1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ kinh tế: Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Dựa Trên Nền Tảng Kiểm Tra Sức Chịu Đựng (Stress Testing) Tại Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam​

178 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 3,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận và những quan điểm mới nhất, cập nhật những quy định mới nhất trong Quản trị rủi ro tín dụng (QTRRTD) dựa trên nền tảng kiểm tra sức chịu đựng tại các ngân hàng thương mại. Đồng thời, luận án đưa ra những yêu cầu cấp bách trong QTRRTD và nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng thương mại trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 1

NGUYỄN QUỐC GIANG

QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DỰA TRÊN NỀN

TẢNG KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG (STRESS TESTING)

TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT

NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Trang 2

NGUYỄN QUỐC GIANG

QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DỰA TRÊN NỀN

TẢNG KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG (STRESS TESTING) TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT

NAM

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 9.34.01.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học

1 TS PHÙNG KHẮC KẾ

2 PGS.TS LÊ VĂN HƯNG

Trang 3

Tác giả xin cam đoan luận án “Quản trị rủi ro tín dụng dựa trên nềntảng kiểm tra sức chịu đựng (Stress testing) tại Ngân hàng TMCP CôngThương Việt Nam” là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quảnghiên cứu và các kết luận trong luận án này là trung thực và không sao chép

từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo cácnguồn tài liệu (nếu có) đãđược thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu thamkhảo đúng quy định

Tác giả luận án

Nguyễn Quốc Giang

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục tiêu nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Những đóng góp mới của luận án

6 Kết cấu luận án

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DỰA TRÊN NỀN TẢNG KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG (STRESS TESTING) TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Rủi ro tín dụng tại các NHTM

1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng

1.1.3 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với NHTM

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các NHTM

1.2 Quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM

1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng

1.2.2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM

1.2.3 Đo lường rủi ro tín dụng

1.2.4 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng

1.3 Kiểm tra sức chịu đựng trong quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM

1.3.1 Khái quát về kiểm tra sức chịu đựng

1.3.2 Các mô hình sử dụng kiểm tra sức chịu đựng đối với rủi ro tín dụng

Kết luận chương 1

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ THỬ NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DỰA TRÊN NỀN TẢNG KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG (STRESS TESTING) TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

Trang 5

2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP CôngThương Việt Nam giai đoạn 2014-2018 2.1.3 Thực trạng quản trị tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thươngViệt Nam giai đoạn 2014 – 2018 2.2 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thươngViệt Nam 2.2.1 Mục tiêu Quản trị rủi ro tín dụng của NHCT 2.2.2 Nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng của NHCT 2.2.3 Khẩu vị rủi ro tín dụng, chính sách quản trị rủi ro tín dụng và cácquy định quy trình cấp tín dụng của Ngân hàng TMCP Công ThươngViệt Nam 2.2.4 Tổ chức bộ máy quản trị rủi ro tín dụng của NHTMCP CôngThương Việt Nam 2.2.5 Nhận diện rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công ThươngViệt Nam 2.2.6 Thực tế đo lường rủi ro tín dụng và đánh giá mức độ rủi ro tíndụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 2.2.7 Thực trạng hoạt động giám sát và kiểm tra quá trình thực hiệnquản trị rủi ro tín dụng 2.2.8 Chiến lược quản trị rủi ro tín dụng và các định hướng của Ngânhàng TMCP Công Thương Việt Nam 2.3 Xây dựng và thử nghiệm kiểm tra sức chịu đựng trong quản trị rủi rotín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 2.3.1 Xây dựng và thử nghiệm kiểm tra sức chịu đựng trong quản trị rủi

ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam dưới tác độngcủa các biến vĩ mô 2.3.2 Kết quả kiểm tra sức chịu đựng đối với rủi ro tín dụng tập trung 2.3.3 Kết luận rút ra từ kết quả kiểm tra sức chịu đựng đối với rủi ro tíndụng tại NHCT

Trang 6

2.4.1 Mặt tích cực trong quản trị rủi ro tín dụng trên nền tảng testing tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 2.4.2 Mặt hạn chế trong quản trị rủi ro tín dụng trên nền tảng Stress-testing tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Kết luận chương 2

Stress-Chương 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRÊN NỀN TẢNG KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

3.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCPCông Thương Việt Nam giai đoạn 2019-2024 3.1.1 Định hướng hoạt động kinh doanh chung tại Ngân hàng TMCPCông Thương Việt Nam giai đoạn 2019-2024 3.1.2 Định hướng chiến lược quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàngTMCP Công Thương Việt Nam giai đoạn 2019-2024 và tầm nhìn 2030 3.2 Giải pháp thực hiện quản trị rủi ro tín dụng trên nền tảng kiểm tra sứcchịu đựng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 3.2.1 Bổ sung định hướng chiến lược quản trị rủi ro trên nền tảng stresstesting vào chiến lược quản trị rủi ro của Ngân hàng TMCP CôngThương Việt Nam 3.2.2 Nâng cao chất lượng dữ liệu đầu vào để bảo đảm kết quả kiểm trastress testing chính xác và các kết luận rút ra có tính khả thi cao 3.2.3 Áp dụng mô hình quản trị rủi ro tín dụng kết hợp phương pháp đolường rủi ro theo phương pháp truyền thống và phương pháp đo lườngrủi ro thông qua việc kiểm tra sức chịu đựng (stress testing) theo địnhhướng yêu cầu của Basel II 3.2.4 Triển khai xây dựng hệ thống kiểm tra sức chịu đựng đối với rủi

ro tín dụng như một bộ phận không tách rời của hệ thống quản trị rủi rotín dụng tại NHCT

Trang 7

để áp dụng phương pháp kiểm tra sức chịu đựng

3.2.6 Xem xét điều chỉnh chiến lược tín dụng cho khách hàng lớn và tập trung tín dụng cho các khách hàng/ngành hàng hiện hành để phân tán rủi ro tín dụng tập trung tiềm ẩn

3.2.7 Chủ động xây dựng các phương án tăng vốn chủ sở hữu để đối phó với các cú sốc vĩ mô do khủng khoảng kinh tế, tài chính làm biến động các yếu tố như GDP, CPI, lãi suất VND, Tỷ giá hối đoái gây nên nợ xấu đột ngột dẫn đến thâm hụt hết vốn chủ sở hữu

3.3 Điều kiện để thực hiện các giải pháp quản trị rủi ro tín dụng trên nền tảng kiểm tra sức chịu đựng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam

3.3.1 Đối với Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan

3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Kết luận chương 3

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

Trang 8

EAD : Dư nợ gặp rủi ro khi xảy ra vỡ nợ (exposure at default)

UB QLRR : Ủy ban quản lý rủi ro

TBV1, TBV2 : Tuyến bảo vệ 1, tuyến bảo vệ 2

Trang 9

Bảng 2.1 Cơ cấu sở hữu của NHCT

Bảng 2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHCT giai đoạn 2014-2018

Bảng 2.3 Quy mô tăng trưởng tổng tài sản và nguồn vốn của NHCT giai đoạn 2014-2018

Bảng 2.4 Cơ cấu kỳ hạn trong tiền gửi của khách hàng tại NHCT năm 2017-2018

Bảng 2.5 Cơ cấu thu nhập của NHCT giai đoạn 2014 – 2018

Bảng 2.6 Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn của NHCT giai đoạn 2014 – 2018

Bảng 2.7 Cơ cấu tín dụng theo phân khúc khách hàng của NHCT giai đoạn 2014 – 2018

Bảng 2.8 Cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế của NHCT giai đoạn 2014 – 2018

Bảng 2.9 Cơ cấu tín dụng theo nhóm nợ của NHCT giai đoạn 2014 – 2018

Bảng 2.10 Dư nợ và tỷ trọng dư nợ tín dụng của 10 khách hàng lớn nhất của NHCT giai đoạn 2014 – 2018

Bảng 2.11 Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình VAR

Bảng 2.12 Kết quả ước lượng mô hình VAR

Bảng 2.13 Kịch bản các biến vĩ mô và nợ xấu cho năm 2019

Trang 10

TrangBiểu đồ 1.1 Phân bố xác suất trả nợ của khoản vay Biểu đồ 1.2 Tổn thất ước tính được, Tổn thất không ước tính được và

tần suất xảy ra tổn thất Biểu đồ 1.3 Tổn thất ước tính được và không ước tính được trong mô

hình hoá rủi ro tín dụng Biểu đồ 1.4 Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh Biểu đồ 1.5 Đường cong phân bố tổn thất Biểu đồ 1.6 Phương pháp kiểm tra độ nhạy (sensitivity test) và phương

pháp kiểm tra theo kịch bản (scenario testing) Biểu đồ 2.1 Quy trình cấp tín dụng theo Quyết định số 234/2016/QĐ-

TGĐ-NHCT35 ngày 03/03/2016: Biểu đồ 2.2 Mô hình tổ chức quản trị RRTD tại NHCT

Trang 11

TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1 Giới thiệu

Trên các diễn đàn kinh tế, cũng như trong thực tiễn hoạt động Ngân hàng,quản trị rủi ro tín dụng được đánh giá là một trong những hoạt động quantrọng quyết định sự phát triển bền vững của một Ngân hàng Nhiều công cụ

đã được phát triển để hỗ trợ và nâng cao quản trị rủi ro tín dụng, kiểm tra sứcchịu đựng (Stress testing) là một trong số những công cụ đó Trong nhữngnăm gần đây, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nộidung kiểm tra sức chịu đựng ngày càng được nhấn mạnh thường xuyên hơntrên các diễn đàn nghiên cứu khoa học và các hội thảo về quản lý rủi ro Hiệnnay phần lớn các ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát tài chính đều sửdụng công cụ Stress testing để thử nghiệm và dự báo khả năng chống chịu của

hệ thống ngân hàng Trên thế giới, các Ngân hàng trung ương, cơ quan giámsát tài chính đã ban hành các quy định về Stress testing và yêu cầu các Ngânhàng thực hiện, đồng thời báo cáo kết quả để chủ động đi trước đón đầu trongviệc phòng ngừa và giải quyết những rủi ro gặp phải trong quá trình kinhdoanh trước những biến động của kinh tế vĩ mô

Stress Testing đối với rủi ro tín dụng là quá trình xác định tác động của nhữngthay đổi khi có sự cố xấu hay rất xấu xảy ra lên một danh mục tín dụng, từ đóđánh giá tác động đến bảng cân đối tài sản và cuối cùng là tác động lên vốnhay tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng như thế nào

Stress Testing là thuật ngữ chỉ các kỹ thuật khác nhau được sử dụng để

đo lường tổn thất của tổ chức tài chính đối với các sự kiện bất thường nhưng

có thể xảy ra Các kỹ thuật thực hiện Stress Testing gồm: phân tích độ nhạyđơn giản, phân tích kịch bản, phương pháp tổn thất tối đa, lý thuyết giá trị cựcđại (Committee on the Global Financial System, 2000)

Trang 12

2 Tổng quan về các nghiên cứu

Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu ở các quốc gia về kiểm tra sứcchịu đựng của hệ thống ngân hàng trước những biến động vĩ mô Các nghiêncứu đều hướng đến việc đo lường tổn thất của danh mục cấp tín dụng/ngânhàng khi có những biến động bất lợi trong tình huống kinh tế vĩ mô có nhữngdiễn biến xấu hoặc khi các sự kiện, các cú sốc ngoại lệ có thể xảy ra, nhằmgiúp các cơ quan quản lý, các tổ chức tài chính chủ động đối phó với nhữngtình huống xấu nhất có thể xảy ra

Tại Việt Nam, có nhiều các đề tài nghiên cứu hoặc hội thảo khoa học

về Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng được tiếp cận từ cácphương pháp hoặc các lý luận truyền thống dựa trên những số liệu và nhữngtổn thất đã xảy ra chưa áp dụng các phương pháp tính toán dự báo cho nhữngtổn thất trong tương lai đối với hoạt động quản trị rủi ro tín dụng

Thời gian vừa qua, có một số công trình nghiên cứu áp dụng kiểm trasức chịu đựng trong công tác quản trị rủi ro tín dụng như:

Đề tài “Xây dựng mô hình thử sức chịu đựng rủi ro tín dụng – từ lýthuyết đến thực tiễn tại Việt Nam” của nhóm tác giả Vũ Thị Kim Oanh, VũHải Yến, Nguyễn Thị Thu Trang, Bùi Huy Trung Đề tài đã hệ thống hóa lýluận về mô hình kiểm tra sức chịu đựng trước những rủi ro tín dụng, trên cơ

sở đó tiến hành đánh giá sức chịu đựng rủi ro tín dụng của các Ngân hàngthương mại tại Việt Nam, đồng thời đưa ra những gợi ý chính sách cho việctriển khai đánh giá sức chịu đựng rủi ro tín dụng theo cách tiếp cận Top-down

Đề tài “Kiểm định rủi ro tín dụng cho các Ngân hàng thương mại niêmyết tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hoàng Thụy Bích Trâm Đề tài nghiên

Trang 13

cứu thực hiện thử nghiệm Stress testing để xem xét tác động vĩ mô lên rủi rotín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam dựa trên phân tích viễncảnh Kết quả cho thấy tồn tại mối tương quan âm giữa tỷ lệ nợ xấu (NPL) vàtăng trưởng GDP với độ trễ là hai quý Đề tài nghiên cứu còn sử dụng CreditVar để tính toán khả năng vỡ nợ của khu vực Ngân hàng thương mại và nhậnthấy rằng các ngân hàng thương mại không thể hấp thụ được các khoản tổnthất tín dụng dưới các kịch bản vĩ mô bất lợi Điều này có thể đe dọa đến sự

ổn định của hệ thống tài chính Những ước lượng này cũng rất hữu ích choNgân hàng nhà nước trong việc xác định mức độ rủi ro và tính toán tỷ số antoàn vốn tối thiểu cần thiết khi trường hợp xấu có thể xảy ra

Tác giả thực hiện nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứutrong nước và ngoài nước đã công bố và rút ra những kết luận như sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu đã công bố chủyếu chỉ thực hiện ở tầm vĩ mô, thực hiện tính toán kiểm định sức chịu đựngrủi ro tín dụng đối với hệ thống ngân hàng thương mại hoặc khối doanhnghiệp trung ương trước những cú số vĩ mô như lạm phát tăng, thu nhập quốcnội giảm, tỷ giá thực biến động tăng, lãi suất cho vay tăng….từ đó sử dụngkết quả kiểm định phục vụ việc hoạch định các chính sách tài chính tiền tệcủa Ngân hàng trung ương hoặc các cơ quan quản lý tài chính trong việc quản

lý chính sách tài chính tiền tệ của nhà nước Rất ít các đề tài nghiên cứu thựchiện căn cứ trên thực trạng của một ngân hàng thương mại cụ thể để từ đó đưa

ra những hoạch định, chính sách quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng đócũng như chiến lược phát triển tín dụng của Ngân hàng phù hợp với thựctrạng của bản thân ngân hàng và nền kinh tế

Thứ hai, hầu hết các đề tài nghiên cứu thực hiện kiểm tra sức chịu đựngchủ yếu thực hiện thông qua phương pháp từ trên xuống (Top-down), dựa trên

Trang 14

số liệu báo cáo của các Ngân hàng, cơ quan giám sát nhà nước sẽ áp dụng cáckịch bản khác nhau để đánh giá mức độ tổn thất của hệ thống hoặc của từngngân hàng Tuy nhiên, về mô hình kinh doanh và tính chất hoạt động khácnhau của các ngân hàng dẫn đến việc so sánh kết quả giữa các ngân hàng sẽ

có những hạn chế nhất định Tại Luận án này, tác giả thực hiện kiểm tra sứcchịu đựng thông qua phương pháp Bottom-up dựa trên những dữ liệu đầy đủ,hiểu rõ về rủi ro thị trường và rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại

từ đó có thể đưa ra những kết quả thử nghiệm và dự báo phù hợp nhất choNgân hàng

Thứ ba, kết quả các đề tài nghiên cứu chủ yếu được dùng để hỗ trợngân hàng trung ương và cơ quan giám sát đưa ra các chính sách tài chính tiền

tệ ở tầm vĩ mô Ít có đề tài nghiên cứu chi tiết cụ thể dùng cái tài liệu con sốthực trạng của ngân hàng cụ thể kết hợp dự báo các kịch bản bất lợi thực hiệnkiểm tra sức chịu đựng của Ngân hàng từ đó giúp nhà quản lý Ngân hàngthương mại có thể sự báo được rủi ro, chủ động hoạch định các chính sáchquản trị rủi ro tín dụng và chiến lược phát triển hoạt động kinh doanh tươnglai an toàn, bền vững cho Ngân hàng thương mại, chứ không phải xây dựngchính sách quản trị rủi ro dựng trên những rủi ro đã xảy ra và đã gây tổn thấtcho Ngân hàng thương mại

3 Những câu hỏi nghiên cứu

Câu 1: Dựa trên những căn cứ lý luận nào để đánh giá và hoàn thiện hoạt

động Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàngthương mại?

Câu 2: Thực trạng Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công

Thương VN còn có những tồn tại gì?

Câu 3: Xây dựng và thử nghiệm kiểm tra sức chịu đựng trong quản trị rủi ro

tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương VN có đo lường, đánh giá được

Trang 15

mức tổn thất thực tế nhất khi xảy ra các cú sốc dẫn đến rủi ro tín dụng haykhông? Có mang lại kết quả hỗ trợ cao nhất cho hoạt động Quản trị rủi ro tíndụng hay không?

Câu 4: Để hoàn thiện hơn nữa hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân

hàng TMCP Công Thương VN cần những giải pháp gì?

Câu 5: Kết quả nghiên cứu Quản trị rủi ro tín dụng dựa trên nền tảng kiểm

tra sức chịu đựng (Stress testing) tại Ngân hàng TMCP Công Thương ViệtNam có thể áp dụng triển khai đối với những bộ phận, phòng ban và đốitượng nào trong bộ máy quản trị rủi ro của NHCT?

Câu 6: Để thực hiện các giải pháp và kết quả nghiên cứu cần có những điều

kiện gì?

Trang 16

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hệ thống ngân hàng đóng vai trò rất lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh

tế và trong thực thi các chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN)

Vì vậy, đảm bảo sự ổn định và phát triển an toàn cho các Ngân hàng thươngmại (NHTM) là một yêu cầu quan trọng, cấp thiết Trải qua nhiều biến độngtrên thị trường tiền tệ, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm2008-2009 và giai đoạn nền kinh tế gặp nhiều khó khăn năm 2012-2014 hệthống ngân hàng Việt Nam đã bộc lộ nhiều dấu hiệu căng thẳng và tích tụnhững yếu tố dễ bị tổn thương, đặc biệt là vấn đề nợ xấu Hậu quả của tăngtrưởng tín dụng quá nóng và không có định hướng chiến lược phù hợp đã tạo rasức ép cho nền kinh tế; thêm vào đó việc xử lý nợ xấu, loại bỏ các ngân hàngyếu kém ra khỏi hệ thống còn nhiều vướng mắc làm cho hệ thống ngân hàngthương mại ở Việt Nam giảm sức chống đỡđể có thể chịu đựng được những cúsốc trước những bất ổn tài chính, rủi ro tín dụng có thể xảy ra bất cứ lúc nào

Rất nhiều kỹ thuật phân tích dự báo rủi ro tín dụng đã được phát triển

và áp dụng tại các NHTM của các quốc gia trên thế giới, trong đó Stresstesting (ST) được áp dụng khá rộng rãi để đo lường sức chịu đựng rủi ro tíndụng của hệ thống Ngân hàng Thực tế ở Hoa kỳ, JP Morgan Chase là mộttrong những ngân hàng lớn nhất đã áp dụng kỹ thuật này kiểm tra sức chịuđựng thường xuyên để phục vụ cho mục đích quản trị rủi ro của các danh mụchiện có, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch kinh doanh Là một thị trường đangphát triển, các ngân hàng Việt Nam đã bộc lộ một số bất cập, yếu kém như tỷ

lệ nợ xấu gia tăng, trình độ quản trị còn yếu, nguồn nhân lực chưa đáp ứng

Trang 17

yêu cầu của tốc độ phát triển đa dạng, phức tạp của nền kinh tế thị trường.Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu về phương pháp kiểm tra sức chịu đựngđối với rủi ro trong hoạt động cho vay của các NHTM là rất cần thiết.

Tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (NHCT), việc quản trịrủi ro trong hoạt động cho vay luôn được Ban lãnh đạo quan tâm và chỉ đạo sátsao Hệ thống quản trị rủi ro tín dụng (QTRRTD) tương đối đầy đủ và đồng bộ,bao gồm: Chiến lược QTRRTD, khẩu vị rủi ro tín dụng, chính sách QTRRTD,

bộ máy QTRRTD, các quy trình và quy định về quản lý rủi ro tín dụng, các nộidung về giám sát và kiểm tra quá trình QTRRTD và điều chỉnh sau giám sát.Tuy nhiên, để hoàn thiện hơn nữa chính sách quản trị rủi ro trong hoạt độngcho vay cũng như xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng thời kỳ,tác giả đi sâu nghiên cứu “Quản trị rủi ro tín dụng dựa trên nền tảng kiểm trasức chịu đựng (Stress testing) tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam”,

từ đó kiến nghị triển khai thực hiện Stress testing trong quản trị rủi ro hoạtđộng cho vay nhằm phát triển NHCT an toàn hiệu quả hơn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là tập trung nghiên cứu xácđịnh những tác động của những thay đổi khi có sự cố xấu hay rất xấu xảy ralên một danh mục cấp tín dụng, từ đó đánh giá tác động đến bảng cân đối tàisản và cuối cùng là các tác động lên vốn hay tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng

Từ việc lượng hóa được những tác động này, đánh giá sức chịu đựng củaNHTM trước những sự cố xảy ra để từ đó hoạch định các chính sách quản trịrủi ro trong hoạt động cho vay và xây dựng các chiến lược kinh doanh phùhợp cho từng thời kỳ Cụ thể, luận án được thực hiện nhằm đạt đến các mụctiêu sau:

Thứ nhất: Xác định quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay là hoạt độngquản trị cốt lõi, đảm bảo sự phát triển hiệu quả, an toàn và bền vững cho NHTM;

Trang 18

Thứ hai: Xác định các yếu tố có thể gây ra rủi ro trong hoạt động chovay của NHTM, từ đó đo lường lượng hóa các tổn thất có thể xảy ra khi cácyếu tố này thay đổi xấu hoặc rất xấu, đánh giá ảnh hưởng của các tổn thất nàyđến tài sản và vốn của NHTM.

Thứ ba: Đánh giá sức chịu đựng của NHTM trước những tổn thất khixảy ra các cú sốc bất lợi, từ đó hoạch định các chính sách quản trị rủi ro vàxây dựng các chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng thời kỳ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong luận án này là “Quản trị rủi ro tín dụng dựatrên nền tảng kiểm tra sức chịu đựng (Stress testing) tại Ngân hàng TMCPCông Thương Việt Nam”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do đối tượng nghiên cứu trong luận án này là “Quản trị rủi ro tín dụng dựa trênnền tảng kiểm tra sức chịu đựng (Stress testing) tại Ngân hàng TMCP CôngThương Việt Nam”, nên trong luận án, tác giả chỉ đánh giá việc quản trị rủi rotrong hoạt động cho vay của NHCT Các thuật ngữ Rủi ro tín dụng, Quản trịrủi ro tín dụng, khẩu vị rủi ro tín dụng, chính sách quản trị rủi ro tín dụng…sửdụng trong luận án được hiểu là các thuật ngữ sử dụng trong hoạt động cho vaycủa NHCT, không bao gồm hoạt động huy động vốn và các hình thức cấp tíndụng khác như phát hành LC và bảo lãnh, bao thanh toán…

Đối tượng khảo sát là các thông tin báo cáo tài chính, tình hình hoạtđộng kinh doanh của NHCT và Hệ thống QTRRTD hiện hành tại NHCT, baogồm: Chiến lược QTRRTD, Khẩu vị rủi ro tín dụng, Chính sách QTRRTD,

Bộ máy QTRRTD, Các quy trình và quy định về QTRRTD, Các nội dung vềgiám sát và kiểm tra quá trình QTRRTD và Điều chỉnh sau giám sát Từ đóhiểu thêm về khung quản trị rủi ro, mô hình quản trị rủi ro hiện tại mà NHCT

Trang 19

đang áp dụng, thực hiện nghiên cứu triển khai thực hiện Stress testing trongQTRRTD nhằm phát triển NHCT an toàn hiêu quả hơn.

Giới hạn phạm vi nghiên cứu: tại luận án này tác giả thực hiện nghiêncứu đánh giá sức chịu đựng trước những rủi ro tín dụng của Ngân hàngTMCP Công Thương Việt Nam, đánh giá khả năng chịu đựng của NHCTtrước những kịch bản bất lợi từ đó đưa ra các chính sách quản trị rủi ro tíndụng và chiến lược phát triển kinh doanh phù hợp

Không gian nghiên cứu: tại luận án này tác giả chỉ thực hiện nghiêncứu những thực hiện đánh giá kiểm tra sức chịu đựng trước những rủi ro tíndụng (rủi ro trong hoạt động cho vay) tác động đến hoạt động kinh doanhchính của NHCT, không bao gồm hoạt động của các công ty con, công ty liênkết của NHCT

Thời gian nghiên cứu: Các tài liệu, số liệu phục nghiên cứu luận ánđược tổng hợp thu thập từ giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2018 của NHCT vàchiến lược phát triển NHCT giai đoạn 2020-2025 tầm nhìn 2030

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của luận án là phương pháp hỗn hợp quy nạp

và giải thích, bao gồm phương pháp định tính và định lượng

Phương pháp định tính: được sử dụng gồm ba bước: Bước 1, luận ánnghiên cứu cơ sở lý luận và tổng hợp các quan điểm của các chuyên gia vềQTRRTD (đối với hoạt động cho vay), từ đó đánh giá vai trò quan trọng củaviệc QTRRTD Bước 2, luận án nghiên cứu về đo lường rủi ro tín dụng và cácphương pháp đo lường rủi ro tín dụng đang áp dụng hiện nay, từ đó đánh giá

ưu nhược điểm từ các phương pháp này trong hoạt động quản trị rủi ro Bước

3, luận án nghiên cứu về lý luận và các quan điểm về Kiểm tra sức chịu đựng(stress testing – ST) trong QTRRTD tại các NHTM, từ đó đánh giá các ưunhược điểm của kỹ thuật này trong hoạt động đo lường rủi ro tín dụng tronghoạt động kinh doanh của NHTM

Trang 20

Phương pháp định lượng: tác giả thực hiện khảo sát thực tế QTRRTD vàtình hoạt động kinh doanh của NHCT Áp dụng phương pháp thống kê và môhình hồi quy để đánh giá kiểm tra sức chịu đựng của NHCT trước những yếu

tố thay đổi xấu và rất xấu đến hoạt động kinh doanh, từ đó đưa ra chính sáchQTRRTD và hoạch định chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng thời kỳ

5 Những đóng góp mới của luận án

Xem xét và đối chiếu với các nghiên cứu của các nhà khoa học trướcđây, luận án đã đóng góp những vấn đề mới sau đây:

Tác giả đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận và những quan điểm mớinhất, cập nhật những quy định mới nhất trong QTRRTD dựa trên nền tảngkiểm tra sức chịu đựng tại các NHTM Đồng thời đưa ra những yêu cầu cấpbách trong QTRRTD và nâng cao sức cạnh tranh của NHTM trong thời kỳhội nhập kinh tế quốc tế

Về phương pháp nghiên cứu: tác giả đã xây dựng công trình nghiên cứucủa mình một cách logic từ lý luận đến thực tế áp dụng tại NHCT Dẫn dắt vấn

đề một cách khoa học, dễ hiểu, dễ tiếp cận Dùng phương pháp thống kê và môhình hồi quy để đo lường con số tổn thất cụ thể cho sự tác động của những cúsốc đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Chỉ ra những tác động đến tàisản và vốn của Ngân hàng và đánh giá con số cụ thể về sức chịu đựng củaNgân hàng trước những cú sốc thay đổi đó

Từ thực trạng phân tích QTRRTD của NHCT và kiểm tra sức chịu đựng

trong QTRRTD tại NHCT, giúp các nhà quản lý NHCT có thể dự báo trước

được rủi ro, từ đó chủ động hoạch định các chính sách QTRRTD và chiến

lược phát triển hoạt động kinh doanh tương lai an toàn, bền vững cho NHCT,chứ không phải xây dựng chính sách quản trị rủi ro dựa trên những rủi ro đãxảy ra và đã gây tổn thất cho Ngân hàng

6 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án gồm 3 chương, cụ thể:

Trang 21

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng dựa trên nền tảng kiểm tra sức chịu đựng (Stress testing) tại các Ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng và thử nghiệm quản trị rủi ro tín dụng dựa trên nền tảng kiểm tra sức chịu đựng (Stress testing) tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam.

Chương 3: Giải pháp thực hiện quản trị rủi ro tín dụng trên nền tảng kiểm tra sức chịu đựng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

Trang 22

1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Trong kinh tế thị trường, hệ thống Ngân hàng được ví như hệ thần kinhcủa nền kinh tế Hệ thống Ngân hàng hoạt động thông suốt, lành mạnh vàhiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chính luân chuyển, phân bổ và sửdụng hiệu quả, kích thích tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền và tạocông ăn việc làm Tuy nhiên, trong kinh tế thị trường, rủi ro là không thểtránh khỏi, mà đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng cóphản ứng dây chuyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức tạp Những rủi

ro phổ biến trong hoạt động Ngân hàng bao gồm: Rủi ro thanh khoản, rủi rotín dụng, rủi ro thanh toán, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động, rủi ro chủ quyền

và rủi ro chính trị Trong đó, rủi ro tín dụng được đánh giá là một trong nhữngloại rủi ro có ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

Đã có nhiều nghiên cứu của nhiều chuyên gia tài chính về rủi ro tíndụng và QTRRTD trong hoạt động kinh doanh của NHTM, trên cơ sở đó cáctác giả cũng đưa ra những định nghĩa và quan điểm khác nhau về rủi ro tíndụng Một số định nghĩa về rủi ro tín dụng được đưa ra như sau:

- Theo Saunders, A., & Cornett, M M (2007) Financial Institutions

Management A Risk Management Approach, 6th edition Boston: Hill Irwin,[21] rủi ro tín dụng là rủi ro các dòng tiền mang lại từ các khoản

Mcgraw-vay hoặc các chứng khoán (như trái phiếu) mà tổ chức tài chính nắm giữkhông được thanh toán đầy đủ Tất cả các định chế tài chính đều phải đối mặt

Trang 23

với rủi ro tín dụng, trong đó các định chế tài chính cho vay dài hạn hoặc muatrái phiếu dài hạn thường đối mặt với rủi ro tín dụng cao hơn so với các địnhchế tài chính cho vay ngắn hạn hoặc mua trái phiếu ngắn hạn

Biểu đồ 1.1 dưới đây thể hiện phân bố xác suất trả nợ đối với mộtkhoản vay mà một ngân hàng cấp cho một khách hàng riêng lẻ Theo đó, xácsuất người đi vay trả được cả gốc và lãi là khá cao, nhưng thấp hơn 1 (tươngứng với điểm A trên đồ thị) Người đi vay có thể không trả được nợ do nhữngvấn đề trong dòng tiền, tuy nhiên xác suất người đi vay không trả được cả gốclẫn lãi thường không cao (tương ứng với điểm C trên đồ thị) Dù xác suất nàykhông cao, vẫn luôn tồn tại khả năng xảy ra tình huống khách hàng vay khôngtrả được một phần hoặc hoàn toàn không trả được gốc và lãi Do đó tổ chứctài chính luôn phải ước lượng rủi ro không trả được nợ đối với các tài sản này

và đặt ra một mức bù rủi ro tương xứng với phần rủi ro phải gánh chịu

Biểu đồ 1.1 Phân bố xác suất trả nợ của khoản vay

( Nguồn: Saunders, A., & Cornett, M M (2007) Financial Institutions Management A Risk Management Approach, 6th edition Boston: Mcgraw-Hill Irwin )[21]

Trang 24

Khi tổ chức tài chính đa dạng hoá danh mục đầu tư, tổng mức rủi ro tíndụng trên toàn danh mục tài sản sẽ giảm xuống Đa dạng hoá danh mục đầu tưlàm giảm mức rủi ro tín dụng của tổ chức tài chính đối với từng khách hàngriêng lẻ (individual firm-specific credit risk) nhưng không làm giảm được rủi

ro tín dụng hệ thống (systematic credit risk) – là những rủi ro thường đi cùngvới tình hình kinh tế chung tác động đến tất cả người đi vay, ví dụ như rủi rocủa phần lớn các doanh nghiệp gặp phải(rủi ro vỡ nợ) khi kinh tế khủnghoảng (Saunders & Cornett, 2007) [21]

- Theo Hull, J C (2012) Risk management in Financial Institutions,

3rd edition New Jersey: John Wiley & Sons, Inc,[16] rủi ro tín dụng là rủi

ro các bên đối tác trong giao dịch vay và giao dịch phái sinh không trả nợ.Hull cho rằng rủi ro tín dụng thông thường là rủi ro lớn nhất mà một ngân

hàng phải đối mặt.Tương tự, Greuning, H v., & Bratanovic, S B (2009).

Analyzing Banking Risk: A Framework for Assessing Corporate Governance and Risk Management, 3rd Edition Washington, D.C : The International Bank for Reconstruction and Development/THE WORLD BANK[14] định

nghĩa rủi ro tín dụng hay còn gọi là rủi ro đối tác (counterparty risk) là rủi rongười đi vay hoặc người phát hành công cụ tài chính – là cá nhân, công tyhoặc một quốc gia – không trả được gốc và các dòng tiền liên quan theo cácđiều khoản đã được thoả thuận trên hợp đồng tín dụng

- Trong bộ “17 nguyên tắc quản trị RRTD” của Ủy ban Basel được

ban hành vào tháng 9/2000 thì “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vayhoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúngnghĩa vụ thanh toántheo các điều khoản đã thỏa thuận” (Basel Committee on BankingSupervision , 09/2000) [4].Phạm vi của rủi ro tín dụng theo định nghĩa nàytương tự phạm vi của rủi ro tín dụng trong định nghĩa của Saunders & Cornett(2007) [21] và Hull (2012) [16]: nó bao hàm cả rủi ro trong quan hệ tín dụng

Trang 25

giữa ngân hàng với khách hàng vay và trong cả các hoạt động khác như hoạtđộng đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện

- Tại Việt Nam, theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày

22/04/2005 về việc ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự

phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng

do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, rủi ro tín dụng trong hoạt độngngân hàng của tổ chức tín dụng được định nghĩa “là khả năng xảy ra tổn thấttrong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thựchiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”

Theo PGS.TS Phan Thị Thu Hà tại Giáo trình Ngân hàng thương mại (2013), Trường đại học kinh tế quốc dân, viện Ngân hàng – Tài chính, NXB Đại học Kinh tế quốc dân[26], rủi ro tín dụng bao gồm (i) rủi ro tín

dụng đối với một khoản tín dụng - là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàngkhông hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ theo hợp đồng tín dụng đã ký giữangân hàng và khách hàng; và (ii) rủi ro tín dụng trên cơ sở danh mục tín dụngcủa ngân hàng - là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng không hoàn trảhoặc hoàn trả không đầy đủ số tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã kýgiữa Ngân hàng và khách hàng xét theo danh mục tín dụng (ví dụ như đối vớimột lĩnh vực kinh doanh cụ thể, một nhóm khách hàng hàng liên quan, một

phân khúc khách hàng cụ thể….) Tương tự, theo PGS TS Nguyễn Minh

Kiều tại Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại (2012), Đại học Mở TP

Hồ Chí Minh & chương trình Giảng dạy kinh tế Fullbright, NXB Lao Động[27], rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh do khách nợ không còn khả

năng chi trả Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra khi kháchhàng vay nợ có thể mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó Rủi ro tíndụng phát sinh khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng và tất cả các hìnhthức cấp tín dụng của ngân hàng như cho vay ngắn hạn, trung dài hạn, chothuê tài chính, chiết khấu chứng từ có giá, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự

án, bao thanh toán và bảo lãnh đều chứa đựng rủi ro tín dụng Như vậy, theo

Trang 26

hai định nghĩa đưa ra bởi PGS TS Phan Thị Thu Hà và PGS TS NguyễnMinh Kiều, rủi ro tín dụng chỉ liên quan đến các hoạt động cấp tín dụng củangân hàng, không liên quan đến các hoạt động đầu tư, phái sinh mà ngân hàngthực hiện.

Tóm lại, có nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng với các phạm vi địnhnghĩa khác nhau Tuy nhiên, như đã giới thiệu trong phạm vi nghiên cứu của

đề tài, luận án chỉ nghiên cứu rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng củangân hàng Do đó, trong phạm vi luận án này, rủi ro tín dụng được định nghĩanhư sau:

Rủi ro tín dụng của NHTM là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi chất lượng của khoản tín dụng hoặc danh mục tín dụng dẫn đến khả năng phát sinh những tổn thất cho ngân hàng do khách hàng không thực hiện việc trả gốc và lãitheo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Các khoản nợ quá hạn này trở thành nợ xấu, và buộc các ngân hàng thương mại phải sử dụng vốn của mình để xóa nợ đối với các khoản nợ không có khả năng thu hồi.

Ở đây, cần làm rõ các khái niệm liên quan đến tổn thất phát sinh đối

với ngân hàng do rủi ro tín dụng, bao gồmkhái niệm Tổn thất ước tính được

(Expected losses – EL),Tổn thất không ước tính được (Unexpected losses)và Khái niệm “Nợ xấu”, “Nợ quá hạn”.

(i) Tổn thất ước tính được và tổn thất không ước tính được:

Tổn thất ước tính được là mức tổn thất trung bình mà ngân hàng có thểtính toán, ước lượng được bằng cách sử dụng các số liệu thống kê về nhữngtổn thất đã phát sinh do rủi ro tín dụng trong quá khứ Ngân hàng có thể sửdụng chỉ tiêu Tổn thất ước tính được để làm căn cứ cho các quyết định tíndụng của mình trong tương lai.Tổn thất ước tính được cũng là căn cứ để ngânhàng xác định phần bù rủi ro của mình khi cho vay, qua đó xác định lãi suấtđối với khoản vay đó Mặt khác, tỷ lệ tổn thất ước tính được cũng là căn cứ đểngân hàng trích lập dự phòng rủi ro trong quá trình hoạt động tín dụng củamình Về mặt kế toán, việc trích lập dự phòng rủi ro làm giảm giá trị của tài

Trang 27

sản (ở đây là giá trị khoản vay) và làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận ròng vàgiảm vốn chủ sở hữu của ngân hàng.

Tuy nhiên, Tổn thất ước tính được về bản chất chỉ là con số mang tínhchất dự kiến, ước lượng của ngân hàng Trên thực tế, mức tổn thất thực sự xảy ra

có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với Tổn thất ước tính được Khi mức độ tổn thấtthực tế cao hơn với mức độ tổn thất đã ước tính, ngân hàng phải chịu tổn thấtvượt quá mức ước tính Tổn thất vượt quá mức ước tính này được gọi là Tổn thấtkhông ước tính được (Unexpected losses – UL) Các tổn thất không ước tínhđược không thường xuyên xảy ra, nhưng khi xảy ra thì mức độ tổn thất có thể làrất lớn Các ngân hàng biết rằng có thể xảy ra các tổn thất không ước tính đượcnày, nhưng rất khó để biết trước thời điểm hoặc mức độ nghiêm trọng của cáctổn thất không ước tính được Khi tổn thất không ước tính được xảy ra, ngânhàng phải sử dụng vốn chủ sở hữu của mình để bù đắp, do đó ngân hàng cầnphải nắm giữ đủ vốn để bù đắp cho tổn thất không ước tính được

Tổn thất ước tính được và Tổn thất không ước tính được được minhhoạ trên đồ thị 1.2 dưới đây

Biểu đồ 1.2 Tổn thất ước tính được, Tổn thất không ước tính được và tần

suất xảy ra tổn thất

(Nguồn: Basel, 2005)

Trang 28

Trong mô hình hoá rủi ro tín dụng, Tổn thất không ước tính đượcthường được coi là phần đi lệch khỏi đường cong phân bố tổn thất ở mộtmức độ tự tin nhất định (confidence level), biểu hiện trong biểu đồ 1.3 dướiđây Phần đuôi của đường cong phân bố tổn thất thể hiện những tổn thấtkhông ước tính được xảy ra trong các tình huống cực điểm, còn được gọi là

sự kiện đuôi

Biểu đồ 1.3 Tổn thất ước tính được và không ước tính được trong mô

hình hoá rủi ro tín dụng

(Nguồn: Basel, 2005)[4]

Việc phân biệt các loại tổn thất xảy ra cho ngân hàng do rủi ro tín dụng

có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu được bản chất của phương pháp kiểmtra sức chịu đựng (Stress testing – ST) được phân tích ở mục 1.3 của chuyên

đề này

(ii)/Nợ quá hạn và nợ xấu:

Khái niệm rủi ro tín dụng được xác định dựa trên khả năng tổn thấtxảy ra khi khách hàng rơi vào tình trạng không trả gốc và lãi Điều này đòihỏi phải xác định được tại thời điểm nào thì khách hàng bị đánh giá làkhông trả được gốc và lãi và ngân hàng phải ghi nhận tổn thất Mặc dù

Trang 29

Basel đã cung cấp định nghĩa chuẩn về nợ quá hạn (past due) và nợ mấtkhả năng thanh toán (defaulted), tuy nhiên các định nghĩa này có thể khácnhau tại các quốc gia khác nhau hoặc thậm chí khác nhau tại các tổ chức tíndụng khác nhau

Tại Việt Nam, khi khách hàng không thực hiện trả gốc và lãi, khoản nợ

sẽ được xem là “Nợ quá hạn” - là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốcvà/hoặc lãi đã quá hạn Các khoản nợ quá hạn được xem là nợ xấu khi bị phânloại vào nhóm 3, 4, 5 theo quy định của pháp luật1

Như vậy, rủi ro tín dụng gây ra hai mức độ tổn thất là tổn thất ước tính được

và tổn thất không ước tính được Và mục đích của việc nghiên cứu kỹ thuậtkiểm tra sức chịu đựng (Stress testing – ST) mà tác giả muốn đề cập trongchuyên đề này nhằm đo lường những tổn thất không ước tính được trong hoạtđộng cấp tín dụng của Ngân hàng

1 Theo Văn bản hợp nhất 22/VBHN-NHNN năm 2014 hợp nhất Quyết định về Quy định phân loại

nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, nợ của các TCTD được phân chia thành 5 nhóm như sau:

a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; Các khoản nợ được phân loại lại vào nhóm 1 do thoả mãn các điều kiện để phân loại lại nhóm nợ có rủi

ro thấp hơn theo quy định của pháp luật.

b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ

sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); Các khoản nợ được phân loại lại vào nhóm 2 do bị chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong các trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.

c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không

đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; Các khoản nợ được phân loại lại vào nhóm 3 do bị chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong các trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.

d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ

cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Các khoản nợ được phân loại lại vào nhóm 4 do bị chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong các trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.

đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ

cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; Các khoản nợ được phân loại lại vào nhóm 5 do bị chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi

ro cao hơn trong các trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.

NHNN cũng quy định tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với năm nhóm nợ như sau: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 5%; Nhóm 3: 20%; Nhóm 4: 50%; Nhóm 5: 100%.

Trang 30

1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng

Có nhiều tiêu chí phân loại rủi ro tín dụng Tuy nhiên, trong phạm viluận án, tác giả sử dụng các tiêu chí sau để phân loại rủi ro tín dụng, cụ thể:

(i) Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro:

- Rủi ro giao dịch: là rủi ro liên quan đến từng khoản vay đơn lẻ hoặc

từng khách hàng cụ thể Đây là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do nhữnghạn chế, sai sót trong quá trình tác nghiệp như thẩm định, xét duyệt tín dụng,giải ngân, kiểm soát sau khi cho vay hoặc thực hiện đảm bảo tiền vay vànhững cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng

Theo PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn tại Giáo trình Ngân hàng thương mại, (2010), Trường ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh, NXB Lao Động[25]: Rủi ro giao

dịch bao gồm: (i) Rủi ro xét duyệt là loại rủi ro liên quan đến việc phân tích,đánh giá, xét duyệt khoản vay; (ii) Rủi ro kiểm soát là rủi ro liên quan đếnviệc theo dõi, kiểm soát khoản vay và quản lý hoạt động cho vay; và (iii) Rủi

ro đảm bảo là rủi ro liên quan đến vấn đề đảm bảo tài sản

- Rủi ro danh mục tín dụng: Là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do

những hạn chế trong quản lý danh mục tín dụng của ngân hàng bao gồm rủi ronội tại và rủi ro tập trung

Theo PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn tại Giáo trình Ngân hàng thương mại, (2010), Trường ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh, NXB Lao Động[25]: Rủi

ro danh mục bao gồm: (i) Rủi ro cá biệt là loại rủi ro xuất phát từ yếu tố rủi roriêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc mỗi ngành nghề, lĩnh vực kinhtế; (ii) Rủi ro tập trung là rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng tậptrung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, một ngành, một lĩnh vựckinh tế hoặc khu vực địa lý, hoặc một loại hình cho vay nhất định

Trang 31

Biểu đồ 1.4 Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh

(Nguồn: Gup, Avram, Beal, Lambert và Kolari (2007), Commercial Banking – The management of Risk, Wiley, p.234 và PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn tại Giáo trình Ngân hàng thương mại, (2010), Trường ĐH Kinh tế TP Hồ Chí

Minh)

(ii) Căn cứ vào mức độ tổn thất:

- Rủi ro đọng vốn (do không hoàn trả nợ đúng hạn): là rủi ro xảy ra

trong trường hợp đến hạn trả nợ theo thỏa thuận mà ngân hàng vẫn chưa thuhồi được vốn, dẫn đến các khoản vốn bị đóng băng và ảnh hưởng đến ngânhàng trên hai phương diện là kế hoạch sử dụng vốn và khó khăn trong quản lýthanh khoản

- Rủi ro mất vốn (do không có khả năng trả nợ): là rủi ro xảy ra trong

trường hợp khách hàng mất khả năng trả nợ gốc và/hoặc lãi, buộc ngân hàngphải thanh lý tài sản bảo đảm để thu nợ

(iii) Căn cứ nguyên nhân khách quan hay chủ quan:

- Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên

tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến cố bất khả kháng kháclàm thất thoát tín dụng trong khi khách hàng và ngân hàng đã thực hiện đúng

Rủi ro tín dụng

Rủi ro giao dịch

Rủi ro xét

duyệt Rủi ro kiểm soát Rủi ro bảo đảm

Rủi ro danh mục

Rủi ro cá biệt Rủi ro tập trung cho

vay

Trang 32

quy trình, chính sách tín dụng, cũng như các nội dung quy định trong hợpđồng tín dụng.

- Rủi ro chủ quan: Do nguyên nhân thuộc về chủ quan khách hàng và

ngân hàng vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì lý do chủ quan khác

Việc xây dựng các tiêu chí phân loại rủi ro tín dụng có ý nghĩa rất lớntrong việc thiết lập chính sách, quy trình và mô hình tổ chức quản trị tín dụng.Phân loại rủi ro tín dụng giúp nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro vàphân biệt được rủi ro phát sinh trong từng giai đoạn cấp tín dụng Trong quảntrị tín dụng, các NHTM cần nắm bắt toàn bộ các nguyên nhân phát sinh rủi rotín dụng để có định hướng và đưa ra chính sách cũng như quy trình quản trịrủi ro bao quát và đồng bộ để giảm thiểu tất cả các loại rủi ro phát sinh

1.1.3 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với NHTM

- Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được khoản tiền gốc vàlãi tín dụng, nhưng vẫn phải trả gốc và lãi cho các khoản vốn huy động đếnhạn Điều này làm cho ngân hàng rơi vào tình trạng mất cân đối thu chi và rủi

ro thanh khoản

- Chi phí gia tăng do phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, làm cholợi nhuận giảm sút Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nhỏ thì ngân hàng có thể bùđắp bằng khoản dự phòng rủi ro (ghi vào chi phí) và bằng vốn tự có; nếu rủi

ro xảy ra ở quy mô lớn và kéo dài ngân hàng có thể rơi vào trạng thái mất khảnăng thanh toán và phá sản

- Suy giảm chất lượng tín dụng và tình trạng thua lỗ cũng làm xóimòn lòng tin của người gửi tiền, khiến mức độ tín nhiệm của ngân hàngtrên thị trường suy giảm Ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh phụ thuộc lớnvào lòng tin của khách hàng, nếu khả năng trả nợ ngân hàng bị nghi ngờ,người gửi tiền sẽ đổ xô đi rút tiền làm ngân hàng lâm vào tình trạng khủnghoảng hoặc phá sản Trên thực tế tại Việt Nam cũng như tại nhiều quốc gia

Trang 33

khác, đã có nhiều NHTM đã phải đóng cửa xuất phát từ việc không kiểmsoát được rủi ro tín dụng.

- Rủi ro tín dụng làm hạn chế khả năng tăng trưởng tín dụng của cácNHTM: Việc khách hàng tín dụng không trả được gốc và lãi theo cam kết trựctiếp ảnh hưởng xấu đến dòng tiền và tính thanh khoản của ngân hàng, đòi hỏicác ngân hàng có thể phải tăng vốn, do đó làm hạn chế khả năng tăng trưởngtín dụng của các NHTM Rủi ro tín dụng lớn cũng khiến mức độ tín nhiệm củangân hàng suy giảm, do đó có thể bị cơ quan quản lý nhà nước hạn chế tỷ lệtăng trưởng tín dụng so với các ngân hàng có mức độ tín nhiệm cao hơn

- Rủi ro tín dụng đòi hỏi các NHTM có thể phải tăng vốn để đảm bảo

đủ bù đắp cho tổn thất tín dụng Các cơ quan quản lý nhà nước tại các quốcgia đều đưa ra các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Capital adequacyratio-CAR) mà các NHTM phải duy trì nhằm đảm bảo an toàn hoạt động

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn vốn của Ngânhàng Nó được tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng vốn cấp 1 và vốn cấp 2 sovới tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của Ngân hàng Bằng tỷ lệ này người ta

có thể xác định được khả năng của Ngân hàng thanh toán các khoản nợ cóthời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác nhau như rủi ro tín dụng, rủi rovận hành Hay nói cách khác, khi Ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ này tức lànăng lực tài chính của Ngân hàng có thể chống lại những cú sốc về tài chínhvừa tự bảo vệ mình và đảm bảo khả năng thanh toán đối với những khoản tiềngửi đã huy động của người dân Trong quản lý hoạt động ngân hàng, các nhàquản trị luôn xác định rõ và giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỷ lệ antoàn vốn tối thiểu, theo quy định tại thông tư 41/2016/TT-NHNN tỷ lệ an toànvốn tối thiểu của các Ngân hàng phải đạt mức 8%

Những hậu quả nặng nề có thể gây ra bởi rủi ro tín dụng buộc các ngânhàng phải luôn quan tâm đến việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng,

Trang 34

trong đó nhấn mạnh đến các khâu như thiết lập chính sách và quy trình tíndụng, mô hình tổ chức quản lý tín dụng và quy trình quản trị rủi tín dụng

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các NHTM

a) Các nhân tố khách quan

-Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội: Các yếu tố vĩ mô như tốc độtăng trưởng GDP, tăng trưởng tín dụng, lãi suất thực, lạm phát, cung tiền(M2), tỷ lệ thất nghiệp, nợ công, v.v… thay đổi theo hướng tiêu cực có thểlàm gia tăng rủi ro tín dụng tại các NHTM Rủi ro tín dụng cũng tăng cao khigặp các cú sốc bên ngoài như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính,hoặc bất ổn chính trị - xã hội Các yếu tố xã hội như đạo đức của cán bộ ngânhàng hoặc khách hàng xuống cấp cũng tác động xấu đến rủi ro tín dụng

- Môi trường pháp lý: Hệ thống luật pháp và các văn bản của nhà nướcban hành liên quan đến hoạt động tín dụng của ngân hàng có thể ảnh hưởngđến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Một hệ thống luật phápchưa hoàn thiện, các văn bản chưa đồng bộ, chồng chéo, sơ hở, dễ bị lợi dụnglàm tăng rủi ro tín dụng cho các NHTM hoặc gây ra những khó khăn khôngđáng có cho doanh nghiệp lẫn ngân hàng

- Môi trường tự nhiên: Khi môi trường tự nhiên có các biến động bấtlợi nhưđộng đất, núi lửa, bão lũ, lụt lội, hạn hán, dịch bệnh, gây ảnh hưởnglớn đến đời sống, làm thiệt hại sản xuất, kinh doanh cũng làm tăng rủi ro tíndụng do khách hàng vay nợ có thể mất khả năng trả

-Hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán, hệ thống xếp hạng đánh giámức độ tín nhiệm và mức độ minh bạch của thông tin trên thị trường tàichính: Hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán chưa chặt chẽ có thể tạo điềukiện để các bên đi vay lợi dụng, ảnh hưởng đến quá trình đưa ra quyết định tíndụng của NHTM, làm tăng rủi ro tín dụng Thiếu vắng các đơn vị xếp hạngđánh giá mức độ tín nhiệm uy tín cũng làm tăng chi phí quản lý rủi ro tíndụng và tăng rủi ro tín dụng của các NHTM

Trang 35

b) Các nhân tố chủ quan của các NHTM

− Chiến lược, chính sách không phù hợp:

+ Chiến lược phát triển không phù hợp: Rủi ro tín dụng sẽ tăng cao khingân hàng đưa ra các chiến lược phát triển quá nóng vội, chạy theo doanh số,lợi nhuận và thị phần Tăng trưởng tín dụng quá mức thường đi cùng với việcthiếu chú trọng đến quản trị rủi ro tín dụng Mở rộng tín dụng quá nhanh cũng

có thể gây ra tình trạng quá tải, vượt quá khả năng quản lý của ngân hàng

+ Chính sách cho vay không phù hợp, tập trung tín dụng vào một lĩnhvực, một ngành, hoặc một nhóm khách hàng: Khi ngân hàngtập trung cho vayquá nhiều trong một số ngành, lĩnh vực hoặc một nhóm khách hàng, đặc biệt

là khi tập trung cho vay các ngành phi sản xuất như chứng khoán, bất độngsản, vv…, rủi ro tín dụng cũng tăng cao

− Năng lực tác nghiệp hạn chế:

+ Trình độ quản lý ngân hàng và quản trị rủi ro: Khi trình độ quản lýngân hàng và quản trị rủi ro yếu kém, việc cấp tín dụng thường không tuânthủ theo đúng quy trình, không kiểm soát được rủi ro cho vay, việc giám sátkhoản vay thường thiếu chặt chẽ và không có cơ chế cảnh báo sớm đối vớicác khoản vay có vấn đề, làm gia tăng rủi ro tín dụng

+ Chất lượng nhân sự: Các yếu tố về nhân sự như trình độ và năng lựcchuyên môn, khả năng tư duy, đạo đức nghề nghiệp, vv của nhân viên ngânhàng cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý rủi ro tín dụngcủa NHTM Ví dụ, khi cán bộ ngân hàng không đủ trình độ để thẩm định,quản lý danh mục khoản vay, chất lượng tín dụng sẽ giảm sút và rủi ro tíndụng tăng cao

- Trình độ công nghệ: Trình độ công nghệ thông tin đóng vai trò quantrọng trong nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM Hệ thống thuthập, phân tích, xử lý thông tinlạc hậu có thể làm tăng rủi ro trong quá trìnhthẩm định, đánh giá và giám sát các khoản vay

Trang 36

-Đạo đức nghề nghiệp yếu kém:Khi đạo đức nghề nghiệp của các thànhviên hội đồng quản trị, thành viên ban điều hành ngân hànghoặc nhân viênngân hàng yếu kém,rất dễ xảy ra tình huống cố tình vi phạm đạo đức nghềnghiệp, chạy theo lợi ích nhóm hoặc lợi ích cá nhân trong hoạt động tín dụng

và quản lý tín dụng của NHTM

Tóm lại, rủi ro tín dụng của NHTM chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tốkhách quan lẫn chủ quan, đòi hỏi các NHTM phải nắm bắt, đánh giá được tácđộng của các nhân tố trên đến hoạt động tín dụng, từ đó có các cơ chế vàchính sách quản lý rủi ro thích hợp trong từng thời kỳ

1.2 Quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM

1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng

Trong hoạt động ngân hàng cũng như trong các hoạt động kinh doanhkhác, rủi ro là không thể tránh khỏi Để ngăn ngừa, hạn chế rủi ro và nhữngtổn thất, mất mát khi rủi ro xảy ra, doanh nghiệp cần thực hiện tốt công tácquản trị rủi ro.Quản trị rủi ro (risk management) chủ yếu liên quan đến việcgiảm thiểu sự biến động đến thu nhập và tránh các tổn thất lớn Quá trìnhquản trị rủi ro bao gồm xác định các rủi ro, đo lường, định lượng các rủi ro vàxây dựng chiến lược quản lý rủi ro (Gestel & Baesens, 2009) [13] Mục tiêucủa quản trị rủi ro là tạo ra một khuôn khổ để doanh nghiệp đối phó, xử lý rủi

ro (Dionne, 2013) [11] Quản trị rủi ro luôn được coi là hoạt động trọng tâmtrong các tổ chức tài chính - ngân hàng Theo Aaron, Armstrong, & Zelmer(2012)[2] rủi ro tín dụng vẫn là loại rủi ro quan trọng nhất mà các ngân hàngphải quản lý

Theo tài liệu tập huấn QTRRTD của Trường Đào tạo Ngân hàng Thụy

Sĩ - Á Châu, năm 2012, trích dẫn bởi Trần Thị Việt Thạch, 2016 [34],QTRRTD (credit risk management) được định nghĩa là “quá trình kiểm soátđộc lập và giám sát mức độ chấp nhận rủi ro tín dụng để đảm bảo rằng hoạtđộng đó nằm trong giới hạn đã định và phù hợp với chính sách, qui trình, qua

Trang 37

đó có thể kiểm soát được thất thoát trong mức độ chấp nhận được và tránhnhững tổn thất không mong đợi”

Uỷ ban Basel (2000)[4] nêu mục tiêu của QTRRTD là làm tối đa hoá

tỷ lệ lợi nhuận có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng bằng cách duy trì mức độphơi nhiễm rủi ro tín dụng trong một phạm vi chấp nhận được Theo đó,ngân hàng cần quản lý rủi ro tín dụng của toàn danh mục tín dụng cũng nhưrủi ro của từng giao dịch tín dụng riêng lẻ, đồng thời xem xét mối quan hệgiữa rủi ro tín dụng và các loại rủi ro khác QTRRTD hiệu quả đóng vai tròquan trọng đối với sự thành công trong dài hạn của bất kỳ ngân hàng nào, do

đó ngân hàng cần hiểu rõ yêu cầu xác định, đo lường, giám sát và kiểm soátrủi ro tín dụng, đảm bảo rằng ngân hàng duy trì đủ mức vốn cần thiết và cókhả năng bù đắp được tổn thất khi rủi ro xảy ra (Uỷ ban Basel, 2000)[4]

Các tác giả Richard, Chijoriga, Kaijage, Peterson, & Hakan Bohman(2008) [19]tổng hợp từ các tài liệu của Uỷ Ban Basel (1999), Greuning and

Bratanovic (2003) [14], (chi tiết tên ấn phẩm của các tác giả này được liệt kê

rõ tại phần tài liệu tham khảo)và đưa ra định nghĩa: QTRRTD hiệu quả bao

gồm việc thiết lập môi trường quản trị rủi ro, vận hành một quy trình cấp tíndụng tốt, duy trì bộ máy quản lý tín dụng thích hợp, giám sát quy trình vàkiểm soát một cách đầy đủ rủi ro tín dụng

Tại Việt Nam, khái niệm “quản trị rủi ro tín dụng” và “quản lý rủi ro tíndụng” thường được sử dụng xen lẫn nhau Thực chất, theo tác giả, quản lý rủi

ro tín dụng là cách thức để quản lý các rủi ro trên cơ sở hoạch định quản trị

rủi ro tín dụng Theo nghiên cứu của TS Dương Ngọc Hào (2012) tại luận án

“Giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại các Ngân hang thương mại Việt Nam”[33]đã định nghĩa: “Quản trị rủi ro tín dụng là

tiến trình của nhà quản trị bao gồm nhận dạng, đánh giá mức độ rủi ro tiềm ẩn

mà ngân hàng phải đối mặt đồng thời lựa chọn và thực thi những biệnpháp/công cụ thích hợp nhằm đối phó với rủi ro trong hoạt động tín dụng của

Trang 38

ngân hàng thương mại.” Theo PGS TS Phan Thị Thu Hà tại Giáo trình Ngân

hàng thương mại (2013) Trường đại học kinh tế quốc dân, viện Ngân hàng – Tài chính, NXB Đại học Kinh tế quốc dân[26], định nghĩa: QTRRTD là một

hệ thống các hoạt động hoàn chỉnh, thông qua đó ngân hàng xác định, đánhgiá và kiểm soát rủi ro tín dụng, từ đó đưa ra các quyết định nhằm đảm bảolợi ích tối đa cho ngân hàng Theo đó, QTRRTD bao gồm quản trị rủi ro đốivới một khoản tín dụng và quản trị rủi ro đối với một danh mục tín dụng

Tóm lại, có nhiều định nghĩa về QTRRTD như đã nêu trên Đa số cácđịnh nghĩa này đều nhấn mạnh mục tiêu của QTRRTD là tối đa hoá lợi nhuậntrong phạm vi rủi ro có thể chấp nhận được Trong phạm vi luận án này, khái

niệm QTRRTD được hiểu như sau: QTRRTD là quá trình nhận dạng, đo

lường, đánh giá mức độ rủi ro tín dụng; thiết lập các chính sách, chiến lược, quy trình và quy định có liên quan; đồng thời tổ chức bộ máy và thực hiện, giám sát và kiểm tra nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận trong phạm vi mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàng có thể chấp nhận được

1.2.2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM

Như đã phân tích ở trên, rủi ro tín dụng làm hạn chế khả năng tăngtrưởng tín dụng, ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng, làm tăng chiphí, giảm lợi nhuận, ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của ngân hàng thậm chí

có thể dẫn đến nguy cơ phá sản Do đó, QTRRTD luôn là yêu cầu cấp thiếttrong hoạt động tín dụng của ngân hàng

Đối với hệ thống tài chính nói riêng, QTRRTD đóng vai trò quan trọngtrong ổn định hệ thống tài chính, giảm nguy cơ xảy ra các cuộc khủng hoảngtrong hệ thống tài chính – ngân hàng Đối với toàn nền kinh tế, QTRRTDgiúp ổn định nguồn cung tín dụng cho nền kinh tế, giúp ổn định nền kinh tế

và thúc đẩy tăng trưởng QTRRTD tốt cũng có các tác động tích cực đối vớingân sách nhà nước, tránh phải sử dụng ngân sách để xử lý các cuộc đổ vỡ,khủng hoảng của hệ thống ngân hàng Do các nguyên nhân trên, QTRRTD

Trang 39

cũng góp phần tạo lòng tin của công chúng và gia tăng mức độ tín nhiệm củacộng đồng, các tổ chức quốc tế đối với hệ thống ngân hàng nói riêng và nềnkinh tế Việt Nam nói chung Tóm lại, QTRRTD không chỉ quan trọng đối vớicác NHTM và hệ thống ngân hàng mà còn rất cần thiết để đảm bảo ổn địnhkinh tế - xã hội và thúc đẩy tăng trưởng.

1.2.3 Đo lường rủi ro tín dụng

Sau khi rủi ro tín dụng được nhận biết, khâu tiếp theo trong quy trìnhQTRRTD là tiến hành đo lường rủi ro tín dụng Kết quả đo lường rủi ro tíndụng có ý nghĩa rất lớn trong quản trị kinh doanh của ngân hàng Đo lườngrủi ro là một giai đoạn quan trọng cần sự kết hợp tổng hòa của rất nhiều yếu

tố tạo thành hệ thống đo lường rủi ro

Đo lường rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: Đo lường rủi ro tín dụng(credit risk measurement) là một nội dung quan trọng trong QTRRTD Đolường rủi ro tín dụng là việc xác định mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàngphải gánh chịu.[23]

1.2.3.1 Phương pháp (mô hình) đo lường rủi ro tín dụng

Có rất nhiều mô hình (phương pháp) khác nhau vừa mang tính truyềnthống vừa mang tính hiện đại được sử dụng đan xen để đo lường rủi ro tíndụng Một số mô hình được các ngân hàng sử dụng phổ biến để đo lường rủi

ro tín dụng gồm:

- Mô hình các chỉ tiêu rủi ro chính (Key risk Indicators – KRIs)

- Các mô hình theo phương pháp thống kê

- Và một số mô hình khác [23]

a, Mô hình các chỉ tiêu rủi ro chính – KRIs[23]

Cách tiếp cận truyền thống đo lường rủi ro tín dụng là dùng hệ thốngcác chỉ tiêu chính để phản ánh mức độ rủi ro tín dụng Ở Việt Nam, theo vănbản hợp nhất 22/VBHN-NHNN năm 2014 “quy định về phân loại nợ và camkết ngoại bảng”, việc trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng là một

Trang 40

phương pháp đo lường tổn thất đối với danh mục cho vay của ngân hàng.Theo đó, ngân hàng có thể sử dụng hai phương pháp phân loại nợ là địnhlượng hay định tính, trên cơ sở đó trích lập hai loại dự phòng là dự phòngchung và dự phòng cụ thể Chi tiết hai phương pháp này như sau:

(i) Phương pháp định lượng: được thực hiện chủ yếu căn cứ vào tuổi

nợ, tức đơn thuần chỉ căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản nợ nên chưachú trọng phân loại nợ theo chất lượng khoản nợ Bên cạnh tiêu chí tuổi nợ,các ngân hàng còn dùng một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá mức độ rủi ro tíndụng như: Tốc độ tăng trưởng tín dụng, dư nợ tín dụng/tổng tài sản, tỷ lệ nợxấu/tổng dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ, khả năng bù đắp rủi ro, tỷ trọngcho vay các lĩnh vực nhạy cảm, tỷ trọng cho vay một khách hàng, tổng dư nợcho vay và số dư bảo lãnh đối với một khách hàng, tổng dư nợ cho vay mộtnhóm khách hàng liên quan, tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh đối vớimột nhóm khách hàng liên quan Chi tiết nội dung các chỉ tiêu này như sau:

+ Tốc độ tăng trưởng tín dụng: Nếu chỉ tiêu này tăng trưởng quá nóng

có thể dẫn đến việc Ngân hàng mất kiểm soát chất lượng tín dụng Cũng cóNgân hàng nhằm che dấu tỷ lệ nợ xấu cao đã tăng cường cấp tín dụng, tăngtổng dư nợ Chính vì vậy, nếu chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nóngthường là tín hiệu về mức độ rủi ro tín dụng sẽ gia tăng trong tương lai Tốc

độ tăng trưởng tín dụng ở các nước đang phát triển thường từ 10-20%, trongkhi đó ở các nước phát triển thường từ 5-10%

+ Dư nợ tín dụng/tổng tài sản (hệ số sử dụng vốn): Đối với các ngân

hàng hiện đại, tỷ lệ này thường khoảng 50-60%, tức danh mục tài sản khôngtập trung quá mức vào tín dụng nên rủi ro được phân tán Tuy nhiên, ở cácnước đang phát triển như Việt Nam, tỷ lệ này thường khá cao, vào khoảng 70-80% Tỷ lệ này càng cao càng thể hiện rủi ro tập trung tín dụng Mặc dù tíndụng mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng những cũng là hoạt độngtiềm ẩn rủi ro lớn nhất Vì vậy, xu hướng chung là các ngân hàng ngày càng

Ngày đăng: 20/06/2020, 08:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Aaron, M., Armstrong, J., & Zelmer, M. (2012). An Overview of Risk Management at Canadian Banks. Bank of Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Overview of RiskManagement at Canadian Banks
Tác giả: Aaron, M., Armstrong, J., & Zelmer, M
Năm: 2012
4. Basel Committee on Banking Supervision . (09/2000). Principal for the Management of Credit Risk. Basel Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principal for theManagement of Credit Risk
5. Burrows, O., Learmonth, D., & McKeown, J. (09/2012). RAMSI: a top- down stress-testing model. Bank of England; Financial Stability Paper No.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: RAMSI: a top-down stress-testing model
8. Cihak, M. (2005) "Stress Testing of Banking Systems (in English)," Czech Journal of Economics and Finance (Finance a uver), Charles University Prague, Faculty of Social Sciences, vol. 55(9-10), pages 418-440, September Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress Testing of Banking Systems (in English)
9. Cihak, M. 2007. “Introduction to Applied Stress Testing.” IMF Working Paper No. 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction to Applied Stress Testing
10.Dent, K., Westwood, B., & Segoviano, M. (2016). Stress testing of banks:an introduction. Bank of England Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress testing of banks:"an introduction
Tác giả: Dent, K., Westwood, B., & Segoviano, M
Năm: 2016
11. Dionne, G. (2013). Risk Management: History, Definition and Critique.Canada: Cirrelt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk Management: History, Definition and Critique
Tác giả: Dionne, G
Năm: 2013
12.Foglia, A. (2009). Stress Testing Credit Risk: A Survey of Authorities’Approaches (Vol. 5). International Journal of Central Banking Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress Testing Credit Risk: A Survey of Authorities’"Approaches
Tác giả: Foglia, A
Năm: 2009
13.Gestel, T. V., & Baesens, B. (2009). Credit Risk Management - Basic Concepts: financial risk components, rating analysis, models, economic and regulatory capital. Oxford university press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Credit Risk Management - BasicConcepts: financial risk components, rating analysis, models, economicand regulatory capital
Tác giả: Gestel, T. V., & Baesens, B
Năm: 2009
14.Greuning, H. v., & Bratanovic, S. B. (2009). Analyzing Banking Risk: A Framework for Assessing Corporate Governance and Risk Management, 3rd Edition. Washington, D.C. : The International Bank for Reconstruction and Development/THE WORLD BANK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analyzing Banking Risk: AFramework for Assessing Corporate Governance and Risk Management,3rd Edition
Tác giả: Greuning, H. v., & Bratanovic, S. B
Năm: 2009
15.Hirtle, B., & Lehnert, A. (2014). Supervisory Stress Tests. Federal Reserve Bank of New York Staff Reports, no. 696 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Supervisory Stress Tests
Tác giả: Hirtle, B., & Lehnert, A
Năm: 2014
16.Hull, J. C. (2012). Risk management in Financial Institutions, 3rd edition.New Jersey: John Wiley & Sons, Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk management in Financial Institutions, 3rd edition
Tác giả: Hull, J. C
Năm: 2012
17.INTERNATIONAL MONETARY FUND. (2012). Macrofinancial Stress Testing—Principles and Practices1. The Monetary and Capital Markets Department. INTERNATIONAL MONETARY FUND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrofinancial StressTesting—Principles and Practices1
Tác giả: INTERNATIONAL MONETARY FUND
Năm: 2012
19.Richard, E., Chijoriga, M., Kaijage, E., Peterson, C., & Hakan Bohman.Credit risk management system of a commercial bank in Tanzania.International Journal of Emerging Markets, 3 (3), 323 - 332 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Emerging Markets, 3
20.Roger M. Stein, 2012, The role of stress testing in credit riskmanagement) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of stress testing in credit riskmanagement
21.Saunders, A., & Cornett, M. M. (2007). Financial Institutions Management A Risk Management Approach, 6th edition. Boston: Mcgraw- Hill Irwin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial InstitutionsManagement A Risk Management Approach, 6th edition
Tác giả: Saunders, A., & Cornett, M. M
Năm: 2007
22.Supervision, B. C. (2005). An Explanatory Note on the Basel II IRB Risk Weight Functions. BankforInternationalSettlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Explanatory Note on the Basel II IRB RiskWeight Functions
Tác giả: Supervision, B. C
Năm: 2005
1. A Guide to IMF Stress TestingMethods and Models (2014), edited by Li Lian Ong, International Monetary Fund Khác
3. Anthony Saunders & Linda Allen (2002) Credit Risk measurement: New Approaches to Value at Risk and Other Paradigms, Second Edition, John Wiley & Sons, Inc Khác
6. Cihak, M. (2004a): Stress Testing: A Review of Key Concepts. CNB, Internal Research Policy Note, no. 2/2004 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w