúc đồng đến thời kỳ này đợc chú trọng pháttriển Bên cạnh ngành thủ công, nghề làm đồ gốm có nhiều thay đổi Gốm sứ Thanh giai
đoạn này có nhiều bớc phát triển, gốm thờng có màu hồng nhạt, có phủ màu thổ hoàng
đỏ tơi, hoa văn phổ biến là hoa văn dấu thừng
b Đời sống vật chất và tinh thần.
Kinh tế có sự phát triển vợt bậc, đời sống văn hoá của ngời Thanh Hoá thời kỳnày có những thay đổi lớn
Nhà ở phổ biến là nhà sàn, nguyên liệu làm nhà gồm: gỗ, tre, nứa, lá lối kiếntrúc tựa vào bộ khung, mái cong hình thuyền và sàn thấp Cùng với nhà sàn, ngời thời kỳnày còn ở nhà đất
Thức ăn chính hàng ngày là cơm nếp, cơm tẻ, rau củ, quả hạt, các loài cá nớcngọt, lợ, mặn cùng với tôm tép, trai, ốc, trùng trục Thêm vào đó là thịt các loại thúrừng do săn bắn và thịt gia súc, gia cầm Cùng với nguồn thực phẩm nh vậy, còn có cácloại hơng liệu, gia vị nh gừng, mắm muối, trầu cau
Phụ nữ lao động thì mặc váy quấn, váy quây đàn ông thờng đóng khố dây đuôingắn hoặc dài Ngày hội nam nữ đều mặc váy xoè, mũ có cắm đầy lông chim Thời kỳ
Trang 4Đời sống tinh thần đã đạt tới mức khá cao trong khiếu thẩm mỹ Trong dịp lễ tết,hội hè, trai gái ăn mặc đẹp với những bộ gõ rộn ràng, âm thanh vang xa của trống đồng,chuông đồng họ nhảy múa ca hát.
- Đời sống vật chất và tinh thần của ngời tối cổ nh thế nào?
Ngời chết đợc chôn cất trong vò bên cạnh đã có tục hoả táng, cải táng trong thạp,thố, trong tiểu gốm ở Quỳ chữ
Tục cà răng, nhuộm răng với mục đích thẩm mỹ
II thanh hoá thời kỳ dựng nớc
1 Tình hình kinh tế- Xã hội
Kinh tế thời kỳ này nghề trồng lúa nớc đã phát triển mạnh Ngoài việc trồng lúa
c dân Thanh Hoá đã mở rộng những cánh bãi quanh làng trồng bông, nuôi tằm dệt vải.Bên cạnh đó nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, nghề đánh cá cũng đợc chú trọng và từngbớc phát triển
Thủ công nghiệp với nghề đúc đồng, nghề sắt, nghề gốm ra đời rất sớm đến thời
kỳ này đã trải qua những bớc phát triển và thay đổi Đặc biệt có sự kết hợp chặt chẽtrong kỹ thuật đúc đồng, rèn sắt, với những kinh nghiệm chế tác hình dáng mới của ngờiHán
Trên cơ sở nông nghiệp, thủ công nghiệp phát đạt thêm vào đó là hệ thống giaothông đờng sông, đờng biển, đờng bộ đợc mở rộng tạo điều kiện cho c dân Thanh Hoágiao lu trao đổi hàng hoá
Một số đô thị ra đời, phát triển nh: T phố trung tâm chính trị, quân sự, kinh tếcủa quận Cửu Chân, bên cạnh đó còn có: Đông Sơn, Xuân Lập, Hoàng Lý
Nghề gốm, nghề thủ công ra đời rất sớm, từ đầu thời đại đá mới, trải qua nhữngbớc phát triển liên tục, đến đây có nhiều thay đổi đáng kể Đồ gốm đợc tạo lớp menmỏng, có màu đỏ tơi, mận chín
Nghề làm đá phát triển thịnh vợng, đã hình thành các công xởng nhỏ, chuyên làm
đồ mỹ nghệ Ngoài ra còn có các nghề làm muối
Tình hình văn hoá xã hội thời kỳ này các triều đại phong kiến phơng Bắc đô hộ
nớc ta Vì vậy ở nớc ta đã tồn tại hai lối sống, hai nền văn hoá Việt và văn hoá TrungQuốc Trong đó lối sống Việt, nền văn hoá Việt là chủ thể
Trang 5Những thuần phong, mỹ tục luôn đợc duy trì nh thờ cúng tổ tiên, những anh hùngdân tộc.
Nho giáo, đạo Phật, đạo Lão đợc du nhập vào nớc ta ngày một phát triển
2 Phong trào kháng chiến chống xâm lợc của phong kiến phơng Bắc
Giữa thế kỷ III, ở quận Cửu Chân đã nổi lên cuộc khởi nghĩa lớn của Bà Triệu
Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ, tức 226,
em gái Triệu Quốc Đạt - một hào trởng lớn ở miền núi huyện Quan Yên, thuộc quậnCửu Chân (xã Định Công, huyện Yên Định) Bà là ngời có sức khoẻ, có chí lớn và giàu
mu trí Năm 19 tuổi, bà đã cùng anh trai tập hợp trai tráng trong vùng, luyện tập võnghệ Sau hợp binh với anh nổi dậy khởi nghĩa
Năm 248, cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở Phú Điền (Hậu Lộc- Thanh Hoá) Bà Triệulãnh đạo nghĩa quân đánh phá các thành ấp của bọn quan lại nhà Ngô ở quận Cửu Chân,rồi từ đó đánh ra khắp Giao Châu
Khi ra trận, Bà Triệu thờng mặc áo giáp, cài trâm vàng, đi guốc ngà, cỡi voi,trông rất oai phong lẫm liệt
Đợc tin nhà Ngô vội cử viên tớng Lục Dận đem 6000 quân sang Giao Châu LụcDận huy động thêm lực lợng lớn vừa đánh, vừa mua chuộc, chia rẽ nghĩa quân Cuộckhởi nghĩa bị đàn áp Bà Triệu hy sinh trên núi Tùng (Phú Điền- Hậu Lộc) Ghi nhớcông ơn của bà nhân dân đã xây dựng ở đây lăng mộ và đền thờ Bà
Câu hỏi
1 Những thay đổi lớn trong đời sống vật chất và tinh thần của ngời nguyên thuỷ ở Thanh Hoá?
2 Tình hình kinh tế- xã hội thời kỳ này có gì nổi bật?
3 Cảm nghĩ của em về Bà Triệu?
Lớp 7
Tiết 32
Thanh hoá trong thời kỳ hình thành và phát triển
của nhà nớc Việt nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XV)
I - Tên gọi qua các thời kỳ, địa lý tự nhiên và con ng ời
1 Tên gọi qua các thời kỳ và địa lý tự nhiên
Trang 6Thế kỷ X, Thanh Hoá đợc gọi là đạo ái Châu Đến năm Thuận Thiên 1 thì gọi làPhủ Thanh Hoá Năm 1242 vua Trần Thái Tông đổi 24 lộ đời Lý thành 12 lộ, trong đó
có Thanh Hoá phủ lộ Năm 1397 Trần Thuận Tông đổi Thanh Hoá phủ thành trấn Thanh
Đô
Trấn Thanh Đô lúc này gồm 7 huyện (mỗi châu có 4 huyện) Huyện
Cổ Đằng, Cổ Hoằng, Đông Sơn, Cổ Lôi, Vĩnh Ninh, Yên Định, Lơng Giang Ba châu bao gồm: Châu Thanh Hoá, Châu ái, Châu Cửu Chân
Năm 1430 Hồ Hán Thơng đổi phủ Thanh Hoá thành phủ Thiên Xơng Đến triều
Lê phủ Thanh Hoá đợc đổi thành thừa tuyên Thanh Hoa gồm phần đất của Thanh Hoángày nay và tỉnh Ninh Bình (thời kỳ đó là phủ Trờng Yên, trực thuộc) và tỉnh Hủa Phăn(Sầm Na) của Lào (thời kỳ đó gọi là châu Sầm)
Đại Nam nhất thống chí chép: Phủ này (tức phủ Thiên X“ ơng) cùng Cửu Chân và ái Châu làm tam phủ gọi là Tây Đô Thời thuộc Minh, trấn Thanh Đô”
đổi thành phủ Thanh Hoá (năm 1407 - theo Đào Duy Anh)
Về mặt địa lý tự nhiên có ba vùng rõ rệt: vùng ven biển, vùng đồng bằng, vùngtrung du Trung tâm kinh tế lớn tiêu biểu nh T Phố (làng Giàng- Thiệu Dơng, ThiệuHoá), giáp Bối Lý (nay Thiệu Trung- Đông Sơn) Bên cạnh đó nhiều tụ điểm lớn tậptrung c dân đợc hình thành: Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Hà Trung, Thọ Xuân, Triệu Sơn,Tĩnh Gia, Nông Cống
- Nêu đặc điểm địa lý tự nhiên của Thanh Hoá và các tụ điểm dân c?
2 Con ngời tỉnh Thanh
Thanh Hoá là một cộng đồng gồm nhiều dân tộc sinh sống: Kinh, Mờng, Thái,Mông, Dao, Khơ Mú, Thổ, Tày Vùng đất địa linh và khí hậu nóng- lạnh rõ rệt đã tạonên con ngời Thanh Hoá với những phẩm chất và truyền thống quí báu
Trang 7
Hình 2- Trống đồng Đông Sơn Hình 3- Lỡi giáo mác Đông Sơn
Ngay từ thời tối cổ, ngời Thanh Hoá đã xây dựng nên văn hoá núi Đọ Trải quathời gian dài tồn tại, đấu tranh và phát triển c dân lạc Việt ở Thanh Hoá đã làm nên Vănhoá Đông Sơn
Ngời Thanh Hoá có truyền thống yêu nớc, anh dũng bất khuất trong đấu tranhbảo vệ quê hơng đất nớc Đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động xây dựng quê hơng
Thanh Hoá có truyền thống văn hoá lâu đời, phong phú, đa dạng
và đặc sắc: dân ca Mờng, Thái; hò sông Mã, hát Trống quân, múa Xuân phả, múa Tú Vân, chèo chải, trờng ca Để đất đẻ n“ ớc ”
Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, Thanh Hoá đã góp phần to lớn, tô
đậm truyền thống yêu nớc
Thế kỷ I có nữ tớng Lê Hoa trong khởi nghĩa hai Bà Trng; Thế kỷ III (248) có anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh; năm 931, 938 có ngời anh hùng Dơng Đình Nghệ chống quân Nam Hán Năm 981 có Lê Hoàn khởi nghĩa chống Tống Thế kỷ XV có anh hùng Lê Lợi với khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh Cuối thế kỷ XIX có Tống Duy Tân, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thớc trong phong trào Cần Vơng.
Đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc nhân dân Thanh Hoá đã đóng góp to lớn về sức ngời, sức của góp phần tạo nên thắng lợi của hai cuộc kháng chiến.
Với những truyền thống quý báu, nhân dân Thanh Hoá qua nhiều thời kỳ lịch sử
đã góp phần tô đậm thêm truyền thống dựng nớc và giữ nớc của dân tộc Việt Nam
Trang 8- Nêu những truyền thống quý báu nào của con ngời Thanh Hoá?
II tình hình kinh tế, văn hoá, giáo dục
1 Sự chuyển biến về kinh tế
Nông nghiệp: Đến thế kỷ X đồng bằng Thanh Hoá đã đợc khai khẩn, mở rộng
bao gồm các huyện Thiệu Yên, Vĩnh Lộc, Đông Sơn, Thọ Xuân, Quảng Xơng, HoằngHoá, Nam Hà Trung, Hậu Lộc, Bắc Nông Cống ngày nay Kinh tế nông nghiệp pháttriển không chỉ đủ tự cung cấp mà còn góp phần cung cấp cho cả nớc khi có chiến sự
“Mùa xuân Đinh Hợi năm Thiên phúc thứ 8 (987) vua lần đầu cày ruộng tịch điền ở
Núi Đọ”.
Hình 4 Núi Đọ
Bớc sang thời Lý ruộng đất ở Thanh Hoá tiếp tục đợc mở rộng, cơ bản ruộng đất
là của công, làng xã Nhà vua thờng cử các đại thần đến coi giữ Quyền sử dụng rộng rãi
về ruộng đất của các dòng họ lớn thời trớc dần bị thu hẹp nhờng chỗ cho sự quản lý củanhà nớc
ở Thanh Hoá nhà Lý còn lấy một số ruộng đất công làm thờ phụng, tế lễ, phongcấp cho con cháu, tớng lĩnh có công, làm các đền chùa
Đến Thời Trần tiếp tục quan tâm đến nông nghiệp Vua Trần cử Trần Thủ Độ caiquản đất đai Thanh Hoá, cho nạo vét, tu bổ, đào lại các sông thời Lê, Lý Bên cạnh đó
mở mang diện tích trồng trọt, phát triển sản xuất, tiến hành đắp đê, phòng lụt, khai khẩu
đất hoang, cho phép đợc mua bán ruộng Chế độ thuế khoá hợp lý đã cổ động mạnh mẽnền kinh tế nông nghiệp phát triển Ngoài ra còn cho đào sông Chiếu Bạch dùng để tiêuúng, cho đắp lại các đê sông
Trang 9Sử chép: Mùa xuân tháng giêng Tân Mão (1231), sai nội minh tự“
Nguyễn Bang Cốc chỉ huy quân lính trong phủ đào vét kênh Trầm, kênh hào từ phủ Thanh Hoá đến địa giới phía Nam Diễn Châu Xong việc thăng Bang Cốc làm phụ quốc thợng hầu (1) Ngoài ra sử còn chép:”
Năm thiên ứng Chính Bình thứ 17 (1248) đào sông Bà Lễ, đục núi
Bớc sang thời Hồ, Hồ Quý Ly cho phát hành tiền giấy gọi là: “Thông bảo hội
sao” vào năm 1396 Năm 1397 Hồ Quý Ly ban hành chiếu “Hạn chế danh điền” nhằm
giảm bớt lợng đất sở hữu của quý tộc và địa chủ, tăng cờng ruộng đất của công của nhànớc giao cho làng xã quản lý Nhà Hồ tiến hành cung khai, đo đạc lại ruộng đất
- Trình bày những nét chính về sự chuyển biến trong nông nghiệp?
Thủ công nghiệp và thơng nghiệp: Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, các
nghề thủ công cổ truyền của c dân Châu ái nh đúc đồng, sắt, làm công cụ lao động,nghề ơm tơ, dệt vải, nghề đan lát, làm muối, đi biển đến thời kỳ này phát triển thêmmột bớc
Sản phẩm chính trớc kia chủ yếu là loại vải lụa sợi thô to Đến thế kỷ X nghề dệt
đã có những tiến bộ mới về sợi và chất lợng dệt Sản phẩm lụa tơ tằm với các loại gấm,the, lụa, tại nhiều trung tâm dệt nổi tiếng: Kẻ Đừng, Hoàng Lộc, Hoàng Phúc (HoàngHoá), Liên phố (Thọ Xuân), Hồ Nam (Vĩnh Lộc), Thiệu Yên
Nghề đục đá: Qua bàn tay điêu luyện của nghệ nhân, nhiều sản phẩm bằng đá có
giá trị cao về nghệ thuật dùng xây dựng, trang trí đền, chùa, miếu mạo, lăng tẩm
Nghề đúc đồng, sắt, nghề gốm, đan lát, và nghề đi biển có những bớc phát triển
rõ rệt
“Núi An Hoạch sản xuất thứ đá tốt, Phạm Ninh là thái thú dự
ch-ơng nhà Tấn (265- 420), thờng sai ngời lấy làm khánh tức núi đá này Đá
Trang 10núi An Hoạch sắc óng ánh nh” ngọc lam, chất biếc xanh nh khói nhạt Sau này đục đá làm khí cụ ví nh đẽo khành khánh, đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm, dùng làm bia văn chơng để lại thì còn mãi ngàn đời
Kinh tế nông nghiệp phát triển, nghề thủ công phát đạt, nhiều trung tâm thơngnghiệp sầm uất hình thành nh: T Phố, Giáp Bối Lý; xuất hiện nhiều chợ để trao đổi muabán: Chợ Giáng (Vĩnh Lộc), Chợ Bản (Yên Định), Chợ Sơn Môi (Quảng Xơng), ChợSen (Nông Cống), Chợ Thịnh Mỹ (Thọ Xuân), Chợ Quăng (Hoàng Hoá)
Những tiến bộ về nông nghiệp, thủ công nghiệp và thơng nghiệp đã góp phần tạonên cho Thanh Hoá một nền kinh tế ổn định, vững chắc
2 Sự phát triển của văn hoá, giáo dục
Văn hoá: Văn hoá còn lu giữ khá đậm nét truyền thống văn hoá của ngời Việt
Cổ Đó là nền văn hoá của chủ nhân trống đồng Đông Sơn, các trò diễn dân gian giữ gìn
và phát huy: các trò Ngô, trò Tú huần, hát Xuân phả, trò Chèo chải, Múa đèn
Tập quán cổ và tín ngỡng dân gian đợc duy trì và phát triển Việc thờ cúng tổtiên, ngời có công luôn luôn đợc đặt vào vị trí hàng đầu
Thời Lý, phật giáo đã trở thành Quốc giáo ở Thanh Hoá phật giáo đã hoà đồng
và tín ngỡng dân gian để tồn tại và phát triển Nhiều đền, chùa đợc xây dựng và tu bổ:Chùa Sùng Nghiêm (Thiệu Hoá), Linh Xứng (Hà Trung), Báo Ân (Đông Sơn), HơngNghiêm, Trịnh Nghiêm, Minh Nghiêm (Đông Sơn)
Hìn 5 Văn Miếu- Quốc Tử Giám
Thời Trần, tầng lớp nho sĩ xuất hiện ngày một đông đảo Nho giáo dần dần chiếm
u thế Tuy nhiên phật giáo vẫn phát triển mạnh với nhiều chùa mới xuất hiện: Chùa
Đông Sơn, Chùa Du Anh dới chân núi Xuân Đài có Động Hồ Công nổi tiếng (Vĩnh Lộc)Chùa Cam Lộ (Hậu Lộc) Chùa Vân Lỗi (Nga Sơn) Chùa Hơng Phúc (Quảng Xơng)
Trang 11Không chỉ là nơi “tụng kinh niệm phật” mà còn là chứng tích ghi nhớ chiến công nhândân chống giặc Nguyên Mông 1285.
Giáo dục: Từ khoa thi đầu tiên tổ chức vào năm ất Mão (1075) chế khoa minh
kinh bác học cùng với sự phát triển của giáo dục là cơ sở góp phần xuất hiện những bậc
đại nho ở Thanh Hoá vào các thời kỳ sau nh: Lê Văn Hu, Đào Tiêu, Lê Thân, Lê Quát
- Nêu những nét chính về sự phát triển văn hoá- giáo dục qua các thời kỳ?
Đến thời Trần chữ Nôm phát triển, chế độ giáo dục khoa cử đợc coi trọng, ngàyqui củ và chính qui Thanh Hoá đã có nhiều ngời đỗ đạt cao
Năm 1247 mùa xuân tháng 2, vua trần mở khoa thi chọn tam khôi
đầu tiên của nớc ta Kỳ thi năm đó cùng với Nguyễn Hiền đậu trạng nguyên, Đặng Ma La, đậu Thám Hoa, Lê Văn Hu ngời giáp Bối Lý (Đông Sơn) vốn là con cháu đời thứ 7 của tớng công Bộc xạ Lê Lơng đậu bảng nhãn (1)
Khoa thi chọn Tam Khôi (1247) Lê Văn Hu đậu bảng nhãn, khoa thi Tam giáo
Đào Diễn và Hoàng Hoa đỗ ất khoa Lê Văn Hu, Đào Tiêu, Trơng Phỏng đỗ bảng nhãn
Lê Thân, Lê Quát đỗ bảng nhãn Lúc này Nho sĩ Thanh Hoá ngày một đông đảo
III nhân dân Thanh Hoá tham gia các cuộc kháng chiến chống
phong kiến phơng bắc xâm lợc:
1.Cuộc kháng chiến chống Tống của Lê Hoàn
Mùa Xuân 981, quân Tống do Hầu Nhân Bảo chỉ huy theo hai đờng thuỷ bộ tiếnvào xâm lợc nớc ta: Quân bộ theo đờng Lạng Sơn, quân thuỷ theo đờng sông Bạch
Đằng
Trang 12
Hình 6 Cố Đô Hoa L
Lê Hoàn trực tiếp chỉ huy “Vua tự làm tớng đi đánh giặc” Ông tổ chức cho quân
đóng cọc ở sông Bạch Đằng để chặn chiến thuyền địch Nhiều trận chiến đấu ác liệtdiễn ra trên sông Bạch Đằng, cuối cùng quân thuỷ bị đánh lui
Trên bộ quân ta chặn đánh quân Tống quyết liệt, quân thuỷ bị đánh bại không kếthợp đợc với quân bộ nên địch bị tổn thất nặng buộc phải rút lui về nớc Thừa thắng quân
ta truy kích tiêu diệt quân Tống đại bại, Hầu Nhân Bảo bị giết, cuộc kháng chiến hoàntoàn thắng lợi
Nhà sử học Lê Văn Hu viết: Lê Đại Thành giết Đinh Điền bắt Nguyễn“
Bặc, tóm Quân Biện, Phụng Hng dễ nh lùa trẻ con, nh sai nô lệ, cha đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đờng cũng không hơn đợc.”
Cuộc kháng chiến chống Tống thắng lợi biểu thị ý chí quyết tâm chống ngoạixâm của quân dân ta với sự đóng góp to lớn của nhân dân Thanh Hoá mà đứng đầu là LêHoàn Thắng lợi của cuộc kháng chiến chứng tỏ một bớic phát triển của đất nớc và khảnăng bảo vệ độc lập dân tộc của Đại Cồ Việt
- Cuộc kháng chiến chống Tống do ai chỉ huy, nêu ý nghĩa thắng lợi?
2 Cuộc kháng chiến chông quân Mông- Nguyên của nhân dân Thanh Hoá
Năm 1285 đợc tin quân Mông Cổ chuẩn bị xâm lợc nớc ta lần thứ 2, vua Trần mởHội nghị Diên Hồng, mời các bậc phụ lão có uy tín trong cả nớc về Thăng Long để bàncách đánh giặc
Trang 13“ Thợng Hoàng (Trần Thánh Tông) triệu phụ lão trong cả nớc họp
ở thềm điện Diên Hồng ban yến và hỏi kế đánh giặc Các phụ lão liền nói đánh muôn ng“ ” ời cùng hô một tiếng, nh bật ra từ một của miệng”
(Đại Việt sử ký toàn th)Tham gia hội nghị Diên Hồng ở Thanh Hoá có Chu Văn Lơng (ngời làng NamNgạn, Thành phố Thanh Hoá), Mai Phúc Trờng, ngời làng Dầu (Quang Lộc, Hậu Lộc).Tinh thần quyết chiến của hội Nghị Diên Hồng đã thông qua các bậc phụ lão về vớinhân dân Thanh Hoá
Chu Văn Lơng tập hợp những trai tráng khoẻ mạnh, thạo nghề sông nớc, luyệntập lên đờng ra bắc phối hợp với quân đội nhà Trần
Mai Phúc Trờng tổ chức dân binh luyện tập võ nghệ, tích trữ lơng thảo sẵn sàngchiến đấu
Trong các trận chiến đấu Thanh Hoá không chỉ là chiến trờng mà có lúc còn làtrung tâm của bộ chỉ huy Rất nhiều tấm gơng anh dũng chiến đấu chống quân Nguyêncủa nhân dân Thanh Hoá còn lu truyền đến nay nh: Chu Văn Lơng, Đại toái Lê Mạnh,Mai Phúc Trờng, đặc biệt là Phạm Sĩ ngời đợc Phạm Ngũ Lão tiến cử với Trần Hng Đạo
và đợc cử làm tớng có nhiều công lạo đánh giặc sau này đợc nhà vua phong thái ấp ởtrang Trân Xá (Hà Bắc)
Câu hỏi
1 Những nét chính về sự chuyển biến về kinh tế?
2 Thời kỳ này văn hoá, giáo dục có gì phát triển?
3 Nhân dân Thanh Hoá tham gia cuộc kháng chiến chống phong kiến phơng Bắc nhthế nào?
4 Trình bày sự hiểu biết của em về Lê Hoàn
Tiết 65Thanh hoá từ thế kỷ xv đến thế kỷ xvi
I Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418- 1423)
Trang 141 Lê Lợi dựng cờ Khởi nghĩa
Lê Lợi sinh ngày 6 tháng 8 năm ất Sửu, tức ngày 10 tháng 9 năm 1385 tại quê mẹlàng Chủ Sơn, huyện Lôi Dơng (nay là xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân)
Ông là một hào trởng có uy tín lớn ở vùng Lam Sơn Trớc cảnh quân Minh đô hộnớc ta, chúng đẩy nhân dân ta vào cảnh lầm than, ông đã dốc hết tài sản để chiêu tậpnghĩa sĩ, bí mật liên lạc với các hào kiệt, xây dựng lực lợng và chọn Lam Sơn làm căn cứcho cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn nằm bên tả ngạn sông chu, nối liền giữa đồng bằng với miền núi và có núi rừng trùng điệp, nhiều khe suối len lỏi quanh co làm cho rừng núi hiểm trở Đây cũng là nơi giao tiếp của các dân tộc Việt, M- ờng, Thái.
Đầu năm 1416, Lê Lợi cùng 18 ngời thân tín nhất trong bộ chỉ huy cuộc khởinghĩa đã tổ chức hội thề ở Lũng Nhai (thuộc núi rừng Lam Sơn), làm lễ tế cáo trời đất,văn thề, kết nghĩa anh em quyết tâm đánh giặc cứu nớc
Ngày 7 tháng 2 năm 1418 (tức ngày 2 tháng 1 năm Mậu Tuất) Lê Lợi cùng toànthể nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn và tự xng là Bình Định Vơng, truyền lệnhkhắp nơi kêu gọi nhân dân cùng nổi dậy chống giặc cứu nớc
2 Những năm đầu gian khổ của nghĩa quân trên đất Thanh Hoá
Cuộc khởi vừa dấy lên quân Minh lập tức tập trung lực lợng đàn áp Tổng binh lýBân phái đô đốc Chu Quang điều quân từ thành Tây Đô lên vây quét vùng Lam Sơn,buộc nghĩa quân phải rút lên xứ Mờng Một (Thanh Hoá) Quân Minh ráo riết đuổi theo,
Lê Lợi phải rút lên núi Chí Linh ở đây nghĩa quân rơi vào tình thế hiểm nghèo Lê Lai
đã cải trang làm Lê Lợi dẫn 500 quân và 2 voi chiến tự xng là “Chúa Lam Sơn” kéo raanh dũng tập kích địch Lê Lai cùng toán cảm tử quân đã hy sinh quân Minh tởng rằng
đã giết đợc Lê Lợi nên rút quân
Lê Lai ngời dân tộc Mờng quê ở Dựng Tú (Ngọc Lặc- Thanh Hoá) Gia đình ông có 5 ngời tham gia nghĩa quân Lam Sơn thì có 2 ngời hy sinh trong chiến đấu.
Lê Lợi trở về căn cứ Lam Sơn, xây dựng lực lợng chiến đấu Nghĩa quân đã tậpkích và đánh bại nhiều cuộc truy kích địch, tiêu diệt hàng ngàn tên Tháng 5 năm 1418
Trang 15quân Minh nổ cuộc vây quét, khủng bố lớn, nghĩa quân buộc phải rút lên núi Chí Linhlần thứ hai.
Trải qua gần 3 tháng tuyệt lơng, phải tìm măng tre, măng nứa và các thứ cây có thể ăn đợc để sống qua ngày Sau khi quân Minh rút về Tây Đô, nghĩa quân trở về Lam Sơn chỉ còn lại hơn 100 ngời tổn thất nặng nhng vẫn giữ vững ý chí chiến đấu và đợc nhân dân hết lòng ủng hộ.
Đợc sự ủng hộ của nhân dân nghĩa quân ngày một mạnh Cuối năm 1418 và liêntiếp năm 1419 đến cuối năm 1420 nghĩa quân liên tiếp đánh thắng các cuộc vây quétcủa quân Minh Đặc biệt, trong trận Sách khôi nghĩa quân đã tiêu diệt hành ngàn tên
địch, thu hàng trăm ngựa
Tháng 3 năm 1423, quân Minh do tổng binh Trần Trí chỉ huy từ Đông Quan đánhlên Trớc tình hình đó, Lê Lợi hạ lệnh rút lên núi Chí Linh lần thứ ba ở đây nghĩa quânphải sống những ngày gian khổ Trong hơn hai tháng trời thiếu lơng thực, Lê Lợi phảicho giết cả voi, ngựa (kể cả con ngựa của ông) để nuôi quân
“ Khi Linh Sơn lơng hết mấy tuần Khi Khôi Huyện quân không một đội”
(Bình Ngô đại cáo)
Trớc tình thế bất lợi và khó khăn nh vậy, Lê Lợi chủ trơng tạm hoà và đợc quânMinh chấp thuận Vì vậy từ tháng 3 năm 1423 đế tháng 10 năm 1924 là thời kỳ tạm hoàcủa nghĩa quân để xây dựng lực lợng Tháng 5 năm 1423, nghĩa quân trở về căn cứ LamSơn
-Tại sao Lê lợi đề nghị tạm hoà với quân Minh?
Cuối năm 1424, do bị thất bại trong âm mu mua chuộc Lê Lợi, quân Minh mật
mở cuộc tấn công nghĩa quân
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chuyển sang giai đoạn mới
3 Giai đoạn tấn công địch giành thế chủ động và giải phóng hoàn toàn đất nớc
Trang 16Sau thời gian hoà hoãn để xây dựng lực lợng, Lê Lợi cho họp bộ tham mu để bàn
kế tiến thủ Theo kế hoạch của Nguyễn Chích, nghĩa quân đã rời Thanh Hoá vào Nghệ
An
Ngày 12 tháng 10 năm 1424 nghĩa quân bất ngờ tập kích đồn Đa Căng (thuộc xãThọ Nguyên- Thọ Xuân) tiêu diệt hơn 1000 tên địch giành thắng lợi lớn Trên đờng tiếnquân vào Nghệ An nghĩa quân đã thắng lớn ở Bồ Lạp, hạ thành Trà Long, Khả Lu, Bồ
ải, từ Nghệ An nghĩa quân tiến ra Bắc giải phóng Diễn Châu, Thanh Hoá tiến vào Namgiải phóng Tân Bình, Thuận Hoá
Nh vậy, sau gần 8 năm chiến đấu, từ một căn cứ hẹp ở núi rừng Lam Sơn ThanhHoá, nghĩa quân đã có một căn cứ địa vững chắc, một hậu phơng lớn từ Thanh Hoá đếnThuận Hoá Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã thực sự trở thành trung tâm của toàn bộ phongtrào kháng chiến chống quân Minh trong phạm vi cả nớc
Bớc sang năm 1426, Lê Lợi và bộ tham mu quyết định mở cuộc tấn công lớn racác lộ miền Đông Đô với 3 đạo quân Nghĩa quân đã giành đợc nhiều chiến công vangdội ở Ninh Kiều (9- 1426), Nhân Mục (0-1426), Xa Lộc (Lâm Thao, Vĩnh Phú), đặc biệt
là chiến thắng Tốt Động, Chúc Động (11- 1426) đã tiêu diệt trên 6 vạn quân địch (5 vạn
bị giết, hơn 1 vạn bị bắt sống) Quân ta thu nhiều chiến lợi phẩm gồm: ngựa, xe cộ, quânnhu, vũ khí, vàng bạc Chiến thắng Tốt Động đã đập tan kế hoạch tấn công của VơngThông và làm phá sản hoàn toàn âm mu giành thế chủ động của địch
Tháng 1 năm 1427 quân Minh điều động viện binh sang cứu nguy cho VơngThông, lực lợng gồm 15 vạn quân và 3 vạn ngựa, chia làm 2 đạo tiến vào nớc ta Đạo thứnhất do Liễu Thăng chỉ huy cùng với Lơng Minh, thôi tụ theo đờng Quảng Tây tiến vàoLạng Sơn Đạo thứ hai do Mộc Thạnh chỉ huy theo đờng Vân Nam tiến vào Đại Việt
Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn quyết định tập trung lực lợng tiêu diệt viện quângiặc, trớc hết là đạo quân của Liễu Thăng, không cho chúng tiến sâu vào nội địa nớc ta
Ngày 8 tháng 10, Liễu Thăng hùng hổ dẫn quân ào ạt vào biên giới nớc ta, đếnchân núi Mã Yên thì bị nghĩa quân ta đổ ra đánh Liễu Thăng bị giết, toán kị binh bị tiêudiệt
Sau khi Liễu Thăng bị giết, phó tổng binh là Lơng Minh lên thay tại Cần Trạmphố Cát Lơng Minh bị giết, thợng th Lý Khánh “kế cùng thắt cổ tự tử” Đô đốc thôi tụ vàthợng th Hoàng Phúc đem số quân còn lại tiến xuống Xơng Giang, gần 5 vạn tên địch bị
Trang 17tiêu diệt hoặc bắt làm tù binh Mộc Thạnh biết Liễu Thăng bị bại trận nên vô cùnghoảng sợ vội rút quân về nớc.
Nghe tin hai đạo viện binh Liễu Thăng, Mộc Thạnh bị tiêu diệt hoàn toàn, VơngThông ở Đông Quan vô cùng hoảng sợ, vội vàng xin hoà và chấp nhận mở hội thề ĐôngQuan (10- 12- 1427) để đợc an toàn rút quân về nớc Ngày 3 tháng 1 năm 1428 toánquân cuối cùng của Vơng Thông rút khỏi nớc ta Đất nớc sạch bóng quân thù, cuộc khởinghĩa Lam Sơn toàn thắng
- Nêu những sự kiện lịch sử chứng tỏ nghĩa quân Lam Sơn đã không ngừng lớn mạnh và giành thế chủ động?
4 Đóng góp của nhân dân Thanh Hoá trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Thanh Hoá một vùng đất địa linh nhân kiệt, nh Nguyễn Trãi đã viết: “Thanh Hoá
là phên dậu thứ hai ở phơng Nam” Thanh Hoá là nơi xuất phát, căn cứ vững chắc của
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Đất Lam Sơn với rừng núi hiểm trở thuận lợi cho việc “côngthủ” nhân dân đoàn kết một lòng đảm bảo vững chắc cho nghĩa quân tồn tại và pháttriển cùng với núi rừng Lam Sơn đã đùm bọc, che chở, bảo vệ nuôi dỡng cho nghĩaquân
Lam Sơn có dân c các dân tộc đông đúc, giao thông thuận tiện cho việc hội tụcác nhân tài trong cả tỉnh cũng nh cả nớc Ngay từ những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa,nhân dân Thanh Hoá đủ các tầng lớp, không kể già trẻ, gái trai, miền xuôi hay miền ng-
ợc đã nhanh chóng tập hợp dới lá cờ đại nghĩa của Bình Định Vơng Lê Lợi
Ngay từ những ngày đầu khởi nghĩa các huyện trong tỉnh đều có ngời về tụnghĩa: Quảng Xơng có Lê Tông Kiều;Vĩnh Ninh (Vĩnh Lộc) có Trịnh Khả; Nông Cống
có Trịnh Đồ, Đỗ Bí, Hà Mộng, Lê Khơng, Hà Độ; Đông Sơn có Nguyễn Chích
Trong hội thề Lũng Nhai (không kể Lê Lợi, đã có 11/18 ngời là
ng-ời xứ Thanh nh: Lê Lai, Lê Lý, Lê Hiển, Lê Bôi, Lê Thận, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Đinh Liệt, Trịnh Khả, Trơng Lôi, Vũ Uy) phần lớn trong số đó
là các tớng lĩnh tài ba của nghĩa quân Lam Sơn sau này.
Trong việc khai hoang, sản xuất, đảm bảo cung cấp lơng thực cho nghĩa quân
đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi phía Tây Thanh Hoá đã ủng hộ nhiệt tình về mọimặt cho nghĩa quân: Xây dựng căn cứ, đào hào đắp luỹ, xây dựng kho tàng, nhà
Trang 18cửa Truyền thuyết dân gian còn lu truyền biết bao câu chuyện cảm động về mối tìnhquân dân đoàn kết nhất trí, hết lòng quyên góp lơng thực.
Thần tích địa phơng cho biết ở động Sa Lung (Bá Thớc) có Hà Thung, ở thôn Quan Gia (Quan Hoá) có Lê Yên là những ngời đóng góp nhiều cho nghĩa quân, nên sau khi chống Minh thành công Hà Thung đợc
bổ sung chức Thông quán, Lê Yên đợc phong Hải Nham hầu.
(Lê Lợi và Thanh Hoá trong khởi nghĩa Lam Sơn)
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, phụ nữ Thanh Hoá đã góp phần tích cực trongviệc xây dựng căn cứ, cung cấp lơng thực, tiếp tế, cứu thơng, bảo vệ tớng lĩnh Khôngnhững thế phụ nữ Thanh Hoá còn tham gia chiến đấu anh dũng chống giặc Minh Tiêubiểu là Phạm Thị Ngọc Trần (vợ Lê Lợi) ngoài việc tham gia lo việc lơng thực nuôi quân
bà còn là tấm gơng dũng cảm quên mình vì việc lớn Bên cạnh đó còn nhiều nữ tớngxông pha trận mạc nh: Hồng Nơng Công Chúa (con gái Lê Lợi), Nguyễn Thị Bành (vợ t-ớng quân Nguyễn Chích)
cuộc kháng chiến chống pháp xâm lợc của nhân dân
thanh hoá từ cuối thế kỷ xviii đến hết chiến tranh
thế giới lần thứ nhất (1918)
1.Thanh Hoá hởng ứng phong trào Cần Vơng
Trang 19Năm 1883 triều đình Huế kí hiệp ớc Hác Măng, đất nớc ta rơi vào thảm trạng mấtnớc Phong trào kháng chiến chống pháp liên tục nổ ra ở nhiều nơi.
Ngày 5 tháng 7 năm 1885 Hàm Nghi ra Chiếu Cần Vơng, kêu gọi nhân dân ra sứcphò vua cứu nớc
Hởng ứng Chiếu Cần Vơng nhân dân các dân tộc trong tỉnh Thanh Hoá từ miềnngợc đến miền xuôi đều đứng lên giúp vua cứu nớc
Cuối năm 1885 Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn ra đến Thanh Hoá đã gặp gỡ, bàn bạc công việc kháng chiến với các thủ lĩnh nh Tôn Thất Hàm, Nguyễn Quý Yên, Nguyễn Phơng, Lê Ngọc Toản, Cầm Bá Th-
ớc, Hà Văn Mao, Tống Duy Tân, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt.
(Lịch sử Thanh Hoá- NXBTH1996)
Phong trào Cần Vơng ở Thanh Hoá đã đợc qui tụ và có chỉ đạo chung, Trần XuânSoạn đợc vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết cử phụ trách tỉnh Thanh Hoá Phạm Bànhphụ trách vùng đồng bằng, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thớc làm chủ vùng núi, xây dựng căn
cứ liên hệ với nghĩa quân Lang Văn Thiết, Lang Văn Hạnh Nghệ An
Xây dựng lực lợng đủ mạnh, ngày 12 tháng 3 năm 1886 nghĩa quân tổ chức đánhthành Thanh Hoá, sau một đêm chiến đấu gay go ác liệt không chiếm đợc thành, đếngần sáng nghĩa quân tạm rút lui
Tháng 5 năm 1886 Tôn Thất Thuyết tập hợp nghĩa quân tại Bồng Trung (VĩnhLộc) để xây dựng và thống nhất kế hoạch, mở rộng hoạt động, phối hợp chiến đấu trongtoàn tỉnh
Cuộc họp có mặt đầy đủ các lãnh tụ chủ yếu của phong trào Cần Vơng nh: Trần Xuân Soạn, Hà Văn Mao, Phạm Bành, Tống Duy Tân, Lê Ngọc Toản, Cầm Bá Thớc.
(Lịch sử Thanh Hoá- NXBTH1996)
Đầu năm 1886 thực dân Pháp cho quân ra Bắc Thanh Hoá lập vùng trắng ở phía
đông bắc Sông Mã, Sông Chu nhằm ngăn chặn sự phát triển của phong trào Cần Vơng
Trang 20Thanh Hoá- Nghệ An Lúc này vùng đất Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn trở thành vùngtranh chấp, giao chiến ác liệt của nghĩa quân hai phía.
- Chiếu Cần Vờng đã đợc nhân dân Thanh Hoá hởng ứng ra sao?
2 Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào Cần Vơng ở Thanh Hoá.
a Khởi nghĩa Ba đình (1886- 1887)
Ba Đình thuộc huyện Nga Sơn Trung tâm của căn cứ của của khởi nghĩa là balàng: Mậu Thịnh, Thợng Thọ và Mỹ Khê Nơi đây thôn làng nằm kề giữa một vùngchiêm chũng lầy lội Mùa ma nơi đây nổi lên nh một hòn đảo giữa biển nớc mênh mông
Chỉ huy cứ điểm là Phạm Bành và Đinh Công Tráng bên cạnh còn có NguyễnKhế, Nguyễn Toại
Nghĩa quân đã xếp hàng ngàn ngọn tre nhồi rơm trộn bùn đắp trên mặt thành, đồng thời tạo những khe hở làm lỗ châu mai để quan sát và bắn ra giữa các đồn có giao thông hào nối với nhau để hỗ trợ tác chiến khi một đồn bị tấn công và có thể chiến đấu độc lập Phía ngoài thành có luỹ tre bao bọc, đào hào sâu cắm chông tre
Công sự Ba Đình trở thành căn cứ phòng thủ rất kiên cố và quan trọng Nghĩaquân có thế tiến, lui để kiểm soát đờng giao thông thuỷ lộ, phục kích, tiêu diệt quânpháp trên quốc lộ 1
- Công sự Ba Đình đợc xây dựng ở đâu?Điểm mạnh của công sự Ba Đình là gì?
Tháng 10 năm 1886 nghĩa quân tổ chức phục kích trên quốc lộ 1 và đánh tan haicuộc tấn công của quân Pháp do trung tá Mét Danh Giơ và trung tá Đốt chỉ huy
Tháng 12 năm 1886 đến tháng 1 năm 1887, quân Pháp tập trung một lực lợng lớngồm 2 488 tên do đại tá Bơ- rít- xô chỉ huy mở cuộc tấn công quy mô vào căn cứ
Sáng ngày 20 năm 1887, quân Pháp tiến hành công kích giữ dội bằng pháo binh Trong trận này Pháp bị giết 5 sĩ quan và gần 300 lính Âu- Phi Đêm ngày 20 tháng 1 rạng sáng ngày 21 tháng 1, nghĩa quân đánh phá vây dới sự chỉ huy của Nguyễn Thế, đội quân cảm tử đã mở đờng máu cho nghĩa quân rút khỏi Ba Đình.
Trang 21Suốt 34 ngày đêm cầm cự, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của giặc Cuối cùng đểchấm dứt cuộc vây hãm quân pháp đã phun dầu thiêu chụi các luỹ tre, triệt hạ và xoá tên
3 làng trên bản đồ hành chính Nguyên Thế, Đinh Công Tráng hy sinh, để giữ chọn khítiến Phạm Bành đã tự sát
Nghĩa quân phải mở đờng náu rút lên Mã Cao (Yên Định) tiếp tục chiến đấu thêmmột thời gian dài rồi tan dã
Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại, nhng đã nêu một tấm gơng chiến đấu anh dũng sángngời, gây cho Pháp nhiều tổn thất, cổ vũ mạnh mẽ cho tầng nhân dân Việt Nam nóichung và nhân dân Thanh Hoá nói riêng tiếp tục đứng lên chống Pháp giải phóng dântộc Tên ba làng đã đi vào lịch sử chống Pháp nh một mốc son
- Nêu khái quát về diễn biến, ý nghĩa gì của Khởi nghĩa Ba Đình?
Tống Duy Tân sinh năm 1838 xuất thân trong một gia đình nhà nho thanh bạch, từ nhỏ Tống Duy Tân tỏ ra thông minh hiếu học Năm
1870 ông đã đỗ cử nhân đến năm 1875 ông đã đỗ tiến sĩ Tống Duy Tân
đợc bổ nhiệm các chức vụ: Tri phủ Vĩnh Tờng, đốc học ở Thanh Hoá,
Th-ơng biện tỉnh vụ, chánh sứ Sơn phòng ở Quảng Hoá (Vĩnh Lộc).
Khi triều đình Huế ký hiệp ớc đầu hàng Pháp, để giữ trọn khí tiết và thanh danh
ông từ quan về quê mở trờng dạy học và bí mật chuẩn bị kháng chiến Tống Duy Tânkhông chủ trơng xây dựng căn cứ kiên cố nh Ba Đình mà dựa vào địa hình hiểm trở đểlập công sự, tổ chức phục kích tiêu diệt giặc
- Tống Duy Tân là ngời nh thế nào?
Ngày 8 tháng 11 năm 1885 và ngày 22 tháng 12 năm 1885 nghĩa quân đã đánhtrả hai cuộc tấn công của Pháp tiêu diệt và làm bị thơng nhiều quân địch và đáng chú ý
là trận Vân Đồn (Xuân Châu- Thọ Xuân)
Trang 22Ngày 8 tháng 10 năm 1889, tên thiếu tá Moóc Phông chỉ huy kéo quân lên bao vây nhng chúng sa vào trận địa mai phục Moóc Phong và
4 lính Pháp, 6 lính nguỵ bị giết chết, số còn lại rút lui
Trớc tình hình đó quân Pháp đã tổ chức nhiều cuộc tấn công lớn bằng cả đại bácbao vây tấn công vào căn cứ của nghĩa quân Nghĩa quân phải vợt qua Vĩnh Lộc, ThạchThành, rồi về Yên Định đến Vạn Lai lập căn cứ phục kích đánh giặc ở nhiều nơi nh CầuQuan (Nông Cống), Yên Thái khi chúng lên đờng rút về tỉnh lị
Nhng về sau do bị quân Pháp tổ chức tấn công và bao vây Biết lực lợng cha đủmạnh Tống Duy Tân và Cao Điền cho nghĩa quân giải tán chờ cơ hội Tháng 9 năm
1892 Tống Duy Tân về hang Nhâm Kỷ Bá Thớc để xây dựng căn cứ Tại đây bị ngờihọc trò Cao Ngọc Lễ phản bội báo tin và đa quân Pháp vây bắt Ngày 5 tháng 10 năm
1892 Tống Duy Tân bị bắt ở hang Dong (Thiết ống , Bá Thớc) trớc khi bị Pháp đa lên
đầu đài Tống Duy Tân bình thản đọc 2 câu thơ cuối đời:
Nhi kim thuỷ liễu tiền sinh thái
Tự cổ do truyền bất tử danh
dịch:
Món nợ sinh tiền nay mới trả
Cái danh bất tử trớc còn nguyên
Cuộc khởi nghĩa kết thúc để lại tấm gơng hy sinh của nghĩa quân và đặc biệt làthủ lĩnh Tống Duy Tân Để lại bài học quí về chiến lợc chiến thuật trong chiến tranh dukích
- Nêu những nét chính về sự phát triển của cuộc khởi nghĩa?
c Phong trào chống Pháp của đồng bào miền núi do Hà Văn Mao, Cầm Bá Thớc lãnh đạo
Khởi nghĩa của Hà Văn Mao ông là ngời dân tộc Mờng ở Điền L, Châu Quan
Hoá (nay là Điền L huyện Bá Thớc)
Trung tâm của cuộc khởi nghĩa là Mờng Khê sau này mở rộng địa bàn hoạt độngtới Thọ Xuân, Cẩm Thuỷ
Nghĩa quân đã chặn đánh nhiều cuộc hành quân của Pháp giành thắng lợi
Trang 23Trận đánh tháng 7 năm 1885, tháng 11 năm 1885 trớc sự lớn mạnh của nghĩa quân làm cho Pháp hoảng sợ Cuối năm 1886 quân Pháp tấn công Ba Đình kết hợp tiến đánh nghĩa quân nhằm vây bắt Hà Văn Mao Không bắt đợc Hà Văn Mao chúng đã bắt mẹ và con trai của
ông làm con tin, buộc ông phải ra hàng.
Hà Văn Mao đã không ra hàng mà dùng âm mu để đánh địch Ông cho ngời đatin ra hàng Khi quân Pháp đến đình La Hán nghĩa quân đã bất ngờ tấn công làm choquân Pháp tổn thất nặng nề Sau trận đó ông chuyển địa bàn lên Mờng Kỷ nơi có địahình hiểm trở
Tháng 11 năm 1887 quân Pháp do thiếu tá Hen- Bơ- Boa và đại uý Pátxcan mởcuộc tấn công vào nghĩa quân Do lực lợng quá chênh lệch ông đã cho nghĩa quân giảitán, còn mình để giữ trọn khí tiết ông đã vào rừng tuần tiết
- Trình bày những nét chính về diễn biến, kết quả cuộc khởi nghĩa của Hà Văn Mao?
Khởi nghĩa của Cầm Bá Thớc ông là ngời dân tộc Thái quê ở Mờng Chiềng Bán
thuộc tổng Trịnh Vạn (nay thuộc xã Vạn Xuân, huyện Thờng Xuân, tỉnh Thanh Hoá)
Cầm Bá Thớc tên thái là Lò Cắm Páu sinh năm 1858, thân sinh ra
ông là Cầm Bá Tiêu từng giữ chức quản cơ năm vua Tự Đức (1850), Bang tá hai châu Lơng Chánh, Thờng Xuân, chức tán tơng quân vụ, thống lĩnh miền thợng du Thanh Nghệ chống Pháp bị hành hình thọ 36 tuổi.
(Theo gia phả dòng họ Cầm Bá Lò Cắm thuộc chi tạo cai m“ ” ờng Trịnh Vạn, thiên bản viết ngày mồng một tháng mời năm thành thái thứ 3).
Căn cứ của cuộc khởi nghĩa ở Trịnh Vạn nơi có vùng núi hiểm trở Ông đã choxây dựng ở đây một hệ thống đồn trại kiên cố, bố trí giàn đá, lao gỗ, bãi chông dọc theonúi cao, sông sâu Sau này mở rộng địa bàn hoạt động sang Ngọc Lặc, Nh Xuân, QuanHoá, Quỳ Châu (Nghệ An)
Khởi nghĩa Hùng Lĩnh thất bại, nghĩa quân Cầm Bá Thớc trong tình thế bị baovây ông phải giả hàng vào tháng 3 năm 1893 để tranh thủ thời gian củng cố và xây dựnglực lợng
Trang 24- Căn cứ của cụộc khởi nghĩa có gì đặc biệt?
Tháng 2 năm 1894 Pháp đa quân lên đè bẹp nghĩa quân, quân Pháp đóng quân rảirác ở đồn Cửa Đạt, Thổ Sơn, Nhiên Trạm Nắm đợc âm mu của địch, để giành thế chủ
động sáng 6 tháng 2 năm 1844 Cầm Bá Thớc cho quân tấn công đồn Thổ Sơn (cách BáiThợng 10 km) ngay khi quân Pháp mới đặt chân đến Tiếp theo ông cho tập kích đồnQuang Thôn và chạm sáng với thiếu uý Lơ- cát từ đồn Yên Lợc (Thọ Xuân) lên ứngchiến nghĩa quân đã gây cho Pháp những tổn thất lớn
“Vào khoảng một giờ sáng (6/2/1894) thì xảy ra việc đánh đồn Thổ Sơn
Trớc sức mạnh của 150 phiến quân, các công sự tồi tàn xung quanh các trại lính khố xanh đều bị san bằng Quân phiến lại đột nhập vào tận trung tâm đồn bốt”
“DauFes(Ed) Đội lính khố xanh Đông Dơng, bản dịch lu tạiphòng t liệu khoa lịch sử, Trờng ĐHKHXH và NVHN”
Để giải toả vòng vây, ngày 13 tháng 8 năm 1894 Pháp điều ba cánh quân cùnglúc xuất phát lên càn quét Thổ Sơn và Cửa Đạt
Sau 13 ngày vất vả lao đao quân Pháp mới tập kết đợc tại một điểm ở Trịnh Vạn.Ngày 25 tháng 8 năm 1895 quân Pháp mở cuộc tấn công vào làng Cộc (bản Cộc) nhngnghĩa quân đã rút lui Sau 3 tháng củng cố lực lợng, ngày 18 tháng 11 năm 1894, CầmBá Thớc cho ngời giả vờ ra hàng dụ địch vào trận địa đã mai phục trong một lòng chảo,bốn bề rừng thẳm núi cao, chỉ có một lối ra vào hẹp và hiểm trở Chờ cho quân Pháp lọtvào trận địa Cầm Bá Thớc cho quân nổ súng từ hai đầu dồn lại làm quân Pháp tổn thấtlớn về ngời và vũ khí
“Bọn phiến quân bắn dữ quá, họ có đủ súng, nguỵ trang và có hầm
tốt không thể nào tiến lên đợc, giám binh Mác- li- e bèn cho lệnh lui quân”
(DauFes: Đội lính khố xanh Đông Dơng)
Sau trận đánh ở làng Cộc, Cầm Bá Thớc chia quân thành nhiều tốp nhỏ hoạt độngnhiều nơi với phơng thức du kích, tổ chức nhiều đợt phục kích tiêu diệt quân tuần tiễuPháp giành nhiều thắng lợi
Trang 25Lo sợ trớc sự lớn mạnh của nghĩa quân, thực dân Pháp quyết định tập trung lực ợng tổ chức một trận tấn công qui mô lớn vào căn cứ trung tâm của nghĩa quân ở HónBòng (Xuân Lẹ- Thờng Xuân)
l-Ngày 10 tháng 5 năm 1895 do có tay sai dẫn đờng, giám binh Mác –li-ê tổ chứctấn công với qui mô lớn vào Hón Bòng, sau bốn ngày chiến đấu gay go ác liệt quânPháp bị tổn thất nặng nề mới vợt qua đợc 3 phòng tuyến đánh vào trung tâm Cuộc chiến
đấu không cân sức, nghĩa quân vừa chiến đấu vừa rút lui để bảo vệ lực lợng Ngày 13tháng 5 năm 1895 Cầm Bá Thớc cùng vợ cả, con trai và 12 nghĩa quân bị sa vào taygiặc, khởi nghĩa kết thúc
- Cuộc chiến đấu ác liệt giữa nghĩa quân với Pháp diễn ra nh thế nào?
Sự hi sinh của Cầm Bá Thớc đã để lại trong lòng ngời dân miền núi tỉnh Thanh vànhân dân Thanh Hoá cùng nhân dân cả nớc niềm tin bất diệt, để tiếp tục cuộc chiến đấuchống Pháp giành thắng lợi Đúng nh câu đối ca ngợi công lao Cầm Bá Thớc taị đền thờcủa ông ở Cửa Đạt, huyện Thờng Xuân
“ Bất tử đại danh thuỳ vũ trụ
Từ giữa thế kỷ XIX nhân dân Thanh Hoá cùng với nhân dân cả nớc bớc vào giai
đoạn thử thách mới: chống lại cuộc xâm lợc của t bản phơng Tây
Phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân Thanh Hoá đã nổ ra sớm vàmạnh mẽ, ngay từ phút đầu với một thái độ tỉnh táo, kịp thời, dũng cảm, kiên quyết đánhbại quân xâm lợc bất chấp kẻ thù hung bạo, có vũ khí hiện đại
Phong trào diễn ra một diện rộng, kéo dài liên tục và bền bỉ Càng về sau qui môcàng lớn ở hầu khắp các địa bàn trong tỉnh Điểm đặc biệt là phong trào ở đồng bằng,trung du tan vỡ thì phong trào ở miền núi lại phát triển với xu hớng liên kết rộng, chặtchẽ với các phong trào ngoài tỉnh
Trang 26Phong trào chống Pháp của nhân dân Thanh Hoá cuối thế kỷ XIX đã tỏ rõ ý thứcthiết tha với độc lập dân tộc, tự do của nhân dân, sức mạnh đoàn kết của nhân dân trongtỉnh Đây là nhân tố quyết định sự bùng nổ rộng khắp và sức sống mãnh liệt của phongtrào.
Phong trào mang tính dân tộc và nhân dân sâu sắc, thể hiện cuộc đấu tranh củanhân dân các dân tộc trong tỉnh từ miền ngợc đến miền xuôi Trong cuộc đấu tranh,nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã không phân biệt tôn giáo, dân tộc, đoàn kết một lòngchống giặc với ý thức cao về độc lập dân tộc Yếu tố Cần Vơng (giúp vua) chỉ là phụ,yêu nớc vẫn là động lực cơ bản
Phong trào đợc sự lãnh đạo của các văn thân, sĩ phu, thổ ty lang đạo và cả nôngdân Biết dựa vững chắc vào nhân dân, lợi dụng những yếu tố “địa lợi”, “nhân hoà” đểxây dựng căn cứ, phơng thức đấu tranh phong phú với mọi vũ khí có trong tay
Phong trào yêu nớc chống Pháp cuối thế kỷ XIX cuối cùng đều thất bại Nguyênnhân chủ yếu là do phân tán, thiếu đờng lối kháng chiến thống nhất giữa các vùng, vũkhí còn thô sơ và đặc biệt nổ ra vào lúc thực dân Pháp còn mạnh, đủ sức để đối phó vàdập tắt phong trào
- Đặc điểm chính về phong trào Cần Vơng ở Thanh Hoá?
b Vị trí, ý nghĩa lịch sử
Thanh Hoá là một trong những trung tâm phát triển manh mẽ của phong trào CầnVơng Thể hiện tinh thần yêu nớc nồng nàn của nhân dân các dân tộc trong tỉnh ThanhHoá
Phong trào đã gây cho Pháp những tổn thất nặng nề, góp phần với phong trào củacả nớc làm chậm quá trình “bình định’’của Pháp
Tuy thất bại nhng phong trào đã nêu một tấm gơng sáng ngời về tinh thần đoànkết của nhân dân, sự hết lòng của nhân dân Thanh Hoá tham gia ủng hộ kháng chiến.Nêu những tấm gơng sáng ngời về tinh thần yêu nớc, phong trào để lại nhiều bài họcquý báu và xây dựng và tổ chức lực lợng, phát triển phong trào cách mạng, tiến tới giảiphóng dân tộc sau này
Câu hỏi
Trang 271 Lập bảng thống kê các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào Cần Vơng ở Thanh Hoá.
2 Nêu đặc điểm, vị trí, ý nghĩa phong trào Cần Vơng ở Thanh Hoá
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, t bản độc quyền Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc
địa để bù đắp những thiệt hại do chiến tranh gây ra trong đó có Việt Nam Tại ThanhHóa chúng không từ một thủ đoạn nào nhằm vơ vét tiền của, bòn rút sức lao động củanhân dân
Trang 28Trong thời gian này, cùng với cả nớc phong trào đấu tranh của nhân dân ThanhHoá diễn ra sôi nổi Tiêu biểu là cuộc vận động đòi trả tự do cho nhà chí sĩ yêu nớcPhan Bội Châu tiêu biểu nh: Cẩm Thuỷ, Vĩnh Lộc đã cử đại biểu về thị xã Thanh Hoá
đón tiếp cụ Phan khi cụ bị nhà cầm quyền giải đi qua Thanh Hoá
Phong trào lên đến đỉnh điểm cao vào dịp tổ chức đám tang Phan Châu Trinh Lễtruy điệu đợc nhân dân Thanh Hoá cử hành trọng thể, thu hút đông đảo các tầng lớpnhân dân tham gia, nhất là thanh thiếu niên học sinh
Những hoạt động trên trở thành những cuộc biểu dơng hùng hậu, thể hiện lòngyêu nớc và nguyện vọng giải phóng dân tộc của nhân dân Thanh Hoá
Từ phong trào yêu nớc đã xuất hiện một vài nhóm chính trị của thanh niên, họcsinh, sinh viên đấu tranh, bãi khoá liên tiếp nổ ra trong các trờng học đòi nhà cầm quyềnxoá bỏ lệnh cấm nói tiếng Việt trong giờ học, chống bọn Pháp lăng mạ ngời Việt Nam
Năm 1925 giữa lúc phong trào yêu nớc diễn ra mạnh mẽ, đồng chí Lê Hữu Lập
đ-ợc cử về nớc và hoạt động cách mạng ở Thanh Hoá Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 5năm 1926, đồng chí Lê Hữu Lập đã thành lập ra “Hội đọc sách báo cách mạng” (tại sốnhà 25 phố hàng Than thị xã Thanh Hoá), nhằm tập hợp những thanh niên tiên tiến đểtruyền bá chủ nghĩa Mác- Lê nin và t tởng cách mạng của Nguyễn ái Quốc
Hội đọc sách báo cách mạng đã nhanh chóng phát triển ở nhiều
địa phơng, nhất là Thiệu Hoá, Thọ Xuân, Đông Sơn Trên cơ sở Hội đọc sách báo cách mạng, các tiểu tổ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, BCH tỉnh bộ lâm thời đã đợc bầu Sự ra đời của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên tỉnh Thanh Hoá báo hiệu một phong trào vận động cách mạng mới bắt đầu
Cuối năm 1926 một tổ chức yêu nớc của tầng lớp tiểu t sản trí thức Thanh Hoá ra
đời, đó là Phục Việt tức Tân Việt cách mạng Đảng Cơ sở của tổ chức này cũng pháttriển nhanh chóng nhất là ở vùng Thiệu Hoá Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên vàTân Việt cách mạng Đảng tuy là hai tổ chức khác nhau, nhng qúa trình hoạt động cáchmạng cả hai tổ chức đều tuyên truyền t tởng cách mạng theo xu hớng vô sản nên đã lôicuốn đợc đông đảo quần chúng yêu nớc tham gia Những hoạt động của Hội Việt Nam
Trang 29cách mạng Thanh niên và Tân việt cách mạng Đảng đã tạo tiền đề quan trọng cho sựhình thành và ra đời của tổ chức cộng sản trên đất Thanh Hoá.
- Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất phong trào yêu nớc ở Thanh Hoá diễn ra nh
thế nào nh thế nào?
2 Sự thành lập Đảng bộ Đảng cộng sản Thanh Hoá và phong trào cách mạng dới sự lãnh đạo của Đảng bộ (1930- 1939)
Ngày 3-2-1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời Sau khi Đảng ra đời, xứ uỷ Bắc
kỳ rất quan tâm đến việc thành lập tổ chức Cộng sản ở Thanh Hoá Đợc sự chỉ đạo của
Xứ uỷ, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp đã về Thanh Hoá bắt mối liên lạc với các hội viênHội Việt Nam cách mạng Thanh niên ở các huyện Đông Sơn, Thiệu Hoá, Thọ Xuân vàxúc tiến việc thành lập các chi bộ cộng sản
Cuối tháng 6 năm 1930 chi bộ cộng sản đầu tiên đợc thành lập ở Hàm Hạ (naythuộc xã Đông Tiến- Đông Sơn)
Đầu tháng 7 năm 1930, chi bộ cộng sản thứ hai ra đời ở Phúc Lộc, Thiệu Hoá(nay là xã Thiệu Tiến)
Giữa tháng 7 năm 1930 tại làng Yên Trờng (Thọ Lập- Thọ Xuân) chi bộ cộng sảnthứ 3 ra đời
Nh vậy chỉ trong một thời gian ngắn ở Thanh Hoá đã có ba chi bộ cộng sản ra
đời
Ngày 29 tháng 7 năm 1930 dới sự chỉ đạo của Xứ uỷ Bắc kỳ, Hội nghị thành lập
Đảng bộ Đảng cộng sản tỉnh Thanh Hoá đợc tiến hành dới sự chủ trì của đồng chí LêDoãn Chấp tại nhà đồng chí Lê Văn Sĩ (làng Yên Trờng - Thọ Xuân)
Hội nghị có 11 đại biểu đại diện cho 3 chi bộ Đảng Hội nghị đã tiếp thu và thảo luận Chính cơng sách lợc vắn tắt và điều lệ tóm tắt của
Đảng cộng sản Việt Nam và bầu Ban Chấp hành tỉnh bộ lâm thời Đồng chí Lê Thế Long đợc bầu làm bí th tỉnh Đảng bộ Ra tờ báo Tiến lên làm phơng tiện tuyên truyền.
(Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá)
Trang 30Sự ra đời của Đảng bộ Đảng cộng sản Thanh Hoá đã chứng tỏ sự trởng thành về ýthức chính trị của quần chúng công nông Từ đây trở đi nhân dân Thanh Hoá đã có một
tổ chức chân chính trực tiếp lãnh đạo, mở ra thời kỳ phát triển của phong trào cáchmạng trong tỉnh Dới sự lãnh đạo của Đảng bộ, phong trào cách mạng Thanh Hoá trởthành một bộ phận hữu cơ của cách mạng Việt Nam
Đảng bộ Đảng cộng sản Thanh Hoá ra đời đã đánh dấu một bớc ngoặt quan trọngtrong sự phát triển của cách mạng tỉnh nhà
- ý nghĩa sự ra đời của Đảng bộ Thanh Hoá.
3 Phong trào cách mạng dới sự lãnh đạo của Đảng bộ (1930- 1939)
Sau khi Đảng bộ thành lập, cùng với Nông hội đỏ đã phát động quần chúng đấutranh và treo cờ búa liềm ở phủ lỵ Quảng Hoá (Vĩnh Lộc), phủ lỵ Thọ Xuân, nhữngcuộc đấu tranh của quần chúng công nông diễn ra mạnh mẽ
đòi tăng tiền công khoán, giảm định mức khoán
Tại các tổng Quảng Thì (Thọ Xuân), Xuân Lai (Thiệu Hoá) các cuộc đấu tranhcủa nông dân đợc tổ chức kịp thời đòi chia công điền công thổ, chống phù thu lạm bổ,chống cờng hào sách nhiễu Sôi nổi nhất là cuộc đấu tranh ở làng Yên Trờng, Chỉ tín(Thọ Xuân)
Ngày 1 tháng 5 năm 1931 cờ đỏ búa liềm đợc treo ở ga Thanh Hoá, truyền đơn
đ-ợc rải nhiều nơi kêu gọi ủng hộ Xô Viết- Nghệ Tĩnh; kỷ niệm ngày Quốc tế lao động,tạo nên một không khí cách mạng sôi động khiến chính quyền địch phải lo tìm cách đốiphó Cuộc khủng bố đánh phá ác liệt của địch kéo dài nhằm bóp chết Đảng bộ, tiêu diệtphong trào nhng không diệt đợc sức sống mãnh liệt của cách mạng Vào những năm
1936 đến 1939 phong trào đấu tranh lại diễn ra sôi nổi trong tỉnh
Trang 31Tháng 8 năm 1936 phong trào “Đông Dơng đại hội” diễn ra sôi nổi trong cả nớc.
Đảng bộ đã tiến hành vận động nhân dân hởng ứng phong trào một cách rộng rãi Khắpnơi uỷ ban hành động đợc thành lập, đẩy mạnh việc tập hợp yêu sách, kiến nghị củanhân dân gửi lên Công sứ tỉnh yêu cầu giải quyết những quyền lợi tối thiểu về sinh hoạtdân chủ Phong trào Đông dơng Đại hội đã hình thành một mặt trận nhân dân thống nhấtrộng rãi
Năm 1937 phong trào cách mạng trong tỉnh phát triển cả chiều rộng và chiều sâu,các hội tơng tế ái hữu ra đời ở nhiều nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, ở các làng, xã, huyện
Đặc biệt năm 1937 Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi to lớn trong cuộc vận
động bầu cử Viện dân biểu trung kỳ Sang năm 1938 phong trào phát triển thành caotrào cách mạng cuộc đấu tranh của công nhân đòi tăng lơng giảm giờ làm, chống cúpphạt nổ ra liên tiếp ở các nơi: Mỏ sắt, Thanh xá, núi Bần, Nhà máy rợu Nam Đổng ích,
đồn điền Yên Mỹ, nhà máy diêm Hàm Rồng
Tháng 2 năm 1938, ba nghìn quần chúng của bốn huyện Yên Định, Thiệu Hoá,Thọ Xuân Vĩnh Lộc tổ chức mít tinh tại làng Chiềng với những khẩu hiêu đòi tự do dânchủ, ủng hộ Liên Xô Chỉ tính riêng trong năm 1938 đã có hàng trăm cuộc đấu tranh củanông dân, trong đó cuộc đấu tranh chống dự án thuế mới của chính quyền thực dân đãgiành thắng lợi
Sự phát triển của phong trào cách mạng trong những năm 1930 đã tạo ra một lựclợng cách mạng đông đảo trong tỉnh, chuẩn bị đa phong trào đấu tranh lên giai đoạnmới
-Từ sau năm 1930 phong trào cách mạng ở Thanh Hoá phát triển nh thế nào?
II cuộc vận động tiến tới cách mạng tháng tám năm 1945
1 Phong trào cách mạng từ năm 1939 đến trớc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
Ngày 1- 9 -1939 chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Trong khi Đức, ý xâm lợcChâu Âu, ở phía đông phát xít Nhật cũng mở rộng xâm lợc Trung Quốc Sau khi Pháp bịphát xít Đức đánh bại, lợi dụng điều đó Nhật ráo riết xâm lợc Đông Dơng