Tổ chức cơ sở Đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) luôn là gốc rễ, là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở, bảo đảm cho đường lối của Đảng đi vào cuộc sống, đồng thời là cấp trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng.Do vậy, có thể khẳng định Tổ chức cơ sở Đảng (TCCSĐ) là nền tảng có vai trò quan trọng quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đây là cấp tổ chức cuối cùng trong hệ thống tổ chức bốn cấp của Đảng ta, là cấp tổ chức sâu rộng nhất, gắn với các đơn vị cơ sở trên toàn lãnh thổ và các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng tới từng cơ sở, từng đảng viên và từng người dân. Là hạt nhân chính trị ở cơ sở, TCCSĐ là nơi thể hiện toàn diện, trực tiếp và cụ thể nhất mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; đây là nơi trực tiếp thực hiện và lãnh đạo các tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước. Đưa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống. Nhằm khơi dậy nguồn lực trí tuệ của nhân dân. Đồng thời qua đó góp phần kiểm nghiệm và bổ sung đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây cũng là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động quan trọng trong công tác xây dựng phát triển Đảng, như kết nạp, quản lý, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá, sàng lọc đảng viên; nơi đảng viên thường xuyên thực hành các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt; nơi xuất phát đề cử, cung cấp cán bộ ra cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng; Tổ chức cơ sở đảng còn là cầu nối giữa Đảng với quần chúng nhân dân, là mắt xích trọng yếu để duy trì mối liên hệ của Đảng với nhân dân; là tổ chức gần dân nhất, trực tiếp lãnh đạo nhân dân và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân để phản ánh với Đảng. Dân tin Đảng, theo Đảng hay không là nhờ ở vai trò rất quan trọng, trực tiếp của TCCSĐ, của cán bộ đảng viên tại cơ sở. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng và công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đó là quan điểm, nguyên tắc nhất quán của Đảng ta, là sự đúc kết sâu sắc từ lý luận và thực tiễn lãnh đạo của Đảng qua nhiều thập kỷ, là sự kế thừa quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ. Bởi, cán bộ là gốc của mọi công việc; công việc có thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; khi đã có đường lối chính trị đúng đắn thì yếu tố quyết định sự thành bại của cách mạng là công tác tổ chức và cán bộ; Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị; mục tiêu, lý tưởng của Đảng không thay đổi, nhưng nhiệm vụ của từng thời kỳ lại khác nhau, do đó, công tác tổ chức, cán bộ phải luôn luôn đổi mới để đáp ứng yêu cầu của mỗi giai đoạn lịch sử. Là Đảng duy nhất cầm quyền, đảng viên của Đảng nắm hầu hết các chức vụ chủ chốt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nếu đạo đức của những cán bộ, đảng viên ấy sa sút thì chính họ là một trong những nguyên nhân làm xói mòn nền tảng đạo đức xã hội, làm vô hiệu hóa quyền uy pháp luật. Vì thế, Đảng ta chủ trương đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ theo hướng phải đồng bộ, liên thông, nhất quán trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; ràng buộc trách nhiệm và kiểm soát chặt chẽ quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.Nghị quyết lần thứ 7 khóa XII chỉ rõ: Trong giai đoạn cách mạng mới, đội ngũ cán bộ của Đảng phải được chọn lọc hết sức cẩn thận, đồng thời phải chăm lo giáo dục cán bộ để họ ở đâu, làm việc gì cũng đều phải phát huy được tính tiên phong, gương mẫu đối với quần chúng. Phải xây dựng đồng bộ, toàn diện các đối tượng cán bộ ở các cấp, đáp ứng các yêu cầu về phẩm chất, năng lực, phong cách và tác phong công tác. Ngày 02/12/2018, trong báo cáo về chuyên đề Công tác xây dựng Đảng tại Đảng bộ tỉnh Sơn La và một số nội dung cần tiếp tục quan tâm, đồng chí Nguyễn Đắc Quỳnh - Phó Bí thư Thường trực tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La nhấn mạnh: “Đại hội XII của Đảng đã khẳng định trước những khó khăn, thách thức trên con đường đổi mới phải hết sức chú trọng công tác xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh”. Đối với Đảng bộ tỉnh Sơn La, tính đến hết tháng 9/2018, toàn Đảng bộ tỉnh có 17 đảng bộ trực thuộc, với tổng số 976 tổ chức cơ sở đảng; 5.029 chi bộ trực thuộc với trên 82.000 đảng viên. Đến nay, toàn tỉnh còn 11 cơ sở chưa có chi bộ, 4 bản chưa có đảng viên. Trong những năm qua công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng của Đảng bộ tỉnh đã không ngừng đổi mới; tăng cường xây dựng đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên, đáp ứng nhiệm vụ chính trị của tỉnh. Tiếp tục đổi mới kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ có cơ cấu hợp lý, đảm bảo tính ổn định kế thừa và phát triển, có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và năng lực thực tiễn. Thành phố Sơn La là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Sơn La, có diện tích tự nhiên 329,94 km2, dân số trên 100 nghìn người, có 12 dân tộc anh em chủ yếu cùng chung sống; có 12 đơn vị hành chính (bao gồm 7 phường, 5 xã) với 173 bản, tiểu khu, tổ dân phố.Đảng bộ thành phố có 72 chi, đảng bộ cơ sở, trong đó có 19 đảng bộ cơ sở với 7.917 đảng viên.Năng lực đảng viên tại các Đảng bộ cơ sở thành phố Sơn La có thể nói là chưa thật sự cao, khi mà tỷ lệ các đảng viên có trình độ đại học trở lên còn ít. Nguyên nhân quan trọng nhất là tỉnh Sơn La là một tỉnh thành miền núi, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội còn gặp khó khăn, kinh tế tỉnh mới chỉ phát triển trong một vài năm trở lại đây. Ngoài ra, các cán bộ ở tỉnh nói chung và thành phố nói riêng đa phần là người dân tộc thiểu số. Điều này khiến cho trình độ, năng lực của các cán bộ đảng viên nói chung và bí thư các Đảng bộ cơ sở của thành phố Sơn La nói riêng nhìn chung còn thấp. Đội ngũ Bí thư ở các đảng bộ cơ sở có vai trò hết sức quan trọng, là người chủ trì công tác đảng, công tác chính trị;là người đứng đầu của cấp ủy, là người chỉ đường, dẫn lối, định ra đường hướng, chiến lược phát triển của tổ chức; là người tổ chức triển khai mọi hoạt động của đảng bộ theo nghị quyết của đảng bộ; xây dựng môi trường dân chủ, tạo điều kiện cho tổ chức hoàn thành nhiệm vụ; lãnh đạo việc tổ chức thực hiện, tổ chức giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức; bảo đảm giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng ở đơn vị cơ sở. Do đó, cùng với nâng cao phẩm chất, năng lực thì việc rèn luyện phương pháp và tác phong công tác, gây dựng được uy tín, có trách nhiệm, có bản lĩnh cho đội ngũ bí thư cơ sở là yêu cầu rất cần thiết không chỉ trước mắt mà cả lâu dài.Thực tiễn cho thấy, Đảng bộ thành phố Sơn La hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao có sự đóng góp to lớn của các tổ chức cơ sở đảng nói chung và đội ngũ bí thư cơ sở nói riêng. Đội ngũ này đã thực sự trở thành hạt nhân, trung tâm đoàn kết trong cấp uỷ, tổ chức đảng và đơn vị cơ sở. Cùng với tập thể cấp uỷ, bí thư cơ sở luôn giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, phối hợp chặt chẽ với đội ngũ cán bộ chỉ huy, chính uỷ, chính trị viên tuyên truyền, vận động, tổ chức, hướng dẫn quần chúng bộ đội thực hiện thắng lợi đường lối chính trị, quân sự của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, nghị quyết và nhiệm vụ chính trị của thành phố Sơn La. Tuy nhiên, một bộ phận bí thư cơ sở năng lực hạn chế, phương pháp và tác phong công tác chưa thật sự chuẩn mực, lời nói và việc làm không thống nhất. Một số tha hoá đạo đức, lối sống, cậy chức, cậy quyền, quan liêu, gia trưởng, thiếu gắn bó, sâu sát quần chúng bộ đội... làm ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo của tổ chức đảng ở đơn vị cơ sở tại thành phố Sơn La.Do đó, việc phải nâng cao năng lực về cả trình độ, kinh nghiệm lẫn năng lực đạo đức của đội ngũ bí thư cơ sở thành phố Sơn La là việc vô cùng cần thiết. Chính vì thế, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La” để nghiên cứu.
Trang 1- -TRƯƠNG CÔNG HÒA
NĂNG LỰC BÍ THƯ CÁC ĐẢNG BỘ CƠ SỞ TRỰC THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 2- -TRƯƠNG CÔNG HÒA
NĂNG LỰC BÍ THƯ CÁC ĐẢNG BỘ CƠ SỞ TRỰC THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ SƠN LA
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế và chính sách
Mã ngành: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS CHU TIẾN QUANG
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 3Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôicam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không viphạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Trương Công Hòa
Trang 4Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả bày tỏ lòng biết ơn tới PGS TS Chu Tiến Quang và các thầy cô trong Khoa Khoa Học Quản Lý, trường đại học Kinh tế quốc dân đã truyền đạt cho em kiến thức trong suốt quá trình học cao học tại nhà trường Ngoài ra tác giả cảm ơn lãnh đạo Thành
ủy Sơn La
Tác giả chân thành cảm ơn Ban cán sự lớp và các bạn học viên trong lớp
đã tạo điều kiện, đóng góp ý kiến giúp đỡ để tác giả hoàn thành đề tài luận văn này.
Trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Trương Công Hòa
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CỦA BÍ THƯCÁC ĐẢNG BỘ CƠ SỞ 9
1.1 Bí thư các Đảng bộ cơ sở 9
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đảng bộ cơ sở 9
1.1.2 Bí thư Đảng bộ cơ sở 10
1.2 Năng lực của Bí thư các đảng bộ cơ sở 12
1.2.1 Khái niệm về năng lực của Bí thư các đảng bộ cơ sở 12
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực của Bí thư các đảng bộ cơ sở 13
1.3 Tiêu chí đánh giá kết quả năng lực của Bí thư các đảng bộ cơ sở 26
1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới năng lực của Bí thư các đảng bộ cơ sở 31
1.4.1 Các yếu tố thuộc về bản thân Bí thư các đảng bộ cơ sở 31
1.4.2 Các yếu tố thuộc về môi trường bên trong các đảng bộ cơ sở 31
1.4.3 Các yếu tố thuộc về Đảng bộ cấp trên 32
1.4.4 Các yếu tố khác 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC BÍ THƯ CÁC ĐẢNG BỘ CƠ SỞ TRỰC THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ SƠN LA 34
2.1 Tổng quan về thành phố Sơn La 34
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 34
2.2 Thực trạng đội ngũ Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La 35
Trang 6Sơn La 38
2.2.3 Kết quả năng lực của đội ngũ Bí thư các Đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La 41
2.3 Thực trạng năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La 45
2.3.1 Phương pháp đánh giá yêu cầu về năng lực Bí thư đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La 45
2.3.2 Thực trạng năng lực Bí thư đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La 47
2.3 Đánh giá thực trạng năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La 70
2.3.1 Đánh giá điểm mạnh năng lực của Bí thư đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La 70
2.3.2 Đánh giá điểm yếu 71
2.3.3 Nguyên nhân của các điểm yếu 72
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC BÍ THƯ CÁC ĐẢNG BỘ CƠ SỞ TRỰC THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ SƠN LA 74
3.1 Định hướng nâng cao năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La tới năm 2025 74
3.1.1 Mục tiêu phát triển năng lực Bí thư các Đảng bộ cơ sở thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La đến năm 2025và định hướng đến năm 2030 74
3.1.2 Phương hướng nâng cao năng lực Bí thư Đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La 75
3.2 Giải pháp nâng cao năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La 77
3.2.1 Xây dựng tiêu chuẩn chức danh Bí thư đảng bộ cơ sở 77
3.2.2 Giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng 79
3.2.3.Giải pháp về tạo động lực 82
Trang 73.3.1 Kiến nghị với các cơ quan nhà nước ở Trung ương 88
3.3.2 Kiến nghị với tỉnh 88
3.3.3 Đối với thành phố Sơn La 89
3.3.4 Khuyến nghị với Bí thư các đảng bộ cơ sở 89
KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 1.1: Khung tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của Bi thư các Đảng bộ cơ sở.28 Bảng 2.1: Số lượng đội ngũ Bí thư các Đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ
thành phố Sơn La 36
Bảng 2.2: Số lượng đảng viên tại các Đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La 37
Bảng 2.3: Cơ cấu Bí thư các Đảng ủy trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La từ năm 2015 – 2018 38
Bảng 2.4: Phân loại, đánh giá Bí thư các Đảng bộ cơ sở hằng năm từ năm 2015 - 2018 45
Bảng 2.5: Yêu cầu về năng lực đối với Bí thư Đảng ủy cơ sở 46
Bảng 2.6: Thông tin về mẫu điều tra xác định yêu cầu về năng lực của Bí thư cac Đảng ủy cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La 47
Bảng 2.7: Kết quả điều tra về kiến thức 48
Bảng 2.8: Trình độ lý luận của Bí thư các Đảng bộ cơ sở 50
Bảng 2.9: Trình độ quản lý Nhà nước 51
Bảng 2.10: Trình độ chuyên môn của Bí thư các Đảng bộ cơ sở 52
Bảng 2.11: Kết quả thực trạng về Kỹ năng 54
Bảng 2.12: Số lượng các cuộc kiểm tra, giám sát của các Đảng bộ cơ sở 58
Bảng 2.13: Tổng hợp kết quả thi hành kỷ luật Đảng tại các Đảng bộ cơ sở 58
Bảng 2.14: Kết quả về phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp 60
Bảng 2.15: Đánh giá phân loại các Đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La 66
Bảng 2.16: Kết quả điều tra về thực trạng tiềm năng phát triển 69
Trang 9Biểu đồ 2.1: Trình độ chuyên môn của Bí thư các Đảng bộ cơ sở 42
Biểu đồ 2.2: Thực trạng về kiến thức 52
Biểu đồ 2.3: Thực trạng kiến thức về quản lý Nhà nước 55
Biểu đồ 2.4: So sánh giữa thực trạng và yêu cầu vê các kỹ năng 56
Biểu đồ 2.5: So sánh giữa thực tế và yêu cầu về kỹ năng kiểm tra, giám sát 63
Biểu đồ 2.6: Kết quả về phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp 66
Biểu đồ 2.7: So sánh giữa thực tế và yêu cầu đối với phẩm chất về tính tiên phong, gương mẫu 64
Biểu đồ2.8: Kết quả điều tra về thực trạng tiềm năng phát triển 74
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tổ chức cơ sở Đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) luôn là gốc rễ, là nền tảng
của Đảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở, bảo đảm cho đường lối của Đảng
đi vào cuộc sống, đồng thời là cấp trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộĐảng.Do vậy, có thể khẳng định Tổ chức cơ sở Đảng (TCCSĐ) là nền tảng có vaitrò quan trọng quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Đây là cấp
tổ chức cuối cùng trong hệ thống tổ chức bốn cấp của Đảng ta, là cấp tổ chức sâurộng nhất, gắn với các đơn vị cơ sở trên toàn lãnh thổ và các ngành, các lĩnh vựccủa đời sống xã hội, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng tới từng cơ sở, từng đảng viên
và từng người dân Là hạt nhân chính trị ở cơ sở, TCCSĐ là nơi thể hiện toàndiện, trực tiếp và cụ thể nhất mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; đây là nơitrực tiếp thực hiện và lãnh đạo các tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trươngđường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước Đưa đường lối, chính sách của Đảng,pháp luật Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống Nhằm khơi dậy nguồn lực trí tuệcủa nhân dân Đồng thời qua đó góp phần kiểm nghiệm và bổ sung đường lối củaĐảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Đây cũng là nơi trực tiếp tiến hànhcác hoạt động quan trọng trong công tác xây dựng phát triển Đảng, như kết nạp,quản lý, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá, sàng lọc đảng viên; nơi đảngviên thường xuyên thực hành các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt; nơi xuất phát
đề cử, cung cấp cán bộ ra cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng; Tổ chức cơ sởđảng còn là cầu nối giữa Đảng với quần chúng nhân dân, là mắt xích trọng yếu
để duy trì mối liên hệ của Đảng với nhân dân; là tổ chức gần dân nhất, trực tiếplãnh đạo nhân dân và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân đểphản ánh với Đảng Dân tin Đảng, theo Đảng hay không là nhờ ở vai trò rất quantrọng, trực tiếp của TCCSĐ, của cán bộ đảng viên tại cơ sở
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳngđịnh: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng và công tác cán bộ
là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Đó là quan
Trang 11điểm, nguyên tắc nhất quán của Đảng ta, là sự đúc kết sâu sắc từ lý luận và thực tiễnlãnh đạo của Đảng qua nhiều thập kỷ, là sự kế thừa quan điểm, tư tưởng của Chủtịch Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ Bởi, cán bộ là gốc của mọi côngviệc; công việc có thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; khi đã cóđường lối chính trị đúng đắn thì yếu tố quyết định sự thành bại của cách mạng làcông tác tổ chức và cán bộ; Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công táccán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị; mục tiêu, lý tưởng củaĐảng không thay đổi, nhưng nhiệm vụ của từng thời kỳ lại khác nhau, do đó, côngtác tổ chức, cán bộ phải luôn luôn đổi mới để đáp ứng yêu cầu của mỗi giai đoạnlịch sử.
Là Đảng duy nhất cầm quyền, đảng viên của Đảng nắm hầu hết các chức vụchủ chốt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Nếu đạo đức của những cán
bộ, đảng viên ấy sa sút thì chính họ là một trong những nguyên nhân làm xói mònnền tảng đạo đức xã hội, làm vô hiệu hóa quyền uy pháp luật Vì thế, Đảng ta chủtrương đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ theo hướng phảiđồng bộ, liên thông, nhất quán trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế; đẩymạnh phân cấp, phân quyền; ràng buộc trách nhiệm và kiểm soát chặt chẽ quyềnlực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sángtạo; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi íchchung.Nghị quyết lần thứ 7 khóa XII chỉ rõ: Trong giai đoạn cách mạng mới, độingũ cán bộ của Đảng phải được chọn lọc hết sức cẩn thận, đồng thời phải chăm logiáo dục cán bộ để họ ở đâu, làm việc gì cũng đều phải phát huy được tính tiênphong, gương mẫu đối với quần chúng Phải xây dựng đồng bộ, toàn diện các đốitượng cán bộ ở các cấp, đáp ứng các yêu cầu về phẩm chất, năng lực, phong cách vàtác phong công tác
Ngày 02/12/2018, trong báo cáo về chuyên đề Công tác xây dựng Đảng tạiĐảng bộ tỉnh Sơn La và một số nội dung cần tiếp tục quan tâm, đồng chí NguyễnĐắc Quỳnh - Phó Bí thư Thường trực tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh
Sơn La nhấn mạnh: “Đại hội XII của Đảng đã khẳng định trước những khó khăn, thách thức trên con đường đổi mới phải hết sức chú trọng công tác xây dựng Đảng
Trang 12trong sạch vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh” Đối với Đảng bộ tỉnh Sơn La, tính đến hết
tháng 9/2018, toàn Đảng bộ tỉnh có 17 đảng bộ trực thuộc, với tổng số 976 tổ chức
cơ sở đảng; 5.029 chi bộ trực thuộc với trên 82.000 đảng viên Đến nay, toàn tỉnhcòn 11 cơ sở chưa có chi bộ, 4 bản chưa có đảng viên Trong những năm qua côngtác xây dựng chỉnh đốn Đảng của Đảng bộ tỉnh đã không ngừng đổi mới; tăngcường xây dựng đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạođức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên, đápứng nhiệm vụ chính trị của tỉnh Tiếp tục đổi mới kiện toàn tổ chức, bộ máy củaĐảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ có cơ cấuhợp lý, đảm bảo tính ổn định kế thừa và phát triển, có kiến thức chuyên môn nghiệp
vụ và năng lực thực tiễn
Thành phố Sơn La là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnhSơn La, có diện tích tự nhiên 329,94 km2, dân số trên 100 nghìn người, có 12 dântộc anh em chủ yếu cùng chung sống; có 12 đơn vị hành chính (bao gồm 7 phường,
5 xã) với 173 bản, tiểu khu, tổ dân phố.Đảng bộ thành phố có 72 chi, đảng bộ cơ sở,trong đó có 19 đảng bộ cơ sở với 7.917 đảng viên.Năng lực đảng viên tại các Đảng
bộ cơ sở thành phố Sơn La có thể nói là chưa thật sự cao, khi mà tỷ lệ các đảng viên
có trình độ đại học trở lên còn ít Nguyên nhân quan trọng nhất là tỉnh Sơn La làmột tỉnh thành miền núi, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội còn gặp khó khăn, kinh
tế tỉnh mới chỉ phát triển trong một vài năm trở lại đây Ngoài ra, các cán bộ ở tỉnhnói chung và thành phố nói riêng đa phần là người dân tộc thiểu số Điều này khiếncho trình độ, năng lực của các cán bộ đảng viên nói chung và bí thư các Đảng bộ cơ
sở của thành phố Sơn La nói riêng nhìn chung còn thấp
Đội ngũ Bí thư ở các đảng bộ cơ sở có vai trò hết sức quan trọng, là ngườichủ trì công tác đảng, công tác chính trị;là người đứng đầu của cấp ủy, là người chỉđường, dẫn lối, định ra đường hướng, chiến lược phát triển của tổ chức; là người tổchức triển khai mọi hoạt động của đảng bộ theo nghị quyết của đảng bộ; xây dựngmôi trường dân chủ, tạo điều kiện cho tổ chức hoàn thành nhiệm vụ; lãnh đạo việc
tổ chức thực hiện, tổ chức giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức; bảo
Trang 13đảm giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng ở đơn vị cơ sở.
Do đó, cùng với nâng cao phẩm chất, năng lực thì việc rèn luyện phương pháp vàtác phong công tác, gây dựng được uy tín, có trách nhiệm, có bản lĩnh cho đội ngũ
bí thư cơ sở là yêu cầu rất cần thiết không chỉ trước mắt mà cả lâu dài.Thực tiễn chothấy, Đảng bộ thành phố Sơn La hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao có
sự đóng góp to lớn của các tổ chức cơ sở đảng nói chung và đội ngũ bí thư cơ sở nóiriêng Đội ngũ này đã thực sự trở thành hạt nhân, trung tâm đoàn kết trong cấp uỷ,
tổ chức đảng và đơn vị cơ sở Cùng với tập thể cấp uỷ, bí thư cơ sở luôn giữ vững
và phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, phối hợp chặt chẽ với đội ngũ cán bộchỉ huy, chính uỷ, chính trị viên tuyên truyền, vận động, tổ chức, hướng dẫn quầnchúng bộ đội thực hiện thắng lợi đường lối chính trị, quân sự của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, nghị quyết và nhiệm vụ chính trị củathành phố Sơn La Tuy nhiên, một bộ phận bí thư cơ sở năng lực hạn chế, phươngpháp và tác phong công tác chưa thật sự chuẩn mực, lời nói và việc làm khôngthống nhất Một số tha hoá đạo đức, lối sống, cậy chức, cậy quyền, quan liêu, giatrưởng, thiếu gắn bó, sâu sát quần chúng bộ đội làm ảnh hưởng đến uy tín lãnhđạo của tổ chức đảng ở đơn vị cơ sở tại thành phố Sơn La.Do đó, việc phải nâng caonăng lực về cả trình độ, kinh nghiệm lẫn năng lực đạo đức của đội ngũ bí thư cơ sởthành phố Sơn La là việc vô cùng cần thiết Chính vì thế, tác giả đã lựa chọn đề tài:
“Năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La” để
nghiên cứu
2 Tổng quan nghiên cứu
Luận án tiến sỹ của tác giả Đặng Đình Phú (1996) với đề tài “Nâng cao chấtlượng đội ngũ Đảng viên ở các tổ chức cơ sở Đảng phường và xã ven đô trong côngcuộc đổi mới hiện nay” tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Luận án đãgóp phần làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản của việc nâng cao chất lượng đội ngũđảng viên nói chung, đảng viên ở các tổ chức cơ sở phường và xã ven đô nói riêng,làm cơ sở giúp cho các cấp ủy, đảng viên nhận thức đúng và quan tâm thườngxuyên, bằng những giải pháp cụ thể, thiết thực đến công tác quan trọng này
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2010) với đề tài “Nâng cao chất
Trang 14lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay” tạiĐại học Sư phạm Hà Nội Luận văn đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá đúngthực trạng chất lượng đội ngũ đảng viên đang hoạt động ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang,qua đó xác định phương hướng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chấtlượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Ngọc Tuấn (2012) với đề tài “Nâng cao chấtlượng đội ngũ đảng viên Đảng bộ phường Quang Trung, tỉnh Hà Giang trong giai đoạn hiệnnay” tại Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam Luận văn đã đưa ra lý luận về chất lượng độingũ đảng viên và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên Qua đó, luận vănđánh giá chất lượng đội ngũ đảng viên Đảng bộ phường Quang Trung, tỉnh Hà Giang tronggiai đoạn hiện nay và kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viênĐảng bộ phường Quang Trung, tỉnh Hà Giang trong giai đoạn hiện nay
Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Huy Phong (2013) với đề tài “Thực trạng
và giải pháp để nâng cao chất lượng Đảng viên trong giai đoạn hiện nay” tại Đại học Sưphạm Hà Nội Luận văn đã hệ thống lại cơ sở lý luận về người Đảng viên cộng sản, từ đólàm cơ sở phân tích thực trạng chất lượng Đảng viên chi bộ trường THCS Đào Xá –huyện Thanh Thủy – tỉnh Phú Thọ, đánh giá những điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhâncủa hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng Đảng viên chi bộtrường THCS Đào Xá – huyện Thanh Thủy – tỉnh Phú Thọ
Nguyễn Thị Mai Anh (2016), Bài viết “Nâng cao chất lượng đảng viên - Vấn
đề cốt lõi để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh trong tình hình hiện nay” trênTạp chí cộng sản số ngày 19/08/2016 Bài viết đã chỉ ra nhận thức, tư tưởng chínhtrị, phẩm chất và hành động của đội ngũ đảng viên có những biểu hiện thiếu tíchcực trong những năm qua như tính chiến đấu, tinh thần đấu tranh tự phê bình và phêbình của một bộ phận không ít đảng viên yếu, có xu hướng thấy đúng không dám vàkhông muốn bảo vệ, thấy sai không dám và không muốn đấu tranh vì ngại va chạm,
vì muốn “dĩ hòa vi quý”, cá biệt có tâm lý buông xuôi; một số đảng viên chưa đáp ứngyêu cầu về chuyên môn, cả trong đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, quản lý và cán
bộ trực tiếp thực thi Đặc biệt, trong các cơ quan nhà nước vẫn còn biểu hiện cán bộ làđảng viên gây phiền hà, gây khó khăn để sách nhiễu người dân và doanh nghiệp… Qua
Trang 15đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên: Một là, tăngcường giáo dục ý thức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ đảng viên;Hai là, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ đảng viên; Ba là, tăng cường công táckiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, thường xuyên sàng lọc, đưa những người không đủ tưcách ra khỏi Đảng; Bốn là, tăng cường lãnh đạo, quản lý đảng viên; Năm là, thực hiện tốtQuy chế Dân chủ ở cơ sở, tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với đảng viên; Sáu
là, đổi mới công tác đánh giá, xếp loại đảng viên
Những nghiên cứu trên là tài liệu quý giá để tác giả có thể bước đầu tiếp cận
và nghiên cứu về đề tài
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực bíthư các Đảng bộ cơ sở trực thuộc đảng bộ thành phố Sơn La
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống khung cơ sở lý luận về năng lực cán bộ đảng viên
- Phân tích, đánh giá được thực trạng năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trựcthuộc Đảng bộ thành phố Sơn La giai đoạn hiện nay, từ đó chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu
và nguyên nhân của các điểm yếu
- Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trựcthuộc Đảng bộ thành phố Sơn La
4 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn nhằm trả lời các câu hỏi:
- Thực trạng năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phốSơn La giai đoạn hiện nay ra sao ?
- Những điểm yếu và nguyên nhân dẫn tới điểm yếu của năng lực Bí thư cácđảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La giai đoạn hiện nay là gì ?
- Làm thế nào để nâng cao năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng
bộ thành phố Sơn La giai đoạn hiện nay?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Năng lực 19 Bí thư đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ
thành phố Sơn La
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 16Về nội dung: Luận văn nghiên cứu năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trựcthuộc Đảng bộ thành phố Sơn La được xem xét bao gồm 4 nội dung: (1) kiến thức,(2) kỹ năng, (3) phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, thái độ, (4) học hỏi, sáng tạo.
Về không gian: Nghiên cứu tại các Đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộthành phố Sơn La
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sởtrực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La trong giai đoạn 2015 - 2018 và đề xuất cácgiải pháp cho giai đoạn đến năm 2025
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Khung nghiên cứu
Mục tiêu về năng lực Bí thư các Đảng bộ cơ sở tại thành phố trực thuộc tỉnh:
-Năng lực Bí thư các Đảng bộ cơ sởđáp ứng yêu cầu công việc, hoàn thành các nghị quyết của Đại hội; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các yêu cầu của ấp trên
- Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảngđối với Đảng bộ, chính quyền, cán
bộ, đảng viên, nhân dân
Năng lực Bí thư các Đảng
bộ cơ sở tại thành phố trực thuộc tỉnh:
-Về kiến thức
- Về kỹ năng
- Phẩm chất cá nhân, đạo đức nghề nghiệp
Trang 176.2 Quy trình nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Thu thập, học hỏi, kế thừa và tổng hợp các công trình nghiên cứu cóliên quan để xác định khung nghiên cứu về năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trựcthuộc Đảng bộ thành phố Sơn La
Bước 2: Thu thập số liệu từ đó thống kê được thực trạng về số lượng, chấtlượng, trình độ của Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La
Bước 3: Thiết kế phiếu điều tra nhằm đánh giá năng lực và đánh giá những yêucầu về năng lực đối với Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La
Bước 4: Trên cơ sở kết quả thu thập dữ liệu, tác giả sử dụng phương phápthống kê và tổng hợp, phân tích thông qua Excel để đánh giá thực trạng năng lựccủa Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La Kết quả điềutra được tập hợp vào các bảng, biểu
Bước 5: Tiến hành đánh giá thực trạng năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trựcthuộc Đảng bộ thành phố Sơn La, xác định được khoảng cách giữa yêu cầu và thựctrạng của năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở, nhằm tìm ra nguyên nhân của điểm yếutrong năng lực quản lý để có cơ sở đề ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực Bí thưcác đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố Sơn La
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tham khảo luận văn gồm
ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực của Bí thư các Đảng bộ cơ sở
Chương 2: Thực trạng năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộthành phố Sơn La
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực Bí thư các đảng bộ cơ sở trực thuộcĐảng bộ thành phố Sơn La
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CỦA BÍ THƯ
CÁC ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
1.1 Bí thư các Đảng bộ cơ sở
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đảng bộ cơ sở
Tổ chức cơ sở đảngllà hạt nhân chính trị lãnh đạo toàn diện việc thực hiệnđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, lãnh đạo thựchiện nhiệm vụ phát triển kinhltế - xã hội ở cơ sở
Theo Điều 21, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định rõ:
- Tổ chức cơ sở Đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, làhạt nhân chính trị ở cơ sở
- Ở xã, phường, thị trấn có từ 3 Đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ
sở Đảng (trực thuộc cấp ủy cấp huyện), ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn
vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ 3 Đảng viên chínhthức trở lên, lập tổ chức cơ sở Đảng (Tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực thuộcđảng ủy cơ sở)…
- "Tổ chức cơ sở Đảng dưới 30 Đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có các tổ Đảngtrực thuộc Tổ chức cơ sở có từ 30 Đảng viên trở lên lập Đảng bộ cơ sở, có các chi
bộ trực thuộc Đảng uỷ"
Theo Điều 10 điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam: "Tổ chức cơ sở Đảngđược lập tại đơn vị hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sựlãnh đạo của cấp uỷ huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh …" Điều lệĐảng cũng có quy định riêng cho tổ chức Đảng trong quân đội nhân dân ViệtNam và công an nhân dân Việt Nam
Như vậy, tổ chức cơ sở Đảng của Đảng cộng sản Việt Nam gồm chi bộ cơ
sở, Đảng bộ cơ sở Đảng bộ cơ sở có 2 loại: Đảng bộ cơ sở có các chi bộ trực thuộc;Đảng bộ cơ sở có Đảng bộ bộ phận và chi bộ trực thuộc Các tổ chức cơ sở Đảngđều có cấp uỷ cấp trên trực tiếp Ví dụ: huyện uỷ là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ
Trang 19sở Đảng ở xã, thị trấn thuộc huyện đó; quận uỷ là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ
sở Đảng ở phường thuộc quận
1.1.2 Bí thư Đảng bộ cơ sở
Bí thư Đảng bộ cơ sở là người đứng đầu Đảng bộ cơ sở và là người có tráchnhiệm tổ chức thực hiện sự lãnh đạo của đảng bộ trên mọi mặt công tác theo quyđịnh của Điều lệ Đảng
* Đặc điểm của Bí thư Đảng bộ cơ sở
Bí thư các chi bộ, đảng bộ chịu trách nhiệm chung về công tác lãnh đạo củachi ủy, chi bộ, đồng thời trực tiếp phụ trách công tác tư tưởng.Theo quy định củaĐiều lệ Đảng, cấp ủy đảng (gọi tắt của ban chấp hành đảng bộ, chi bộ) do đại hộiđại biểu hoặc đại hội đảng viên bầu ra, là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội.Cách nói “cấp ủy” hay “tập thể cấp ủy” chỉ là một vì cấp ủy là một tập thể với sốlượng cụ thể do đại hội quyết định theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương.Thành viên trong cấp ủy gọi là cấp ủy viên.Vai trò, trách nhiệm của tập thể cấp ủy
là cơ quan đảm nhiệm sự lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ trong suốt cả nhiệm kỳ Cấp
ủy là người thay mặt cho tổ chức đảng làm vai trò tổ chức thực hiện các nhiệm vụlãnh đạo của tổ chức đảng, trong đó bí thư cấp ủy đảng giữ vai trò chủ trì.Cấp ủybầu ra Ban Thường vụ để lãnh đạo và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyếtđại hội đảng bộ, chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy cùng cấp và cấp trên; quyết địnhnhững vấn đề về chủ trương, tổ chức, cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nộidung các kỳ họp của cấp ủy Thường trực cấp ủy (bí thư, các phó bí thư) do cấp ủybầu trong số ủy viên ban thường vụ, để chỉ đạo, kiểm tra thực hiện nghị quyết, chỉthị của cấp ủy, của ban thường vụ và cấp ủy cấp trên; giải quyết công việc hằngngày của đảng bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của banthường vụ
Trong lãnh đạo, chỉ đạo, thẩm quyền và trách nhiệm thuộc về cấp ủy nhưng dokhông thể thường xuyên xử lý công việc hằng ngày được nên phải phân công cho banthường vụ, thường trực, thậm chí cho từng cấp ủy viên, trong đó có bí thư, phó bí thư cấp
ủy phụ trách Trong nhiều trường hợp, nhất là trong công tác cán bộ, cấp ủy còn thựchiện phân cấp quản lý, gắn trách nhiệm của cấp ủy và thủ trưởng đơn vị cùng cấp Bí thư
Trang 20là người đứng đầu cấp ủy Xét về nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách theo nộidung của nguyên tắc tập trung dân chủ thì bí thư chỉ là một cá nhân phục tùng sự phâncông của cấp ủy Bí thư cấp ủy là đầu mối tổ chức, là người thay mặt cấp ủy triển khaimọi hoạt động của cơ quan, đơn vị theo nghị quyết của cấp ủy đảng.
* Vai trò, trách nhiệm của Bí thư Đảng bộ cơ sở
Xác định rõ quyền và trách nhiệm của cấp ủy và bí thư cấp ủy là vấn đề trungtâm của cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Theo quy định của Điều lệĐảng, thẩm quyền và trách nhiệm của cấp ủy đảng là “lãnh đạo thực hiện nghịquyết đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên” Ban thường vụ “lãnh đạo vàkiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết của đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thịcủa cấp ủy cùng cấp và cấp ủy cấp trên; quyết định những vấn đề về chủ trương, tổchức cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của cấp ủy”.Thực tế cho thấy, sau các quyết định của cấp ủy, nếu chỉ giao việc một cách chungchung như “giao cho các tổ chức đảng cấp dưới thực hiện”, “văn phòng và các banđảng theo dõi, kiểm tra, báo cáo” thì hiệu lực thi hành rất thấp
Xét về nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách theo nội dung củanguyên tắc tập trung dân chủ thì bí thư chỉ là một cá nhân phục tùng sự phân côngcủa cấp ủy về nhiệm vụ nào đó Trên thực tế, việc cấp ủy “giao việc” cho bí thưcũng chẳng mấy rõ ràng Không chỉ với bí thư mà các phó bí thư và từng thành viêntrong cấp ủy cũng trong tình trạng như vậy
Cũng theo quy định của Điều lệ Đảng, nhiệm vụ của bí thư, là chỉ đạo kiểmtra thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy, của ban thường vụ và cấp ủy cấp trên;giải quyết công việc hàng ngày của đảng bộ, chi bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bịnội dung các kỳ họp của ban thường vụ; chủ trì toàn bộ công việc của cấp ủy
Như vậy, có thể xác định thẩm quyền của bí thư là ra các quyết định nhằm giảiquyết những công việc hằng ngày của tổ chức đảng; dự thảo nội dung cho các kỳ họpcủa ban thường vụ, cấp ủy; chủ trì các cuộc họp ban thường vụ, cấp ủy kiểm điểm,đánh giá việc thực hiện các quyết định theo chức năng nhiệm vụ của mỗi tổ chức, cánhân, bàn bạc, quyết định những vấn đề quan trọng tiếp theo Bí thư còn là người đại
Trang 21diện cho cấp ủy, tổ chức đảng trong các quan hệ với các tổ chức, cơ quan, đơn vị khác.
Thẩm quyền bí thư cấp ủy được quy định theo từng nhiệm kỳ tại Quy chếlàm việc của cấp ủy Trong các thẩm quyền đó có 2 việc lớn: một là, chủ trì đềxuất các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế chính sách mới, nhất là trên cáclĩnh vực kinh tế - xã hội; hai là, chủ trì chuẩn bị phương án về công tác tổ chứccán bộ trình thường trực và ban thường vụ cấp ủy quyết định theo thẩm quyền.Theo quy chế làm việc, bí thư cấp ủy là người chịu trách nhiệm cuối cùng ký banhành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định về những vấn đề quan trọng đó Nếu cácquyết định đó là đúng đắn thì sẽ tạo ra bước đột phá, thúc đẩy phong trào địaphương phát triển nhanh, bền vững Ngược lại, sẽ gây hậu quả xấu về kinh tế - xãhội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, thậm chí sẽ là tiền đề cho cácđiểm nóng, làm mất ổn định tình hình ở địa phương, ảnh hưởng đến uy tín củaĐảng
Để thực hiện phương châm “quyền và trách nhiệm phải đi đôi với nhau”, cần
có quy chế quy định trách nhiệm của bí thư trong việc chuẩn bị nội dung kỳ họp cấp
ủy, ban thường vụ; trình bày, lập luận, thuyết phục những nội dung trong dự thảocác quyết định Trong thực tế, các cấp ủy viên khác thường ít có điều kiện nắm đầy
đủ thông tin, thường trông chờ vào ý kiến của bí thư và các phó bí thư nên vai tròcủa bí thư cứ thế mà tăng lên, thậm chí dẫn đến độc quyền trong tổ chức đảng Cấp
ủy và cả đảng bộ chỉ còn cách là trông chờ vào sự sáng suốt và cái tâm trong sángcủa người bí thư Vì vậy, cần xác định rõ hơn trách nhiệm chung, trách nhiệm cụ thểcủa bí thư trong việc đảm bảo tính nguyên tắc, tính khoa học, tính khách quan của
dự thảo các quyết định, nhất là về nhân sự, đánh giá, kết luận và giải pháp quantrọng trong chức năng, nhiệm vụ của ban thường vụ, cấp ủy
1.2 Năng lực của Bí thư các đảng bộ cơ sở
1.2.1 Khái niệm về năng lực của Bí thư các đảng bộ cơ sở
Năng lực được con người sử dụng ở nhiều phương diện như: năng lực côngtác, năng lực sản xuất, năng lực quản lý điều hành
- Theo Bernard Wynne “Năng lực là một tập hợp các kỹ năng, kiến thức,
Trang 22hành vi và thái độ được cá nhân tích lũy và sử đụng để đạt được kết quả theo yêucầu công việc” Năng lực = Kỹ năng + kiến thức + hành vi + thái độ
- Theo cuốn Gốc và nghĩa của từ tiếng Việt thông dụng thì năng lực đượcchia làm hai vế: Năng là làm nổi việc; lực là sức mạnh Năng lực được hiểu là sứcmạnh có thể làm nổi việc
- Theo đại từ điển Tiếng Việt Nxb văn hoá thông tin: Hiểu theo hai nghĩa:thứ nhất: Năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì Ví dụ:Năng lực tư duy của con người; thứ hai: Năng lực là khả năng để thực hiện tốtmột công việc
- Năng lực cũng có thể được hiểu là sự tổng hợp những thuộc tính của cánhân được hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rènluyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đápứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kếtquả cao
Từ những khái niệm nói trên, có thể khai quát lại năng lực của Bí thư cácĐảng bộ cơ sở là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có vàquá trình học tập, rèn luyện, cho phép Bí thư Đảng bộ cơ sở thực hiện thành côngmục đích và yêu cầu các chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra trong những điều kiện cụ thể.Nănglực thể hiện qua tập hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ, học hỏi và sáng tạo
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực của Bí thư các đảng bộ cơ sở
Để nâng cao năng lực của Bí thư Đảng bộ cớ sở chúng ta phải nghiên cứucác yếu tố tạo nên năng lực của Bí thư Đảng ủy cơ sở Năng lực của Bí thư cácĐảng ủy cơ sở được cấu thành bởi những nhóm yếu tố sau:
Trang 23thức của họ Tùy thuộc vào các điều kiện, đặc điểm của tổ chức mà cán bộ quản lýđiều hành có các yêu cầu khối lượng kiến thức khác nhau, vì vậy việc định lượngkhối lượng kiến thức cần phải có của Bí thư Đảng bộ cơ sở là rất khó Song là ngườitrực tiếp điều hành hoạt động của Đảng bộ cơ sở muốn thực hiện tốt vai trò, nhiệm
vụ mà mục tiêu tổ chức cần đạt tới, cần có các kiến thức cơ bản đó là:
a Kiến thức về lý luận, chính trị, tư tưởng
* Nắm vững chủ nghĩa Mác – Lê Ninh, tư tưởng Hồ Chí Minh:
Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong việc xây dựng nền tảng tưtưởng, lý luận của Đảng là sự khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận cấu thànhnền tảng tư tưởng của Đảng Đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về nhữngvấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sángtạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triểnnhững giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Tưtưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộcViệt Nam, mãi mãi soi đường cho dân tộc Việt Nam giành thắng lợi Đây là bướcphát triển mới vô cùng quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng Trênnền tảng tư tưởng khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ ChíMinh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định đường lối chính trị đúng đắn, vữngvàng vượt qua thử thách, giành nhiều thắng lợi trong công cuộc đổi mới
Học tập lý luận chính trị là một việc làm cần thiết, có vai trò quan trọngtrong việc phát triển tư duy lý luận của con người Học tập lý luận chính trị khôngchỉ là nhiệm vụ, mà còn là nghĩa vụ và là biện pháp nhằm nâng cao năng lực, đạođức, phẩm chất cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo nói riêng V.I.Lênin từng nói:
“Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng” Bác Hồcũng chỉ ra rằng: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng
ta trong công việc thực tế
Nhận thức rõ vai trò của học tập lý luận chính trị và nhằm đáp ứng yêu cầutrong quá trình lãnh đạo và quản lý đất nước, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâmđầu tư, chú trọng công tác học tập lý luận chính trị của các cán bộ, đảng viên Đốivới đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở cơ sở, công tác này càng được chú trọng nhằm đáp
Trang 24ứng yêu cầu của Đảng và Nhà nước Bí thư các Đảng bộ cơ sở phải coi việc học tập
lý luận chính trị không chỉ là một nhu cầu, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi củamình mà còn là một phương pháp quan trọng nhằm bổ sung, hiểu biết thêm vềnhững kiến thức lý luận chính trị, năng lực và kinh nghiệm công tác, đáp ứng với sựvận động, phát triển của cách mạng trong giai đoạn mới.Bên cạnh đó, cần phải tậptrung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm quy định, chế độ học tập, quán triệt chỉthị, nghị quyết của Đảng, nghiên cứu lý luận chính trị gắn với việc cung cấp thôngtin, cập nhật kiến thức mới cho toàn thể cán bộ, đảng viên của đảng bộ
* Nắm chắc những chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng, Đảng vững mạnh về chínhtrị phải dựa trên nền tảng tư tưởng vững chắc, làm kim chỉ nam cho hành động cáchmạng, xây dựng đường lối chính trị đúng đắn và sáng tạo Vì vậy, xây dựng Đảngtrong sạch, vững mạnh về chính trị được Đảng xác định là nhiệm vụ then chốt, đượctriển khai trong thực tế trên nguyên tắc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội (CNXH); kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tưtưởng Hồ Chí Minh; chống chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ, trì trệ; không ngừng bổsung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn mới.Các cấp ủy Đảng nói chung, Bí thư các Đảng bộ cơ sở nói riêng phải nắm chắcnhững quan điểm của Đảng để áp dụng triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụthực tế ở cơ sở.Công tác đảng, công tác chính trị là “linh hồn, mạch sống”, thựchiện tốt công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ góp phần tăng cường
sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, làm cơ sở để nâng cao chấtlượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.Bởi vậy, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ là
vấn đề hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
b Kiến thức về quản lý Nhà nước
* Nắm vững chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan trong hệ thốngchính trị Việt Nam
Quản lý nhà nước là hệ thống tri thức khoa học về quản lý xã hội mang tínhquyền lực Nhà nước Đó là những kiến thức đòi hỏi các nhà quản lý phải có, để giải
Trang 25quyết các vụ việc cụ thể đặt ra trong quá trình điều hành, quản lý Quản lý vừa làhoạt động khoa học, vừa là hoạt động nghệ thuật, cho nên yêu cầu các cán bộ lãnhđạo chủ chốt cấp xã trong quản lý nhà nước về kinh tế phải am hiểu sâu sắc về kiếnthức quản lý và phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đó vào giải quyết những côngviệc cụ thể Thực tế cho thấy trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý chỉ dựa vàokinh nghiệm thôi chưa đủ mà phải được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng quản
lý nhà nước, để qua đó nâng cao năng lực quản lý nhà nước Để nâng cao năng lựcquản lý nhà nước thì cần phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lýnhà nước cho đội ngũ Bí thư đảng bộ cơ sở
* Công tác cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi để các thành phần kinh tế phát triển
Hoạt động hành chính có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm trật tự của xãhội, duy trì sự phát triển xã hội theo định hướng của nhà nước, qua đó hiện thực hóamục tiêu chính trị của đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của giai cấp cầm quyềntrong xã hội Chính vì vậy, công tác cải cách hành chính là yêu cầu cấp thiết Cảicách hành chính nhà nước, xét cho cùng, không có mục đích tự thân mà nhằm tăngcường hiệu lực và hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính nhà nước trong quá trìnhquản lý các mặt của đời sống xã hội, trước hết là quản lý, định hướng và điều tiết sựphát triển kinh tế – xã hội và duy trì trật tự của xã hội theo mong muốn của Nhànước Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xem đây là khâu đột phá đểtháo gỡ khó khăn, vướng mắc, rào cản, tạo môi trường thuận lợi, minh bạch chohoạt động của người dân và doanh nghiệp, là biện pháp quan trọng để nâng cao chỉ
số năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư, tăng nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xãhội của tỉnh Tập trung thực hiện nghiêm các quy định về thực hiện cơ chế một cửa,một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộmáy cơ quan hành chính các cấp tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng
cơ cấu công chức, viên chức theo vị trí việc làm, đề cao kỷ luật, kỷ cương hànhchính, đạo đức công vụ
* Kiến thức về quản lý, sử dụng tài nguyên, đất đại, khoáng sản, ngân sách
Trang 26Tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản, có đóng góp quantrọng cho tăng trưởng kinh tế thông qua một sổ phương diện: thu hút đầu tư nướcngoài, tạo việc làm, tạo doanh thu cho chính phủ, thu nhập ngoại hối, thúc đẩy cácngành khác phát triển theo Đối với người lãnh đạo nói chung và lãnh đạo đảng bộ
cơ sở nói riêng thì những kiến thức này là không thể thiếu, nó giúp người đứngđầu đảng bộ ứng dụng vào triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, chủtrương của Đảng vào trong cuộc sống
* Nắm vứng các chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo
Bảo đảm an sinh xã hội là giải pháp cơ bản để giảm nghèo bền vững, nângcao đời sống của nhân dân và góp phần ổn định chính trị xã hội Nhà nước luônquan tâm, đầu tư cho việc thực hiện toàn diện các chính sách anh sinh xã hội, xóađói giảm nghèo Hệ thống chính sách an sinh xã hội đã được ban hành khá đầy đủ
và toàn diện, bao quát các lĩnh vực an sinh xã hội gồm hỗ trợ tạo việc làm, bảo hiểm
xã hội, trợ giúp xã hội và đảm bảo tiếp cận ở mức tối thiểu các dịch vụ xã hội đãgóp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Chi đảng bộ cơ sở
là những người gần dân, sát dân, trực tiếp thực hiện các chính sách mà Đảng và Nhànước đề ra Do đó, Bí thư Đảng ủy cơ sở phải có nắm vứng các chính sách an sinh
xã hội, xóa đói giảm nghèo để tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả ở cơ sở
c Kiến thức về truyền thống văn hóa của địa phương, cơ quan, đơn vị
Truyền thống văn hóa là tổng thế sống động các hoạt động sáng tạo của conngười đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Mỗi địaphương, đơn vị muốn phát triển bền vững và ổn định phải xây dựng truyền thốngvăn hóa gắn với phát triển kinh tế Nắm bắt và hiểu về truyền thống văn hóa của địaphương, cơ quan, đơn vị sẽ giúp người đứng đầu cấp ủy có những định hướng trongtriển khai thực hiện nhiệm vụ của địa phương
1.2.2.2 Về kỹ năng
Kỹ năng của cán bộ quản lý cấp cơ sở là một yếu tố quyết định tạo nên nănglực quản lý vì cán bộ quản lý cấp cơ sở là những người quản lý trực tiếp Cán bộquản lý nói chung cần phải có đầy đủ 5 ký năng sau: kỹ năng lập kế hoạch; kỹ năng
tổ chức; kỹ năng lãnh đạo, điều hành; kỹ năng kiểm tra, giám sát; kỹ năng giao tiếp,
Trang 27thuyết phục.
a Kỹ năng lập kế hoạch
Lập kế hoạch là việc xác định rõ các công việc cần làm trong tháng/quí/năm/nhiệmkỳ; có các kế hoạch giải pháp và công cụ phù hợp để đạt mục tiêu; các kế hoạch ứngphó với sự bất định và thay đổi; khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của tổchức; thống nhất được các hoạt động tương tác giữa các bộ phận trong tổ chức; lập kếhoạch làm cho việc kiểm tra, giám sát được dễ dàng
Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thứchành động để đạt được mục tiêu Làm tốt chức năng lập kế hoạch sẽ tạo điều kiện
để Bí thư Đảng bộ cơ sở sẽ làm tốt các chức năng khác Lập kế hoạch không đơnthuần có bắt đầu và kết thúc rõ ràng, nó là một quá trình tiếp diễn phản ánh và thíchứng được những biến động diễn ra trong quá trình hoạt động của cả Đảng bộ
Chính vì vậy, lập kế hoạch là một kỹ năng cực kỳ quan trọng, là chức năngkhởi đầu và trọng yếu đối với cán bộ đảng viên quản lý Để thực hiện tốt kỹ năngnày, Bí thư Đảng bộ cơ sở cần đạt được các tiêu chí sau:
- Xác định rõ các công việc cần làm trong tháng/quí/năm/ nhiệm kỳ
- Có các kế hoạch giải pháp và công cụ phù hợp để đạt mục tiêu
b Kỹ năng tổ chức
Khả năng tổ chức là khả năng giải quyết công việc theo thứ tự ưu tiên; từchối những công việc không quan trọng và không cấp bách; phân công những côngviệc phù hợp cho cấp dưới; hoàn thành công việc đúng thời hạn, đảm bảo chấtlượng tốt; dành thời gian đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên
Với tư cách là một chức năng quản lý, tổ chức là quá trình sắp xếp nguồn lựccon người và gắn liền với con người, là các nguồn lực khác nhằm thực hiện thành công
kế hoạch Bản chất, tổ chức là phân chia công việc, sắp xếp các nguồn lực và phối hợpcác hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu chung
Với chức năng tạo khuôn khổ, cơ cấu của các nguồn lực cho việc thực hiện kếhoạch đã đặt ra, chức năng tổ chức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự thànhbại của nhà quản lý Lãnh đạo Đảng bộ cơ sở muốn hoạt động có hiệu quả trong mọitình huống phức tạp, họ cần đạt các tiêu chí sau:
Trang 28- Có kỹ năng phân chia công việc tại Đảng bộ, sắp xếp các nguồn lực vàphối hợp các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu chung.
- Có kỹ năng tổ chức cán bộ, nhìn nhận và đánh giá cán bộ
Trang 29c Kỹ năng lãnh đạo, điều hành Đảng bô
Đây là một kỹ năng không thể thiếu của một nhà quản lý Lãnh đạo giỏi đượcthử thách qua sự thành công trong việc thay đổi hệ thống và con người Thuật ngữ
“lãnh đạo” đang được sử dụng ngày càng nhiều hơn khi nhắc đến vai trò của ngườiquản lý vì chức năng của lãnh đạo là xử lý thay đổi Khả năng lãnh đạo của Bí thưcác Đảng bộ cơ sở là khả năng vận dụng, cụ thể hóa các chủ trương chính sách củaĐảng vào trong thực tiễn tại cơ sở; lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu,nghị quyết, chỉ thị của cấp trên; lãnh đạo và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghịquyết của đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cùng cấp và cấp ủy cấptrên; quyết định những vấn đề về chủ trương, tổ chức cán bộ; quyết định triệu tập vàchuẩn bị nội dung các kỳ họp của cấp ủy; xây dựng được mối quan hệ tốt với mọingười trong Đảng bộ; phát hiện sớm và chính xác các vấn đề tồn tại trong Đảng bộ
từ đó chỉ ra nguyên nhân của vấn đề một cách chính xác; biết lắng nghe để nămsbawts tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân; trình bày vấn đề rõràng lôgíc; chọn cách trình bày phù hợp từng đối tượng giao tiếp
d Kỹ năng kiểm tra, giám sát
Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định công tác kiểm tra, giámsát của Đảng nói chung, của chi bộ, đảng bộ nói riêng có vị trí, vai trò quan trọng, làmột trong những chức năng lãnh đạo của chi đảng bộ, góp phần xây dựng chi, đảng
bộ trong sạch, vững mạnh Đồng thời, công tác kiểm tra, giám sát của chi, đảng bộcũng là một trong những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn suy thoái về tư tưởngchính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên từ khi mới manh nha
Để thực hiện tốt kỹ năng này,Bí thư các chi, đảng bộ cơ sở cần phải quan tâmviệc xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát, trong đó có tập trung kiểm tra, giámsát đảng viên trong việc chấp hành quy định về những điều đảng viên không đượclàm, về thực hiện nhiệm vụ được giao, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh Thực hiện tốt công tác chỉ đạo, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, đoànthể chính trị-xã hội, đơn vị, cơ quan, tổ chức có liên quan trong thực hiện nhiệm vụkiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng thường xuyên Việc thực hiệnnhiệm vụ kiểm tra, giám sát phải được công khai, dân chủ , kiểm tra, giám sát có kếtluận, thông báo kết quả kiểm tra, giám sát cụ thể, rõ ràng
Trang 30e Kỹ năng giao tiếp
Giao tiếp là kỹ năng mềm trong cuộc sống cơ bản và quan trọng đối với mọi đối tượng; nó là tập hợp các quy tắc, nguyên tắc được rút ra từ thực tế hàng ngày để giúp mọi người truyền thông tin một cách hiệu quả nhất Kỹ năng giao tiếp ứng xử không phải ngày một ngày hai có được mà phải trải qua rèn
luyện, luôn phải tiến bộ để phù hợp với chuẩn mực xã hội Cũng thông qua giaotiếp, con người sẽ đánh giá được bản thân trên sự nhận xét của người khác về mình,
từ đó tự điều chỉnh hành vi của mình theo hướng tích cực hơn Đối với Bí thư Đảng
ủy cơ sở kỹ năng giao giao tiếp là vô cùng quan trọng để tuyên truyền vận độngđảng viên, nhân dân
1.2.2.3 Phẩm chất đạo đức
Phẩm chất là cái làm nên giá trị của con người Đạo đức là tập hợp cácnguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi của conngười đối với bản thân và trong quan hệ với người khác, với xã hội.Phẩm chất, đạođức cũng là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến năng lực của cán bộ quản lý Phẩm chấtđạo đức cần của người quản lý đó chính là sự trung thực, lòng trung thành, là ướcmuốn làm việc, luôn hành động một cách đúng đắn theo pháp luật và chuẩn mựcđạo đức xã hội
Đối với Bí thư Đảng bộ cơ sở thiết lập uy tín của mình thông qua: phẩm chấtchính trị, đạo đức cách mạng; tính tiên phong, gương mẫu;tinh thần kỷ luật, ý thứctrách nhiệm trong công việc; ngoài ra phẩm chất đạo đức còn được thể hiện qua thái
độ ứng xử với cán bộ, đảng viên và người dân
a Phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng
Phẩm chất chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống là nhân tố có ý nghĩa nền tảng,căn bản, quyết định đến chất lượng, hiệu quả công tác của cán bộ, đảng viên và hiệuquả tổ chức, hoạt động của bộ máy đảng, nhà nước, hệ thống chính trị.Đạo đức cáchmạng là sự kết hợp giữa truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với tinh hoa đạođức của nhân loại, giữa những giá trị chung, phổ biến với những giá trị riêng, đặc thù,mang bản sắc Việt Nam Đạo đức cách mạng được hình thành và phát triển trên cơ sở
Trang 31chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Chính vì vậy, đạo đức cách mạng
có nội dung phong phú nhưng lại không trừu tượng, chung chung mà là rất cụ thể,gắn với đặc điểm của từng thời kỳ phát triển của đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minhtừng nhấn mạnh rằng: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan, phát tài Nóphải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bàosung sướng” Để làm tròn nhiệm vụ đó, người cách mạng nói chung, đội ngũ cán bộ,đảng viên nói riêng phải luôn nỗ lực phấn đấu, thường xuyên rèn luyện đạo đức cáchmạng, vì: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn,cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức cáchmạng, không có đạo đức cách mạng thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhândân”
Chính vì vậy cán bộ, đảng viên nói chung và đội ngũ Bí thư Đảng bộ cơ
sở nói riêng phải có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng;
cụ thể:
- Trung với nước, hiếu với dân: là phẩm chất đạo đức cách mạng bao
trùm, phổ quát, quan trọng nhất, chi phối các phẩm chất đạo đức khác tronggiai đoạn hiện nay Trung là trung thành với đất nước, với Đảng, với lý tưởngcách mạng mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn suốt cả thế kỷ qua Hiếu baochứa nội dung sâu rộng, phù hợp với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của cáchmạng, đó là hiếu với dân Có trung, hiếu mới thực hiện được những nhiệm vụnặng nề, những công việc khó khăn, dám hy sinh quyền lợi bản thân và giađình, đặt lợi ích dân tộc, Tổ quốc lên trên hết Đó chính là chuẩn mực và là giátrị cao nhất của đạo đức cách mạng hiện nay
- Thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư:Phẩm chất đạo đức này là sự
biểu hiện cụ thể và là sự bổ sung trọn vẹn cho phẩm chất trung với nước, hiếu vớidân.Hiện nay, cần, kiệm, liêm, chính là hết sức cần thiết, vì với nền kinh tế thịtrường mà cơ chế quản lý của Nhà nước còn chưa hoàn thiện, những gian khổ, mấtmát của chiến tranh còn chưa xoá hết thì nếu không cần, kiệm, liêm, chính, sẽ dễdàng trở nên chây lười, hư đốn, hủ bại, đục khoét, tham ô, lãng phí của nhân dân.Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của đời sống mới, của thi đua ái quốc, là phẩmchất và chuẩn mực đạo đức của người “đầy tớ của nhân dân”
Trang 32- Lao động sáng tạo, có hiệu quả cao: Lao động là phẩm chất người, phẩm
chất đạo đức cao đẹp của nhân loại và của các giai cấp cần lao Lao động sáng tạo,
có hiệu quả đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải đem hết nhiệt tình, trí tuệ làm cho laođộng của bản thân và tập thể có năng suất và hiệu quả ngày càng cao
- Không ngừng học tập, nâng cao trình độ mọi mặt: Đây là phẩm chất đạo
đức cách mạng rất căn bản, bởi chỉ khi mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng họctập, nâng cao trình độ mọi mặt thì Đảng và Nhà nước mới đủ mạnh, đủ năng lựclãnh đạo và quản lý đất nước, đủ sức mạnh trí tuệ để lãnh đạo dân tộc thực hiệnmục tiêu, lý tưởng của mình Phẩm chất này đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải từngbước, nhưng nhanh chóng, nắm bắt kiến thức khoa học hiện đại, trước hết làtrong lĩnh vực hoạt động của mình, bắt kịp những thành tựu mới trong lĩnh vựcchuyên môn mà mình đảm nhiệm Chỉ như vậy mới có thể làm chủ kiến thức,tinh thông nghiệp vụ, lao động sáng tạo, có năng suất, có hiệu quả, tránh đượcgiáo điều, rập khuôn, hoặc kinh nghiệm chủ nghĩa
- Ý thức tổ chức, kỷ luật nghiêm, đoàn kết nội bộ, có quan hệ tốt với quần chúng, chính quyền, đoàn thể: Để thực hiện được nội dung này đòi hỏi cán bộ, đảng
viên phải tuân thủ các nghị quyết, điều lệ, chủ trương, chính sách của Đảng, chấphành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, các quy định của cơ quan, đoàn thể,các quyết định của các cơ quan Nhà nước
Trong hệ thống phẩm chất đạo đức cách mạng hiện nay còn có nhiều phẩmchất khác, nhưng có thể nói, các phẩm chất trên đây là cần thiết nhất, quan trọngnhất, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải thực hiện nghiêm chỉnh Chắc chắn rằng,công tác xây dựng Đảng mà nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng là một nộidung căn bản trong những năm truớc mắt sẽ có những chuyển biến mới mẻ hơn, sâusắc hơn, có quy mô lớn hơn, làm trong sạch Đảng, nâng Đảng lên tầm cao mới, gópphần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta
b Tính tiên phong, gương mẫu
“Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” là câu nói thể hiện niềm tin, sự tônvinh của nhân dân đối với Đảng, đồng thời cũng là yêu cầu có tính bắt buộc về tínhtiên phong, gương mẫu của người đảng viên cộng sản - đây chính là tiêu chuẩn,
Trang 33thước đo phẩm chất và năng lực của người đảng viên cộng sản nói chung và đội ngũ
Bí thư đảng bộ cơ sở nói riêng
Trang 34Tính tiên phong, gương mẫu của Bí thư các chi, đảng bộ cơ sở phải biểu hiệnmột cách rõ ràng, chân thật, có thể quan sát, đánh giá, kiểm nghiệm được; thể hiện ởcác mặt cụ thể như:
- Phải nâng cao nhận thức, nêu cao tinh thần trách nhiệm
- Thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, tự giác, gương mẫu trong việc học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh;
- Gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng,chỉnh đốn Đảng, góp phần đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởngchính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trongnội bộ
- Phải thể hiện toàn diện trên các mặt về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,tác phong;Tự phê bình và phê bình; quan hệ với nhân dân; trách nhiệm trong côngtác; ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ
- Có trách nhiệm lãnh đạo nâng cao nhận thức, nắm vững về ý nghĩa, mụcđích, yêu cầu về trách nhiệm nêu gương trong mọi tổ chức và hoạt động của Đản bộ;chú trọng phát hiện, tạo nguồn cán bộ cấp chiến lược, có tiêu chí để “sàng lọc” cánbộ
- Phải tự rèn luyện, trau dồi mọi mặt để thực sự tiêu biểu về đạo đức cáchmạng, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, trong sáng, gương mẫu về mọi mặt
c Tinh thần kỷ luật, ý thức trách nhiệm
Tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên là nhận thức, thái độ đối vớiviệc thực hiện chức trách, nhiệm vụ; là một trong những tiêu chuẩn để đánh giáphẩm chất, năng lực Để lãnh đạo sự nghiệp đổi mới thành công, Đảng phải xứngtầm “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”; cán bộ, đảng viên phải thực sự tiền phong,gương mẫu, phải có tinh thần trách nhiệm và tính chịu trách nhiệm cao trước tổchức đảng, trước nhân dân nhất là đối với đội ngũ Bí thư Đảng bộ cơ sở Điều đóđược thể hiện cụ thể:
- Tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao:Tinh thần, ýthức, trách nhiệm của Bí thư Đảng bộ cơ sở với quá trình thực hiện nhiệm vụ được
Trang 35giao thể hiện trước hết ở tinh thần chủ động, tự giác, tích cực thực hiện chức trách,nhiệm vụ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; nói đi đôi với làm, đã nói thìphải làm
- Nêu cao vai trò, trách nhiệm trong việc triển khai thực hiện nghị quyết vàcác công việc của đảng bộ, gương mẫu chấp hành các chỉ thị, nghị quyết của Đảng,chính sách pháp luật của Nhà nước để cán bộ, đảng viên và nhân dân noi theo, cùngtập thể xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàndiện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
d Thái độ ứng xử với đảng viên, cán bộ, công chức, quần chúng nhân dân
* Ứng xử đúng mực với cán bộ, công chức, đảng viên
Để trở thánh người quản lý hiệu quả, cần xác định được công việc của một ngườiquản lý phải làm để đạt được các much tiêu của tổ chức, cùng với và thông qua các cánhân Nhà lãnh đạo phải có một kỹ năng giao tiếp tốt bằng cả văn nói và văn viết, muốnthuyết phục được cán bộ, đảng viên tin mình, theo mình Bí thư Đảng bộ phải biết cáchtruyền đạt thông tin, phải biết cách khuyến khích, động viên cán bộ, đảng viên
Thái độ ứng xử với cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ là khả năng ứng xửđúng mực với cán bộ, công chức, đảng viên; ứng xử đúng mực với cán bộ và côngchức cấp trên; hia sẻ, hỗ trợ, đào tạo cấp dưới để cùng hoàn thành tốt công việc
* Thái độ ứng xử với quần chúng nhân dân
Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sốngnhân dân là nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo động lực to lớn chocông cuộc đổi mới; đồng thời là giải pháp quan trọng, cấp bách trong xây dựngĐảng, Nhà nước, hệ thống chính trị giai đoạn hiện nay.Cùng với thái độ đánh giácao vai trò của nhân dân, ý thức tôn trọng nhân dân còn phải đặc biệt chú ý khôngxâm phạm đến lợi ích, quyền lợi hợp pháp, không xúc phạm nhân dân Phải luônluôn tôn trọng và giữ gìn của công, của nhân dân
Đối với cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu, cần chủ động, tích cực trong thực hiệncác chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ môitrường; phát huy sức dân, huy động nhân dân tham gia thực hiện các mục tiêu đề ra vì lợiích của nhân dân.Ứng xử tốt với người dân, Bí thư Đảng bộ cơ sở cần đạt được các tiêuchí sau:
Trang 36- Đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho người dân.
- Coi trọng việc giải quyết những khúc mắc của người dân; huy động sức dânphải đi đôi với bồi dưỡng sức dân; những gì có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì
có hại cho dân phải hết sức tránh
- Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc phục vụ nhân dân của cán bộ, đảngviên trong cơ quan, đơn vị, tổ chức
1.2.2.4 Tiềm năng phát triển
Tiềm năng phát triển của Bí thư các đảng bộ cở được đánh giá trên hai khíacạnh, cụ thể:
a Khả năng học hỏi và phát triển: là khả năng nhận thức nhanh những kiến
thức và kỹ năng mới; không ngừng học tập để nâng cao trình độ và kỹ năng làmviệc; luôn học tập những cách làm hay của các đảng bộ khác.Học hỏi cũng là mộtyếu tố tạo nên năng lực của cán bộ quản lý Học là quá trình thu thập thông tin đểhình thành kiến thức Khả năng học hỏi đó là khả năng bổ sung những kiến thức và
kỹ năng của mình thông qua hoạt động thực tiễn cũng như qua các tài liệu Học hỏi
có thể diễn ra trong quá trình hoạt động hoặc quá trình đúc kết hoạt động của mìnhcũng của đồng nghiệp hoặc các nhà nghiên cứu Bí thư đảng bộ cơ sở có khả nănghọc hỏi và phát triển bản thân phải đạt các tiêu chí sau:
- Có khả năng nhận thức nhanhcác vấn đề
- Chủ động, tích cực học tập, trau dồi kiến thức, nâng cao năng lực chuyên môn
- Nghiên cứu, học tập những cách làm hay, những mô hình tiên tiến của cácđơn vị khác để áp dụng và tình hình thực tế của đảng bộ
b Sáng tạo trong công việc:
Tinh thần trách nhiệm với công việc của cán bộ, đảng viên còn thể hiện ở sựtích cực tìm tòi, sáng tạo các cách thức để thực hiện nhiệm vụ được giao một cáchhiệu quả, có khả năng ứng xử linh hoạt trong các tình huống bất ngờ Cán bộ, đảngviên có tinh thần trách nhiệm với công việc là những người luôn năng động, sángtạo, chủ động thực hiện nhiệm vụ phù hợp với tình hình, hoàn cảnh cụ thể nhưngvẫn giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương
Sáng tạo của Bí thư đảng bộ cơ sở được biểu hiện qua các sáng kiến, các cải
Trang 37tiến quy trình quản lý Bí thư các đảng bộ cơ sở thể hiện được sáng tạo trong côngviệc cần đạt được các tiêu chí sau:
- Xây dựng kế hoạch làm việc, giải quyết công việc một cách khoa học đểđạt được hiệu quả cao nhất
- Vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào tình hình cụ thể của địa phương
- Khai thác, phát hiện, phát huy những thế mạnh của đơn vị
Trên cơ sở tập hợp, chọn lọc các ý kiến tác giả đã đưa ra những yêu cầu cơbản về tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của Bí thư các đảng bộ cơ sở như sau:
1.3 Tiêu chí đánh giá kết quả năng lực của Bí thư các đảng bộ cơ sở
Tiêu chí là một thước đo cụ thể mà đưa vào đó có thể biết được ý nghĩa, chấtlượng của một đối tượng được nghiên cứu, xem xét Để xây dựng được hệ tiêu chíđánh giá năng lực là vấn đề rất khó khăn, do phải còn phụ thuộc vào nhiều yếu tốnhư trình độ nhận thức, trình độ chuyên môn, phương tiện tác nghiệp của từngvùng, từng địa phương là khác nhau Năng lực nói chung, năng lực của Bí thư Đảng
bộ cơ sở nói riêng và các tiêu chí cụ thể để đánh giá về chất lượng của nó cho đếnnay chưa có các công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện.Việc đánh gía năng lực phải dựa trên những tiêu chí khách quan Năng lực của Bíthư Đảng bộ được đánh giá không chỉ thông qua bằng cấp mà thông qua kết quảcuối cùng của việc triển khai thực hiện nhiệm vụ của người lãnh đạo, quản lý Nhưvậy, kết quả thực hiện nhiệm vụ của Bí thư Đảng bộ cơ sở là năng lực của họ.Người lãnh đạo cấp ủy cơ sở có năng lực phải là người quản lý các hoạt độngchuyên môn mình phụ trách đạt mục tiêu đề ra một cách tốt nhất
Đối với công tác quản lý của Bí thư Đảng bộ cơ sở phải đảm bảo công tácquản lý xã hội một cách toàn diện, các tiêu chí để đánh giá năng lực quản lý của Bíthư Đảng bộ là kết quả đầu ra của việc thực hiện quy trình quản lý đó là lập kếhoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo việc thực hiện và việc kiểm tra đánh giá, như:
- Công tác chính trị tư tưởng : Tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác
-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tưtưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ gắn
Trang 38với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.Thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm, đột xuấttrong công tác chính trị tư tưởng theo sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên Nắm bắt kịpthời tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân; định hướng tư tưởng đốivới đảng viên.
- Công tác tổ chức, cán bộ và xây dựng đảng bộ, chi bộ: Kết quả thực hiện
công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ Việc thực hiện nguyêntắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, quy chế làm việc của cấp ủy gắn vớixây dựng đoàn kết nội bộ; đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao chất lượngsinh hoạt của cấp ủy, chi bộ; xây dựng đội ngũ cấp ủy viên và bí thư chi bộ; quản lý,phân công nhiệm vụ cho đảng viên và kết nạp đảng viên mới; giới thiệu đảng viênđang công tác giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở nơi cư trú Kết quả xâydựng, nhân rộng các điển hình tiên tiến; củng cố tổ chức đảng và giúp đỡ, giáo dụcđảng viên không hoàn thành nhiệm vụ
- Lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội: Lãnh đạo xây dựng các tổ chức vững mạnh; phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của
chính quyền, xem xét, giải quyết những vấn đề nảy sinh ở địa phương, cơ quan, đơnvị; kết quả phối hợp công tác; phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng khối đại đoànkết toàn dân; nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội
- Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng: Kết quả thực hiện kế hoạchkiểm tra, giám sát của cấp ủy và công tác tự kiểm tra, giám sát của đảng bộ, chi bộ.Công tác phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; giải quyết đơn thưkhiếu nại, tố cáo; phát hiện, xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm
- Các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao trong năm (được lượng hóa cụ thể):
+ Việc cụ thể hóa, xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế
hoạch công tác năm để thực hiện nhiệm vụ được giao
+ Kết quả lãnh đạo thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội, quốc phòng - an ninh của địa phương, cơ quan, đơn vị
- Kết quả đánh giá, xếp loại chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
Trang 39chính trị - xã hội cùng cấp và các tổ chức đảng trực thuộc.
Như vậy, để đo lường năng lực của Bí thư ta có thể so sánh kết quả đạt đượccủa các tiêu chí trên mà lĩnh vực người lãnh đạo phụ trách Thông thường đánh giátheo giá trị tuyệt đối hoặc so sánh tương đối theo tỷ lệ % Gốc để so sánh là: So sánhvới kết quả đã được lập hoặc được giao; so sánh với kết quả cùng kỳ năm trước
Do đó, tiêu chí đánh giá năng lực của lãnh đạo của Bí thư Đảng bộ chính làcác tiêu chí gắn với kết quả của quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên mônphụ trách Ngoài ra yếu tố năng lực của Bí thư Đảng bộ còn phụ thuộc các yếu tốkhác như trang thiết bị làm việc, môi trường làm việc, các chính sách pháp luật
Bảng 1.1: Khung tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của Bi thư các Đảng bộ cơ sở
1 Về kiến thức
1.1 Kiến thức về lý luận
chính trị, tư tưởng
- Nắm vững chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
- Nắm chắc những chủ trương, quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam
1.2 Kiến thức về quản lý
Nhà nước
- Nắm vững chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các
cơ quan trong hệ thống chính trị Việt Nam
- Công tác cải cách hành chính, tạo môi trường thuậnlợi để các thành phần kinh tế phát triển
- Kiến thức quản lý, sử dụng tài nguyên, đất đai,khoáng sản, ngân sách
- Nắm vững các chính sách an sinh xã hội, xóa đóigiảm nghèo
1.3
Kiến thức về truyền
thống văn hóa của địa
phương, cơ quan, đơn vị
- Sự hiểu biết về lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của đảng bộ, cơ quan, đơn vị
- Phát huy truyền thống yêu nước trong các tầng lớp
nhân dân; xây dựng tình đoàn kết, gắn bó, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh ở trong Đảng bộ
2 Về kỹ năng
2.1 Kỹ năng lập kế hoạch - Có kỹ năng xác định chính xác mục tiêu công việc,
Trang 40các nội dung của kỳ họp cấp ủy cách thức thực hiệntrong nhiệm kỳ, năm, quý và theo tháng
- Xây dựng các giải pháp và công cụ phù hợp để đạtmục tiêu; có kế hoạch ứng phó với thay đổi;
- Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của tổ chức
2.2 Kỹ năng tổ chức
Có kỹ năngphân chia công việc tại Đảng bộ, sắp xếpcác nguồn lực và phối hợp các hoạt động nhằm đạt đượccác mục tiêu chung
Có kỹ năng tổ chức cán bộ, nhìn nhận và đánh giácán bộ Đảng
- Có kỹ năng lắng nghe để nắm bắt tâm tư, nguyệnvọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân
2.4 Kỹ năng kiểm tra,
giám sát
- Có kỹ năng xây dựng chương trình kiểm tra, giámsát hàng năm, nhiệm kỳ của Đảng bộ
- Kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo của đảng viên
và quần chúng nhân dân
- Có kỹ năng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát vàthi hành kỷ luật của Đảng thường xuyên
2.5 Kỹ năng giao tiếp
- Biết tuyên truyền, vận động quần chúng; thuyết phụcnhân viên hoặc cấp trên
- Biết lắng nghe và thấu hiểu được tâm tư, nguyện vọng của ván bộ, đảng viên và nhân dân
3 Về phẩm chất đạo đức
3.1 Phẩm chất chính trị,
đạo đức cách mạng
- Thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư
- Ý thức tổ chức, kỷ luật nghiêm, đoàn kết nội bộ, cóquan hệ tốt với quần chúng, chính quyền, đoàn thể