Nợ xấu được xem như một nút thắt lớn đối với hệ thống Ngân hàng Việt Nam nói riêng và cả nền kinh tế nói chung. Trong thời gian qua, tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam đã không ngừng tăng lên. Đây là hệ quả xuất phát từ nhiều nguyên nhân bên trong cũng như bên ngoài. Nhưng trong đó vấn đề nổi trội là công tác quản trị rủi ro còn hạn chế của các NHTM mà trực tiếp là công tác quản trị rủi ro nợ xấu. Nhận thức được điều đó, NHNN cũng như các NHTM đã chú trọng đến việc hoàn thiện công tác quản trị rủi ro nợ xấu.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
VŨ THỊ THANH TÂM
QUẢN TRỊ RỦI RO NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM -
CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
VŨ THỊ THANH TÂM
QUẢN TRỊ RỦI RO NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM -
CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 8.34.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG NGỌC HUẤN
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng Ngọc Huấn Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc, nếu có gì sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thanh Tâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học: “Quản trị rủi ro nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - chi nhánh Thái Nguyên” tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất đến:
Tập thể các thầy, cô giáo Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất của mình tới Thầy giáo TS Hoàng Ngọc Huấn đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học của mình
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã ủng
hộ động viên tôi để hoàn thành đề tài khoa học này
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
5 Bố cục của luận văn 2
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Cơ sở lý luận về nợ xấu và công tác quản trị rủi ro nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM 4
1.1.1 Nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại 4
1.1.2 Công tác quản trị rủi ro nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng 11
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản trị rủi ro nợ xấu tại một số Ngân hàng thương mại 26
1.2.1 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Agribank Việt Nam 26
1.2.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Vietcombank Việt Nam 29
1.2.3 Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro nợ xấu cho Vietinbank Thái Nguyên 30
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết về công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 32
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 32
Trang 62.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 32
2.2.4 Phương pháp tổng hợp thông tin 33
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 33
Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO NỢ XẤU TẠI VIETINBANK THÁI NGUYÊN 37
3.1 Khái quát Vietinbank Thái Nguyên 37
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37
3.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 38
3.1.3 Các dịch vụ Vietinbank Thái Nguyên cung cấp 40
3.1.4 Khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh của Vietinbank Thái Nguyên qua các năm 2014 - 2016 42
3.1.5 Chất lượng tín dụng của Vietinbank Thái Nguyên giai đoạn 2014 - 2016 45
3.2 T hực trạng công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên qua các năm 2014 - 2016 47
3.2.1 Tình hình nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên qua các năm 2014 - 2016 47
3.2.2 Thực trạng công tác phòng ngừa nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên 49
3.2.3 Thực trạng công tác xử lý nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên 55
3.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên 61
3.2.5 Đánh giá chung kết quả công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên 64
Chương 4 GIẢI PHÁP CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NỢ XẤU TẠI VIETINBANK THÁI NGUYÊN 70
4.1 Định hướng về hoạt động tín dụng và quản trị nợ xấu của Vietinbank Thái Nguyên 70
4.1.1 Định hướng hoạt động tín dụng tại Vietinbank Thái Nguyên 70
4.1.2 Định hướng hoạt động quản trị nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên 72
4.2 Giải pháp công tác quản trị nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên 74
4.2.1 Nhóm giải pháp về phòng ngừa nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên 74
4.2.2 Nhóm giải pháp về xử lý nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên 77
Trang 74.3 Đề xuất và kiến nghị 79
4.3.1 Đề xuất đối với Vietinbank Thái Nguyên 79
4.3.2 Kiến nghị đối với Nhà nước, Chính phủ, Chính quyền 81
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BĐS : Bất động sảnHĐQT : Hội đồng quản trị KTKS : Kiểm tra kiểm soát
KH : Khách hàng KHCN : Khách hàng cá nhân KHDN : Khách hàng doanh nghiệp
NH : Ngân hàng NHCT : Ngân hàng công thương NHNN : Ngân hàng nhà nước NHTM : Ngân hàng thương mại RRTD : Rủi ro tín dụng
TCTD : Tổ chức tín dụng TMCP : Thương mại cổ phần TSBĐ : Tài sản bảo đảm
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Quy trình tín dụng 16 Bảng 3.1 Tình hình kinh doanh tại chi nhánh giai đoạn 2014-2016 44 Bảng 3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh giai đoạn 2014-2016 45 Bảng 3.3 Tình hình nợ quá hạn và trích lập DPRR của Vietinbank Thái
Nguyên giai đoạn 2014 - 2016 45 Bảng 3.4 Tỷ lệ cho vay theo ngành nghề tại Vietinbank Thái Nguyên qua các
năm 2014-2016 51 Bảng 3.5 Số lượng khách hàng được cảnh báo và số lượng khách hàng quá
hạn qua các năm 2014-1016 52 Bảng 3.6 Các tiêu chí đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng tại
Vietinbank Thái Nguyên 55 Bảng 3.7 Phân công thu hồi nợ xấu năm 2016 Phòng giao dịch Đán 58 Bảng 3.8 Kết quả xử lý nợ xấu năm 2016 60 Bảng 3.9 Kết quả công tác thu hồi nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên năm
2014 - 2016 60 Bảng 4.1 Tình hình lao động của chi nhánh giai đoạn 2015 - 2016 76
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ:
Biểu đồ 3.1 Tình hình tài sản qua các năm 2014-2016 42
Biểu đồ 3.2 Tốc độ tăng huy động vốn và cho vay 43
Biểu đồ 3.3 Bảng biểu tỷ lệ nợ xấu qua các năm tại Vietinbank Thái Nguyên 47
Biểu đồ 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nợ xấu theo đối tượng vay vốn 48
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ nợ xấu theo thời hạn vay vốn tại Vietinbank Thái Nguyên 49
Sơ đồ: Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Vietinbank Thái Nguyên 38
Sơ đồ 3.2 Mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại Vietinbank Thái Nguyên hiện đang áp dụng 50
Sơ đồ 3.3 Quy trình cho vay tại Vietinbank Thái Nguyên 54
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nợ xấu được xem như một nút thắt lớn đối với hệ thống Ngân hàng Việt Nam nói riêng và cả nền kinh tế nói chung Trong thời gian qua, tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam
đã không ngừng tăng lên Đây là hệ quả xuất phát từ nhiều nguyên nhân bên trong cũng như bên ngoài Nhưng trong đó vấn đề nổi trội là công tác quản trị rủi ro còn hạn chế của các NHTM mà trực tiếp là công tác quản trị rủi ro nợ xấu Nhận thức được điều đó, NHNN cũng như các NHTM đã chú trọng đến việc hoàn thiện công tác quản trị rủi ro nợ xấu Đây là cơ sở để kiểm soát, hạn chế tối đa tổn thất trong hoạt động tín dụng, đảm bảo hiệu quả hoạt động Ngân hàng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (Vietinbank) là một trong những Ngân hàng TMCP được thành lập sớm và phát triển ổn định ở Việt Nam Với tiêu chí trở thành Ngân hàng bán lẻ hàng đầu trong nước, thời gian qua, Vietinbank đã không ngừng mở rộng hoạt động tín dụng và nhiều sản phẩm dịch khác Song song với định hướng phát triển đó, rủi ro xuất phát từ hoạt động tín dụng tăng lên đáng kể, được thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu hàng năm của Ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu của Vietinbank Thái Nguyên năm 2014 là 50,52 tỷ, năm 2015 là 46,21 tỷ và năm 2016 là 152,73 tỷ chiếm 3,55% tổng dư nợ (ngưỡng cho phép là 3%) Do đó công tác quản trị nợ xấu cần được nhìn nhận và xây dựng khoa học cũng như thực hiện một cách thống nhất, chuyên nghiệp nhằm hướng đến mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu, hạn chế tối đa tổn thất và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài “Quản trị rủi ro nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - chi nhánh Thái Nguyên” như một đóng góp vào công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Ngân hàng
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chung:
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản trị rủi ro nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên trong giai đoạn 2013-2015, từ đó đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Ngân hàng trong thời gian tới
Trang 12Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về nợ xấu và quản trị rủi ro nợ xấu tại NHTM
- Đánh giá thực trạng tình hình nợ xấu và công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên, từ đó chỉ ra những mặt ưu điểm cũng như hạn chế và nguyên nhân những hạn chế trong quản trị rủi ro nợ xấu tại NH
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro nợ xấu
trong hoạt động tín dụng tại Vietinbank Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản trị rủi ro nợ xấu
Thực trạng công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến rủi ro nợ xấu, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên, đưa ra các giải pháp, đề xuất, kiến nghị đối với Vietinbank Thái Nguyên và Nhà nước, đồng thời tác giả đưa ra một số biện pháp xử lý nợ xấu hiện Vietinbank Thái Nguyên chưa áp dụng, đánh giá ưu nhược điểm của biện pháp đó như một đóng góp cho công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Vietnbank Thái Nguyên
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Trang 13- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nợ xấu và công tác quản trị rủi ro
nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại Vietinbank Thái Nguyên
- Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại
Vietinbank Thái Nguyên
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Cơ sở lý luận về nợ xấu và công tác quản trị rủi ro nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM
1.1.1 Nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm về nợ xấu (NPLs)
Theo định nghĩa nợ xấu của các tổ chức tín dụng thế giới thì một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ
Còn đứng trên giác độ tại Việt Nam, dưới góc độ định nghĩa, phân loại và quản lý của Ngân hàng nhà nước thì theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)
Trong quyết định 493 nêu rõ, những khoản nợ bị quá hạn lãi hoặc quá hạn gốc trên 90 ngày đến trên 360 ngày (tức là từ nhóm 3 đến nhóm 5) được xem là nợ xấu và Ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán khoản vay vào các nhóm nợ thích hợp, cụ thể như sau:
Trang 15khoản nợ này, cá biệt nợ xấu có thể gây nguy hại đến hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng
1.1.1.2 Nguyên nhân phát sinh các khoản nợ xấu trong Ngân hàng
Về cơ bản các khoản nợ được xem là nợ xấu là những khoản cho vay đã quá hạn ít nhất 90 ngày, không thu hồi hay tái chuyển nhượng được Mặc dù các khoản cho vay có vấn đề và các tổn thất là kết quả của nhiều yếu tố nhưng nhìn chung chúng là kết quả của sự không sẵn lòng hoàn trả nợ vay của người vay, hay không
có khả năng thanh toán một phần hoặc toàn bộ nợ vay như đã thỏa thuận Một vài nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh các khoản nợ xấu trong Ngân hàng có thể kể đến như:
Thứ nhất việc cho vay của NHTM thường xuyên xuất hiện rủi ro và các NHTM chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến tính chân thật và khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ Tuy nhiên sự phân tích tín dụng không đạt đến mức Ngân hàng có thể dự đoán hoàn toàn chính xác về một khoản vay có được hoàn trả như đã thỏa thuận hay không Tính chân thật và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi khoản vay đã được thực hiện dẫn đến việc không hoàn trả đúng hạn khi đến hạn và trong một số trường hợp đã dẫn đến tổn thất
Thứ hai Ngân hàng yếu kém trong việc phân tích tín dụng, quyết định cho vay vội vã mà không có thông tin chính xác hay thông tin nhận được là sai lệch không phản ánh đúng thực tế
Thứ ba môi trường kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sức mạnh tài chính của người vay và thiệt hại hoặc thành công đối với người cho vay Trong giai đoạn hưng thịnh, người vay hoạt động tốt do lợi tức cao nhưng trong giai đoạn khủng hoảng khả năng hoàn trả bị giảm sút, điều này có thể dẫn đến người vay mất khả năng thanh toán
Thứ tư sự không sẵn lòng chi trả khác xuất phát từ cơ hội làm ăn kinh tế của một số người đi vay Sự không sẵn lòng chi trả liên quan chặt chẽ với giai đoạn suy
thoái kinh tế, các giai đoạn thất nghiệp và lợi tức suy giảm
Trang 161.1.1.3 Các dấu hiệu nhận biết nợ xấu
a) Nhóm các dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng
Dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng bao gồm hai nhóm chính thể hiện trong mối quan hệ giữa khác hàng với Ngân hàng và phương thức quản lý tình hình tài chính, hoạt động của khách hàng
Trước hết là những biểu hiện không bình thường trong mối quan hệ giữa khách hàng với Ngân hàng như:
Khách hàng gây khó khăn cho Ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định
kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải thích rõ ràng, minh bạch
Doanh nghiệp cố trì hoãn gửi bảo cáo tài chính theo yêu cầu hoặc không có báo cáo về dự đoán hay lưu chuyển tiền tệ mà không có sự giải thích minh bạch thuyết phục
Khách hàng có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong quá trình quan hệ tín dụng
Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc gia hạn hay điều chỉnh kỳ hạn nợ
Có sự sút giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng, xuất hiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trong tốc độ
và tổng mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng
Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc khách hàng không muốn trả hoặc do việc thu hồi công nợ chậm hơn dự tính
Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu vay các khoản vượt quá nhu cầu
dự kiến
Tài sản đảm bảo không đủ điều kiện, giá trị tài sản bị giảm sút so với định giá khi cho vay, có dấu hiệu tài sản đã cho người khác bán, trao đổi hoặc đã biến mất hoặc không còn tồn tại
Khách hàng có dấu hiệu trông chờ các khoản thu nhập bất thường khác, không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc từ hoạt động được đề xuất trong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán hoặc họ có tìm kiếm
Trang 17sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác đặc biệt là từ đối thủ cạnh tranh của Ngân hàng hay sử dụng các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dài hạn
Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao với mọi điều kiện
Thứ hai là xuất hiện các dấu hiệu bất thường liên quan tới phương pháp quản lý tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của khách hàng Những dấu hiệu này tác động trực tiếp tới chất lượng khoản tín dụng nhưng với tốc độ chậm hơn, chúng không
dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặt chẽ, sâu sát của cán bộ tín dụng bao gồm:
Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng
Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh toán hay mức độ hoạt động của khách hàng
Xuất hiện ngày càng nhiều các chi phí bất hợp lý như sự gia tăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tập trung quá nhiều chi phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền…
Thay đổi thường xuyên tổ chức của ban điều hành, xuất hiện mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh chấp trong quá trình quản lý
Khách hàng sẵn sàng từ bỏ hợp đồng có giá trị nhỏ và vừa nhưng có khả năng thu được tỷ suất lợi nhuận cao để tìm kiếm các hợp đồng lớn với các bạn hàng
có tên tuổi dù lợi nhuận thu về có khả năng đạt thấp hơn
Do áp lực nội bộ doanh nghiệp phải tung ra thị trường các sản phẩm dịch vụ quá sớm khi các sản phẩm chưa đạt được các điều kiện cần thiết hoặc đặt ra những hạn mức thời gian, doanh số không hợp lý
Thiên tai, địch họa, dịch bệnh bất ngờ xảy ra và có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng
b) Nhóm các dấu hiệu phát sinh từ phía Ngân hàng
Có sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền lớn hoặc các lợi ích do khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp
Trang 18Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát của Ngân hàng
Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra chẳng hạn sáp nhập, thay đổi địa vị pháp lý…
Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ, không
rõ ràng, không rõ lịch hoàn trả đối với từng khoản vay, cán bộ tín dụng cố ý thỏa hiệp các nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết có rủi ro tiềm ẩn
Cấp tín dụng với khối lượng lớn cho khách hàng không thuộc phân đoạn
ưu tiên
Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá, giảm thấp lãi suất hoặc phí dịch vụ hay giữ chân khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ không quan hệ với tổ chức tín dụng khác…
1.1.1.3 Tác động của nợ xấu
a) Tác động đến hoạt động của NHTM
Nợ xấu xuất hiện tức là Ngân hàng không thu hồi đủ vốn bỏ ra cho vay trong khi chi phí dự phòng tăng lên làm giảm lợi nhuận, giảm tích lũy để đầu tư mới Nợ xấu gia tăng còn làm cho Ngân hàng thu lỗ do bị thâm hụt vào nguồn vốn cho vay, đến một lúc nào đó Ngân hàng không thể trả cho người gửi tiền khi đến hạn, Ngân hàng sẽ lâm vào tình cảnh mất khả năng thanh toán Trước tình hình này Ngân hàng buộc phải đi vay TCTD khác hoặc chịu sự can thiệp của NHNN hoặc có thể phá sản
Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tăng cao sẽ làm uy tín của Ngân hàng giảm sút dẫn đến việc thu hút nguồn vốn để phục vụ kế hoạch mở rộng kinh doanh gặp nhiều khó khăn Ngoài ra tỷ lệ nợ xấu cao còn hạn chế khả năng cho vay của Ngân hàng, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng
Nợ xấu làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn của các TCTD, giảm vòng quay vốn, giảm hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng
b) Tác động đến người đi vay
Nợ xấu là gánh nặng buộc người đi vay phải giải quyết trong tình trạng tài chính không tốt, tạo áp lực trả nợ cho Ngân hàng, do đó có thể dẫn đến việc ra quyết định kinh doanh sai lầm
Trang 19Người vay không hoàn trả nợ đúng hạn mang lại nợ xấu cho Ngân hàng, làm Ngân hàng mất uy tín và vị thế trong hệ thống xếp hạng tín dụng của các tổ chức tín dụng
Điều này được nhìn rõ ràng trong các năm vừa qua của các chuyên gia kinh
tế nước ngoài, khi trong rất nhiều diễn đàn trong năm 2015 vừa rồi được Ngân hàng thế giới tổ chức, các chuyên gia đã có nhận xét rằng nền kinh tế của Việt Nam đã ổn định trở lại trong hai năm gần nhất, tuy nhiên nếu so với tiềm năng của Việt nam thì nền kinh tế vẫn đang tăng trưởng ở dưới mức kỳ vọng Một phần nguyên nhân của vấn đề này là do hệ thống ngân hàng tại Việt Nam mà trong đó, nợ xấu vẫn được coi là “nút thắt cổ chai”, kéo lùi tăng trưởng và phục hồi của nền kinh tế
Dưới góc nhìn của Ngân hàng thế giới, tổ chức này đã cho rằng chính việc không biết chính xác quy mô nợ xấu đang gây cản trở cho quá trình phục hồi của nền kinh tế Việt Nam Đồng thời Ngân hàng Thế giới cũng đưa ra nhận định cho rằng lạm phát thấp đã tạo cơ hội cho Ngân hàng Nhà nước giảm lãi suất, song tăng trưởng tín dụng mới chỉ nhích dần dần do các Ngân hàng phải chịu gánh nặng từ tỷ
lệ nợ xấu cao
Các báo cáo của Ngân hàng Thế giới cũng chỉ ra rằng, từ năm 2014, chính phủ Việt Nam đã thành lập Công ty quản lý tài sản để mua lại nợ xấu từ các Ngân hàng thương mại Động thái này đã được Ngân hàng thế giới đánh giá tương đối cao, vì nó giúp các Ngân hàng thương mại đưa được các khoản nợ xấu ra khỏi Bảng cân đối kế toán của mình Tuy nhiên, vẫn còn một số e ngại từ Ngân hàng Thế giới
về nguồn lực cũng như hiệu quả hoạt động của Công ty quản lý tài sản vì hiệu quả của việc xử lý nợ vẫn chưa được phản ảnh rõ ràng
Trang 20Bên cạnh đó, báo cáo của Ngân hàng thế giới nhận xét khả năng cạnh tranh Việt Nam so với các nền kinh tế có trình độ tương đương đang bị suy giảm, bên cạnh những thách thức tài chính ngày càng tăng do thu ngân sách giảm Do đó, trong thời điểm hoạt động mua bán nợ của Công ty mua bán nợ còn yếu và các Ngân hàng thương mại trong nước còn chưa có đông lực để xử lý triệt để nợ xấu do phải tiếp tục trích lập dự phòng thì nợ xấu vẫn còn diễn biến âm ỉ và có khả năng bùng nổ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam
Một khi nợ xấu còn kéo dài thì các chi phí bỏ ra để xử lý chúng, cả chi phí hữu hình và vô hình đều rất lớn Kéo dài quá trình xử lý sẽ dẫn đến các tài sản đảm bảo thế chấp của Ngân hàng bị hao mòn về mặt giá trị, đồng thời kéo dài quá trình
xử lý nợ xấu sẽ kéo giảm hệ số tín nhiệm của Việt Nam, ảnh hưởng đến việc đánh giá môi trường đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Mặt khác, nợ xấu còn ảnh hưởng đến năng lực của các Ngân hàng thương mại, các Ngân hàng sẽ bị hạn chế điều kiện về cấp tín dụng khi để tỷ lệ nợ xấu ở mức cao, một khi nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng không bơm ra được ngoài thị trường sẽ gây ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp trong quá trình tìm nguồn vốn tài trợ sản xuất kinh doanh Nền kinh tế sẽ mất đi một lượng vốn lớn do vốn không quay vòng được, dòng tiền trong nền kinh tế sẽ không lưu thông được, quay lại tác động ngược lên hệ thống Ngân hàng tiếp tục khó khăn về thanh khoản, hiệu ứng tiêu cực dây chuyền như vậy về lâu dài sẽ ảnh hướng đến sự phát triển kinh tế của đất nước
Đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, một khi không kiểm soát và giải quyết được vấn đề nợ xấu thì họ sẽ gần như không còn cơ hội tiếp cận với nguồn vốn tín dụng Ngân hàng trong một thời gian dài và thậm chí
là cả những nguồn vốn khác trong nền kinh tế do đã mất uy tín trong vấn đề thanh toán nợ vay
Tóm lại, nợ xấu ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống Ngân hàng thương mại cũng như ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh
tế Việt Nam Từ những phân tích những ảnh hưởng của nợ xấu nêu trên, có thể thấy
nợ xấu không chỉ là vấn đề cần phải giải quyết của hệ thống Ngân hàng thương mại
Trang 21mà nó còn đòi hỏi sự chung tay giải quyết tích cực vấn đề của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế cũng như sự chỉ đạo chung từ Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ Các thành phần kinh tế có liên quan nếu cố tình che dấu hoặc nuôi nợ mà không có nhận thức đúng đắn về việc tìm và phân tích nguyên nhân nợ xấu để từ đó tìm được giải pháp khắc phục thì hậu quả sẽ ảnh hưởng rất lớn đền nguồn cung ứng vốn cho nền kinh tế
1.1.2 Công tác quản trị rủi ro nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng
1.1.2.1 Khái niệm
Quản trị rủi ro nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế phát sinh nợ xấu, đi kèm với việc xử lý các khoản nợ xấu đã phát sinh hướng đến mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững của NHTM
1.1.2.2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro nợ xấu
Căn cứ vào tác động của nợ xấu đến hoạt động của Ngân hàng, đến người đi vay và đến nền kinh tế, công tác quản trị rủi ro nợ xấu đòi hỏi phải thực hiện thường xuyên và không thể thiếu đối với hoạt động của các Ngân hàng nếu thiếu nó sẽ gây
ra những tác động như:
- Làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
- Mất khả năng thanh khoản
- Giảm lòng tin của khách hàng
- Giảm uy tín của Ngân hàng
- Giảm thu nhập của người lao động trong Ngân hàng…
1.1.2.3 Nội dung công tác quản trị rủi ro nợ xấu
Công tác quản trị rủi ro nợ xấu gồm 2 nội dung:
- Giải pháp phòng ngừa nợ xấu phát sinh
- Giải pháp xử lý nợ xấu
a) Giải pháp phòng ngừa nợ xấu phát sinh
Gồm 5 giải pháp như sau:
Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng
Trang 22Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng
Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh
Thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng
Kiểm tra giám sát hoạt động tín dụng
* Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng
Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng là xây dựng cách thức quản lý rủi
ro tín dụng tổng thể của một Ngân hàng, trong đó thể hiện được cách thức tổ chức quản lý, thực hiện quy trình tín dụng, nhận biết, đo lường, kiểm soát rủi ro tín dụng nhằm khống chế rủi ro trong một giới hạn cho phép theo nguyên tắc tối đa hoá lợi nhuận
- Nâng cao sức mạnh tài chính nhằm quản lý nợ xấu
- Môi trường pháp lý cho hoạt động quản lý nợ xấu
- Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nợ xấu
- Xử lý nợ xấu
- Đo lường nợ xấu
Hiện nay, nhiều Ngân hàng trên thế giới đã bắt đầu quan tâm đến việc xác định cho mình mô hình quản lý rủi ro thích hợp để nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro chứ không đưa ra các phương pháp quản lý rủi ro dàn trải như trước đây
Việc xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng giúp cho Ngân hàng có sự nhìn nhận chính xác hơn về triển vọng kinh doanh của Ngân hàng trong tương lai,
từ đó có khả năng hoạch định chính sách kinh doanh phù hợp So với các chỉ tiêu phản ánh thực tế kinh doanh như doanh thu, mức sinh lời, các khoản lãi và phí… thì
“rủi ro” lại mang tính "dự đoán" Nói đến rủi ro tức là nói đến những biến cố xảy ra không chắc chắn Và trên thực tế thì người ta có thể bỏ qua những kết quả xảy ra trong tương lai để chú trọng hơn vào những mục tiêu trước mắt Việc xem nhẹ rủi
ro như vậy có nghĩa là Ngân hàng có thể sẽ phải chịu những tổn thất nặng nề xảy đến trong tương lai Chính bởi vậy, quan tâm đến việc áp dụng mô hình quản lý rủi
ro có nghĩa là các nhà Ngân hàng đã đưa rủi ro vào thành một vấn đề cấp thiết trong hoạt động kinh doanh bên cạnh mục tiêu “lợi nhuận” ngay cả khi rủi ro chưa xảy ra
Trang 23Cụ thể trong việc xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng, cần phải giải quyết các vấn đề cơ bản là: Mô hình quản lý sẽ hoạt động theo phương thức nào (tập trung hay phân tán), cách thức đo lường rủi ro thế nào (định tính hay định lượng), và hệ thống kiểm soát rủi ro ra sao? (sử dụng mô hình kiểm soát đơn hay kiểm soát kép)
* Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro
Cần có chiến lược quản lý rủi ro phù hợp với chiến lược kinh doanh của Ngân hàng trong từng thời kỳ và có thể được điều chỉnh một cách linh hoạt tùy theo
diễn biến thị trường tín dụng Chiến lược quản lý rủi ro nói chung nhằm hạn chế nợ
xấu phát sinh phải chỉ rõ điểm mạnh điểm yếu của Ngân hàng, các cơ hội cũng như
các mối đe doạ từ môi trường kinh doanh… Chiến lược phải được hoạch định một cách nhất quán về các thứ tự ưu tiên cho đến các mục tiêu có sự xung đột trong hoạt động kinh doanh Chiến lược phòng ngừa, hạn chế rủi ro phải đặc biệt chú trọng đến việc đa dạng hóa danh mục tín dụng trên cơ sở phân bổ hợp lý các nguồn vốn cũng như chi phí quản lý rủi ro sẽ được hình thành trên cơ sở là một bộ phận hữu cơ phù hợp và gắn chặt với chiến lược kinh doanh tổng thể của Ngân hàng
Theo nguyên tắc 1 của ủy ban Basel về phòng ngừa nợ xấu:
- Mỗi Ngân hàng cần phát triển một chiến lược hay kế hoạch quản lý rủi ro tín dụng (chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu phù hợp), trong đó xây dựng các mục tiêu hướng dẫn cho các hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng và thực hiện các chính sách và thủ tục cần thiết để tiến hành các hoạt động này HĐQT có trách nhiệm phê duyệt và định kỳ xem xét chiến lược quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng
- Chiến lược hoạt động Ngân hàng phản ánh mức độ chấp nhận rủi ro của Ngân hàng với mức sinh lời nhất định mà Ngân hàng kỳ vọng Cụ thể, chiến lược quản lý rủi ro cần thể hiện tuyên bố của Ngân hàng trong việc sẵn sàng cấp tín dụng dựa trên loại hình rủi ro tiềm năng, ngành kinh tế, vị trí địa lý, đồng tiền, kỳ hạn và mức sinh lời dự kiến Chiến lược cũng có thể xác định thị trường mục tiêu và các đặc tính tổng quát mà Ngân hàng muốn đạt được trong danh mục tín dụng
- Chiến lược chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu cần được phổ biến hiệu quả trong toàn Ngân hàng Mọi nhân viên Ngân hàng cần hiểu rõ và có trách nhiệm tuân thủ
Trang 24các thủ tục và chính sách đã đề ra HĐQT giao Ban Giám đốc quản lý các hoạt động tín dụng do Ngân hàng tiến hành và các hoạt động này được thực hiện trong phạm
vi chiến lược, chính sách và mức độ chấp nhận rủi ro đã được HĐQT phê duyệt
* Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh
Như đã phân tích ở trên, nợ xấu phát sinh từ nhiều nguyên nhân: từ môi trường kinh doanh, những rủi ro từ phía người vay và cả sự yếu kém chủ quan của Ngân hàng cho vay Riêng các nguyên nhân chủ quan về phía Ngân hàng dẫn đến
nợ xấu thì hầu hết bắt nguồn từ công tác thẩm định, kiểm soát tín dụng không tuân thủ nguyên tắc 6 Cs trong thẩm định và kiểm soát tín dụng Như vậy, khi những khoản nợ có nguy cơ chuyển thành nợ xấu thì các Ngân hàng cần phải xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với những khoản nợ này
Đối với các khoản nợ, ngay từ những khoản nợ thuộc nhóm 2 đã cần phải sớm phân tích nguyên nhân và có biện pháp tín dụng, không để kéo dài thời gian qúa hạn, dễ dẫn đến nguy cơ nợ xấu Quy chế cho vay của TCTD quy định khách hàng chỉ cần qúa hạn nợ gốc và/hoặc lãi vay một ngày thôi, cũng đủ để toàn bộ dư
nợ gốc của hợp đồng tín dụng bị chuyển sang nợ qúa hạn, phân loại vào trạng thái
nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) Đó là chưa nói đến việc phân tích định tính về khả năng trả nợ bị suy giảm, ước lượng mức tổn thất giá trị nợ gốc để phân vào nợ nhóm 2 Chính vì vậy, việc phân loại nợ phải được thực hiện tự động hóa một cách minh bạch trên phần mềm quản lý nợ toàn hệ thống khiến cho nợ quá hạn các nhóm tự động phát sinh trên hồ sơ quản lý món vay và cân đối kế toán
Yêu cầu cảnh báo sớm nợ nhóm 2 đòi hỏi Ngân hàng cho vay phải kiểm tra trực tiếp và thu thập thông tin về khách hàng để giải đáp ngay câu hỏi:
Nguyên nhân nào dẫn đến chậm trả lãi và / hoặc gốc của khách hàng?
Nguyên nhân trực tiếp: do lỗ một phi vụ, do công nợ không thu được, do mất thị phần, do lô sản phẩm hỏng không bán được, do bị lừa đảo…
Nguyên nhân sâu xa: do thiếu vốn chủ sở hữu, lỗ kéo dài, dòng ngân qũy âm, đầu tư tràn lan, sử dụng vốn sai mục đích, dự án kém hiệu qủa, mất thị trường đầu vào, đầu ra, năng lực quản lý yếu…
Trang 25Để phòng ngừa thủ thuật vay đáo hạn nợ như đã nêu thì kể cả trường hợp khách hàng có nguồn trả nợ nhóm 2, Ngân hàng cho vay cũng cần “viếng thăm” khách hàng để tìm hiểu xem nguồn trả nợ từ đâu Nếu khoản nợ nhóm 2 qúa hạn được khắc phục không qúa 30 ngày, nguồn trả nợ thực chất từ chu chuyển vốn kinh doanh lành mạnh thì có thể yên tâm về tình hình tài chính người vay Ngược lại nếu việc chậm lãi / gốc được xác định là có dấu hiệu, nguyên nhân bất ổn trong kinh doanh thì rõ ràng không còn là tình huống chậm trả lãi tạm thời mà cán bộ tín dụng phải báo cáo lãnh đạo tín dụng và đề xuất xử lý Lúc này việc phát hiện, cảnh báo sớm sẽ có tác động tích cực cho cả hai bên nhằm kịp thời khắc phục khó khăn Nếu qúa hạn do một lô hàng thua lỗ, một khoản công nợ đọng,… cũng còn lời cảnh báo của Ngân hàng cho vay để người vay tìm nguồn trả nợ, đồng thời xem xét, sửa đổi quyết định kinh doanh nhằm phòng tránh rủi ro Nếu quá hạn do những khó khăn tài chính sâu xa thì kết qủa này giúp cả hai bên cùng thống nhất về giải pháp trả nợ, thống nhất lộ trình xử lý nợ toàn diện Riêng với Ngân hàng cho vay, cần xây dựng sẵn một ma trận xử lý RRTD hợp lý tùy vào thực tế
Với ý nghĩa là nợ cần chú ý, nợ nhóm 2 được coi như chiếc nhiệt kế đo lường
và cảnh báo sớm mức độ RRTD tại Ngân hàng Cho dù là món vay lớn hay món vay nhỏ, cho vay doanh nghiệp nhà nước hay kinh tế dân doanh, cho vay có hay không có tài sản bảo đảm thì khả năng phát sinh nợ nhóm 2, nguy cơ chuyển từ nợ nhóm 2 sang nợ xấu là hết sức tiềm ẩn ở mọi Ngân hàng cho vay
Như vậy, việc xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh cần được đặc biệt quan tâm Hệ thống này phải bao gồm các thủ tục
và quy trình thích hợp để xây dựng một hệ thống cảnh báo toàn diện Một quy trình cảnh báo sớm điển hình bao gồm rất nhiều các yếu tố cơ bản, trong đó tính đầy đủ, cập nhật và chính xác của thông tin là yếu tố then chốt
* Thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng:
Bản thân hoạt động tín dụng luôn chứa đựng nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, chính vì vậy, các Ngân hàng khi xem xét cho vay đều phải thực hiện nghiêm ngặt quy trình quản lý tín dụng: từ khâu thẩm định, giải ngân cho vay đến các khâu kiểm tra trước
và sau khi cho vay… Việc thực hiện và quản lý nghiêm ngặt quy trình quản lý tín
Trang 26dụng sẽ giúp cho Ngân hàng tránh được rủi ro các khoản nợ xấu phát sinh, phát hiện
và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm và các thiếu sót trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Xuất phát từ yêu cầu này, việc xây dựng các trình tự và thủ tục đó sao cho có hiệu quả luôn là đòi hỏi bức xúc Sổ tay tín dụng cần quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng thủ tục, quy trình, trình tự mọi công việc có liên quan đến hoạt động tín dụng,
kể từ khi nhận đơn xin vay đến khi thu hồi được toàn bộ gốc và lãi của khoản vay
đó Việc xây dựng sổ tay tín dụng nhằm mục đích làm cho hoạt động tín dụng được thực hiện một cách quy củ và thống nhất
Thông thường quy trình tín dụng được thực hiện theo trình tự như bảng sau:
- Các điều khoản giao dịch
- Rủi ro về khả năng thanh toán
- Rủi ro về hồ sơ phát sinh từ đặc điểm riêng của từng giao dịch Phân tích và thẩm
- Các yếu tố về ngành kinh doanh
- Mức độ rủi ro của các khoản tín
Việc phân tích và đánh giá có thể được thực hiện trong nội bộ Ngân hàng hoặc kết hợp phân tích của bên thứ 3 (tổ chức đánh giá và xếp
Trang 27Giai đoạn Công việc Ghi chú
dụng hiện thời hạng tín dụng) Quy
trình này có thể hoặc không bao gồm việc đánh giá chi tiết việc mất khả năng thanh toán và
tỷ lệ thu hồi vốn
Đánh giá rủi ro tín
dụng (4)
Đánh giá rủi ro tín dụng trên cơ sở:
- Rủi ro không thực hiện được nghĩa
vụ theo hợp đồng
- Xây dựng các điều khoản tín dụng
để phòng tránh các rủi ro
Quá trình này tập trung đánh giá:
- Các rủi ro đối với từng khách hàng hơn là yếu tố ảnh hưởng lên nhóm khách hàng
- Tránh các rủi ro tín dụng hơn là việc xây dựng mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận
- Quá trình này mang tính chủ quan hơn là khách quan và có thể dựa vào cả đánh giá nội bộ và của bên tư vấn độc lập
Xây dựng hạn mức
tín dụng (5)
Đơn xin cấp tín dụng có thể được chấp thuận hoặc bị từ chối Việc chấp nhận có thể tuỳ thuộc vào một số điều kiện (thường là yêu cầu về hồ sơ thế chấp, các điều khoản ràng buộc tín dụng, hợp đồng)
Hiếm khi sử dụng các yếu tố về giá cả (lãi suất, phí) để làm ràng buộc tín dụng
Quản lý hạn mức
tín dụng (6)
Hạn mức tín dụng phải được thường xuyên kiểm tra và theo dõi để đảm bảo việc tuân thủ Công việc quản lý này tập trung vào việc không cho rút tiền quá hạn mức và yêu cầu khách
Phải đảm bảo giới hạn của luật pháp cho vay với khách hàng, không
để khách hàng vi phạm hạn mức đã ký kết
Trang 28Giai đoạn Công việc Ghi chú
hàng tuân thủ các điều kiện về hồ sơ
Liên tục thực hiện việc đánh giá, phân loại và xếp hạng tín dụng trong thời gian khách hàng đang vay vốn
Kiểm tra, kiểm
soát (8)
Ngân hàng cần kiểm tra, kiểm soát mọi thông tin liên quan đến khách hàng vay vốn
Không để Ngân hàng bị bất ngờ vì phát hiện ra khoản vay trở nên có vấn đề
Nguồn: “Xây dựng hệ thống cảnh báo rủi ro đối với các khoản nợ”- Trung tâm
thông tin tín dụng - NHNN Việt Nam
Đối với từng giai đoạn trong quy trình, Ủy ban Basel đều đưa ra các nguyên tắc để quản lý
Các nguyên tắc quản lý RRTD của Basel II
Basel II đã đưa ra 17 nguyên tắc vàng trong hoạt động quản lý RRTD của các NHTM Các nguyên tắc này được áp dụng cụ thể như sau:
Trong Giai đoạn 1 “Đề nghị cấp tín dụng”, nguyên tắc 8 đã chỉ rõ:
Hồ sơ tín dụng cần đủ mọi thông tin cần thiết để xác định tình hình tài chính hiện hành của khách hàng vay Các bộ phận xem xét khoản vay cần xác định được
hồ sơ tín dụng là hoàn chỉnh và có đủ các phê duyệt và văn bản cần thiết khác
Theo nguyên tắc 4, các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh phải được xác định
rõ ràng Những tiêu chí này cần chỉ rõ thị trường mục tiêu của Ngân hàng và đồng thời Ngân hàng phải hiểu biết rõ về khách hàng vay vốn cũng như mục đích và cơ cấu của khoản tín dụng
Việc xây dựng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh là cực kỳ quan trọng để phê duyệt tín dụng Các tiêu chí cần chỉ rõ đối tượng khách hàng đủ tiêu chuẩn được cấp tín dụng, các loại hình tín dụng và các điều khoản và điều kiện cấp tín dụng Các Ngân hàng cần nhận được đầy đủ thông tin để cho phép đánh giá toàn diện về
hồ sơ rủi ro của khách hàng vay Tuỳ theo loại hình RRTD và mối quan hệ tín dụng hiện tại, các yếu tố cần được cân nhắc và đưa vào quá trình phê duyệt tín dụng
Trang 29Nguyên tắc 6, Ngân hàng cần có quy trình rõ ràng trong việc phê duyệt các khoản tín dụng mới cũng như sửa đổi, gia hạn và tái tài trợ các khoản tín dụng hiện tại Nhiều cán bộ trong Ngân hàng tham gia vào quá trình cấp tín dụng Những cán
bộ này có thể là những người từ bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng
Để có được danh mục đầu tư tín dụng lành mạnh, Ngân hàng phải xây dựng quá trình đánh giá và phê duyệt trong quá trình cấp tín dụng Việc phê duyệt cần được thực hiện theo các hướng dẫn bằng văn bản của Ngân hàng và được đưa ra bởi cấp lãnh đạo thích hợp Cần có bằng chứng kiểm tra rõ ràng thể hiện sự tuân thủ các thủ tục phê duyệt và xác định rõ cá nhân hoặc tổ chức cung cấp số liệu đầu vào cũng như ra quyết định tín dụng
Nguyên tắc 7, việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên Đặc biệt, các khoản tín dụng cho các công ty và cá nhân có liên quan phải được phê duyệt trên cơ sở ngoại lệ cần theo dõi cẩn thận và triển khai các bước cần thiết để kiểm soát nhằm loại trừ rủi ro
Các giao dịch quan trọng với các bên có quan hệ phải được HĐQT phê duyệt,
và trong một số trường hợp phải được báo cáo cho cơ quan giám sát Ngân hàng
Giai đoạn 2 “Phân tích và thẩm định hồ sơ tín dụng” và Giai đoạn 3 “Phân tích và thẩm định hồ sơ tín dụng - rủi ro liên quan đến khách hàng”, cần tuân theo nguyên tắc 10, khuyến khích Ngân hàng phát triển và sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong phân tích Hệ thống xếp hạng cần nhất quán với bản chất, quy mô
và mức độ phức tạp của các hoạt động Ngân hàng Điều quan trọng là sự thống nhất
và chính xác của các mức xếp hạng được kiểm tra định kỳ bởi một bộ phận như nhóm xem xét tín dụng độc lập
Giai đoạn 4 “ Đánh giá và đo lường rủi ro các khoản vay”, các Ngân hàng có thể đo lường rủi ro khoản vay thông qua các mô hình cho điểm tín dụng, mô hình điểm số Z, và mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ theo Basel II Nếu các mô hình cho điểm tín dụng đánh giá rủi ro của khách hàng trên cơ sở cho điểm doanh nghiệp đó, xem doanh nghiệp đang ở mức độ rủi ro nào thì theo Basel II có thể tính được xác suất rủi ro dự kiến hay tổn thất dự kiến EL
Trang 30Còn đối với Giai đoạn 5 “Xây dựng hạn mức tín dụng”, nguyên tắc 5 đã chỉ ra: Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng và nhóm khách hàng để tạo ra các loại hình RRTD khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được ở trong sổ sách kế toán Ngân hàng
Các giới hạn này thường dựa một phần vào xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng vay, với các khách hàng có xếp hạng cao hơn sẽ có giới hạn rủi ro tiềm năng cao hơn Cũng cần xây dựng giới hạn đối với các ngành, lĩnh vực kinh tế, khu vực địa lý và các sản phẩm cụ thể Để có hiệu quả, các giới hạn này cần mang tính ràng buộc và không đi theo nhu cầu của khách hàng
Theo nguyên tắc 2 của ủy ban Basel khi quy trình tín dụng được xây dựng và thực hiện tốt sẽ cho phép Ngân hàng: (i) Duy trì các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh; (ii) Theo dõi và kiểm soát rủi ro tín dụng; (iii) Đánh giá đúng các cơ hội kinh doanh mới; (iv) Xác định và quản lý các khoản tín dụng có vấn đề
Đặc biệt, khi Ngân hàng tham gia vào hoạt động cấp tín dụng quốc tế, ngoài các RRTD thông thường, họ còn chịu thêm các rủi ro kèm theo các điều kiện ở nước chủ nhà hay đối tác Các Ngân hàng tham gia vào quá trình cấp tín dụng quốc
tế phải có đầy đủ các quy trình để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro quốc gia và rủi ro chuyển nhượng trong các hoạt động cho vay và đầu tư quốc tế Việc theo dõi các yếu tố về rủi ro quốc gia cần kết hợp (i) tiềm năng vi phạm của các đối tác thuộc khu vực tư nhân phát sinh từ các yếu tố kinh tế theo từng nước, (ii) hiệu lực pháp lý của các hợp đồng vay và thời điểm cũng như khả năng xử lý tài sản thế chấp trong khuôn khổ luật quốc gia Chức năng này thường thuộc trách nhiệm của các chuyên gia có kinh nghiệm về các vấn đề này
* Kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng
Kiểm tra, giám sát để đảm bảo chắc chắn rằng khách hàng vay không làm những việc rủi ro bằng món tiền của Ngân hàng cho vay Ngân hàng thực hiện việc kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi giải ngân, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay theo định kỳ Đây là một yêu cầu bắt buộc trong quy trình tín dụng của bất cứ một NHTM nào
Trang 31Các Ngân hàng sử dụng rất nhiều các biện pháp khác nhau để kiểm tra, giám sát khoản vay, bao gồm:
- Tiến hành kiểm tra, giám sát tất cả các khoản tín dụng theo định kỳ nhất định, đồng thời cũng tiến hành kiểm tra bất thường đối với những khoản tín dụng có dấu hiệu rủi ro cao
- Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung quá trình kiểm tra một cách thận trọng và chi tiết, bảo đảm rằng những khía cạnh quan trọng nhất của mỗi khoản vay phải được kiểm tra
- Quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản tín dụng có vấn đề, tăng cường kiểm tra giám sát khi phát hiện những dấu hiệu không lành mạnh liên quan đến khoản vay
- Trong trường hợp tốc độ phát triển của nền kinh tế suy giảm hay các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục cho vay của Ngân hàng phải đối mặt với những vấn đề lớn thì Ngân hàng cần phải tăng cường các biện pháp kiểm soát tín dụng
Một khía cạnh khác của hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng là công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi một bộ phận độc lập với hoạt động tín dụng đó là phòng kiểm tra nội bộ, có chức năng đưa ra các đánh giá một cách khách quan đối với hoạt động tín dụng Trên cơ sở đó, bộ phận kiểm tra nội bộ thực hiện chức năng tư vấn cho bộ phận
nghiệp vụ và là công cụ quản lý của ban lãnh đạo Ngân hàng
b Giải pháp xử lý nợ xấu
- Đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng: Thông qua việc phân tích tổng quan tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng thanh toán các khoản nợ, cán bộ tín dụng đánh giá khách hàng từ đó có biện pháp ứng xử phù hợp
- Phân loại nhóm nợ phù hợp: Cán bộ tín dụng dựa vào hai phương pháp để phân loại lại nhóm nợ cho khách hàng trong từng thời kỳ Dựa trên yếu tố định lượng: Được xem xét qua khía cạnh thời gian quá hạn của các khoản nợ Dựa trên yếu tố định tính: xem xét tiềm lực và khả năng thanh toán nợ của khách hàng Để phân loại nợ một cách chính xác đòi hỏi TCTD phải xây dựng một hệ thống đánh
Trang 32giá, xếp hạng tín nhiệm đối với khách hàng một cách chặt chẽ, kết hợp cả yếu tố định lượng và định tính
- Lập kế hoạch xử lý: Sau khi phân tích tổng quan về khả năng tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, cán bộ tín dụng lên kế hoạch hỗ trợ khách hàng cũng như xử lý khoản nợ vay
* Cơ cấu lại thời hạn trả nợ: là việc Ngân hàng chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn
trả nợ và/hoặc gia hạn nợ cho khách hàng khi khách hàng không có khả năng trả nợ gốc và/hoặc lãi đúng thời hạn ghi trong hợp đồng nhưng được Ngân hàng đánh giá
là có khả năng trả được đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ cơ cấu lại
Áp dụng trong trường hợp khi khách hàng có khó khăn tài chính tạm thời, không có khả năng trả nợ đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng và các thỏa thuận
bổ sung do nguyên nhân khách quan, có văn bản đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ, được Ngân hàng đánh giá tài sản, công nợ đảm bảo cân đối với dư nợ và khách hàng có khả năng trả nợ trong thời hạn đề nghị cơ cấu lại
* Xử lý tài sản bảo đảm nợ vay (đối với trường hợp khoản nợ có TSBĐ)
- Bên có TSBĐ bị giải thể, phá sản
Trang 33- TSBĐ phải được xử lý để bên có TSBĐ thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
- Các trường hợp khác do Ngân hàng và bên có TSBĐ thỏa thuận hoặc pháp
luật quy định
* Trích lập dự phòng RRTD và xử lý rủi ro: là việc Ngân hàng sử dụng quỹ
dự phòng rủi ro để xử lý những khoản nợ xấu từ nội bảng ra hạch toán theo dõi ngoại bảng và tiếp tục theo dõi, có biện pháp thu hồi nợ đầy đủ theo hợp đồng đã
ký, cam kết đã thỏa thuận với khách hàng
* Chuyển nợ thành vốn góp: là việc Ngân hàng chuyển dư nợ cho vay của
khách hàng thành vốn góp vào doanh nghiệp theo hình thức góp vốn, mua cổ phần với mục đích tham gia vào quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp hiệu quả hơn nhằm thu hồi nợ có vấn đề Nguồn vốn góp vào doanh nghiệp từ vốn điều lệ và quỹ
dự trữ của Ngân hàng
Áp dụng trong trường hợp việc chuyển nợ vay thành vốn góp sẽ hiệu quả hơn việc thu hồi nợ vay của doanh nghiệp bằng các biện pháp khác
* Điều kiện áp dụng:
Khách hàng có phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả
Giá trị vốn góp, mua cổ phần của Ngân hàng ghi nhận vào giá trị doanh nghiệp không thấp hơn giá trị khoản vay (bao gồm cả dư nợ gốc, lãi và các khoản phí còn lại) được chuyển thành vốn góp
* Bán nợ cho VAMC: là việc bán các khoản nợ xấu đang hạch toán nội bảng
tại Ngân hàng theo phương thức bán nợ và nhận trái phiếu đặc biệt của Công ty
quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
* Nhận chính TSBĐ thay thế cho nghĩa vụ trả nợ:
* Các biện pháp khác: Phù hợp với từng khoản nợ và cơ chế xử lý nợ xấu
của từng Ngân hàng
1.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro nợ xấu tại NHTM
a Nhân tố bên ngoài
- Môi trường kinh tế - xã hội
Môi trường kinh tế lành mạnh, minh bạch, với sự phát triển đầy đủ của các thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản là nhân tố ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động quản trị rủi ro nợ xấu Ngân hàng
Trang 34Trong một nền kinh tế, chính phủ ra đưa ra các chính sách tiền tệ và Ngân hàng là đơn vị thực hiện các chính sách đó Tuy nhiên, những chính sách đó có thể
có lợi cho Ngân hàng, nhưng cũng có thể có hại Khi mà Ngân hàng Nhà nước thay đổi lãi suất huy động, hoặc tỷ lệ dự trữ bắt buộc… nó làm thay đổi mọi kế hoạch của Ngân hàng Khi mà lãi suất huy động tăng lên làm cho Ngân hàng gặp khó khăn trong việc cho vay Với mức lãi suất huy động cao thì lãi suất đối với hoạt động tín dụng cũng phải được đẩy lên để đảm bảo lợi nhuận cho Ngân hàng Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc khách hàng trả lãi và gốc cho Ngân hàng là khó khăn hơn, rủi ro tín dụng cao lên
Yếu tố chính trị và xã hội tác động tới hoạt động tín dụng của Ngân hàng ở khía cạnh khi mà tình hình chính trị bất ổn làm xáo trộn mọi vấn đề trong xã hội bao gồm cả các hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Tình trạng này làm cho các doanh nghiệp bị gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán cho Ngân hàng Vì vậy rủi ro tín dụng khi mà tình hình chính trị bất ổn là rất cao
- Môi trường tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh, bão lũ… là những yếu tố bất khả kháng, yếu tố này không thể lường trước được Bản thân các doanh nghiệp vay vốn cũng không thể dự tính được Khi rủi ro xảy ra, họ gần như mất khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng Đồng nghĩa với điều đó là việc Ngân hàng mất vốn hay rủi
ro tín dụng xảy ra
- Môi trường pháp lý
Hầu hết chính phủ các nước đều nhận ra tác động tiêu cực mà các khoản nợ xấu có thể gây ra đối với hệ thống NHTM và cả nền kinh tế Vì vậy, chính phủ đã thực hiện các biện pháp như ban hành các văn bản, luật, hay các quy định về việc phòng ngừa và xử lý nợ xấu Tạo ra một môi trường pháp lý rõ ràng, minh bạch thuận lợi và đủ mạnh để giải quyết nợ xấu Ví dụ như phải có các luật về thế chấp, tịch thu tài sản, luật phá sản, xây dựng các chính sách thích hợp, thay đổi suy nghĩ
“giới hạn ngân sách mềm” bằng “giới hạn ngân sách cứng” đối với những doanh nghiệp có vấn đề
Trang 35Ở các nước phát triển trên thế giới, nhà nước đã ban hành luật để xử lý thu hồi nợ xấu vì đây là vấn đề quan trọng của đất nước Cơ chế pháp lý có hiệu quả là cần phải có các biện pháp thích hợp để xử lý nợ, tránh tình trạng thủ tục rườm rà kéo dài qua nhiều tầng nấc
- Nhân tố xuất phát từ phía khách hàng
Nhân tố không lành mạnh từ phía khách hàng là việc khách hàng quản lý vốn vay yếu kém, lừa đảo, sử dụng vốn sai mục đích, trốn tránh trách nhiệm bảo lãnh… Tất cả các nhân tố trên khiến Ngân hàng gặp rủi ro trong việc thu hồi vốn vay, dẫn đến nợ xấu phát sinh
b Nhân tố bên trong
Nhân tố xuất phát từ phía Ngân hàng gồm:
+ Cơ chế quản lý tín dụng
Mỗi Ngân hàng có một cơ chế quản lý tín dụng riêng nhưng cơ bản đều tuân theo cơ chế quản lý tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và mục tiêu chung đều là giảm thiểu rủi ro thấp nhất trong hoạt động kinh doanh của mình Ví dụ trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng phải thấp hơn 3% trong tổng dư nợ cho vay Tuy nhiên các NHTM vẫn chưa xây dựng khuôn khổ cho hoạt động quản trị rủi
ro theo thông lệ quốc tế khi mà đòi hỏi hội nhập đang ngày càng gia tăng
+ Công tác quản trị tín dụng
Công tác quản trị tín dụng là công việc rất quan trọng đối với Ngân hàng Tuy nhiên trong quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc, bộc lộ những yếu kém nhất định giữa một bên là chỉ tiêu kế hoạch, lợi nhuận đạt được với một bên là rủi
ro Điều quan trọng nhất là phải hài hòa được hai mục tiêu trên nhưng đây là công việc rất khó và mỗi Ngân hàng chỉ đạt được những mục tiêu trên trong từng khôn khổ nhất định Công tác quản trị tín dụng được hiểu qua một số biểu hiện sau đây: quy trình nghiệp vụ Ngân hàng, cơ cấu cho vay, đạo đức và trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng, công tác kiểm soát nội bộ Ngân hàng
+ Năng lực quản trị rủi ro
Trình độ và năng lực của cán bộ làm công tác quản trị rủi ro tín dụng yếu kém cũng là một nhân tố gây ra rủi ro trong tín dụng Một người cán bộ yếu kém về
Trang 36năng lực không thể nhận biết rủi ro để cảnh báo cho Ngân hàng dẫn đến chậm trễ trong việc đưa ra các biện pháp phòng ngừa và xử lý khi rủi ro xảy ra
Tại Vietinbank ý kiến của cán bộ làm công tác quản trị rủi ro còn bị chi phối bởi Ban lãnh đạo của các chi nhánh, mặc dù bộ phận làm công tác quản trị rủi ro là độc lập nhưng vẫn họ vẫn hưởng thu nhập theo chỉ tiêu thực hiện kế hoạch những chi nhánh mà mình quản lý Khi Ban lãnh đạo của Chi nhánh đó can thiệp vào ý kiến của bộ phận này thì báo cáo mà họ gửi về Hội sở chính cũng thay đổi theo và rủi ro tiềm ẩn là hoàn toàn có thể
+ Công nghệ Ngân hàng
Trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, Ngân hàng luôn là những người đi đầu trong việc ứng dụng các tiến bộ trong công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động Sự phát triển của công nghệ Ngân hàng tác động đến
hệ thống thông tin và kế toán trong Ngân hàng, sẽ dẫn đến thay đổi các thủ tục kiểm soát và góp phần quản trị rủi ro nợ xấu có chất lượng
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản trị rủi ro nợ xấu tại một số Ngân hàng thương mại
1.2.1 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Agribank Việt Nam
Trong năm 2015, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Agribank đã chủ động xây dựng mục tiêu đưa nợ xấu về dưới mức 3% Đây cũng là một năm mà nhiều giải pháp quan trọng trong thực hiện Đề án tái
cơ cấu Agribank được triển khai một cách đồng bộ và quyết liệt nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng (NH) Sau 3 năm, kể từ năm 2012 đến nay, Agribank đã đưa tỷ lệ nợ xấu từ mức rất cao về dưới mức 3% theo đúng mục tiêu đã
đề ra, góp phần hoàn thành và rút ngắn lộ trình giảm nợ xấu của toàn ngành NH
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, Agribank đã chủ động xây dựng đồng bộ các giải pháp, quyết liệt triển khai các phương án xử lý nợ xấu trong từng năm và Đề án tái cơ cấu Agribank giai đoạn 2013 - 2015, đảm bảo mục tiêu đưa tỷ
lệ nợ xấu về dưới mức 3% trước thời điểm 30/9/2015 Agribank đã hoàn thành mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ đến thời điểm 31/8/2015 về mức 2,81%, đến 30/9/2015 là 2,53% và đến 31/10/2015 là 2,41%
Việc xử lý nợ xấu đòi hỏi Agribank phải áp dụng và kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp như: nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu phát sinh; cơ cấu lại
Trang 37thời hạn trả nợ cho KH; nhận tài sản bảo đảm thay thế nghĩa vụ trả nợ; chuyển nợ vay thành vốn góp; sử dụng dự phòng để xử lý nợ xấu; xử lý, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ; bán nợ xấu cho các tổ chức khác và Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)
Đặc biệt, đối với các khoản nợ xấu đã bán cho VAMC, để tháo gỡ khó khăn cho KH, Agribank đã hỗ trợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi đối với các khoản nợ của KH có đủ điều kiện, có phương án sản xuất kinh doanh khả thi, hiệu quả giúp KH vượt qua những khó khăn trong giai đoạn hiện nay và phục hồi khả năng trả nợ
Trong quá trình cơ cấu lại nợ, Agribank luôn quán triệt phải thực hiện đúng tính chất khoản vay theo quy định của Chính phủ, của NHNN Song song với việc
áp dụng các biện pháp cơ cấu nợ xấu, Agribank vẫn phải bám sát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm soát dòng tiền của KH, đảm bảo thu hồi vốn vay đối với các khoản nợ được cơ cấu lại
Xác định xử lý nợ xấu là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong số các mục tiêu của Đề án tái cơ cấu, Agribank đã triển khai đồng bộ và quyết liệt nhiều biện pháp nhằm kiểm soát chất lượng tín dụng, từng bước kiềm chế và giảm dần nợ xấu Chỉ tính riêng từ tháng 11/2013 đến nay, đã có gần 300 văn bản về cơ chế, quy định, quy trình nghiệp vụ được Agribank ban hành, trong đó có trên 150 văn bản về lĩnh vực tín dụng
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng quản trị, điều hành, củng cố hệ thống kiểm tra kiểm toán nội bộ, Agribank cũng đã hết sức nỗ lực chỉ đạo các chi nhánh trong toàn hệ thống tập trung xử lý nợ xấu, tăng cường cán bộ hỗ trợ các các chi nhánh có tỷ lệ nợ xấu cao Hàng trăm cán bộ chủ chốt, có kinh nghiệm về công tác tín dụng của toàn hệ thống đã được Trụ sở chính trưng tập Các đoàn công tác do các thành viên Hội đồng Thành viên, thành viên Ban điều hành trực tiếp phụ trách được phân công làm việc tại từng chi nhánh, thực hiện phân tích từng khoản nợ có vấn đề, làm việc với từng KH để bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ KH duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh tạo nguồn thu trả nợ ngân hàng, quyết định phương
án xử lý nợ đảm bảo hài hòa lợi ích, từ đó động viên KH hợp tác trả nợ vay Agribank cũng luôn là ngân hàng tiên phong trong việc chủ động điều chỉnh giảm
Trang 38lãi suất cho vay nhằm chia sẻ khó khăn với KH, đặc biệt là KH hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ…
Xử lý nợ xấu là một vấn đề rất khó khăn đối với toàn ngành NH nói chung và đối với Agribank nói riêng Quá trình xử lý nợ cần phải có giải pháp, kế hoạch cụ thể, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng Với thực trạng tài sản bảo đảm phần lớn là bất động sản, trong khi thị trường này vẫn còn trầm lắng, nên việc xử lý
nợ cần có thời gian và phải hài hòa lợi ích đối với các bên liên quan
Hiện nay, mặc dù khuôn khổ pháp lý liên quan đến xử lý nợ xấu về cơ bản đã đầy đủ, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều vướng mắc như: vướng mắc trong quá trình xử lý nợ, xử lý tài sản bảo đảm, trách nhiệm của người đi vay, quyền hạn của chủ nợ… là nguyên nhân quan trọng dẫn tới việc không xử lý kịp thời được nợ xấu Điều này khiến các cơ quan hữu quan gặp nhiều vướng mắc trong việc xử lý tranh chấp về tài sản bảo đảm; nhiều trường hợp thi hành án xử lý tài sản bảo đảm kéo dài hàng năm do KH chây ỳ, không hợp tác
Mặt khác, với tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn chiếm khoảng 75%
dư nợ cho vay nền kinh tế, Agribank thực hiện nhiệm vụ cho vay theo các chương trình của Chính phủ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; trong đó có các ưu đãi về các điều kiện vay vốn (như: điều kiện về tài sản bảo đảm) nhằm hỗ trợ, tạo thuận lợi cho người nông dân tiếp cận nguồn vốn NH, phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn nông thôn Vì vậy, việc xử lý, thu hồi nợ xấu phát sinh của các chương trình này cũng gặp nhiều khó khăn Agribank có một số đề xuất như sau:
Kiến nghị Thống đốc NHNN trình Chính phủ báo cáo Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số luật để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế xử lý nợ, tài sản bảo đảm; giao các Bộ, ngành nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật trình Chính phủ tháo gỡ các khó khăn vướng mắc về bán đấu giá, xử lý tài sản bảo đảm, chính sách thuế, đăng ký quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, bán đấu giá tài sản, đặc biệt là bất động sản nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các tổ chức tín dụng, VAMC trong xử lý tài sản bảo đảm, bán đấu giá tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, xử lý nợ xấu
Trang 39Đề nghị các Ban, ngành liên quan có cơ chế hỗ trợ Agribank trong việc xử lý
nợ xấu của các chương trình cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ
Nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu phát sinh, đảm bảo tỷ lệ nợ xấu dưới 3% là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Agribank trong thời gian tới Cụ thể:
Agribank đã thành lập Tổ chỉ đạo kiểm soát nợ xấu gồm: Ban lãnh đạo, lãnh đạo bộ phận chuyên môn tại Trụ sở chính trực tiếp theo dõi tình hình diễn biến nợ xấu toàn hệ thống; ban hành văn bản chỉ đạo chi nhánh thường xuyên chủ động rà soát, nắm bắt khả năng trả nợ của KH vay vốn, nhất là các khoản nợ có khả năng phải chuyển sang nợ xấu trong kỳ, báo cáo phương án xử lý nợ có khả năng chuyển
nợ xấu; chủ động kiểm soát được nợ xấu phát sinh
Giao kế hoạch xử lý nợ xấu đến từng chi nhánh, từng cán bộ, gắn quyền lợi của cán bộ với kết quả xử lý nợ xấu và có biện pháp xử lý đối với những chi nhánh không quyết liệt, không hoàn thành kế hoạch xử lý nợ (Agribank 2015)
1.2.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Vietcombank Việt Nam
“Đổi mới + Quyết liệt + Kết nối” là phương châm và cũng là hành động chủ
đạo của Vietcombank trong xử lý nợ xấu trong thời gian qua Phương châm này “đã giúp Vietcombank trong 3 năm xử lý được khoảng 24.000 tỷ đồng nợ xấu, đạt 114%
kế hoạch đề ra” Trong đó, Vietcombank đã tự xử lý nợ xấu bằng các biện pháp như phát mại tài sản để thu hồi nợ, thu nợ trực tiếp khách hàng, nhận tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ trả nợ, chuyển nợ thành vốn góp, sử dụng dự phòng khoảng 18.000 tỷ đồng và bán nợ xấu cho VAMC khoảng 6.000 tỷ đồng Riêng 8 tháng qua, Vietcombank đã xử lý được khoảng 7.200 tỷ đồng nợ xấu, đạt 121% kế hoạch 7 tháng năm 2015 (6.000 tỷ đồng), đạt 103% kế hoạch năm 2015 NHNN phê duyệt (7.000 tỷ đồng), đúng như lộ trình đã đăng ký với NHNN Trong đó, việc bán nợ cho VAMC đã thực hiện lớn hơn kế hoạch và trước thời gian quy định của NHNN
“Đổi mới” ở đây là đổi mới trong chủ động đánh giá các nguyên nhân cội rễ làm phát sinh nợ xấu và những nguyên nhân cơ bản khiến cho việc thu hồi, xử lý nợ xấu còn chậm Từ đó có định hướng, biện pháp thiết thực và tổng thể để ngăn chặn
và giải quyết triệt để các nguyên nhân trên, đặc biệt là những nguyên nhân chủ
Trang 40quan Sự đổi mới luôn phải đi đôi với một tinh thần “Quyết liệt” Cả hệ thống Vietcombank từ Hội đồng quản trị, Ban điều hành, các phòng, ban, Hội sở chính và các Chi nhánh đều tập trung cao và quyết liệt trong công tác xử lý nợ xấu Ví dụ, đối với chi nhánh có nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro từ 5 tỷ đồng trở lên phải thành lập Ban xử lý nợ có vấn đề do Giám đốc chi nhánh là Trưởng ban Những chi nhánh có
tỷ lệ nợ xấu lớn từ 10% trở lên phải xây dựng “Đề án Ngân hàng tốt, Ngân hàng xấu”; đưa ra các chỉ tiêu cụ thể và đề xuất giải pháp cho từng Ngân hàng theo lộ trình đến năm 2017 Kiên quyết xử lý bằng các biện pháp mạnh (khởi kiện, đưa ra
cơ quan điều tra ) với những khách hàng chây ỳ, không thiện chí Đồng thời nỗ lực, đeo bám và đưa ra các biện pháp một cách linh hoạt đối với các khách hàng còn nguồn thu nợ, có thiện chí để đạt kết quả thu nợ tốt nhất Và cuối cùng là “Kết nối” Nếu chỉ dừng lại ở đổi mới hay quyết liệt mà không có sự kết nối thường xuyên với các cơ quan, ban ngành như: Tòa án Nhân dân các cấp, Tổng cục Thi hành án - Bộ
Tư pháp, các cục thi hành án địa phương, cơ quan pháp luật… để hỗ trợ công tác xử
lý nợ đặc biệt tại các địa bàn có nợ xấu lớn, có các hồ sơ vướng mắc trong quá trình khởi kiện, thi hành án… thì nhiệm vụ xử lý nợ xấu sẽ không thể hoàn thành…(Vietcombank 2015)
1.2.3 Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro nợ xấu cho Vietinbank Thái Nguyên
Nằm trong khó khăn chung của nền kinh tế, khách hàng của Vietinbank Thái Nguyên cũng gặp những khó khăn nhất định dẫn đến Vietinbank Thái Nguyên cũng chịu ảnh hưởng theo Từ năm 2014 nợ xấu của Vietinbank Thái Nguyên là 50,52 tỷ đồng, năm 2015 là 46,21 tỷ đồng và năm 2016 là 152,73 tỷ đồng (vượt tỷ lệ 3%)
Học hỏi kinh nghiệm xử lý nợ của các nước trên thế giới và các Ngân hàng bạn, Vietinbank Thái Nguyên đã tiến hành có nhiều cải tiến đáng kể:
Để kiểm soát chất lượng tín dụng, từng bước kiềm chế và giảm dần nợ xấu Agribank đã hoàn thiện và ban hành khá nhiều văn bản về lĩnh vực tín dụng nhưng liệu cán bộ tín dụng của Agribank có nghiên cứu hết những văn bản đó không lại là một vấn đề Vietinbank Thái Nguyên xác định chỉ có tuân thủ chặt chẽ quy định, quy trình thẩm định và quyết định tín dụng….thì mới có thể kiểm soát chất lượng tín dụng Do đó công tác ban hành và phân phối công văn đến từng cán bộ của Vietinbank Thái Nguyên cũng được thực hiện một cách đầy đủ Tuy nhiên số lượng