1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN ĐĂNG THỰC

76 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích tài chính là công việc cần thiết để có thể cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng với nhiều mục đích khác nhau, là cơ sở để doanh nghiệp xem xét sự vững mạnh về tài chính của m

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

SINH VIÊN THỰC HIỆN : PHẠM VÂN ANH

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết Khóa luận tốt nghiệp này là do tôi tự bản thân thực hiện có sự hỗ

trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người

khác Các dữ liệu thồn tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được

trích dẫn rõ rang

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Phạm Vân Anh

Trang 3

MỤC LỤC

TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1

1.1 Khái niệm và mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp 1

1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp 1

1.1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp 1

1.1.1.2 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp 1

1.1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ phân tích tài chính doanh nghiệp 1

1.1.2.1 Mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp 1

1.1.2.2 Nhiệm vụ phân tích tài chính doanh nghiệp 1 1.2 Tài liệu sử dụng trong công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 4

1.2.1 Bảng cân đối kế toán 5

1.2.1.1 Khái niệm bảng cân đối kế toán 5

1.2.1.2 Kết cấu bảng cân đối kế toán 5

1.2.1.3 Phân tích tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán 6

1.2.2 Báo cáo kết quả kinh doanh 7

1.2.2.1 Khái niệm báo cáo kết quả kinh doanh 7

1.2.2.2 Kết cấu báo cáo kết quả kinh doanh 7

1.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 8

1.2.3.1 Khái niệm báo cáo lưu chuyển tiền tệ 8

1.2.3.2 Kết cấu báo cáo lưu chuyển tiền tệ 8

1.2.3.3 Phân tích tình hình tài chính qua báo cáo lưu chuyên tiền tệ 9

1.3 Qui trình phân tích tài chính doanh nghiệp 10

1.3.1 Chuẩn bị và xử lí các nguồn thông tin 10

1.3.2 Xác định các biểu hiện đặc trưng 11

1.3.3 Phân tích, thuyết minh 11

1.3.4 Tiên lượng và chỉ dẫn 11

1.4 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 11

1.4.1 Phương pháp so sánh 12

1.4.1.1 Lựa chọn tiêu chuẩn so sánh 12

1.4.1.2 Điều kiện so sánh 13

Trang 4

1.4.1.3 Kĩ thuật so sánh 14

1.4.2 Phương pháp tỉ lệ 14

1.4.3 Phương pháp Dupont 15

1.5 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 16

1.5.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán 16

1.5.1.1 Khả năng thanh toán ngắn hạn 16

1.5.1.2 Khả năng thanh toán nhanh 17

1.5.1.3 Khả năng thanh toán tức thời 17

1.5.2 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời 18

1.5.2.1 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản 18

1.5.2.2 Tỉ suất sinh lời trên doanh thu 18

1.5.2.3 Tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) 19

1.5.2.4 Tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) 19

1.5.3 Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lí tài sản 19

1.5.3.1 Hệ số thu nợ 19

1.5.3.2 Chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho 20

1.5.3.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản cố định 21

1.5.3.4 Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản lưu động 21

1.5.4 Nhóm chỉ tiêu về quản lí nợ 21

1.5.4.1 Hệ số nợ trên tổng tài sản 21

1.5.4.2 Hệ số khả năng thanh toán lãi vay 22

1.6 Nhân tố tác động đến hoàn thiện công tác phân tích tài chính 22

1.6.1 Nhân tố khách quan 22

1.6.1.1 Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước 23

1.6.1.2 Hệ thống thông tin của nền kinh tế 23

1.6.1.3 Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành 24

1.6.2 Nhân tố chủ quan 24

1.6.2.1 Sự quan tâm của ban lãnh đạo 24

1.6.2.2 Trình độ cán bộ phân tích tài chính 24

1.6.2.3 Chất lượng thông tin sử dụng trong phân tích tài chính 25

1.6.2.4 Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính và công nghệ 25

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

TẠI CÔNG TY TNHH MTV ĐĂNG THỰC 26

2.1 Quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của công ty TNHH MTV Đăng Thực 26

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH MTV Đăng Thực 26 2.1.2 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh 26

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH MTV Đăng Thực 27

2.2 Thực trạng công tác công tác phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực 27

2.2.1 Khái quát chung về công tác phân tích tài chính 27

2.2.1.1 Qui trình phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực 28

2.2.1.2 Tài liệu phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực 29

2.2.1.3 Phương pháp phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực 29

2.2.2 Thưc trạng công tác phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực 30

2.2.2.1 Tình hình tài sản – nguồn vốn năm 2011-2013 của công ty TNHH MTV Đăng Thực 30

2.2.2.2 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH MTV Đăng Thực 37

2.2.2.3 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính cụ thể 40

2.3 Đánh giá thực trạng công tác phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực 44

2.3.1 Kết quả đạt được 44

2.3.2 Tồn tại 45

2.3.3 Nguyên nhân 45

2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan 45

2.3.3.2 Nguyên nhân khách quan 48

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MTV ĐĂNG THỰC 50

3.1 Định hướng hoạt động trong thời gian tới 50

3.1.1 Cơ hội và thách thức đối với công ty TNHH MTV Đăng Thực 50

3.1.1.1 Cơ hội 50

Trang 6

3.1.1.2 Thách thức 50

3.1.2 Định hướng hoạt động của công ty TNHH MTV Đăng Thực 50

3.1.2.1 Các mục tiêu chính 50

3.1.2.2 Những vấn đề then chốt 51

3.1.2.3 Các giải pháp hoàn thiện các mục tiêu trên 51

3.2 Hoàn thiện công tác phân tích tài chính 51

3.2.1 Hoàn thiện về tổ chức hoạt động phân tích 52

3.2.2 Hoàn thiện về hệ thống thông tin phục vụ cho phân tích 53

3.2.2.1 Thông tin bên trong 53

3.2.2.2 Thông tin bên ngoài 54

3.2.3 Nâng cao trình độ cán bộ phân tích 56

3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ phân tích 56

3.2.5 Hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính 57

3.2.6 Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính 58

3.2.6.1 Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ 58

3.2.6.2 Một số chỉ tiêu bổ sung 60

3.2.6.3 So sánh một số chỉ tiêu tài chính với các doanh nghiệp cùng ngành 61

3.2.6.4 So sánh một số chỉ tiêu tài chính của công ty với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành 61

3.3 Kiến nghị 61

3.3.1 Đối với Nhà nước 62

3.3.2 Đối với Bộ, Ngành có liên quan 63

KẾT LUẬN 64

PHỤ LỤC 65

Trang 7

Báo cáo tài chính

Cố định Dài hạn Doanh nghiệp Kinh doanh Lưu động Ngắn hạn Nguồn vốn Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tài sản

Vốn chủ sở hữu

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH MTV Đăng Thực 27

Bảng 2.1: Phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản 33

Bảng 2.2: Phân tích cơ cấu và biến động của nguồn vốn 36

Bảng 2.3: Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 39

Bảng 2.4: Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán 40

Bảng 2.5: Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời 41

Bảng 2.6: Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lí tài sản 42

Bảng 2.7: Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản 43

Bảng 2.8: Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lí nợ 43

Bảng 3.1: Phân tích ROE bằng phương pháp Dupont 58

Bảng 3.2: Phân tích một số chỉ tiêu trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ 59

Bảng 3.3: Phân tích hiệu suất sử dụng tổng tài sản 60

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do lựa chọn đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh ế thế giới đã và đang mở ra những cơ hội lớn cho các doanh nghiệp song cũng đặt ra không ít thách thức cho họ Nền kinh tế ngày càng phát triển, đối thủ cạnh tranh ngày càng nhiều đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng nỗ lực, chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, chiếm lĩnh được thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh Chính vì thế, mỗi doanh nghiệp cần đưa ra đối sách kịp thời, phù hợp với tình hình hoạt động của mình và phân tích tài chính là một bộ phận không thể thiếu Phân tích tài chính mang lại nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với bản thân người lãnh đạo doanh nghiệp mà còn là tài liệu cần thiết của chủ đầu tư, các tổ chức tín dụng,… của bất kì ai quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp

Phân tích tài chính là công việc cần thiết để có thể cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng với nhiều mục đích khác nhau, là cơ sở để doanh nghiệp xem xét sự vững mạnh về tài chính của mình cũng như các nhân tó đến tình hình tài chính của doanh nghiệp để từ đó các nhà lãnh đạo đưa ra quyết định đúng đắn và kịp thời để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời, cũng là cơ sở quan trọng để các nhà đầu tư, tổ chức tín dụng,… đưa ra các quyết định về đầu tư, cho vay đối với doanh nghiệp

Trước sự sang lọc khắt khe của nền kinh tế thị trường cũng như phải đáp ứng được những yêu cầu đa dạng của những người quan tâm đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng hoàn thiện tình hình tài chính của mình

Nhận thức được tầm quan trọng trên nên em đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đăng Thực”

Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đăng Thực

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Những nội dung cơ bản về công tác phân tích tài chính

của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường;

Phạm vi nghiên cứu: Công tác phân tích tài chính trên góc nhìn của nhà quản lí

và các chủ sở hữu tại công ty trách nhiệm một thành viên Đăng Thực

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện khóa luận, những phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là:

 Phương pháp phân tích – tổng hợp: Dựa trên cơ sở phân tích lí thuyết và thực tiễn công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp, đề tài khái quát công tác phân tích tài chính tại công ty, trên cơ sở đánh giá đó nhằm đưa

ra những giải pháp cần thiết cho việc hoàn thiện công tác này tại công ty;

 Phương pháp so sánh: Đề tài sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá hiệu quả của hoạt động tài chính của công ty qua các năm – đây là một nội dung quan trọng của công tác phân tích tài chính

5 Kết cấu khóa luận

Ngoài mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Những lí luận chung về hoàn thiện công tác phân tích tài chính trong

doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng công tác phân tích tài chính tại công ty trách nhiệm hữu

hạn một thành viên Đăng Thực

Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại

công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đăng Thực

Trang 11

1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH VÀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH

TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp

Về hình thức: Tài chính doanh nghiệp là quĩ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân

phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp

Về nội dung: Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị

gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng quĩ tiền tệ phát sinh trong các hoạt động của doanh nghiệp

Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp

1.1.1.2 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tình hình tài chính của doanh nhiệp là việc xem xét, đánh giá kết quả của việc quản lí và điều hành tài chính của doanh nghiệp thông qua các số liệu trên báo cáo tài chính, phân tích những gì đã làm được, những gì chưa làm được và dự đoán những gì sẽ xảy ra, đồng thời tìm ra nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó đề ra các biện pháp tận dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu và nâng cao chất lượng quản lí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ phân tích tài chính doanh nghiệp

1.1.2.1 Mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính doanh nghiệp có hai mục tiêu cơ bản:

Thứ nhất, rút ra được kết luận về một thực trạng hay một tình hình tài chính Ví

dụ, mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính là rút ra được kết luận rằng tình hình tài chính của doanh nghiệp như thế nào (tốt hay không tốt), hoạt động ra sao (hoạt động hiệu quả hay không hiệu quả);

Thứ hai, tạo ra thông tin phục vụ cho việc ra quyết định tài chính Cụ thể, phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán, xem xét tỉ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản, nguồn tài trợ cho từng loại tài sản như vậy là hợp lí chưa và cần phải điều chỉnh như thế nào để đảm bảo sự phù hợp khi phân bổ nguồn cho các loại tài sản và tăng hiệu quả sử dụng của từng loại

1.1.2.2 Nhiệm vụ phân tích tài chính doanh nghiệp

Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp Mỗi đối tượng quan tâm theo giác độ và với mục tiêu khác nhau Do

Trang 12

nhu cầu về thông tin tài chính doanh nghiệp rất đa dạng, đòi hỏi phân tích hoạt động tài chính phải được tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của từng đối tượng Điều đó, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho phân tích hoạt động tài chính ra đời, ngày càng hoàn thiện và phát triển; mặt khác, cũng tạo

ra sự phức tạp trong nội dung và phương pháp của phân tích hoạt động tài chính

Các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp bao gồm:

 Các nhà quản lí;

 Các cổ đông hiện tại và tương lai;

 Những người tham gia vào “đời sống” kinh tế của doanh nghiệp;

 Những người cho doanh nghiệp vay tiền như: Ngân hàng, tổ chức tài chính, người mua trái phiếu của doanh nghiệp, các doanh nghiệp khác

 Nhà nước; nhà phân tích tài chính,…

Các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết định với mục đích khác nhau Vì vậy, phân tích hoạt động tài chính đối với mỗi đối tượng sẽ đáp ứng các mục tiêu khác nhau và có vai trò khác nhau Cụ thể:

Đối với nhà quản trị doanh nghiệp:

Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được gọi là phân tích tài chính nội bộ Khác với phân tích tài chính bên ngoài do nhà phân tích ngoài doanh nghiệp tiến hành Do đó thông tin đầy đủ và hiểu rõ về doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp có nhiều lợi thế để có thể phân tích tài chính tốt nhất

Là người trực tiếp quản lí và điều hành doanh nghiệp, nhà quản lí hiểu rõ nhất tài chính doanh nghiệp, do đó họ có nhiều thông tin phục vụ cho việc phân tích Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản lí nhằm đáp ứng những mục tiêu sau:

 Tạo ra những chu kì đều đặn để đánh giá hoạt động quản lí trong giai đoạn

đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp ;

 Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với tình hình thực

tế của doanh nghiệp như quyết định về đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận ;

 Cung cấp thông tin cơ sở cho những dự đoán tài chính;

 Căn cứ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lí trong doanh nghiệp

Trang 13

3

Phân tích hoạt động tài chính làm rõ điều quan trọng của dự đoán tài chính, mà

dự đoán là nền tảng của hoạt động quản lí, làm sáng tỏ, không chỉ chính sách tài chính

mà còn làm rõ các chính sách chung trong doanh nghiệp

Như vậy hơn ai hết các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tin nhằm thực hiện cân bằng tài chính, nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua để tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp Bên cạnh đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính, quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần

Đối với các nhà đầu tư:

Các nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lí sử dụng, được hưởng lợi và cũng chịu rủi ro Đó là những cổ đông, các cá nhân hoặc các đơn vị, doanh nghiệp khác Các đối tượng này quan tâm trực tiếp đến những tính toán

về giá trị của doanh nghiệp Thu nhập của các nhà đầu tư là tiền lời được chia và thặng

dư giá trị của vốn Hai yếu tố này phần lớn chịu ảnh hưởng của lợi nhuận thu được của doanh nghiệp Trong thực tế, các nhà đầu tư thường tiến hành đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp Câu hỏi chủ yếu phải làm rõ là: Tiền lời bình quân cổ phiếu của doanh nghiệp là bao nhiêu? Các nhà đầu tư thường không hài lòng trước tiền lời được tính toán trên sổ sách kế toán và cho rằng tiền lời này chênh lệch rất xa so với tiền lời thực tế

Các nhà đầu tư phải dựa vào những nhà chuyên nghiệp trung gian (chuyên gia phân tích tài chính) nghiên cứu các thông tin kinh tế, tài chính, có những cuộc tiếp xúc trực tiếp với ban quản lí doanh nghiệp, làm rõ triển vọng phát triển của doanh nghiệp

và đánh giá các cổ phiếu trên thị trường tài chính

Phân tích hoạt động tài chính đối với nhà đầu tư là để đánh giá doanh nghiệp và ước đoán giá trị cổ phiếu, dựa vào việc nghiên cứu các báo cáo tài chính, khả năng sinh lời, phân tích rủi ro trong kinh doanh,

Đối với các nhà đầu tư tín dụng:

Các nhà đầu tư tín dụng là những người cho doanh nghiệp vay vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh Khi cho vay, họ phải biết chắc được khả năng hoàn trả tiền vay Thu nhập của họ là lãi suất tiền cho vay Do đó, phân tích hoạt động tài chính đối với người cho vay là xác định khả năng hoàn trả nợ của khách hàng Tuy nhiên, phân tích đối với những khoản cho vay dài hạn và những khoản cho vay ngắn hạn có những nét khác nhau

Đối với những khoản cho vay ngắn hạn, nhà cung cấp tín dụng ngắn hạn đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp Hay nói cách khác là khả

Trang 14

năng ứng phó của doanh nghiệp khi nợ vay đến hạn trả Đối với các khoản cho vay dài hạn, nhà cung cấp tín dụng dài hạn phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi lại tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này

Đối với cơ quan nhà nước và người làm công:

Đối với cơ quan quản lí nhà nước, qua việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, sẽ đánh giá được năng lực lãnh đạo của ban giám đốc, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước nữa hay không

Bên cạnh các chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, người lao động có nhu cầu thông tin cơ bản giống họ bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ

Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy: Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp

là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm

1.2 Tài liệu sử dụng trong công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và khả năng sinh lời trong kì của doanh nghiệp Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn dữ liệu chính khi phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp

Báo cáo tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn không những đối với các cơ quan, đơn vị và cá nhân bên ngoài doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Báo cáo tài chính rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp và đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người ngoài doanh nghiệp Báo cáo tài chính không những cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo mà còn cho thấy kết quả hoạt động mà doanh nghiệp đạt được trong hoàn cảnh đó Bằng việc xem xét, phân tích báo cáo tài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi và triển vọng của doanh nghiệp Do đó, Báo cáo tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng chính, những người cho vay, các nhân viên ngân hàng, các nhà quản lí, các nhà bảo hiểm, các

Trang 15

5

đại lí, kể cả các cơ quan chính phủ và bản thân người lao động Mỗi nhóm người này

có những nhu cầu thông tin khác nhau và do vậy, mỗi nhóm có xu hướng tập trung vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của một doanh nghiệp Mặc dù mục đích của họ khác nhau nhưng thường liên quan với nhau, do vậy, họ thường sử dụng các công cụ và kĩ thuật cơ bản giống nhau để phân tích, xem xét Báo cáo tài chính Theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành (Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính), hệ thống Báo cáo tài chính áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở Việt Nam bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo sau:

 Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01 - DN);

 Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 - DN);

 Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03 - DN);

 Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09 - DN)

1.2.1 Bảng cân đối kế toán

1.2.1.1 Khái niệm bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng thể, là bảng tổng hợp - cân đối tổng thể phản ánh tổng hợp tình hình vốn kinh doanh của đơn vị cả về tài sản và nguồn vốn hiện có của đơn vị ở một thời điểm nhất định Thời điểm qui định là ngày cuối cùng của một kì báo cáo

Thực chất của bảng cân đối kế toán là bảng cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp cuối kì hạch toán Tài sản của một đơn vị đang hoạt động luôn luôn vận động biến đổi về số lượng, về cơ cấu và nguồn hình thành do các nghiệp vụ kinh tế phát sinh gây ra Vì vậy số liệu trên bảng cân đối kế toán chỉ phản ánh tình trạng tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm lập bảng Số liệu trên Bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản, nguồn vốn, và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán, ta có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp

1.2.1.2 Kết cấu bảng cân đối kế toán

Căn cứ vào các yêu cầu biểu hiện 2 mặt khác nhau của tài sản trong doanh nghiệp, tài sản đó gồm những gì và tài sản đó do đâu mà có nên kết cấu của bảng được xây dựng theo 2 bên hoặc 2 phần: phần tài sản và phần nguồn vốn

Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp, bao gồm:

tài sản ngắn hạn (loại A) và tài sản dài hạn (loại B) Mỗi loại đó lại bao gồm nhiều chỉ tiêu khác nhau được sắp xếp theo một trình tự phù hợp với yêu cầu của công tác quản

Trang 16

lí trong từng giai đoạn Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu ở phần này phản ánh số tài sản hiện có của doanh nghiệp ở thời điểm lập báo cáo; còn xét về mặt pháp lí, nó phản ánh vốn thuộc quyền sở hữu hoặc quyền quản lí lâu dài của doanh nghiệp

Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành nên các tài sản, bao gồm: Nợ phải

trả (loại A) và nguồn vốn chủ sở hữu (loại B) Mỗi loại A và B lại bao gồm các chỉ tiêu khác nhau và cũng được sắp xếp theo một trình tự thích hợp với yêu cầu của công tác quản lí Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu thuộc phần nguồn vốn phản ánh các nguồn hình thành nên tài sản có của doanh nghiệp; còn xét về phương diện pháp lí, các chỉ tiêu này phản ánh trách nhiệm pháp lí của doanh nghiệp đối với các đối tượng đầu tư vốn (nhà nước, ngân hàng, cổ đông), cũng như với khách hàng thông qua công nợ phải trả

Bảng cân đối kế toán có những đặc điểm như sau:

 Các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán được phản ánh dưới hình thái giá trị Cho nên, ta có thể tổng hợp được toàn bộ tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm Từ đó, cho phép ta đánh giá khái quát tình hình tài chính qua các chỉ tiêu trên

 Các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán được phản ánh tại một thời điểm nhất định, thời điểm đó thường là vào ngày cuối cùng của kì hạch toán Căn cứ vào hai số liệu ở hai thời điểm đầu năm và cuối kì cho phép ta đánh giá những biến động của tài sản và nguồn vốn giữa các kì kế toán

 Bảng cân đối kế toán có kết cấu 2 phần, thực chất là phản ánh 2 mặt của một lượng tài sản, cho nên tổng tài sản luôn luôn bằng tổng nguồn vốn, tức là:

Tài sản = Nguồn vốn Hay: Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu Hoặc: Vốn chủ sở hữu = Tài sản - Nợ phải trả

Như vậy, thông qua bảng cân đối kế toán, ta có thể biết được toàn bộ tài sản hiện

có của doanh nghiệp, hình thái vật chất, cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn Do đó, bảng cân đối kế toán là một tài liệu quan trọng để nghiên cứu đánh giá một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp

1.2.1.3 Phân tích tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán

Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể đánh giá sự phân bổ nguồn tài chính ngắn hạn, dài hạn của công ty có phù hợp với cơ cấu tài sản của công ty hay không? Tính thanh khoản của công ty ra sao? Từ đó đưa ra các quyết định tài chính thế nào?

Trang 17

7

1.2.2 Báo cáo kết quả kinh doanh

1.2.2.1 Khái niệm báo cáo kết quả kinh doanh

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (hay còn gọi là báo cáo lãi lỗ) là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kì hoạt động của doanh nghiệp và chi tiết cho các hoạt động kinh doanh chính Nói cách khác báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là phương tiện trình bày khả năng sinh lời

và thực trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Tính cân đối: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được lập dựa trên tính cân

đối giữa doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh Có thể khái quát chung tính cân đối của báo cáo kết quả kinh doanh qua công thức sau:

Tồng doanh thu thuần = Tổng chi phí + Tổng lợi nhuận Trong đó:

Doanh thu thuần = Doanh thu thuần – Các khoản giảm trừ Các khoản giảm trừ thường bao gồm 4 khoản sau:

Các khoản giảm trừ doanh thu = Chiết khấu thương mại + Giảm giá hàng bán + Hàng bán bị trả lại + Thuế TTĐB, thuế XK, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp

1.2.2.2 Kết cấu báo cáo kết quả kinh doanh

Doanh thu thuần

Giá vốn hàng bán

Lãi gộp

Chi phí bán hàng

Chi phí quản lí doanh nghiệp

Lợi nhuận trước thuế và lãi (EBIT)

Lợi nhuận ròng sau khi trả cổ tức ưu đãi

Cổ tức cho cổ phiếu thường

Lợi nhuận giữ lại

Trang 18

1.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

1.2.3.1 Khái niệm báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) là là một bộ phận hợp thành của báo cáo tài chính, cung cấp thông tin về tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động BCLCTT làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tượng BCLCTT dùng để xem xét

và dự đoán khả năng về số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai, dùng để kiểm tra lại các đánh giá, dự đoán trước đây về các luồng tiền, kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá BCLCTT được lập trên cơ sở cân đối thu chi tiền mặt, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kì báo cáo của doanh nghiệp

Lượng tiền phát sinh trong kì bao gồm vốn bằng tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn được xem là tương đương tiền Cụ thể:

Tiền tồn đầu kì + Tiền thu trong kì = Tiền chi trong kì + Tiền tồn cuối kì

1.2.3.2 Kết cấu báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BCLCTT gồm 3 phần:

Phần 1: Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh

Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động kinh doanh để trang trải

nợ, duy trì hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến nguồn tài chính bên ngoài Thông tin về luồng tiền này khi sử dụng kết hợp với các thông tin khác sẽ giúp người sử dụng dự đoán luồng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai Các luồng tiền chủ yếu từ hoạt động kinh doanh gồm: tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ; tiền trả cho người cung cấp hàng hóa dịch vụ, tiền chi trả lãi vay, tiền chi trả cho người lao động,…

Phần 2: Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư

Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việc mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lí tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền Các luồng tiền chủ yếu từ hoạt động đầu tư gồm: tiền thu từ việc thanh lí, nhượng bán tài sản cố định và các khoản tài sản dài hạn khác;

Trang 19

9

tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào các đơn vị khác (trừ trường hợp tiền thu từ bán lại cổ phiếu đã mua vì mục đích thương mại); tiền thu hồi cho vay (trừ trường hợp tiền thu hồi cho vay của ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính); tiền chi mua sắm, xây dựng tài sản cố định và tài sản dài hạn khác; tiền chi đầu tư góp vốn vào các đơn vị khác (trừ trường hợp tiền chi mua cổ phiếu vì mục đích thương mại),…

Phần 3: Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính

Luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi về qui mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp Các luồng tiền chủ yếu từ hoạt động tài chính gồm: tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu; tiền thu từ các khoản vay ngắn hạn, dài hạn; tiền chi trả vốn góp của chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của chính doanh nghiệp đã phát hành; tiền chi trả các khoản nợ gốc đã vay…

Theo qui định, BCLCTT trình bày các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính theo cách thức phù hợp nhất với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp Việc phân loại và báo cáo luồng tiền theo các hoạt động sẽ cung cấp thông tin cho người sử dụng đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động đó đối với tình hình tài chính và đối với lượng tiền và các khoản tương đương tiền tạo ra trong kì của doanh nghiệp Thông tin này cũng được dùng để đánh giá các mối quan hệ giữa các hoạt động nêu trên

1.2.3.3 Phân tích tình hình tài chính qua báo cáo lưu chuyên tiền tệ

Doanh nghiệp phải báo cáo dòng tiền hoạt động theo một trong hai phương pháp sau:

 Phương pháp trực tiếp;

 Phương pháp gián tiếp

Đối với dòng tiền đầu tư và dòng tiền tài trợ thì lập theo phương pháp trực tiếp Thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ, người phân tích sẽ thấy được:

 Sự lưu chuyển tiền mặt cho ba hoạt động chính của một doanh nghiệp: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính;

 Khả năng tạo ra tiền mặt hiện nay và trong tương lai của doanh nghiệp;

 Khả năng trả nợ và khả năng chi trả cổ tức bằng tiền mặt của doanh nghiệp;

 Sự thay đổi tài sản ròng của công ty

 Nhu cầu tài trợ từ nguồn tài chính bên ngoài công ty

Trang 20

Xét dưới góc độ tài chính, cần lưu ý đặc điểm sau: Tiền mặt tạo ra từ hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp là đặc biệt quan trọng vì hoạt động chính tạo ra tiền mặt cho doanh nghiệp là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó Mặt khác, hoạt động tài chính tạo ra tiền nhưng nếu hoạt động kinh doanh chính không tạo ra tiền mặt thì sẽ không thể tồn tại hoạt động tài chính

1.3 Qui trình phân tích tài chính doanh nghiệp

1.3.1 Chuẩn bị và xử lí các nguồn thông tin

Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lí giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch Trong đó các thông tin

kế toán là quan trọng nhất, được phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp

Lập kế hoạch phân tích: là xác định trước về nội dung, phạm vi, thời gian và

cách tổ chức phân tích:

 Nội dung phân tích cần xác định rõ các vấn đề cần được phân tích: có thể toàn bộ hoạt động hoặc chỉ một số vấn đề cụ thể Đây là cơ sở để xây dựng đề cương cụ thể để tiến hành phân tích;

 Phạm vi phân tích có thể là toàn đơn vị hoặc một số đơn vị được chọn làm điểm để phân tích; tuỳ yêu cầu và thực tiễn quản lí mà xác định nội dung và phạm vi phân tích thích hợp;

 Thời gian ấn định trong kế hoạch phân tích bao gồm cả thời gian chuẩn bịvà thời gian tiến hành công tác phân tích;

 Trong kế hoạch phân tích cần phân công trách nhiệm cho các bộ phận trực tiếp thực hiện và bộ phận phục vụ công tác phân tích; cũng như các hình thức hội nghị phân tích nhằm thu thập nhiều ý kiến, đánh giá đúng thực trạng và phát hiện đầy đủ tiềm năng giúp doanh nghiệp phấn đấu đạt kết quả cao trong kinh doanh

Thu thập thông tin: là căn cứ phân tích thường bao gồm:

 Các văn kiện của các cấp bộ Đảng có liên quan đến hoạt động kinh doanh, các nghị quyết, chỉ thị của chính quyền các cấp và các cơ quan quản lí cấp trên có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

 Các tài liệu kế hoạch, dự toán, định mức;

 Các tài liệu hạch toán kế toán: báo cáo kế toán quản trị, báo cáo tài chính;

Trang 21

11

 Các biên bản hội nghị, các biên bản xử kiện có liên quan, ý kiến của tập thể lao động trong đơn vị (kể cả các đơn khiếu tố nếu có);

Xử lí thông tin: là quá trình xử lí thông tin đã thu thập được Xử lí thông tin là

quá trình xắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và ra quyết định Việc xử lí thông tin cần tiến hành trên nhiều mặt:

 Tính hợp pháp của thông tin (trình tự lập, ban hành, người lập, cấp có thẩm quyền ký duyệt,…);

 Tính chính xác của các thông tin thu thập được

Phạm vi kiểm tra không chỉ giới hạn ở các tài liệu trực tiếp làm căn cứ phân tích

mà cả các tài liệu khác có liên quan, đặc biệt là các tài liệu gốc

1.3.2 Xác định các biểu hiện đặc trưng

Hoạt động tài chính chịu ảnh hưởng của rất nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân mà nhà phân tích có thể xác định mức độ ảnh hưởng và có những nguyên nhân không thể xác định được mức độ ảnh hưởng của chúng đên sự biến động của đối tượng được nghiên cứu Những nguyên nhân mà các nhà phân tích có thể tính toán và lượng hóa được mức độ ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu gọi là biểu hiện đặc trưng Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Tuỳ nội dung phân tích cũng như các thông tin sưu tầm được mà quyết định các chỉ tiêu phân tích và các phương pháp phân tích cho phù hợp

1.3.3 Phân tích, thuyết minh

Sau khi đã xác định lượng biểu hiện đặc trưng cần thiết ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích sẽ vận dụng phương pháp thích hợp (loại trừ, liên hệ cân đối, so sánh, toán kinh tế,…) để xác định mức độ ảnh hưởng và phân tích thực chất ảnh hưởng của từng biểu hiện đặc trưng đến sự thay đổi của đối tượng nghiên cứu

1.4 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính doanh nghiệp có nhiều phương pháp hay cách thức để thực hiện như:

Trang 22

 Phương pháp thay thế liên hoàn;

 Phương pháp chênh lệch;

 Phương pháp cân đối

Trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp này, em đi vào làm rõ 3 phương pháp phổ biến sau:

Phương pháp so sánh có hai hình thức: So sánh tuyệt đối và so sánh tương đối

So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kì phân tích và chỉ tiêu cơ sở So sánh tương đối là tỉ lệ (%) của chỉ tiêu kì phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỉ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng

1.4.1.1 Lựa chọn tiêu chuẩn so sánh

Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kì được lựa chọn làm căn cứ để so sánh được gọi là gốc so sánh Tùy theo mực đích nghiên cứu mà lựa chọn gốc so sánh thích hợp So sánh giữa số thực hiện kì này với số thực hiện kì trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kì tới

 So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp;

 So sánh giữa số thực hiện kì này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so với doanh nghiệp cùng ngành;

 So sánh theo chiều dọc để thấy được tỉ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh;

 So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và

số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp

Trang 23

 Các mục tiêu dự kiến (kế hoạch, dự đoán, định mức,…);

 Các chỉ tiêu trung bình ngành, các chỉ tiêu của các doanh nghiệp khác cùng

ngành

Về không gian: Có thể so sánh đơn vị này với đơn vị khác, bộ phận này với bộ

phận khác, khu vực này với khu vực khác, Việc so sánh về không gian thường được

sử dụng khi cần xác định vị trí hiện tại của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, so với số bình quân ngành, bình quân khu vực, Cần lưu ý rằng, khi so sánh về mặt không gian, điểm gốc và điểm phân tích có thể đổi chỗ cho nhau mà không ảnh hưởng đến kết luận phân tích

Về thời gian: Gốc so sánh được lựa chọn là các kì đã qua (kì trước, năm trước)

hay kế hoạch, dự toán Cụ thể:

 Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích, gốc so

sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kì trước hoặc hàng loạt

kì trước (năm trước) Lúc này sẽ so sánh trị số chỉ tiêu giữa kì phân tích với trị số chỉ tiêu ở các kì gốc khác nhau;

 Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, gốc so sánh là

trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích Khi đó, tiến hành so sánh giữa trị số thực tế với trị số kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu

Các chỉ tiêu của kì được so sánh với kì gốc được gọi là chỉ tiêu kì thực hiện và là kết quả mà doanh nghiệp đã đạt được

 Các chỉ tiêu so sánh:

Để phép so sánh có ý nghĩa thì phải có điều kiện là các chỉ tiêu được sử dụng phải đồng nhất cả về mặt không gian và thời gian

Về thời gian: Các chỉ tiêu phải được tính trên cùng một khoảng thời gian hạch

toán và phải thống nhất trên 3 mặt sau:

 Cùng phản ánh một nội dung kinh tế;

 Cùng một phương pháp tính toán;

 Cùng một đơn vị đo lường

Trang 24

Về không gian: Các chỉ tiêu cần qui đổi về cùng một qui mô và điều kiện kinh

doanh tương tự nhau

1.4.1.3 Kĩ thuật so sánh

Các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân tích là so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối và so sánh với số bình quân

So sánh bằng số tuyệt đối: phản ánh qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên khi so

sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kì (điểm) phân tích với kì (điểm) gốc

So sánh bằng số tương đối: Khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng số tương đối,

các nhà quản lí sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến

và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:

 Số tương đối động thái: Dùng để phản ánh nhịp độ biến động hay tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu và thường dùng dưới dạng số tương đối định gốc [cố định kì gốc: yi/y0 (i = 1, n)] và số tương đối liên hoàn [thay đổi kì gốc:

y (i + 1)/yi (i = 1, n)]

 Số tương đối kế hoạch: Số tương đối kế hoạch phản ánh mức độ, nhiệm

vụ mà doanh nghiệp cần phải thực hiện trong kì trên một số chỉ tiêu nhất định

 Số tương đối phản ánh mức độ thực hiện: Dùng để đánh giá mức độ thực hiện trong kì của doanh nghiệp đạt bao nhiêu phần so với gốc Số tương đối phản ánh mức độ thực hiện có thể sử dụng dưới chỉ số hay tỉ lệ và được tính như sau:

Chỉ số (tỉ lệ %) thực hiện so với gốc = Trị số chỉ tiêu thực hiện của chỉ tiêu nghiên cứu * Trị số chỉ tiêu gốc x 100

So sánh với số bình quân: Khác với việc so sánh bằng số tuyệt đối và số tương

đối, so sánh bằng số bình quân sẽ cho thấy mức độ mà đơn vị đạt được so với bình quân chung của tổng thể, của ngành, của khu vực Qua đó, các nhà quản lí xác định được vị trí hiện tại của doanh nghiệp (tiên tiến, trung bình, yếu kém)

Trang 25

15

định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỉ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỉ lệ tham chiếu Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Vì:

 Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn

là cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỉ lệ của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp;

 Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỉ lệ;

 Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỉ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn

Có nhiều loại chỉ tiêu tài chính khác nhau:

 Dựa vào cách thức sử dụng số liệu để xác định, chỉ tiêu tài chính có thể chia thành ba loại: chỉ tiêu tài chính được xác định từ bảng cân đối kế toán, chỉ tiêu tài chính xác định từ báo cáo kết quả kinh doanh và chỉ tiêu tài chính xác định từ cả hai báo cáo vừa nêu trên

 Dựa vào mục tiêu phân tích, các tỉ số tài chính có thể chia thành: nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động, nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời, nhóm chỉ tiêu cân đối vốn,…

Tuy nhiên, các tỉ số tài chính không tự chúng có ý nghĩa mà chỉ có ý nghĩa khi được so sánh với các tỉ số thực tế trước đây, các tỉ số chuẩn mực đã được định ra trước

đó, các tỉ số bình quân của ngành

1.4.3 Phương pháp Dupont

Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở Mỹ.Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn

Dupont đã khái quát hoá và trình bày chỉ số ROI một cách rõ ràng, nó giúp cho các nhà quản trị tài chính có một bức tranh tổng hợp để có thể đưa ra các quyết định tài chính hữu hiệu

Phương pháp Dupont là phương pháp phân tích nhằm đánh giá sự tác động tương

hỗ giữa các tỉ số tài chính, biến một chỉ tiêu tổng hợp thành một hàm số của một loạt các biến cố

Trang 26

Theo phương pháp này, người phân tích có thể tách riêng, phân tích tác động của từng yếu tố (biến số) tới chỉ tiêu tài chính tổng hợp như thế nào là có lợi hay bất lợi, từ

đó có thể đưa ra quyết định tài chính phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp

Vì vậy, phương pháp này còn gọi là phương pháp tách đoạn

Các tỉ số tài chính được sử dụng đều ở dạng phân số Điều này có nghĩa là mỗi tỉ

số tài chính sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào hai nhân tố: tử số và mẫu số của nhân tố

đó Mặt khác, tỉ số tài chính còn ảnh hưởng lẫn nhau Nói cách khác, một tỉ số tài chính lúc này được trình bày bằng một vài tỉ số khác

Cụ thể, phân tích Dupont là kĩ thuật phân tích bằng cách chi tỉ số ROA và ROE thành những bộ phận có liên hệ với nhau để đánh giá tác động của từng bộ phận lên kết quả sau cùng Kĩ thuật này thường được sử dụng bởi các nhà quản lí trong nội bộ công ty để có cái nhìn cụ thể và ra quyết định xem nên cải thiện tình hình tài chính công ty bằng cách nào

1.5 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp

1.5.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán

1.5.1.1 Khả năng thanh toán ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn là mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn với các khoản nợ ngắn hạn Hệ số này cho biết mức độ đảm bảo của TSLĐ với nợ ngắn hạn Tài sản ngắn hạn bao gồm các khoản vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn (bao gồm chứng khoán thị trường), các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm: vay ngắn hạn, vay dài hạn đến hạn trả và các khoản phải trả khác

Khả năng thanh toán ngắn hạn =

Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

Ý nghĩa: Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết các tài sản có tính thanh khoản

cao của doanh nghiệp có đáp ứng được nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp hay không

Nếu chỉ tiêu này ≥ 1 chứng tỏ sự bình thường trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp Trong trường hợp này doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải đi vay mượn thêm

Trên thực tế, việc đánh giá hệ số thanh toán ngắn hạn là cao hay thấp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể cần xem xét như:

 Loại hình kinh doanh của doanh nghiệp;

 Cơ cấu tài sản lưu động;

Trang 27

17

 Hệ số luân chuyển vốn lưu động

Đối với loại hình sản xuất không cần dự trữ tồn kho nhiều thì hệ số này có thể >

2 vẫn được coi là tốt, trong khi đối với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm có tính thời vụ thì hệ số hợp lí phải cao hơn Các doanh nghiệp cần căn cứ vào các đặc điểm riêng đó để xây dựng một tiêu chuẩn đánh giá thích hợp

Nếu chỉ tiêu này < 1 chứng tỏ một phần nợ ngắn hạn của doanh nghiệp đã được đầu tư vào tài sản dài hạn là những tài sản khó chuyển đổi thành tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán và khi điều này xảy ra doanh nghiệp được gọi là mất khả năng thanh toán về mặt kĩ thuật Nếu mất khả năng thanh toán về mặt kĩ thuật kéo dài sẽ dẫn đến khả năng phá sản của doanh nghiệp, đây là tình trạng xấu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

1.5.1.2 Khả năng thanh toán nhanh

Hệ số này thể hiện khả năng huy động về tiền mặt và các tài sản có thể chuyển nhanh thành tiền (có tính thanh khoản cao) đáp ứng cho việc thanh toán nợ ngắn hạn

mà các chủ nợ yêu cầu Đây là hệ số phản ánh sự chắc chắn nhất khả năng của công ty đáp ứng nghĩa vụ nợ hiện thời So với hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn thì trong công thức xác định hệ số khả năng thanh toán nhanh không tính đến các khoản tồn kho

vì đó không phải loại tài sản có khả năng dùng để thanh toán

Khả năng thanh toán nhanh =

Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho

Nợ ngắn hạn

Ý nghĩa: Hệ số này cho biết công ty có đủ các tài sản ngắn hạn để trả cho các

khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho hay không Hệ số này phản ánh chính xác hơn hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn Một công ty có hệ số khả năng thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ khó có khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn và phải được xem xét cẩn thận Ngoài ra, nếu hệ số này nhỏ hơn hẳn hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn thì điều đó có nghĩa là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho

1.5.1.3 Khả năng thanh toán tức thời

Chỉ số thanh toán tiền cho biết bao nhiêu tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp để đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn Nói cách khác, khả năng thanh toán tức thời cho biết, cứ một đồng nợ ngắn hạn thì có bao nhiêu tiền và các khoản tương đương tiền đảm bảo chi trả

Khả năng thanh toán tức thời =

Tiền + Các khoản tương đương tiền

Nợ ngắn hạn

Trang 28

Ý nghĩa: Cho biết được chỉ tiêu tiền và các khoản tương đương tiền có đáp ứng

được nhu cầu thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp hay không

Chỉ số thanh toán tiền có giá trị bằng bao nhiêu là tối ưu phụ thuộc vào ngành nghề, độ lớn của doanh nghiệp cũng như thời gian đánh giá

So với các chỉ số thanh khoản khác ngắn hạn khác như chỉ số thanh toán ngắn hạn hay chỉ số thanh toán nhanh, chỉ số thanh toán tiền đòi hỏi khắt khe hơn về tính thanh khoản Hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn bị loại khỏi công thức tính

do không có gì bảo đảm là hai khoản này có thể chuyển nhanh chóng sang tiền để kịp đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn

Nếu ≥ 1, khả năng thanh toán tốt, nhưng nếu quá lớn sẽ dẫn đến khả năng sinh lời kém Có rất ít doanh nghiệp có số tiền và các khoản tương đương tiền đủ để đáp ứng toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn, do đó chỉ số thanh toán tiền rất ít khi ≥ 1 Điều này cũng không quá nghiêm trọng Một doanh nghiệp giữ tiền và các khoản tương đương tiền ở mức cao để bảo đảm chi trả các khoản nợ ngắn hạn là một việc làm không thực

tế vì như vậy cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không biết sử dụng loại tài sản

có tính thanh khoản cao này một cách có hiệu quả Doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng số tiền và các khoản tương đương tiền này để tạo ra doanh thu cao hơn (ví dụ cho vay ngắn hạn)

Mặc dù chỉ số này phản ánh được mức thanh khoản cao nhất của tài sản doanh nghiệp, nhưng tính khả dụng của nó lại tương đối hạn chế Người ta rất ít khi sử dụng chỉ số thanh toán tiền trong các báo cáo tài chính và các nhà phân tích cũng ít khi dùng chỉ số này trong phân tích cơ bản

1.5.2 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời

1.5.2.1 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =

Doanh thu thuần Tổng tài sản

Ý nghĩa: Hiệu suất sử dụng tổng tài sản cho biết một đồng tài sản tham gia vào

quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này là thước đo cho biết tài sản được sử dụng hiệu quả thế nào

1.5.2.2 Tỉ suất sinh lời trên doanh thu

Tỉ suất sinh lời trên doanh thu =

Lợi nhuận ròng Doanh thu

Trang 29

19

Ý nghĩa: Tỉ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh

thu Tỉ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi, tỉ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn Tỉ số mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ

Tuy nhiên, tỉ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành Vì thế, khi theo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với tỉ

số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia Mặt khác, tỉ số này và sốvòng quay tài sản có xu hướng ngược nhau Do đó, khi đánh giá tỉ số này, người phân tích tài chính thường tìm hiểu nó trong sự kết hợp với số vòng quay tài sản

1.5.2.3 Tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

ROA =

Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản bình quân

Ý nghĩa: Tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản là hệ số tổng hợp dung để đánh giá khả

năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng tài sản thì doanh nghiệp sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, đồng thời cũng đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp Hệ số này càng cao thì cổ phiếu càng có sức hấp dẫn hơn vì chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời từ chính nguồn tài sản hoạt động của doanh nghiệp

1.5.2.4 Tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)

ROE =

Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu bình quân

Ý nghĩa: Tỉ suất này cho biết một đồng vốn tự có tạo được ra bao nhiêu đồng lợi

nhuận ROE càng cao thì khả năng canh tranh của một doanh nghiệp càng mạnh và cổ phiếu của doanh nghiệp càng hấp dẫn Đứng trên góc độ cổ đông, đây là tỉ số quan trọng nhất vì nó đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của cổ đông

1.5.3 Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lí tài sản

1.5.3.1 Hệ số thu nợ

Vòng quay khoản phải thu

Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển các khoản phải thu ra tiền mặt Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, vốn của doanh nghiệp không bị chiếm dụng và không phải đầu tư nhiều vào việc thu hồi các khoản phải thu

Vòng quay khoản phải thu =

Doanh thu thuần Phải thu khách hàng

Trang 30

Ý nghĩa: Kèm với sự tăng trưởng của doanh thu, vòng quay khoản phải thu của

doanh nghiệp càng lớn sẽ cho biết khả năng thu tiền từ hoạt động bán hàng càng hiệu quả Nếu vòng quay nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn lớn gây ra thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, buộc doanh nghiệp phải đi vay vốn từ bên ngoài

Kì thu tiền bình quân

Kì thu tiền bình quân phản ánh số ngày của một vòng quay các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kì thu tiền bình quân càng nhỏ và ngược lại Kì thu tiền bình quân cao có nghĩa là doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn trong thanh toán, khả năng thu hồi vốn chậm, doanh nghiệp cần phải có biện pháp cụ thể để thu hồi

nợ Khi xem xét chỉ tiêu này cũng phải tìm hiểu chính sách tín dụng của doanh nghiệp đối với khách hàng và chiến lược kinh doanh trong thời gian tới của doanh nghiệp

Kì thu tiền bình quân =

Thời gian kì phân tích (365) Vòng quay khoản phải thu

Ý nghĩa: Cho biết để thu về doanh thu của một ngày cần mất bao nhiêu ngày thu

tiền Chỉ tiêu này càng nhỏ thì khả năng thu tiền từ hoạt động bán hàng càng hiệu quả

1.5.3.2 Chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho

Vòng quay hàng tồn kho

Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng tồn kho bình quân luân chuyển trong

kì, đây là một chỉ tiêu để đánh giá công ty sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả thế nào Số vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp tùy thuộc vào đặc điểm ngành nghê kinh doanh Chỉ số này càng cao càng được đánh giá tốt vì số tiền đầu tư cho hàng tồn kho thấp mà vẫn đạt được hiệu quả cao, tránh được tình trạng ứ đọng vốn Nếu chỉ

số này thấp phản ánh hàng tốn kho dự trữ nhiều, sản phẩm không tiêu thụ được do chất lượng thấp không đáp ứng yêu cầu của thị trường

Vòng quay hàng tồn kho =

Giá vốn hàng bán Giá trị hàng tồn kho

Ý nghĩa: Nếu vòng quay hàng tồn kho càng lớn về mặt cơ bản, tốc độ lưu chuyển

hàng tồn kho càng nhanh và khả năng bán hàng của doanh nghiệp càng đạt hiệu quả Nếu liên hệ chỉ tiêu này với chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh có thể nhận thấy liệu công ty có giữ hàng tồn kho dưới dạng tài sản ứ đọng không tiêu thụ được hay không Việc giữ nhiều hàng tồn kho sẽ dẫn đến số ngày tồn kho của công ty sẽ cao Điều này phản ánh qua chỉ tiêu kì luân chuyển hàng tồn kho

Trang 31

21

Kì luân chuyển hàng tồn kho

Kì luân chuyển hàng tồn kho =

Thời gian kì phân tích (365)

Số vòng quay hàng tồn kho

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này giúp ta tính được số ngày bình quân thực hiện một vòng

quay hàng tồn kho

1.5.3.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản cố định

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =

Doanh thu thuần Tổng tài sản cố định

Ý nghĩa: Cho biết một đồng tài sản cốc định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Qua đó đánh giá được hiệu quả trong đầu tư tài sản cố định của doanh nghiệp Muốn đánh giá việc sử dụng tài sản cố định có hiệu quả hay không phải so sánh với các công ty khác cùng ngành hoặc với các thời kì trước Tuy nhiên, khi phân tích chỉ tiêu này cần lưu ý là ở mẫu số sử dụng tài sản cố định sau khi đã trừ khấu hao Do đó, phương pháp tính khấu hao có ảnh hưởng quan trọng đến mức độ chính xác của việc tính toán chỉ tiêu này

1.5.3.4 Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản lưu động

Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động =

Doanh thu thuần Tổng tài sản lưu động

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của

doanh nghiệp Việc tăng hiệu suất sử dụng vốn lưu động có ý nghĩa lớn đối với doanh nghiệp Nó có thể giúp cho doanh nghiệp giảm được vốn lưu động cần thiết trong sản xuất kinh doanh, giảm số lượng vốn vay hoặc có thể mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh trên cơ sở vốn hiện có

1.5.4 Nhóm chỉ tiêu về quản lí nợ

1.5.4.1 Hệ số nợ trên tổng tài sản

Tổng nợ bao gồm toàn bộ khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại thời điểm lập báo cáo tài chính Tổng tài sản bao gồm toàn bộ tài sản ngắn hạn và dài hạn của công ty tại thời điểm lập báo cáo

Hệ số nợ trên tổng tài sản =

Tổng nợ Tổng tài sản

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho thấy bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty được tài

trợ bằng vốn vay, đo lường mức độ sử dụng nợ của công ty so với tài sản

Trang 32

Chủ nợ thường thích công ty có hệ số nợ thấp vì như thế công ty có khả năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ đông muốn có hệ số nợ cao vì sử dụng đòn bẩy tài chính nói chung gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông Tuy nhiên, muốn biết chỉ tiêu này cao hay thấp cần so sánh với hệ số nợ bình quân ngành

1.5.4.2 Hệ số khả năng thanh toán lãi vay

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi như thế nào Nếu công ty quá yếu về mặt này, các chủ nợ có thể đi đến gây sức ép lên công ty, thậm chí dẫn tới phá sản công ty Hệ số này được tính bằng tỉ

số giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên lãi vay

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =

Lợi nhuận trước thuế + Lãi vay

Lãi vay

Ý nghĩa: Khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp thấp cùng thể hiện khả năng sinh

lời của tài sản thấp Khả năng thanh toán lãi vay thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm lợi nhuận trước thuế và lãi vay xuống dưới mức nợ lãi mà công ty phải trả, do đó dẫn tới mất khả năng thanh toán

và vỡ nợ Tuy nhiên rủi ro này được hạn chế bởi thực tế lợi nhuận trước thuế

và lãi vay không phải là nguồn duy nhất để thanh toán lãi Các doanh nghiệp cũng có thể tạo ra nguồn tiền mặt từ khấu hao và có thể sử dụng nguồn vốn đó để trả nợ lãi Những gì mà một doanh nghiệp cần phải đạt tới là tạo ra một độ an toàn hợp lí, bảo đảm khảnăng thanh toán cho các chủ nợ của mình

Chỉ riêng hệ số khả năng thanh toán lãi vay thì chưa đủ để đánh giá một công ty

vì hệ số này chưa đề cập đến các khoản thanh toán cố định khác như trả tiền nợ gốc, chi phí tiền thuê và chi phí cổ tức ưu đãi

1.6 Nhân tố tác động đến hoàn thiện công tác phân tích tài chính

1.6.1 Nhân tố khách quan

Là các nhân tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được, chúng tác động liên tục đến công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp theo những xu hướng khác nhau, vừa tạo ra cơ hội vừa hạn chế khả năng thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Công tác phân tích tài chính đòi hỏi phải thường xuyên nắm bắt được các nhân tố này,

xu hướng hoạt động và sự tác động của các nhân tố đó lên toàn bộ công tác phan tích tài chính của doanh nghiệp

Các nhân tố khách quan bao gồm các yếu tố chính trị, luật pháp, kinh tế, chỉ tiêu trung bình ngành, đây là những yếu tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được đồng thời nó có tác động chung đến tất cả các doanh nghiệp trên thị trường Nghiên

Trang 33

23

cứu những yếu tố này doanh nghiệp không nhằm để điều khiển nó theo ý kiến của mình mà tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của mình

1.6.1.1 Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước

Các yếu tố thuộc môi trường chính trị - pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạt đọng kinh doanh của doanh nghiệp Sự ổn định chính trị được xác định là một trong những tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Mức độ ổn định

về chính trị và luật pháp của một quốc gia cho phép doanh nghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro, của môi trường kinh doanh và ảnh hưởng của của nó đến doanh nghiệp như thế nào, vì vậy nghiên cứu các yếu tố chính trị và luật pháp là yêu cầu không thể thiếu được khi doanh nghiệp tham gia vào thị trường Sự thay đổi của môi trường chính trị có thể ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm hãm sự phát triển nhóm doanh nghiệp khác hoặc ngược lại Hệ thống pháp luật hoàn thiện, không thiên vị là một trong những tiền đề ngoài kinh tế của kinh doanh Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và thực thi pháp luật trong nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường này nó tác động trực tiép đến công tác phân tích tài chính và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Không những thế nó còn tác động đến chi phí của doanh nghiệp cũng như là chi phí lưu thông, chi phí vận chuyển, mức độ về thuế đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu còn bị ảnh hưởng bởi chính sách thương mại quốc tế, hạn ngạch do nhà nước giao cho, luật bảo hộ cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh Tóm lại môi trường chính trị - luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp bằng cách tác động đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua hệ thống công cụ luật pháp, cộng cụ vĩ mô

1.6.1.2 Hệ thống thông tin của nền kinh tế

Hệ thống thông tin của nền kinh tế có thể tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mở rộng thị trường, ngành hàng này nhưng lại hạn chế sự phát triển cuả nghành hàng khác Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến sức mua, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng hay xu hướng phát triển của các ngành hàng, các yếu tố kinh tế bao gồm:

 Hoạt động ngoại thương: Xu hướng đóng mở của nền kinh tế có ảnh hưởng các cơ hội phát triển của doanh nghiệp, các điều kiện canh tranh, khả năng sử dụng ưu thê quốc gia về công nghệ, nguồn vốn

 Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập, tích luỹ, tiêu dùng, kích thích hoặc kìm hãm đầu tư,

 Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế ảnh hưởng dến vị trí vai trò và xu hướng phát triển của các ngành kinh tế kéo theo sự thay đổi chiều hướng phát triển của doanh nghiệp

Trang 34

 Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Thể hiện xu hướng phát triển chung của nền kinh tế liên quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp qui mô kinh doanh của mỗi doanh nghiệp

1.6.1.3 Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành

Công tác phân tích tài chính sẽ trở nên đầy đủ và có ý nghĩa hơn nếu có sự tồn tại của hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành Đây là cơ sở tham chiếu quan trọng khi tiến hành phân tích Người ta chỉ có thể nói các tỉ lệ tài chính của một doanh nghiệp là cao hay thấp, tốt hay xấu khi đem so sánh với các tỉ lệ tương ứng của doanh nghiệp khác

có đặc điểm và điều kiện sản xuất kinh doanh tương tự mà đại diện ở đây là chỉ tiêu trung bình ngành Thông qua đối chiếu với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản lí tài chính biết được vị thế của doanh nghiệp mình từ đó đánh giá được thực trạng tài chính doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình

1.6.2 Nhân tố chủ quan

Là toàn bộ các yếu tố thuộc tiềm lực của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể kiểm soát ở mức độ nào đó và sử dụng để thực hiện công tác phân tích tài chính Tiềm năng phản ánh thực lực cuả doanh nghiệp trên thị trường, đánh giá đúng tiềm năng cho phép doanh nghiệp xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh đúng đắn đồng thời tận dụng được các cơ hội kinh doanh mang lại hiệu quả cao

Các yếu tố thuộc nhân tố chủ quan của doanh nghiệp bao gồm: Sự quan tâm của ban lãnh đạo, trình độ của cán bộ phân tích tài chính, chất lượng thông tin sử dụng trong phân tích tài chính, phương pháp phân tích tài chính và công nghệ

1.6.2.1 Sự quan tâm của ban lãnh đạo

Với vai trò là người ra quyết định trong doanh nghiệp, ban lãnh đạo cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp, sử dụng thường xuyên các kết quả phân tích tài chính trong quản lí, điều hành sản xuất kinh doanh và trong quá trình ra quyết định thì mới tạo được tiền đề và cơ sở cho công tác phân tích tài chính doanh nghiệp được thực hiện và phát huy hiệu quả Nếu không làm được như vậy thì công tác phân tích tài chính vừa không được quan tâm, đồng thời những con số phân tích được đưa ra cũng chỉ là hình thức, vô nghĩa và không có tác dụng

1.6.2.2 Trình độ cán bộ phân tích tài chính

Có được thông tin phù hợp và chính xác nhưng tập hợp và xử lí thông tin đó như thế nào để đưa lại kết quả phân tích tài chính có chất lượng cao lại là điều không đơn giản Nó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ thực hiện phân tích Từ các thông

Trang 35

25

tin thu thập được, các cán bộ phân tích phải tính toán các chỉ tiêu, thiết lập các bảng biểu Tuy nhiên, đó chỉ là những con số và nếu chúng đứng riêng lẻ thì tự chúng sẽ không nói lên điều gì Nhiệm vụ của người phân tích là phải gắn kết, tạo lập mối liên

hệ giữa các chỉ tiêu, kết hợp với các thông tin về điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp để lí giải tình hình tài chính của doanh nghiệp, xác định thế mạnh, điểm yếu cũng như nguyên nhân dẫn đến điểm yếu trên Hay nói cách khác, cán bộ phân tích là người làm cho các con số “biết nói” Chính tầm quan trọng và sự phức tạp của phân tích tài chính đòi hỏi cán bộ phân tích phải có trình độ chuyên môn cao

1.6.2.3 Chất lượng thông tin sử dụng trong phân tích tài chính

Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phân tích tài chính, bởi một khi thông tin sử dụng không chính xác, không phù hợp thì kết quả mà phân tích tài chính đem lại chỉ là hình thức, không có ý nghĩa gì Vì vậy, có thể nói thông tin sử dụng trong phân tích tài chính là nền tảng của phân tích tài chính

Từ những thông tin bên trong trực tiếp phản ánh tài chính doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài liên quan đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp, người phân tích có thể thấy được tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai

Tình hình nền kinh tế trong và ngoài nước không ngừng biến động, tác động hàng ngày đến điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Hơn nữa, tiền lại có giá trị theo thời gian, một đồng tiền hôm nay có giá trị khác một đồng tiền trong tương lai Do đó, tính kịp thời, giá trị dự đoán là đặc điểm cần thiết làm nên sự phù hợp của thông tin Thiếu đi sự phù hợp và chính xác, thông tin không còn độ tin cậy và điều này tất yếu ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp

1.6.2.4 Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính và công nghệ

Khi đã có đầy đủ thông tin cần thiết cho công tác phân tích tài chính doanh nghiệp thì một yếu tố không kém phần quan trọng đó là lựa chọ phương pháp phân tích và công nghệ phù hợp Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta vẫn còn áp dụng phương pháp phân tích và công nghệ cũ do đó kết quả thu được không phản ánh hết được tình hình doanh nghiệp dẫn đến chất lượng phân tích thấp Những phương pháp phân tích

và công nghệ hiện đại sẽ giúp cho phân tích tài chính được chính xác, toàn diện hơn, tốn ít thời gian, công sức và tiền của hơn

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI

CÔNG TY TNHH MTV ĐĂNG THỰC

2.1 Quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của công ty TNHH MTV Đăng Thực

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH MTV Đăng Thực

 Tên Công ty : Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đăng Thực;

 Địa chỉ trụ sở : Số 96/60, Đại Lộ Nguyễn Lương Bằng, Phường Bình Hàn, Thành phố Hải Dương;

 Điện thoại : 03203.843443;

 Hình thức sở hữu : Tư nhân

 Giấy đăng kí kinh doanh số 0401000086, do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương, Phòng Đăng kí kinh doanh cấp;

 Công ty TNHH một thành viên Đăng Thực là đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng để giao dịch, được phép vay vốn và

mở tài khoản riêng tại Ngân hàng;

 Tổng số vốn điều lệ tính đến thời điểm 31/12/2012 là 500.000.000 đồng Công ty được thành lập vào 04/01/2005 với lĩnh vục kinh doanh là gia công gàu xúc và cần cẩu Giám đốc công ty là một người trẻ tuổi, tốt nghiệp Đại học với tấm bằng kĩ sư cơ khí và làm việc tại một công ty chế tạo gàu xúc Sau 5 năm làm việc, nhận thấy nhu cầu về mặt hàng này rất lớn, nhất là với nền công nghiệp và xây dựng đang phát triển như nước ta, anh đã tích lũy cũng như vay thêm tiền từ gia đình, bạn

bè, thành lập công ty gia công gàu xúc cho riêng mình Qua 8 năm hoạt động, công ty

đã thu được doanh thu rất khả quan, nhất là trong những năm đầu đi vào hoạt động

2.1.2 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh

Công ty đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mặt hàng chủ yếu là các sản phẩm cơ khí do nhận thấy nhu cầu ngày càng tăng của mặt hàng này trên thị trường Công ty lấy nguyên liệu là sắt và thép từ một cơ sở khai thác và cung cấp nguyên liệu này từ Hải Phòng, sau đó về gia công thành thành phẩm rồi bán ra thị trường, chủ yếu công ty sản xuất theo đơn đặt hàng Hoạt động gia công gàu xúc là hoạt động chính và đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho công ty Công ty sản xuất hầu hết các loại gàu xúc theo đơn đặt hàng, chủ yếu là:

Gàu thuận: gàu xúc di chuyển vào đất đá theo hướng từ máy xúc đi ra phía

trước dưới tác dụng của hai lực kết hợp: cơ cấu nâng - hạ gàu và cơ cấu tay gàu;

Trang 37

27

Gàu ngƣợc: gàu di chuyển vào đất đá theo hướng từ ngoài vào trong dưới tác

dụng của hai lực kết hợp: cơ cấu nâng hạ gàu và cơ cấu đẩy tay gàu;

Gàu cào: Gàu cào di chuyển theo mặt phẳng ngang từ ngoài vào trong trên

cần gàu dẫn hướng;

Gàu treo trên dây: gàu di chuyển theo hướng từ ngoài vào trong máy xúc

dưới tác dụng của hai lực kết hợp: cơ cấu kéo cáp và cơ cấu nâng cáp;

Gàu ngoạm: quá trình bốc xúc đất đá được thực hiện bằng cách kéo khép kín

dần hai nửa thành gàu dưới tác dụng của cơ cấu kéo cáp và cơ cấu nâng

Công ty có thêm doanh thu nhờ vào việc vận tải hàng hóa bằng ô tô loại 5 tạ và buôn bán lương thực, chủ yếu là gạo, với nguồn cung là một cơ sở xay sát gạo ở gần

đó

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH MTV Đăng Thực

Mô hình tổ chức của Công ty TNHH một thành viên Đăng Thực được tổ chức thành 3 phòng: trong đó có 01 Phòng kế toán, 01 Phòng kĩ thuật và 01 Phòng kinh doanh với 12 người với tuổi đời trung bình 25 tuổi, trình độ Trung học phổ thông chiếm khoảng 70%

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH MTV Đăng Thực

(Nguồn: Phòng kế toán)

2.2 Thực trạng công tác công tác phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực

2.2.1 Khái quát chung về công tác phân tích tài chính

Tại công ty TNHH MTV Đăng Thực, tổ chức công tác phân tích tài chính chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức Công ty chưa có phòng ban riêng biệt tổng hợp các kết quả phân tích tài chính mà được phòng kế toán thực hiện mỗi khi công ty cần lập kế hoạch hay chiến lược phát triển kinh doanh Nhân viên phòng kế toán phụ trách mảng kế toán tổng hợp của công ty sau đó tổng kết và trình lên giám đốc, từ đó, nhân

Phòng giám đốc

Phòng kế toán Phòng kinh

doanh Phòng kĩ thuật

Trang 38

viên phòng kế toán này có thể tham mưu cho giám đốc các chiến lược phát triển của công ty trong thời gian tới

2.2.1.1 Qui trình phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực

Đây là một khâu quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, thời hạn và tác dụng của phân tích hoạt động tài chính Công tác chuẩn bị bao gồm việc xây dựng chương trình (kế hoạch) phân tích và thu thập, xử lí tài liệu phân tích

Kế hoạch phân tích phải xác định rõ nội dung phân tích (toàn bộ hoạt động tài chính hay chỉ một số vấn đề cụ thể), phạm vu phân tích (toàn đơn vị hay một vài bộ phận), thời gian tiến hành phân tích (kể cả thời gian chuẩn bị), phân công trách nhiệm cho các cá nhân, bộ phận và xác định hình thức hội nghị phân tích (Giám đốc hay toàn thể người lao động) Đặc biệt, trong kế hoạch phân tích phải xác định rõ phương pháp phân tích được chọn

Tài liệu phục vụ cho việc phân tích bao gồm toàn bộ hệ thống báo cáo tài chính liên quan, kể cả các báo cáo kế hoạch, dự toán, định mức, các biên banrkieemr tra, xử

lí có liên quan,… Các tài liệu trên cần được kiểm tra tính chính xác, tích hợp pháp, kiểm tra các điều kiện có thể so sánh được rồi mới sử dụng để tiến hành phân tích

 Đánh giá chung (khái quát) tình hình:

Dựa vào chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu đã xác định theo từng nội dung phân tích, sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá chung tình hình Có thể so sánh trên tổng thể kết hợp với việc so sánh để đánh giá chung tình hình Có thể so sánh trên tổng thể kết hợp với si sánh trên từng bộ phận cấu thành của chỉ tiêu ở kì phân tích với

kì gốc Từ đó, xác định chính xác kết quả, xu hướng phát triển và mối quan hệ biện chứng giữa các hoạt động kinh doanh với nhau

 Xác định các biểu hiện đặc trưng và mức độ ảnh hưởng

Hoạt động tài chính chịu ảnh hưởng của rất nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân mà nhà phân tích có thể xác định mức độ ảnh hưởng và có những nguyên nhân không thể xác định được mức độ ảnh hưởng của chúng đên sự biến động của đối tượng được nghiên cứu Những nguyên nhân mà các nhà phân tích có thể tính toán và lượng hóa được mức độ ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu gọi là biểu hiện đặc trưng Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Tuỳ nội dung phân tích cũng như các thông tin sưu tầm được mà quyết định các chỉ tiêu phân tích và các phương pháp phân tích cho phù hợp

 Phân tích, thuyết minh:

Ngày đăng: 21/06/2020, 00:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w