Cùng với sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu mua sắm, sinh hoạt phục vụ cho tiêu dùng tăng nhanh. Nắm bắt được xu hướng này, nhiều ngân hàng thương mại đã triển khai hàng loạt các sản phẩm cho vay tiêu dùng hấp dẫn nhằm thu hút khách hàng. Thị trường cho vay tiêu dùng ngày càng được mở rộng, hoạt động hiệu quả và mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Để tồn tại và phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần ngay từ khi bắt đầu đầu thành lập BIDV đã cho triển khai sản phẩm cho vay tiêu dùng và ngày càng hoàn thiện nó trong quá trình hoạt động.
Trang 1TRẦN HỢP QUANG
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Ngành: Quản trị kinh doanh
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2TRẦN HỢP QUANG
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 8.34.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ MAI YẾN
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được dùng để bảo vệ một học vị nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Hợp Quang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều
cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các
cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các khoa, văn phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giảng viên
hướng dẫn TS Phạm Thị Mai Yến
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các cô chú, anh chị em và bạn bè, tôi xin chân thành cảm ơn Thêm nữa, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Hợp Quang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Đóng góp của luận văn 6
5 Kết cấu luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại và sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại 7
1.1.1 Lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại 7
1.1.2 Sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại 15
1.1.3 Phát triển các sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại 23
1.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại 29
1.2 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại một số ngân hàng thương mại trong nước và bài học rút ra cho BIDV chi nhánh Thái Nguyên 32
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 32
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng của Ngân hàng TMCP Ngoại thươngViệt Nam 33
Trang 61.2.3 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng của Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam 34
1.2.4 Bài học rút ra cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Thái Nguyên 34
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 36
2.2.2 Phương pháp phân tích thông tin 37
2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 38
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 38
2.3.1 Quy mô và tốc độ cho vay tiêu dùng 38
2.3.2 Lợi nhuận từ cung cấp sản phẩm cho vay tiêu dùng 39
2.3.3 Tỷ lệ nợ xấu 39
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG BIDV CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN 41
3.1 Giới thiệu về ngân hàng BIDV chi nhánh Thái Nguyên 41
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên (BIDV chi nhánh Thái Nguyên) 41
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn 42
3.1.3 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh 43
3.1.4 Đặc điểm địa bàn có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của BIDV chi nhánh Thái Nguyên 44
3.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh 46
3.2 Thực trạng phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng BIDV chi nhánh Thái Nguyên 49
3.2.1 Thực trạng về quy mô và cơ cấu của sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng 49
3.2.2 Thực trạng về các hoạt động phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng 56
Trang 73.2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển sản phẩm cho vay tiêu
dùng tại ngân hàng 68
3.4 Đánh giá sự phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng BIDV chi nhánh Thái Nguyên 74
3.4.1 Ưu điểm 74
3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 75
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG BIDV CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN 77
4.1 Định hướng và mục tiêu phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng BIDV chi nhánh Thái Nguyên 77
4.1.1 Định hướng 77
4.1.2 Mục tiêu 78
4.2 Giải pháp 78
4.2.1 Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ hoạt động tìm kiếm, phân tích khách hàng 78
4.2.2 Hoàn thiện và đa dạng hóa sản phẩm cho vay tiêu dùng 80
4.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 83
4.2.4 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến - hỗn hợp trong ngân hàng 87
4.2.5 Giải pháp khác 88
4.3 Kiến nghị 89
4.2.1 Kiến nghị với ngân hàng nhà nước 89
4.3.2 Kiến nghị với cơ quan quản lý vĩ mô nhà nước 90
4.3.3 Kiến nghị với BIDV 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 94
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả các hoạt động chính của ngân hàng giai đoạn 2015 - 2017 46
Bảng 3.2: Cơ cấu cho vay tiêu dùng tại BIDV chi nhánh Thái Nguyên 51
Bảng 3.3: Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn trong cho vay tiêu dùng tại ngân hàng BIDV chi nhánh Thái Nguyên 54
Bảng 3.4: Số lượng khách hàng và dư nợ tín dụng bị sử dụng sai mục đích 55
Bảng 3.5: Một số hình thức tìm kiếm cách khách của ngân hàng 56
Bảng 3.6: Bảng chấm điểm phân tích khách hàng 57
Bảng 3.7: Kết quả khảo sát khách hàng về công tác tìm kiếm và phân tích khách hàng 59
Bảng 3.8: Kết quả khảo sát khách hàng về công tác đa dạng hóa sản phẩm 61
Bảng 3.9: Một số khóa học đào tạo nhân viên tín dụng 64
Bảng 3.10: Kết quả khảo sát khách hàng về nhân viên ngân hàng 65
Bảng 3.11: Triển khai một số hoạt động, chương trình khuyến mại cho vay ưu đãi 66
Bảng 3.12: Một số hoạt động quảng cáo tiếp thị 67
Bảng 3.13: Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng 69
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Chức năng của ngân hàng thương mại 8
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh BIDV chi nhánh Thái Nguyên 44
Biểu đồ 3.1: Kết quả lợi nhuận trước thuế của ngân hàng giai đoạn 2015 -2017 48
Biểu đồ 3.2: Dư nợ tín dụng của sản phẩm cho vay tiêu dùng 50
Biểu đồ 3.3: Lợi nhuận từ một số hoạt động của ngân hàng BIDV chi nhánh Thái Nguyên 53
Biểu đồ 3.4: Số lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng của BIDV CN Thái Nguyên 60
Biểu đồ 3.5: Cơ cấu nguồn nhân lực tín dụng tại ngân hàng 63
Biểu đồ 3.6: Chi phí bảo trì và nâng cấp phầm mềm hàng năm tại BIDV 70
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu mua sắm, sinh hoạt phục vụ cho tiêu dùng tăng nhanh Nắm bắt được xu hướng này, nhiều ngân hàng thương mại đã triển khai hàng loạt các sản phẩm cho vay tiêu dùng hấp dẫn nhằm thu hút khách hàng Thị trường cho vay tiêu dùng ngày càng được mở rộng, hoạt động hiệu quả và mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng
Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng không nằm ngoài xu hướng đó Để tồn tại và phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần ngay từ khi bắt đầu đầu thành lập BIDV đã cho triển khai sản phẩm cho vay tiêu dùng và ngày càng hoàn thiện nó trong quá trình hoạt động Với phương châm cung cấp, sản phẩm dịch vụ tốt nhất đến khách hàng, BIDV được cộng đồng trong nước và quốc tế ghi nhận là một trong những thương hiệu ngân hàng lớn nhất Việt Nam, là sự lựa chọn, tín nhiệm của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp hàng đầu của cả nước, cá nhân trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính ngân hàng, trong đó có cho vay tiêu dùng
Có được thành công này phải kể đến sự đóng góp của các chi nhánh và phòng giao dịch BIDV trên cả nước Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên (BIDV chi nhánh Thái Nguyên) là một trong những chi nhánh điển hình Với các dòng sản phẩm đa dạng như huy động vốn, cho vay, bảo lãnh thanh toán, tài trợ xuất khẩu song các sản phẩm về cho vay tiêu dùng luôn là sản phẩm có số lượng khách hàng vay đông nhất và mang lại lợi nhuận cao cho Chi nhánh Cụ thể đến thời điểm 31/12/2017, số lượng khách hàng
sử dụng sản phẩm cho vay tiêu dùng tại chi nhánh đạt 1.734 khách hàng, dư nợ cho vay tiêu dùng đạt 473 tỷ đồng trên 1.359 tỷ đồng dư nợ bán lẻ, chiếm 34,8% tổng
dư nợ bán lẻ và chỉ đạt 0,65% tổng dư nợ của chi nhánh (tại thời điểm 31/12/2017 tổng dư nợ của chi nhánh là 7.172 tỷ đồng) Như vậy có thể thấy so với các sản phẩm khác thì sản phẩm cho vay tiêu dùng vẫn chiếm tỷ trọng chưa cao cả về doanh
số lẫn dư nợ cho vay và chưa phát huy được vai trò vốn có của nó Mặt khác, thực
Trang 12tiễn cho thấy, việc đánh giá các khoản cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh không hề đơn giản do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan xuất phát từ bên ngoài và bên trong nội bộ ngân hàng đặt ra nhiều vấn đề và thách thức cho Chi nhánh: như quản
lý thông tin khách hàng, xây dựng kênh bán hàng, quản trị rủi ro, lãi suất
Chính vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu của Lê Quốc Thái (2014)
Tác giả Lê Quốc Thái (2014) thực hiện nghiên cứu về “Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng – Nghiên cứu tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” Trong nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
và khảo sát nhân viên, khách hàng sử dụng sản phẩm cho vay tiêu dùng của BIDV
để đánh giá sự phát triển của dịch vụ
Từ các nghiên cứu đi trước, tác giả Lê Quốc Thái đã tổng hợp và đề xuất những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng như sau:
+ Tiềm lực tài chính của ngân hàng
+ Đội ngũ nhân viên ngân hàng
+ Chính sách tín dụng của ngân hàng
+ Năng lực quản lý của ngân hàng
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Yến (2015)
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Yến (2015) thực hiện nghiên cứu về “Phát triển dịch vụ ngân hàng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam” Thực hiện nghiên cứu, Nguyễn Thị Hồng Yến đã tiến hành khảo sát, lấy ý kiến khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của BIDV thông qua bộ phiếu khảo sát (gồm 250 phiếu) với thang đo được xây dựng sẵn từ việc kế thừa các nghiên cứu đi trước Từ kết quả khảo sát, tác giả đánh giá được những thành công cũng như những điểm còn hạn chế trong phát triển dịch vụ ngân hàng của BIDV Đồng thời, tác giả
Trang 13tìm ra được những yếu tố tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển dịch vụ của BIDV
Qua kết quả phân tích, nghiên cứu cho thấy 5 yếu tố tác động đến sự phát triển của dịch vụ ngân hàng tại BIDV gồm:
+ Khả năng tài chính của ngân hàng: Ngân hàng có sức mạnh về tài chính có thể đảm bảo khả năng mở rộng quy mô, đầu tư vào sản phẩm công nghệ cao như mạng lưới ATM, dịch vụ trực tuyến…
+ Tổ chức bộ máy của ngân hàng: Ngân hàng bố trí bộ máy tổ chức hợp lý, số lượng phòng ban phù hợp là cơ sở để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng + Chất lượng nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là yếu tố có vai trò quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, nắm bắt tốt nhu cầu khách hàng sẽ cung cấp đến khách hàng các sản phẩm, dịch vụ phù hợp Từ đó, hoạt động kinh doanh của ngân hàng có điều kiện phát triển
+ Trình độ khoa học và công nghệ: Việc ứng dụng công nghệ trong kinh doanh giúp các ngân hàng thương mại phát triển cả về số lượng và chất lượng dịch
vụ, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng về tốc độ thực hiện giao dịch về mức độ an toàn của giao dịch thực hiện
+ Chiến lược phát triển của ngân hàng: Ngân hàng xây dựng được các chiến lược phù hợp với tình hình thực tiễn hoạt động, bám sát điều kiện kinh tế từng thời
kỳ thì hoạt động kinh doanh ngân hàng càng đạt hiệu quả
Nghiên cứu của Lê Thị Thùy Dương (2016)
Nghiên cứu của Lê Thị Thùy Dương (2016) về “Phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Ninh Bình” Để thực hiện nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đồng thời, tác giả kết hợp nhiều phương pháp bao gồm: Thống kê, điều tra khảo sát cùng với phương pháp phân tích tổng hợp… Trong phương pháp thống kê: Tác giả thu thập số liệu từ các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV - Chi nhánh Ninh Bình và xử lý thông tin về thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh Đối với phương pháp điều tra khảo sát: tác giả Lê Thị Thùy Dương tiến hành khảo sát để thăm dò ý kiến khách hàng
Trang 14là cá nhân và hộ gia đình thông qua Phiếu điều tra khảo sát để rút ra những tồn tại, điểm mạnh, điểm yếu cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại BIDV - Chi nhánh Ninh Bình Đối với phương pháp tổng hợp: Tác giả thực hiện sàng lọc và đúc kết từ thực tiễn và lý luận để đề ra giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của BIDV - Chi nhánh Ninh Bình trong giai đoạn tiếp theo
Kết quả nghiên cứu của tác giả đã đưa ra những yếu tố tác động đến phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thương mại nói chung và BIDV - Chi nhánh Ninh Bình nói riêng gồm: Trình độ quản lý điều hành; Khả năng tài chính và công nghệ; Quy trình, chính sách về sản phẩm; Chất lượng nguồn nhân lực
Nghiên cứu của Vũ Văn Thực (2014)
Tác giả Vũ Văn Thực (2014) nghiên cứu về “Phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” Nghiên cứu được thực hiện với mục đích đánh giá khái quát về thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nói riêng
Mặc dù nghiên cứu không tiến hành khảo sát đánh giá ý kiến khách hàng song nghiên cứu cũng làm nổi bật lên những nhân tố tác động đến phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Theo đó, các yếu tố được đề cấp đến trong nghiên cứu gồm:
+ Chính sách tín dụng của ngân hàng: quy trình cho vay, lãi suất cho vay; kỳ hạn cho vay…
+ Hệ thống công nghệ ngân hàng
+ Chất lượng nguồn nhân lực
+ Năng lực quản lý của ngân hàng
Nghiên cứu của Trần Thị Thu Hương (2011)
Thực hiện nghiên cứu về “Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội” Trần Thị Thu Hương (2011) đã đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Agribank
Trang 15chi nhánh Nam Hà Nội và nghiên cứu những nhân tố tác động đến hoạt động này của Chi nhánh
Các yếu tố tác động đến phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội được đề cập đến trong nghiên cứu gồm: Định hướng phát triển của ngân hàng; Năng lực tài chính của ngân hàng; Chính sách tín dụng của ngân hàng; Số lượng, trình độ, đạo đức của cán bộ ngân hàng; Trình độ khoa học và khả năng quản lý của ngân hàng
Qua việc nghiên cứu tím hiểu các công trình đã công bố, tác giả nhận thấy mỗi nghiên cứu có những ưu điểm và hạn chế riêng Chưa có nghiên cứu nào thực hiện toàn diện về phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM nói chung và tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên nói riêng Do đó, để lấp đầy “khoảng trống” về lý luận và thực tiễn, tác giả
thực hiện nghiên cứu đề tài “Phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu:
Sản phẩm cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên
+ Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn 2015-2017
Trang 16- Về không gian: Nghiên cứu thực hiện tại BIDV chi nhánh Thái Nguyên
- Về nội dung: Nghiên cứu tập trung vào phân tích sự phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại BIDV chi nhánh Thái Nguyên
4 Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn hệ thống hóa những nội dung phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại
- Về thực tiễn: Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho ban lãnh đạo Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên thực hiện các giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng nhằm tăng trưởng lợi nhuận, mở rộng thị phần hoạt động
5 Kết cấu luận văn
Luận văn có bố cục gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên
Chương 4: Đề xuất giải pháp đẩy mạnh phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại và sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại
1.1.1 Lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp Theo Pháp lệnh Ngân hàng số 38 - LTC/HĐNN8 ngày 24/05/1990
quy định: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực
hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”
1.1.1.2 Phân loại
Ngân hàng thương mại quốc doanh: Các ngân hàng này được thành lập
bằng 100% vốn ngân sách Nhà nước và giữ vai trò chủ đạo, chỉ huy hoạt động kinh doanh tiền tệ ở nước ta Về mặt pháp lý, ngân hàng thương mại quốc doanh là một pháp nhân, thuộc loại hình doanh nghiệp Nhà nước, do Nhà nước thành lập, được Nhà nước cấp vốn điều lệ và bổ nhiệm người quản trị và điều hành Các ngân hàng thương mại quốc doanh được tổ chức và hoạt động theo hướng kinh doanh tổng hợp, được quyền kinh doanh tiền tệ, tín dụng với mọi thành phần kinh tế và trong mọi lĩnh vực của nền sản xuất xã hội
Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được thành lập
dưới hình thức công ty cổ phần trong đó 1 cá nhân hay 1 tổ chức không được sở hữu số cổ phần của ngân hàng quá tỷ lệ do ngân hàng Nhà nước quy định Về mặt pháp lý, đó cũng là một pháp nhân được cơ quan có thẩm quyền thành lập trên cơ sở
tự nguyện của các cổ đông tham gia góp vốn và cùng hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật
Ngân hàng thương mại liên doanh với các ngân hàng thương mại hàng
đầu của Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan Các ngân hàng này được
Trang 18thành lập bằng vốn góp của bên ngân hàng Việt Nam với bên ngân hàng nước ngoài
có trụ sở tại Việt Nam và hoạt động kinh doanh theo pháp luật Việt Nam
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là ngân hàng thương mại được thành lập
do vốn của nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, được phép đặt chi nhánh tại Việt Nam và hoạt động theo pháp luật Việt Nam
Ngân hàng nước ngoài là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt
Nam với nguồn vốn điều lệ hoàn toàn từ nước ngoài, do sự sở hữu của nước ngoài Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được hoạt động dưới hình thức Công
ty TNHH một thành viên hoặc từ hai hay nhiều thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam
1.1.1.3 Chức năng
Chức năng trung gian tín dụng
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là "cầu nối" giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn
Hình 1.1 Chức năng của ngân hàng thương mại
Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay
Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
• Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ Hơn nữa, ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi
Trang 19• Đối với người đi vay, họ sẽ thoả mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp
• Đối với ngân hàng thương mại, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại
• Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất Với chức năng này, ngân hàng thương mại đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của ngân hàng thương mại là đi vay
để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Đồng thời nó cũng
là cơ sở để thực hiện các chức năng khác
Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là người "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ
Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng vì tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng chính là một phần tiền gửi trước đó Việc các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Với chức năng này, các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi Nhờ đó, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian đi tới gặp chủ nợ, người phải thanh toán và lại đảm bảo được việc thanh toán an toàn Qua đó, chức năng này thúc đẩy lưu
Trang 20thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế Đồng thời, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền
Đối với ngân hàng thương mại, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại
Chức năng "tạo tiền"
Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng phát hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng nữa Nhưng với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch
Ban đầu từ những khoản tiền dự trữ tăng lên, ngân hàng thương mại sử dụng
để cho vay bằng chuyển khoản, sau đó những khoản tiền này sẽ được quay lại ngân hàng thương mại một phần khi những người sử dụng tiền gửi vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn Quá trình này tiễp diễn trong hệ thống ngân hàng và tạo nên một lượng tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu Mức
mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi Hệ số này, đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng
Với chức năng "tạo tiền", hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành ra mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các ngân hàng thương mại tạo ra
Trang 21Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng
Các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung,
hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng
1.1.1.4 Vai trò
Thứ nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ
mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh;
Thứ hai, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu Đây là kết quả tác động nhiều mặt của đổi mới hoạt động ngân hàng, nhất là những cố gắng của ngành ngân hàng trong việc huy động các nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển, trong việc đổi mới chính sách cho vay và cơ cấu tín dụng theo hướng căn cứ chủ yếu vào tính khả thi
và hiệu quả của từng dự án, từng lĩnh vực ngành nghề để quyết định cho vay Dịch
vụ ngân hàng cũng phát triển cả về chất lượng và chủng loại, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh;
Thứ ba, tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục Với dư nợ cho vay nền kinh tế chiếm khoảng 35-37% GDP, mỗi năm hệ thống ngân hàng đóng góp trên 10% tổng mức tăng trưởng kinh tế của cả nước;
Thứ tư, đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động, góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững Thông qua nguồn vốn tín dụng cho các chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại các vùng nông thôn Việc sử dụng nguồn vốn ngân hàng cho mục đích này ngày càng
có tính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả, nhất là từ khi tín dụng chính sách
Trang 22được tác bạch với tín dụng thương mại và giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội đảm nhiệm;
Thứ năm, góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững Đóng góp này được thể hiện qua công tác thẩm định dự án, quyết định cho vay vốn ngân hàng cho các dự án và giám sát thực hiện một cách chặt chẽ sau khi cho vay, các TCTD luôn chú trọng yêu cầu các khách hàng đảm bảo an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay, tuân thủ các cam kết quốc tế và các qui định về bảo vệ môi trường
1.1.1.5 Các dịch vụ của ngân hàng thương mại
Huy động vốn, lợi nhuận của các khoản tín dụng giúp ngân hàng tồn tại và
phát triển, do đó các ngân hàng luôn tìm các mở rộng quy mô cho vay trong những điều kiện nhất định Tuy vậy, vốn để cho vay thuộc sở hữu của ngân hàng không nhiều, nên ngân hàng phải huy động vốn để đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng Nguồn vốn huy động của ngân hàng rất đa dạng, có thể là tiền gửi, tiền vay hoặc các quỹ…Nghiệp vụ này huy động những khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến cho những đối tượng vay vốn để sản xuất kinh doanh, tạo thu nhập cho người gửi tiền, thúc đẩy lưu thông tiền tệ
Cho vay, tài trợ dự án Trong cho vay bao gồm, thứ nhất là cho vay thương
mại, ban đầu các ngân hàng chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với người bán và sau đó chuyển sang cho vay với người mua, giúp họ có vốn để mua hàng hoá dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh Thứ hai là cho vay tiêu dùng,
sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng hướng tới người tiêu dùng như khách hàng tiềm năng Hiện nay ở Việt Nam, tín dụng tiêu dùng có những điều kiện thuận lợi để phát triển và tăng trưởng Bên cạnh các hình thức cho vay truyền thống, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao Mặc dù rủi ro trong loại hình tín dụng này cao nhưng lãi thu được lớn nên vẫn hấp dẫn các ngân hàng tham gia
Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán Khi các doanh
nhân gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản tiền mà còn thực hiện
Trang 23các lệnh chi trả cho khách hàng của người gửi tiền Thanh toán qua ngân hàng mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền chỉ cần viết giấy chi trả cho khách và khách mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần rút ngắn thời gian và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân Khi các ngân hàng mở thêm chi nhánh, mở rộng phạm vi hoạt động, cung cấp thêm nhiều tiện ích sẽ thu hút các doanh nhân gửi tiền để nhờ ngân hàng thanh toán hộ Như vậy tài khoản tiền gửi được phát triển, cho phép người gửi tiền thực hiện chi trả cũng như nhận tiền một cách nhanh chóng, tiết kiệm chi phí Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều hình thức thanh toán được phát triển như: Uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng điện, thẻ…
Cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán Các ngân hàng phấn
đấu ngày càng cung cấp nhiều các dịch vụ tài chính nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng Do đó, hiện nay các ngân hàng đã thành lập công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán nhằm cung cấp cho khách hàng những dịch vụ môi giới chứng khoán, các cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu
Cho thuê thiết bị trung và dài hạn Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt
các thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê các thiết
bị, cuối hợp đồng thuê khách có thể mua lại (do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua)
Để cạnh tranh, các ngân hàng tích cực mua các máy móc thiết bị sau đó cho khách hàng thuê thông qua hợp đồng thuê mua Hợp đồng này thường thoả mãn yêu cầu là khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê Hình thức cho thuê này cũng có nhiều điểm giống như cho vay và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn
Kinh doanh ngoại tệ Theo đó, ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền
này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ Việc mua bán ngoại tệ yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao, do mức độ rủi ro rất cao Do vậy, mua bán ngoại
tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn thực hiện
Bảo quản vật có giá Ngân hàng thực hiện việc lưu trữ vàng và các vật có
giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản và trao cho khách hàng giấy biên nhận
Do khả năng chi trả bất kỳ lúc nào của giấy biên nhận nên chúng được sử dụng như tiền để thanh toán nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành Hiện nay khách hàng phải trả phí bảo quản
Trang 24Bảo lãnh, do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng là lớn
và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng nên ngân hàng có uy tín cao trong việc bảo lãnh cho khách hàng Để thu hút và tạo mối liên hệ mật thiết với khách hàng, ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác, dự thầu, xuất nhập khẩu…trong những năm gần đây nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng
và phát triển mạnh
Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn Các ngân hàng có rất nhiều chuyên
gia về quản lý tài chính, do đó nhiều khách hàng đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản
và quản lý hoạt động tài chính hộ Dịch vụ uỷ thác phát triển cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư …với nhiều khách hàng ngân hàng còn là chuyên gia tư vấn tài chính Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chình, về thành lập, mua bán và sát nhập doanh nghiệp
Cung cấp các dịch vụ đại lý Các ngân hàng không thể thiết lập văn phòng
đại diện, chi nhánh ở khắp nơi Do đó, nhiều ngân hàng lớn đã cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng như: thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
Tài trợ các hoạt động của chính phủ Với khả năng huy động và cho vay
với khối lượng lớn, ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các chính phủ Các chính phủ thường phải chi tiêu nhiều và gấp, trong khi thu không đủ, nên đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của các ngân hàng Hiện nay, chính phủ đều giành quyền cấp phép hoạt động kiểm soát ngân hàng, do vậy các ngân hàng được cấp phép thành lập với điều kiện là phải tài trợ và thực hiện một mức độ nào đó các chính sách của chính phủ
Quản lý ngân quỹ Nhiều cá nhân và doanh nghiệp mở tài khoản và gửi tiền
ở ngân hàng Các ngân hàng, bên cạnh mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng, cùng kinh nghiệm quản lý ngân quỹ và thu ngân đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ Theo đó, ngân hàng quản lý việc thu chi cho khách hàng và đầu
tư vào các nghiệp vụ tài chính ngắn hạn thu lợi cho đến khi khách hàng cần tiền để thanh toán
Trang 251.1.2 Sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là những khoản cho vay tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của cá nhân và hộ gia đình Các khoản cho vay tiêu dùng giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có cơ hội hưởng một mức sống cao hơn Những khoản cho vay như thế được dành nhiều vào các mục đích như: mua nhà, xây sửa nhà, mua xe hơi, các dụng cụ trong gia đình,
đồ gỗ, các dịch vụ y tế, chi phí cho các dịp lễ (Nguyễn Huy Đồng, 2007)
Hay cho vay tiêu dùng là sản phẩm tín dụng nhằm hỗ trợ nguồn vốn cho khách hàng để khách hàng sử dụng vào mục đích tiêu dùng như mua sắm vật dụng gia đình, sữa chữa nhà ở, mua xe, mua nền nhà, làm kinh tế hộ gia đình, thanh toán học phí, đi du lịch, chữa bệnh, ma chay, cưới hỏi mà có thể cần hoặc không cần tài sản đảm bảo (Nguyễn Đỗ Thúy Uyên, 2008)
Ban đầu, hầu hết các ngân hàng không tích cực phát triển các sản phẩm cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng có quy mô nhỏ với nguy cơ vỡ nợ tương đối cao do đó làm cho chúng có mức sinh lời thấp Tuy nhiên, sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là khách hàng tiềm năng Đặc biệt, sau chiến tranh thế giới thứ hai, cho vay tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh
tế phát triển
Hiện nay, thị trường cho vay tiêu dùng ở các quốc gia phát triển đã phần nào đạt đến đỉnh điểm trong khi tại các quốc gia đang phát triển thì mảng thị trường này vẫn còn rất tiềm năng
Như vậy, cho vay tiêu dùng là sản phẩm tín dụng đang được các ngân hàng thương mại quan tâm đặc biệt Đây là một sản phẩm qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền) trong một khoảng thời gian nhất định, với những thỏa thuận mà hai bên đã ký kết (về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả…) nhằm giúp cho khách hàng có thể sử dụng những hàng hóa và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho
họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn”
Trang 261.1.2.2 Đặc điểm của sản phẩm cho vay tiêu dùng
a Sản phẩm cho vay tiêu dùng có lãi suất “cứng nhắc”
Các khoản cho vay tiêu dùng mang lại lợi nhuận khá cao cho ngân hàng nhưng với lãi suất “cứng nhắc” Điều đó có nghĩa là nó đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, không như hầu hết các khoản vay kinh doanh hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, như vậy với cho vay tiêu dùng ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên Tuy nhiên, các khoản vay này thường được định giá rất cao (vì đã bao hàm cả một phần bù rủi ro lãi suất) đến mức mà bản thân lãi suất vay vốn trên thị trường lẫn tỷ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản tín dụng tiêu dùng mới không mang lại lợi nhuận Sở dĩ các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cao vì trong danh mục cho vay của ngân hàng, khoản mục này có chi phí lớn nhất và rủi ro cao nhất Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ
Cũng như cho vay kinh doanh, đa phần các khoản cho vay tiêu dùng được định giá dựa trên lãi suất cơ bản cộng với mức lợi nhuận cận biên và phần bù rủi ro Lãi suất của khoản vay tiêu dùng thanh toán nhiều lần có thể được tính theo mô hình tổng hợp chi phí như sau:
NH
+
Chi phí hoạt động khác
+
Phần
bù rủi
ro tổn thất tín dụng
+
Phần bù kỳ hạn với các khoản cho vay dài hạn
+
Lợi nhuận cận biên Ngân hàng sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định lãi suất thực
tế của khoản vay mà họ cung cấp với khách hàng hộ gia đình Những phương pháp thông dụng nhất để tính lãi suất cho vay tiêu dùng là lãi suất phần trăm năm(APR), phương pháp lãi đơn, tỷ lệ chiết khấu, phương pháp lãi gộp(trong cho vay trả góp) Cạnh tranh trong lãi suất cho vay là mối quan tâm thường xuyên của các ngân hàng thương mại hiện nay
b Quy mô các khoản vay nhỏ
Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn do các cá nhân vay nhằm mục đích tiêu dùng mà giá trị hàng hóa dịch vụ tiêu dùng là không quá lớn nên quy mô của từng món vay là không lớn Người tiêu dùng với trình độ
Trang 27và nhận thức ngày càng cao sẽ vay nhiều hơn để nâng cao mức sống của bản thân
và đáp ứng các kế hoạch chi tiêu trên cơ sở triển vọng về thu nhập trong tương lai
Do đó, kinh tế càng phát triển thì nhu cầu vay tiêu dùng của dân cư càng tăng lên Ngoài ra, do cho vay tiêu dùng rủi ro cao đối với ngân hàng, nên các ngân hàng đều thận trọng trong việc cho vay Các ngân hàng thương mại đều có quy định về tỷ lệ cho vay,về tài sản đảm bảo, khả năng trả nợ vay… với các đối tượng có nhu cầu vay tiêu dùng
c Đối tượng của cho vay tiêu dùng
Là các nhu cầu vay của cá nhân hay hộ gia đình, tùy thuộc vào tình hình tài chính của họ mà có những mức độ khác nhau Ở những khách hàng có thu nhập thấp nhu cầu tín dụng thường không cao, nó chỉ xuất hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu giao dịch tạo ra sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu Với cá nhân có thu nhập trung bình, nhu cầu về tín dụng tiêu dùng có xu hướng tăng mạnh do muốn tiêu dùng hơn khoản tiền dự phòng của mình Ở cá nhân có thu nhập cao, nhu cầu tín dụng tiêu dùng nảy sinh thêm khả năng thanh toán hoặc là một khoản tài trợ rất linh hoạt trong chi tiêu, nhất là khi vốn của họ đã nằm trong tài khoản đầu tư dài hạn
Nhu cầu tín dụng được biểu hiện cụ thể qua các mục đích chủ yếu: mua nhà, sửa chữa nâng cấp nhà, mua xe, đồ dùng sinh hoạt,…
Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng liên quan đến số lượng lớn khách hàng Mỗi người vay có số lượng vay tương đối nhỏ trong hoạt động cho vay,
và các ngân hàng cần xử lý rất nhiều những khoản vay này để tạo ra số lượng tiền lớn trong hoạt động cho vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo Với số lượng khách hàng lớn như vậy, các nhà quản lý ngân hàng cần phải thực hiện những biện pháp kiểm soát hiệu quả đối với quá trình cấp tín dụng tiêu dùng
d Chi phí và rủi ro
Dịch vụ cho vay mà ngân hàng cung cấp cho người tiêu dùng là một trong những dịch vụ mang chi phí cao nhất với nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng vì tình hình tài chính của các cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng của công việc và sức khỏe của họ.Chính vì những lý do đó mà các khoản cho vay tiêu dùng phải được quản lý một cách chặt chẽ và linh hoạt trước những vấn đề đặc biệt có liên quan
Trang 28Chi phí cao nhất thể hiện: ngân hàng phải huy động nhiều nhân lực cho hoạt động tín dụng, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, quyết định cho vay, giải ngân cũng như kiểm soát và thu nợ đối với khách hàng sau khi cho vay Ngoài
ra, đặc điểm của khách hàng cá nhân là rất đông và phân tán, khó tìm kiếm thông tin
về tài chính hơn so với nhóm khách hàng doanh nghiệp; món vay quy mô nhỏ, số lượng món vay nhiều nên chi phí quản lý đối với cho vay tiêu dùng cao hơn
Rủi ro cho vay tiêu dùng cao vì nguồn trả nợ của người vay có thể biến động lớn Nếu người vay bị ốm, chết, hoặc bị mất việc, ngân hàng sẽ khó thu nợ Nhiều khoản cho vay với thời hạn dài (mua nhà thế chấp ) Vì vậy nhiều ngân hàng lập quỹ dự phòng cho vay tiêu dùng để chuyên theo dõi các khoản cho vay tiêu dùng
e Nhu cầu vay
Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ Nó tăng lên trong thời kỳ kinh tế mở rộng, khi mà mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương lai Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều cá nhân, hộ gia đình cảm thấy không tin tưởng nhất là khi họ thấy tình trạng thất nghiệp tăng lên, họ sẽ hạn chế vay mượn ngân hàng
Hơn nữa khi vay tiền, người tiêu dùng thường kém nhạy cảm với lãi suất Khách hàng quan tâm đến khoản tiền họ phải trả hàng tháng hơn là lãi suất Mức thu nhập và trình độ dân trí tác động rất lớn đến việc sử dụng các khoản tiền vay của người tiêu dùng Những người có thu nhập cao hoặc có học vấn cao thường có
xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình Với họ, việc vay mượn là một công cụ để đạt được mức sống như mong muốn hơn là một lựa chọn chỉ được dùng trong tình trạng khẩn cấp
1.1.2.3 Các sản phẩm cho vay tiêu dùng
a Căn cứ vào loại tài sản được tài trợ
Theo cách phân loại này, sản phẩm cho vay tiêu dùng được phân chia thành cho vay tài trợ đối với bất động sản và cho vay tiêu dùng thông thường như đi học, mua ô tô, xe máy, mua sắm vật dụng sinh hoạt, chữa bệnh
- Tài trợ bất động sản: Là các khoản cho vay nhằm mục đích mua mới hoặc sủa chữa, xây dựng nhà cửa, căn hộ và trong một số trường hợp bao gồm cả đất đai
Trang 29Cho vay tài trợ đối với bất động sản khác với phần lớn các hình thức cho vay khác trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, quy mô của một món vay tài trợ đối với bất động sản thường lớn hơn nhiều so với quy mô trung bình của các món vay tiêu dùng thông thường
Thứ hai, các khoản cho vay tài trợ đối với bất động sản thường có kỳ hạn dài nhất trong danh mục cho vay của ngân hàng từ 15 đến 25 hoặc 30 năm Do đó loại cho vay này thường chứa đựng những nguy cơ rủi ro tín dụng đáng kể bửi vì nhiều vấn đề có thể xảy ra bao gồm cả những thay đổi tiêu cực trong điều kiện kinh tế, lãi suất, sức khoẻ của người cho vay trong suốt kỳ hạn của khoản vay
Thứ ba, việc định giá tài sản đảm bảo bao gồm đánh giá giá trị và tình trạng của tài sản là trọng tâm của món vay, chúng có tầm quan trọng tương đương với thu nhập của người đi vay Việc đánh giá giá trị tài sản đảm bảo phải tuân theo tiêu chuẩn của ngành và của chính phủ Ngoài ra tính khả mại của tài sản cũng là một yếu tố quan trọng khi đánh giá tài sản Các khoản cho vay có tài sản đảm bảo sẽ giúp các ngân hàng có thể hạn chế những ổn thất về tài chính khi khoản vay không được trả đúng hạn và phải path mại tài sản
- Tài trợ hàng tiêu dùng lâu bền
Cho vay mua sắm các tài sản có thời gian sử dụng lâu dài như ô tô, xe máy Tính khả dụng của các tài sản này khá cao, giá trị ở mức trung bình nên nhiều người tiêu dùng có nhu cầu mua sắm Quy mô các khoản vay này thường không lớn, số lượng món vay phát sinh nhiều Tài sản đảm bảo có thể chính là tài sản được hình thành từ món vay Với những khoản vay này nguồn trả nợ có thể là nguồn thu hàng tháng được trả lãi theo định kỳ
- Tài trợ nhu cầu tiêu dùng khác
Cho vay tiêu dùng khác nhằm mục đích tài trợ cho những nhu cầu tiêu dùng như đi học, chũa bệnh, du lịch,cưới hỏi… Các khoản cho vay này, yếu tố quyết định cho vay hay không là thu nhập để trả nợ của người vay, sau đó mới xem xét đến giá trị của tài sản đảm bảo
Trang 30b Căn cứ vào phương thức trả nợ của khách hàng
- Cho vay trả một lần
Cho vay trả một lần là các khoản cho vay ngắn hạn của các cá nhân và hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đến hạn Quy mô của khoản vay tương đối nhỏ và bao gồm cả phí tài khoản với yêu cầu thanh toán trong vòng 30 ngày hoặc trong thời gian tương đối ngắn Phần lớn các khoản vay loại này được dùng để chi trả cho những chuyến đi nghỉ, tiền viện phí, mua các dụng cụ gia đình hoặc sữa chữa ô tô, nhà ở
c Căn cứ vào phương thức cho vay
+ Sản phẩm cho vay tiêu dùng gián tiếp
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua lại các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá cho người tiêu dùng Cho vay tiêu dùng gián tiếp thường được thực hiện như sau:
NGƯỜI TIÊU DÙNG
Trang 31Sơ đồ được diễn tả như sau:
1 Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ Trong hợp đồng ngân hàng đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản được bán chịu thực tế đây là bước để công ty bán
lẻ và ngân hàng thoả thuận trước các điều kiện với khách hàng
2 Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký hợp đồng mua bán chịu hàng hoá Thông thường người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản
3 Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
4 Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng Lúc này, hoạt động mua bán nợ thực sự diễn ra
5 Ngân hàng thanh toán cho công ty bán lẻ
6 Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng
Ưu điểm cho vay tiêu dùng gián tiếp:
Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng
Cho phép ngân hàng tiết kiệm, giảm được chi phí trong cho vay
Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng, tạo điều kiện cho việc bán chéo sản phẩm ở quá trình tiếp theo
Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính chất phức tạp cao
Do những nhược điểm kể trên mà cho vay tiêu dùng gián tiếp không được các ngân hàng thương mại tích cực tham gia Những ngân hàng tham gia vào hoạt động này thì đều có các cơ chế kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ
Cho vay tiêu dùng gián tiếp được thực hiện thông qua các phương thức sau:
Tài trợ truy đòi toàn bộ: theo phương thức này khi bán cho ngân hàng các khoản nợ mà người tiêu dùng mua chịu hàng hoá, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đên hạn người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng
Trang 32Tài trợ truy đòi hạn chế: theo phương thức này trách nhiệm của các công ty bán lẻ đối với khoản nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã thoã thuận giữa ngân hàng và công ty bán lẻ
Tài trợ miễn truy đòi: theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ cho ngân hàng, công ty bán lẻ không còn chịu trách nhiệm cho việc các khoản nợ có được hoàn trả hay không Phương thức này chứa đựng rủi ro cao nên chi phí ngân hàng thường được tính cao hơn so với các phương thức nói trên và các khoản nợ được mua cũng được lựa chọn rất kỹ lưỡng Ngoài ra, chỉ những công ty bán lẻ có
uy tín mới được áp dụng phương thức này
Tài trợ có mua lại: khi thực hiện cho vay tiêu dùng gián tiếp theo phương thức miễn truy đòi hoặc truy đòi một phần, nếu rủi ro xảy ra, người tiêu dùng không trả nợ thì ngân hàng thương mại phải thanh lý tài sản để thu hồi nợ Trong trường hợp này, nếu có thoả thuận trước thì ngân hàng có thể bán lại cho công ty bán lẻ phần nợ của mình chưa được thanh toán, kèm với tài sản đã được sử dụng trong một thời hạn nhất định
+ Cho vay tiêu dùng trực tiếp
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản cho vay trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người vay Cho vay tiêu dùng trực tiếp thường được thực hiện theo sơ đồ sau:
Sơ đồ được diễn tả cụ thể như sau:
1 Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay vốn
2 Người tiêu dùng trả trước một phần tiền cho công ty bán lẻ
Trang 333 Ngân hàng thanh toán phần tiền còn lại cho công ty bán lẻ
4 Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
5 Người tiêu dùng thanh toán nợ vay cho ngân hàng
Cho vay tiêu dùng trực tiếp có ưu điểm hơn cho vay tiêu dùng gián tiếp thể hiện:
Cho vay tiêu dùng trực tiếp giúp ngân hàng tận dụng được kỹ năng kiến thức của nhân viên tín dụng Những người này thường được đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm cho vay do đó các quyết định cho vay của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng được quyết định bởi những công ty bán lẻ hoặc nhân viên tín dụng của công ty bán lẻ Ngoài ra, nhân viên tín dụng ngân hàng thường có xu hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản vay có chất lượng cao trong khi nhân viên của các công ty bán lẻ lại chú trọng tăng doanh số bán hàng Bên cạnh đó tại các điểm bán hàng, các quyết định thường được đưa ra vội vàng và như vậy có thể có nhiều khoản tín dụng được cấp ra một cách không chính đáng Hơn nữa, trong một số trường hợp, do quyết định nhanh nên các công
ty bán lẻ có thể từ chối cấp tín dụng đối với các khách hàng tốt của mình Nếu người cấp tín dụng là ngân hàng, điều này có thể được hạn chế
Cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn cho vay tiêu dùng gián tiếp
Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp với ngân hàng, có rất nhiều lợi thế có thể phát sinh, có khả năng làm thoã mãn quyền lợi cho cả hai phía ngân hàng và khách hàng
Thông qua cho vay tiêu dùng trực tiếp, ngân hàng có thể bán các sản phẩm khác, tăng cường quảng bá hình ảnh của ngân hàng…
Tuy rằng những sự phân chia nói trên phần nào chỉ mang tính tương đối nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng Nó giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động cho vay tiêu dùng, cũng như thây được sự phong phú đa dạng của hình thức cho vay tiêu dùng
1.1.3 Phát triển các sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Khái niệm
Phát triển là sự tăng trưởng bền vững Trong đó, tăng trưởng là sự tăng thêm
về quy mô, sản lượng trong một thời kỳ nhất định Phát triển sản phẩm cho vay tiêu
Trang 34dùng là sự phát triển doanh số cho vay tài trợ tiêu dùng cho khách hàng cá nhân song sự tăng lên về doanh số phải đảm bảo về chất lượng khoản vay, đồng nghĩa tỷ
lệ nợ xấu của cho vay thấp (Nguyễn Huy Đồng, 2009)
1.1.3.2 Nội dung phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng
a Phát triển quy mô cung cấp sản phẩm cho vay tiêu dùng
Tăng trưởng doanh số cung cấp sản phẩm cho vay tiêu dùng là sự tăng lên về quy mô cho vay, số lượng cho vay được xác định trong một thời gian nhất định Mức tăng trưởng cho vay được xác định bằng số tương đối hay số tuyệt đối của số lượng cho vay kỳ sau so với kỳ trước Số tương đối thể hiện tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm, số tuyệt đối thể mô tăng trưởng cho vay Tăng trưởng cho vay được thể hiện:
Đối với khách hàng: cho vay tiêu dùng phải thoã mãn tối đa các yêu cầu hợp
lý của khách hàng về khối lượng cho vay cung cấp, đa dạng hoá các hình thức và loại hình cho vay
Đối với ngân hàng thương mại: cho vay tiêu dùng sẽ là một hướng đi mới góp phần làm đa dạng hoá danh mụccho vay của ngân hàng, làm tăng hiệu quả hoạt động
Như vậy, tăng trưởng doanh số cung cấp sản phẩm cho vay tiêu dùng phản ánh
sự vận động cho vay về mặt lượng, còn chất lượng cho vay phản ánh sự phát triển của cho vay về mặt chất Tăng trưởng cho vay phản ánh sự phát triển của cho vay nhưng bản thân nó là một đại lượng không hoàn hảo về sự phát triển của cho vay
Tăng trưởng cho vay phải đi đôi với nâng cao chất lượng cho vay, phải phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Từ đó việc tăng trưởng mới có thể ổn định và bền vững Tăng trưởng cho vay nhanh trong khi không nâng cao chất lượng cho vay là một trong những nguyên nhân gây ra đổ bể cho vay
b Phát triển về chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng
Chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng được hiểu là vốn vay ngân hàng đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu của khách hàng để khách hàng trang trải đầy đủ chi phí, hoàn trả đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng cả gốc lẫn lãi và có lợi nhuận phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội Cơ sơ của nâng cao chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng được thể hiện trên các mặt:
Trang 35Đối với NHTM: chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng được thể hiện một cách đơn giản là hiệu quả của việc cho vay mang lại, nó phù hợp với năng lục của ngân hàng và đảm bảo tính cạnh tranh; là khả năng thu hồi gốc và lãi cho vay đầy
đủ và đúng hạn Hiệu quả và khả năng thu nợ càng cao thì chất lượng cho vay càng cao và ngược lại
Đối với khách hàng: chất lượng cho vay là thể hiện các khoản vay được đáp ứng kịp thời, đầy đủ với lãi suất hợp lý và có sức cạnh tranh Các khoản vay vốn từ NHTM giúp cho khách hàng có đủ tiền để thoã mãn các nhu cầu về tiêu dùng, nâng cao chất lượng cuộc sống
Hiện nay tăng trưởng cho vay cao và chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng tốt là hai vấn đề không thể tách rời, chất lượng cho vay bảo đảm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng về hai mặt là khả năng sinh lợi và giảm thiểu rủi ro về sử dụng vốn Đồng thời, hoạt đọng cho vay tiêu dùng tốt phải dựa trên nguyên tắc là thoã mãn nhu cầu vốn của khách hàng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, do đó các ngân hàng cần xác định được khách hàng mục tiêu, hiểu rõ hơn nhu cầu khách hàng để có chính sách phục vụ tốt hơn
c Các hoạt động phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
(1) Thực hiện tìm hiểu khách hàng
Khách hàng vay tiêu dùng của ngân hàng là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu rất đa dạng, từ các nhu cầu thiết yếu đến nhu cầu cao cấp Đời sống con người ngày càng được nâng cao thì các nhu cầu về hàng hoá cao cấp càng lớn Tuy nhiên, tuỳ từng giai đoạn phát triển sẽ xuất hiện nhu cầu nổi bật cần tài trợ Vấn đề
là phải phát hiện được nhu cầu nhanh nhất để đáp ứng kịp thời vì những người đi đầu sẽ có ưu thế trong việc thu hút khách hàng
Các sản phẩm cho vay của ngân hàng mang tính dịch vụ nên nhu cầu khách hàng mang yếu tố quyết định các hình thức cho vay tiêu dùng của ngân hàng Nhu cầu của khách hàng là nền tảng căn cứ để xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng
Trang 36Việc nghiên cứu chuẩn xác nhu cầu của khách hàng để từ đó đưa ra các sản phẩm phù hợp trong từng giai đoạn sẽ giúp cho ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn Nếu sự phát hiện các nhu cầu chậm sẽ khiến các ngân hàng bõ lỡ các cơ hội kinh doanh và có thể đưa ra các sản phẩm lỗi thời không phù hợp với nhu cầu hiện tại Trong khi đó nếu đưa ra các sản phẩm mới người tiêu dùng lại chưa có nhu cầu sử dụng thì sản phẩm đó sẽ không được khai thác và hưởng ứng từ khách hàng
(2) Đa dạng hoá sản phẩm cho vay tiêu dùng
Đa dạng hoá sản phẩm cho vay tiêu dùng là quá trình cung cấp nhiều chủng loại sản phẩm cho vay cho khách hàng nhằm thoã mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng để giữ khách hàng truyền thống và mở rộng khách hàng khác trên thị trường khác nhau nhờ đó tăng doanh thu và lợi nhuận
Tác dụng của đa dạng hoá sản phẩm cho vay là:
Thứ nhất: Đa dạng hoá sản phẩm cho vay tiêu dùng sẽ làm tăng tổng dư nợ
và khách hàng vay góp phần tăng lợi nhuận
Thứ hai: Thúc đẩy các nghiệp vụ cùng phát triển
Thứ ba: Tăng khả năng cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế thị trường Thứ tư: Đa dạng hoá sản phẩm sẽ giúp cho NHTM phân tán rủi ro
V ì vậy, để hạn chế rủi ro trong cho vay tiêu dùng cũng như nâng cao doanh
số cho vay tiêu dùng cần phải đa dạng hoá sản phẩm cho vay của mình Tuy nhiên, việc đa dạng hoá sản phẩm đòi hỏi quản lý tín dụng phức tạp hơn, cán bộ tín dụng phải hiểu biết và nắm vững nghiệp vụ cho vay sâu sắc hơn
(3) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng
Hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng ngày càng cao của đội ngũ cán bộ nhân viên để có thể sử dụng có hiệu quả của các phương tiện công nghệ ngân hàng hiện đại phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đánh giá nhân tố con người bao gồm các khía cạnh: số lượng, cơ cấu nhân sự, trình
độ cán bộ, năng lực điều hành kinh doanh, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp…
Một ngân hàng muốn hoạt động kinh doanh tốt trước hết phải có đội ngũ cán
bộ lãnh đạo và quản lý là những người giàu “chất xám” năng động sáng tạo trong kinh doanh với phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề nghiệp và luôn vì lợi ích
Trang 37của tập thể, lợi ích chung Sau nữa là phải có can bộ tinh thông về nghiệp vụ, hiểu biết và có kiến thức về kinh tế, pháp luật, thị trường, có tinh thần trách nhiệm cao, trung thực, có thái độ phục vụ khách hàng tốt, tạo được niềm tin của khách hàng vào ngân hàng, thường xuyên nâng cao đạo đức phẩm chất, nâng cao trình độ nghiệp vụ để thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao ở mức cao nhất… cán bộ ngân hàng phải thực sự là người bạn đồng hành của khách hàng qua thái độ phục vụ khách hàng tận tình và khả năng tư vấn về hoạt động kinh doanh trên thị trường
(4) Quảng cáo, tiếp thị
Các ngân hàng có thể sử dụng nhiều cách khác nhau để có thể truyền thông với khách hàng mục tiêu của mình và xúc tiến các sản phẩm cho vay tiêu dùng mà
họ cung cấp Tuy nhiên không phải mọi ngân hàng đều sử dụng cùng phương pháp xúc tiến với cùng phạm vi và mức độ như nhau mà họ thường sử dụng kết hợp các phương pháp xúc tiến khác nhau để xúc tiến sản phẩm và dịch vụ của mình Một hỗn hợp xúc tiến - truyền thông có thể bao gồm các hoạt động như: quảng cáo, khuyến mại bán hàng, quảng bá và quan hệ công chúng (PR), tiếp thị
Quảng cáo
Quảng cáo là một hình thức truyền thông không có tính cá thể hóa được tiến hàng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như truyền hình, truyền thanh, giao thông công cộng Quảng cáo chủ yếu tạo ra sự nhận biết về ngân hàng
và các sản phẩm cho vay tiêu dùng do ngân hàng cung cấp
Ưu điểm của quảng cáo: xúc tiến sản phẩm và tổ chức; thúc đẩy cầu sản phẩm; chống lại quảng cáo của đối thủ cạnh tranh; gia tăng việc sử dụng dịch vụ của khách hàng mới; nhắc nhở và củng cố khách hàng; cho phép lặp lại thông điệp; hiệu quả về chi phí vì có thể tiếp cận một lượng lớn khán thính giả với chi phí đầu người thấp
Nhược điểm của quảng cáo: chi phí chung cao; thường không có sự phản hồi nhanh chóng; khó khăn trong việc đo lường tác động đến doanh số
Khuyến mãi
Theo điều 88 của Luật Thương mại, khuyến mãi là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xuc tiến việc mua bán, cung ứng dịch vụ bằng
cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định
Trang 38Các hình thức của hoạt động khuyến mãi của ngân hàng để phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng gồm:
- Tặng quà cho khách hàng
- Cung ứng sản phẩm với lãi suất và phí dịch vụ thấp hơn giá cung ứng trước
đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mãi đã đăng ký hoặc thông báo
- Cung ứng sản phẩm kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc sử dụng sản phẩm và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố
- Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc giá trị sản phẩm mà khách hàng thực hiện dưới hình thức thẻ khách hàng hoặc các hình thức khác Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại
Tuyên truyền
Tuyên truyền là việc sử dụng những phương tiện truyền thông đại chúng truyền tin không mất tiền về sản phẩm dịch vụ ngân hàng nói chung và sản phẩm cho vay tiêu dùng nói riêng đến khách hàng hiện tại và tiềm năng Ví dụ: tổ chức hoạt động từ thiện, tổ chức các cuộc thi, tài trợ
Ưu điểm của tuyền truyền: cải thiện hình ảnh của ngân hàng; tạo mối quan
hệ tốt với cộng đồng; có thể tạo tác động sâu sắc đến mức độ hiểu biết của xã hội;
có khả năng thuyết phục người mua lớn và ít tốn kém hơn nhiều so với hoạt động quảng cáo
Nhược điểm của tuyên truyền: thiếu tính khác biệt, khó đo lường tính hiệu quả; có thể bỏ sót những nhóm khách hàng quan trọng
Tiếp thị
Tiếp thị là giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến với khách hàng và nắm bắt các nhu cầu khách hàng để cung cấp những sản phẩm cho vay tiêu dùng tốt nhất, phù hợp nhất đến khách hàng
Trang 39Tiếp thị là hoạt động giao tiếp cá nhân để truyền tải các thông tin về sản phẩm cho vay tiêu dùng đến khách hàng và thuyết phục khách hàng sử dụng Một nhân viên xúc tiến với khách hàng thường là nhân viên giao dịch quầy, cán bộ tín dụng Họ đóng vai trò là cầu nối và phương tiện thể hiện thông điệp giữa ngân hàng với khách hàng và ngược lại Do đó, hoạt động tiếp thị không chỉ có ích cho việc bán hàng mà còn sử dụng cho việc nghiên cứu xu hướng thay đổi nhu cầu của khách hàng, cho phép thu thập các thông tin và phản hồi về điểm mạnh, điểm yếu tương đối của các sản phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng cung cấp trên thị trường
Ví dụ: đại diện ngân hàng đi thăm khách hàng, nhân viên hỗ trợ tư vấn tại chi nhánh
Ưu điểm của hoạt động tiếp thị: tạo đối thoại với khách hàng; giao tiếp có tính khác biệt tùy đối tượng khách hàng; ảnh hưởng lớn hơn đến khách hàng; linh hoạt và cho phép điều chỉnh thông điệp phù hợp
Nhược điểm của hoạt động tiếp thị: chi phí tính trên đơn vị khách hàng cao hơn; không thể tiếp cận với một lượng lớn khách hàng
1.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại
1.1.4.1 Yếu tố khách quan
* Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước là một nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh nhưng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại cũng phải tuân thủ các quy định của Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật dân sự và các quy định khác Nếu những văn bản quy định pháp luật nếu không rõ ràng, đầy đủ sẽ tạo những khe hở pháp luật gây rắc rối và tổn hại đến lợi ích cho các bên tham gia quan hệ tín dụng Ngược lại, sự chặt chẽ và đồng bộ của luật pháp sẽ góp phần tạo một trường cạnh tranh lành mạnh, tạo tính trật tự và ổn định của thị trường để hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng và hoạt động kinh tế - xã hội nói
chung được diễn ra thông suốt
Trang 40* Môi trường kinh tế
Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm nhiều hoạt động có liên quan biện chứng, ràng buộc lẫn nhau Cho nên, bất kỳ sự biến động nào của nền kinh tế cũng gây ra những biến động trong tất cả các lĩnh vực khác Sự ổn định hay bất thường,
sự tăng trưởng nhanh hay chậm của nền kinh tế sẽ tác động mạnh mẽ tới hoạt động ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng trong đó có cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm rất cao đối với những biến động của môi trường kinh tế Khi nền kinh tế ở thời kỳ hưng thịnh, tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, người dân yên tâm và mức thu nhập của họ trong tương lai, nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng lên, hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại có cơ hội phát triển Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, mất ổn định thì phần lớn người tiêu dùng chỉ mong muốn đảm bảo được cuộc sống ở mức bình thường mà không nghĩ tới việc đi vay thoả mãn nhu cầu cao hơn
* Môi trường xã hội
Môi trường xã hội mà đặc trưng gồm các yếu tố như: tình hình xã hội, thói quen, tâm lý, trình độ học vấn, bản sắc dân tộc hoặc các yếu tố về nơi ở, nơi làm việc…cũng ảnh hưởng lớn đến thói quen chỉ dùng của người dân Thông thường, nơi nào tập trung nhiều người có địa vị trong xã hội, trình độ cao thì chắc chắn nhu cầu tiêu dùng ở đó lớn, do vậy, nhu cầu vốn vay cao hơn nơi khác, từ đó tạo ra khả năng mở rộng cho vay tiêu dùng Còn phần lớn những người lao động chân tay thì chỉ mong muốn đảm bảo cuộc sống ở mức bình thường, họ không nghĩ tới chuyện
đi vay để mua sắm hàng hóa, nâng cao mức sống Do vậy, khu vực dân cư thu nhập thấp thì hoạt động phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng cũng gặp khó khăn hơn
* Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh cũng là yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Trong môi trường kinh doanh, nếu số lượng đối thủ cạnh tranh nhiều thì hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh cho vay bán lẻ nói riêng gặp nhiều thách thức Từ đó việc gia tăng doanh số, mở rộng quy
mô khách hàng của ngân hàng sẽ gặp khó khăn ảnh hưởng đến phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng