1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục: Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

113 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức, động viên quần chúng tích cực, chủ động thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở. Do đó, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có ảnh hưởng to lớn đến phong trào cách mạng. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thực hiện vai trò của mình trong việc lãnh đạo, tổ chức, động viên quần chúng ở Việt Nam hiện nay là nhằm thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị đến văn hoá tư tưởng nói riêng và góp phần đắc lực vào việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRƯƠNG THỊ THU THỦY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP

CƠ SỞ Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG THEO ĐỊNH HƯỚNG

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRƯƠNG THỊ THU THỦY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP

CƠ SỞ Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG THEO ĐỊNH HƯỚNG

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHÍ THỊ HIẾU

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của

cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phí Thị Hiếu

Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu có xuất xứ rõ ràng, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tác giả xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Trương Thị Thu Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường ĐHSP - Đại học Thái

Nguyên, các thầy cô giáo khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại Học sư phạm - ĐH

Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học

tập, nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn

TS Phí Thị Hiếu - người đã luôn tâm huyết và nhiệt tình hướng dẫn, động viên

khích lệ, dành nhiều thời gian hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt thời gian học

tập và nghiên cứu

Xin gửi tấm lòng tri ân tới gia đình của tôi Những người thân yêu trong

gia đình luôn là những nguồn động viên lớn lao, luôn dành cho tôi sự quan tâm,

giúp đỡ trên mọi phương diện để tôi yên tâm học tập, nghiên cứu và hoàn thành

luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Trương Thị Thu Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 6

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.2 Một số khái niệm cơ bản 7

1.2.1 Quản lý 7

1.2.2 Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã, hay cấp cơ sở) 9

1.2.3 Phát triển nguồn nhân lực 12

1.2.4 Bồi dưỡng lý luận chính trị 15

1.2.5 Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị 19

1.3 Lý luận về bồi dưỡng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 20

Trang 6

1.3.1 Vai trò, chức năng bồi dưỡng 20

1.3.2 Nội dung chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 21

1.3.3 Phương pháp bồi dưỡng và hình thức bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 24

1.3.4 Định hướng phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ mới 25

1.4 Bí thư đảng bộ với hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 28

1.5 Lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 29

1.5.1 Nội dung quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 29

1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 32

1.6.1 Những nhân tố khách quan 32

1.6.2 Những nhân tố chủ quan 34

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 38

2.1 Khái quát khảo sát thực trạng 38

2.1.1 Vài nét về khách thể khảo sát 38

2.1.2 Tổ chức khảo sát 40

2.2 Thực trạng bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang 40

2.2.1 Thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động bồi dưỡng 41

2.2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, giảng viên tham gia giảng dạy bồi dưỡng các lớp lý luận chính trị 41

Trang 7

2.2.3 Thực trạng phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng lý luận chính trị 42

2.2.4 Kết quả bồi dưỡng lý luận chính trị 46

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở đảng bộ thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 49

2.3.1 Thực trạng quản lý kế hoạch bồi dưỡng LLCT 49

2.3.2 Quản lý tổ chức thực hiện các khóa bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 52

2.3.3 Chỉ đạo thực hiện chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 54

2.3.4 Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 57

2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt dộng bồi dưỡng lý luận chính trị 59

2.4 Đánh giá chung về khảo sát thực trạng 61

2.4.1 Kết quả đạt được 61

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 62

Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 66

3.1 Các nguyên tắc đề xuất 66

3.1.1 Đảm bảo tính kế thừa 66

3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 66

3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 67

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 67

Trang 8

3.2.1 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở dựa trên

định hướng phát triển nguồn nhân lực 67

3.2.2 Hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở tại các Trung tâm bồi dưỡng chính trị 69

3.2.3 Đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho CBCC cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 71

3.2.4 Tăng cường tổ chức bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, giảng viên kiêm chức, báo cáo viên 75

3.2.5 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả khóa học và kết quả bồi dưỡng của CBCC cấp cơ sở tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị 77

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 80

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 82

Kết luận chương 3 85

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86

1 Kết luận 86

2 Khuyến nghị 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 95

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê trình độ đào tạo của cán bộ, giảng viên tham gia giảng

dạy cho các cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang 42 Bảng 2.2 Thực trạng sử dụng phương pháp giảng dạy trong hoạt động bồi

dưỡng LLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang 43 Bảng 2.3 Thực trạng sử dụng hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng cho cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang 45 Bảng 2.4 Kết quả mở các lớp bồi dưỡng LLCT cho cán bộ chủ chốt của

Đảng ủy thành phố Tuyên Quang trong 3 năm (từ năm 2014 đến năm 2016) 47 Bảng 2.5 Đánh giá của CBQL, GV về việc lập kế hoạch bồi dưỡng CBCC

CCS theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 50 Bảng 2.6 Tổ chức thực hiện các khóa bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ

sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang 53 Bảng 2.7 Thực trạng chỉ đạo thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT cho

CBCC CCS theo định hướng phát triển nguồn nhân lực (ý kiến của CBQL, GV) 55 Bảng 2.8 Thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng LLCT

cho đội ngũ CBCC CCS 57 Bảng 2.9 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi

dưỡng lý luận chính trị cho CBCC cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang 59

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức, động viên quần chúng tích cực, chủ động thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở Do đó, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có ảnh hưởng to lớn đến phong trào cách mạng

Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thực hiện vai trò của mình trong việc

lãnh đạo, tổ chức, động viên quần chúng ở Việt Nam hiện nay là nhằm thúc đẩy

sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị đến văn hoá tư tưởng nói riêng và góp phần đắc lực vào việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi

mới đất nước nói chung, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Đất nước ta đang chuyển sang một thời kỳ phát triển mới Nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới hết sức nặng nề, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi mỗi cán

bộ, đảng viên phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực… phù hợp với yêu cầu của cách mạng Do đó, nhiệm vụ của hệ thống chính trị là phải nâng cao trình độ về mọi mặt cho cán bộ, đảng viên, nhất là về trình độ lý luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở

Trình độ lý luận chính trị là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu của người cán bộ lãnh đạo, quản lý Vấn đề này được xem như chìa khoá giúp cho người cán bộ nhận thức thực tiễn một cách sâu sắc và chỉ đạo thực tiễn đạt hiệu quả cao Mọi đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước có biến thành hiện thực hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực và trình độ lý luận của đội ngũ cán bộ Họ là người tiếp thu, bổ sung và phát triển đường lối, chủ trương của Đảng cho phù hợp với điều kiện cụ thể địa phương nơi mình công tác

Thực tế cho thấy, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay nói chung và

ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang nói riêng, đa số trưởng thành từ

Trang 12

thực tế phong trào, họ ít được đào tạo lý luận chính trị một cách bài bản, nặng về kinh nghiệm, trình độ lý luận chính trị hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của địa phương Tình trạng suy nghĩ và hành động theo thói quen, kinh nghiệm chủ nghĩa và lối suy nghĩ thiển cận, cảm tính vẫn đang là lực cản trong bản thân không ít cán bộ cấp cơ sở Tư tưởng trông chờ, ỷ lại sự chỉ đạo hướng dẫn của cấp trên, chưa dám đề xuất những biện pháp tích cực, phù hợp với đơn

vị vẫn còn khá phổ biến Điều này chứng tỏ rằng, trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đổi mới Đây là một vấn đề hết sức quan trọng đối với chiến lược cán bộ của Đảng

ta trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Để xây dựng được một đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ngang tầm, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thì một trong những yêu cầu đặt ra đối với cán bộ là phải nâng cao trình độ lý luận chính trị Chính vì vậy, mặc dù vấn đề nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp đã được khá nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, nhưng với mong muốn góp một tiếng nói từ thực tiễn đối với

công tác cán bộ của Đảng trong giai đoạn hiện nay, chúng tôi chọn vấn đề: Quản

lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ

sở ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang theo định hướng phát triển nguồn nhân lực làm đề tài luận văn Tha ̣c sĩ

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luâ ̣n và thực tiễn, đề tài đề xuất các biê ̣n pháp quản

lý nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luâ ̣n chính tri ̣ cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Tuyên Quang phù hợp đặc điểm tình hình của đi ̣a phương trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Hoạt động quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực ở Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang

4 Giả thuyết khoa học

Chất lượng hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của thành phố Tuyên Quang trong những năm gần đây tuy đã được nâng lên song chưa đáp ứng được theo định hướng phát triển nguồn nhân lực, một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là do việc quản

lí hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị còn nhiều hạn chế bất cập Nếu có một

hệ thống các biện pháp quản lí phù hợp, trên một cơ sở khoa học vững chắc thì

chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

5.2 Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

6 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận

chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực của Bí thư Đảng bộ thành phố Tuyên Quang được xác định trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 12, đó là năng lực lý luận và khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong

Trang 14

thời kỳ mới

- Số liệu được lấy từ năm 2014 đến năm 2016

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp tổng quan lí luận để tìm hiểu tình hình nghiên cứu và khai thác tư liệu về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở

- Phương pháp lịch sử - logic để kế thừa các thành tựu lí luận qua các kết quả nghiên cứu đã có và xác định cách tiếp cận khoa học về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

- Phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết để xác định các khái niệm và quan điểm cơ bản về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

- Phương pháp khái quát hóa để xây dựng khung lí thuyết phù hợp với tên

đề tài nghiên cứu là quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Chúng tôi xây dựng các mẫu phiếu khảo sát dành cho cán bộ lãnh đạo quản

lý để tìm hiểu nhu cầu, nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ và thực trạng quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cán bộ chủ chốt cấp

cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Qua thực tiễn nhiều năm công tác và giảng dạy tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố, qua thực tiễn phụ trách, quản lý các lớp bồi dưỡng tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị, rút ra được những ưu điểm, hạn chế, khó khăn về công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt để từ đó

đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng lý luận chính trị

Trang 15

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Nghiên cứu các Kế hoạch bồi dưỡng lý luận chính trị của Thành ủy, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố, rút ra những ưu điểm, hạn chế khó khăn về công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, từ đó đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng lý luận chính trị

- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia

Xin tư vấn thêm từ các chuyên gia có kinh nghiệm về lĩnh vực bồi dưỡng lý luận chính trị và quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị để tham khảo; đồng thời để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất

7.3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin

Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu điều tra

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các đề xuất, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị

cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho

đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị

cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ

THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp

cơ sở là một nội dung giáo dục quan trọng, nhằm giúp các trường chính trị tỉnh, thành phố thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện về phẩm chất và năng lực (nhân

cách) cho người học Khi còn sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán

bộ là cái gốc của mọi công việc” “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém ” [17, tr.72] Từ quan điểm đó Người coi trọng mục tiêu,

nội dung giáo dục tư tưởng chính trị thông qua học tập lý luận chính trị trong các

nhà trường như: “ Mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp

dụng vào công việc thực tế” [17, tr.73]

Khi bàn về mục tiêu giáo dục, GS Viện sĩ Phạm Minh Hạc - nhà Tâm lý

học hàng đầu nước ta nêu rõ “Trang bị cho mọi người những tri thức cần thiết

về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật văn hóa xã hội Hình thành cho mọi công dân có thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin, đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh tổ chức tốt giáo dục thế hệ trẻ, giúp

họ để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định, nỗ lực học tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ

vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước" [13, tr.40]

Dưới góc độ nghiên cứu về giáo dục lý luận chính trị, các biện pháp giáo dục

lý luận chính trị cho học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp của học viên các khoá học tại Học Viện Chính

trị - Hành chính Quốc gia công bố, chẳng hạn như: “Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng

Trang 17

cán bộ chủ chốt cơ sở xã, phường, thị trấn ở trường Chính trị Lê Duẩn trong giai

đoạn hiện nay” (luận văn Thạc sỹ, 2007 - Hoàng Đức Dinh) [10]

Khai thác dưới góc độ phối hợp các lực lượng giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội để xây dựng biện pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế Thái Nguyên đó là công trình nghiên cứu mang

tên: “Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Tỉnh Thái Nguyên” (luận

văn Thạc sĩ, 2009-Chu Mạnh Cường) [9]

Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo

dục LLCT khác như: “Quan hệ giữa lý luận và chính trị" của Nguyễn Thế Phấn [19]; Đào Duy Tùng, “Một số vấn đề về công tác tư tưởng” [28]; “Mấy vấn đề trong công tác lý luận" của Đỗ Nguyên Phương [20]; “Tư tưởng Hồ Chí Minh

về vai trò của năng lực trí tuệ và lý luận" của Trần Đình Huỳnh [15]

Nhìn chung, những công trình trên đã nghiên cứu sâu sắc về đổi mới công tác giáo dục LLCT cho người làm công tác giảng dạy hoặc người cán bộ lãnh đạo chủ chốt, nhưng chưa đề cập đến đối tượng là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực Như vậy, Quản lý hoạt động bồi dưỡng

lý luận chính trị cho các cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực là mảng đề tài cần được quan tâm nghiên cứu

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định Sự phân công, hợp tác lao động đó nhằm đạt hiệu quả và năng suất lao động cao hơn, do vậy cần có người đứng đầu, chỉ huy, phối hợp để điều hành, kiểm tra, điều chỉnh Chính vì vậy, người ta quan niệm quản

lý là một thuộc tính lịch sử vì nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, thường xuyên biến đổi, nó là hiện tượng xã hội xuất hiện sớm

Theo Đại từ điển tiếng Việt, quản lý là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan: quản lý lao động, quản lý cán bộ, quản lý công

Trang 18

việc” hay quản lý là: “Trông coi, giữ gìn, theo dõi việc gì: quản lý lý lịch, quản

lý vật tư” [31]

- Theo C.Mác: "Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình nhưng một giàn nhạc thì phải có nhạc trưởng" [6]

- F.W.Taylor (Mỹ, 1856-1915) được đánh giá là "Cha đẻ của thuyết quản

lý khoa học" đã đưa ra định nghĩa: "Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó khiến được họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất

và rẻ nhất" [23]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động khách thể quản

lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [21, tr.123]

Theo tác giả Nguyễn Thị Tính “Quản lý là sự tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho

tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra Hay nói cách khác: Quản lý lŕ quá trěnh đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [24, tr.2,3]

Tóm lại, có nhiều khái niệm, cách định nghĩa khác nhau về quản lý, song

có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác động có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm làm cho hệ quản lý vận động phù hợp với quy luật khách quan

Do đó, quản lý là một hoạt động của chủ thể quản lý nhằm thiết kế và tạo

ra môi trường mà ở đó mọi tổ chức và cá nhân có liên quan trong hoạt động lao động của xã hội nhất định để đạt được mục tiêu, dự kiến trong những điều kiện, phương tiện và các hoạt động khác của xã hội Quản lý có tầm quan trọng đặc biệt đó là tính hiệu quả tối ưu trong các hoạt động Chất lượng phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người Chất lượng quản lý được đánh

Trang 19

giá ở chỗ cùng mục tiêu và kết quả người quản lý giỏi sẽ đưa tập thể đạt đến nhanh hơn, ít tốn kém hơn và thoả mãn yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý

Quản lý một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trường học…) với tư cách là một hệ thống xã hội cần có cả một khoa học và nghệ thuật để tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu đề ra trong quá trình hoạt động

1.2.2 Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã, hay cấp cơ sở)

Hiện nay đang có nhiều quan niệm khác nhau về CBCC Để nhận thức đầy

đủ và đúng đắn vấn đề này, cần làm rõ một số khái niệm sau đây:

- Thứ nhất, khái niệm "cán bộ"

Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì: "Cán bộ: 1 Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước 2 Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan,

tổ chức nhà nước" [31] Theo Điều 1 của Pháp lệnh Công chức do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 9/3/1998: "Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách" [22]

Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng để chỉ những người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách hoàn thành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công

Như vậy, có nhiều quan niệm về cán bộ, nhưng tựu trung lại, có hai cách hiểu cơ bản:

Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc

trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp nhà nước và các lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương và

cơ sở

Hai là, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ

chức để phân biệt với người không có chức vụ

Trang 20

Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên cho thấy, người cán bộ có bốn đặc trưng cơ bản:

+ Cán bộ được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong HTCT lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động

+ Cán bộ giữ một chức vụ, một trọng trách nào đó trong một tổ chức của HTCT + Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi hoàn thành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử

+ Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào nội dung, chất lượng hoạt động và thời gian công tác của họ

Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, cán bộ là người lãnh đạo, quản lý hoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác Họ được hình thành

từ tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát,

giản dị và dễ hiểu Theo Người: "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng"

[18]

- Thứ hai, khái niệm "chủ chốt"

Theo Đại từ điển tiếng Việt, từ "chủ chốt" là "quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt Cán bộ chủ chốt của phong trào" [31]

- Thứ ba, khái niệm "cán bộ chủ chốt"

Từ những nội dung trình bày nêu trên, có thể hiểu "cán bộ chủ chốt" là người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thực hiện chức

Trang 21

năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giao

Cán bộ chủ chốt có những đặc trưng cơ bản như sau:

+ Cán bộ chủ chốt là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra các quyết định và tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên giao Kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc;

bổ sung, điều chỉnh kịp thời những giải pháp mới khi cần thiết; đúc rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận Đồng thời, CBCC còn

là người giữ vai trò đoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và xây dựng nội bộ tổ chức vững mạnh

+ Cán bộ chủ chốt là những người đại diện một tổ chức, một tập thể chủ yếu do bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ quan Đảng, chính quyền (cấp trưởng, cấp phó); trưởng các đoàn thể và là những người chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về mọi hoạt động của địa phương, đơn

vị hoặc lĩnh vực công tác được đảm nhận

Vậy cán bộ chủ chốt là gì? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Cán bộ là gốc của mọi công việc Trong đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ chủ chốt là gốc của cái gốc đó, là lực lượng nòng cốt, là nhân tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ

chức Đảng và Nhà nước Cán bộ chủ chốt cơ sở, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ chủ chốt cơ sở hoặc cấp cơ sở) là những người đứng đầu, phụ trách một đơn vị, một tổ chức, một tập thể nào đó do bầu cử, bổ nhiệm hay chỉ định ở cấp cơ sở Hoạt động lãnh đạo của người cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đòi hỏi phải ra được những văn bản, quyết định đúng đắn nhằm chỉ đạo kịp thời các lĩnh vực phát triển theo đúng đòi hỏi của thực tiễn và phù hợp với cơ sở, đơn vị

Điều đó đòi hỏi ở người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở, một mặt phải nắm chắc, hiểu sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; mặt khác, phải tường tận tình hình thực tế của cơ sở, đơn vị về mọi mặt và xu hướng

Trang 22

vận động của tình hình đó Đồng thời, họ còn phải biết huy động sức mạnh trí tuệ của tập thể, của quần chúng Đó chính là những điều kiện để người lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở xây dựng được các quyết định, các chương trình, kế hoạch vừa phù hợp với thực tiễn ở cơ sở vừa là sự cụ thể hóa sinh động, sáng tạo chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và Nghị quyết của cấp uỷ cấp trên [18]

1.2.3 Phát triển nguồn nhân lực

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực và phát triển

nguồn nhân lực Theo Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [dẫn theo 4] Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực,

kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân

Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên Theo

Tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động, nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế

- xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động

Dưới góc độ kinh tế phát triển: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong

độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm

Trang 23

việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng Như vậy, theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…

Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy, việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững

Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực

Theo quan niệm của Liên Hợp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh

tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống Có quan điểm cho rằng: phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần,

cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng

Trang 24

được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội Một số tác giả khác lại quan niệm: phát triển là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội

Từ những luận điểm trình bày trên có thể hiểu: phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm trên đây thực chất là

đề cập đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của một quốc gia

Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề) Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, trong

đó nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tựu nhất, có chất lượng nhất Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao không thể không đặt trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nói chung của một đất nước Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong

và ngoài nước), đó là: có kiến thức chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác

Trang 25

phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải thực chất

Khi chuyển dần sang nền kinh tế tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên

ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực” Bởi trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, có môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư, có môi trường chính trị - xã hội ổn định

1.2.4 Bồi dưỡng lý luận chính trị

Theo tổ chức UNESCO “Bồi dưỡng với nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp” [29]

Như vậy, thực chất của bồi dưỡng là quá trình bổ sung những thiếu hụt về

Trang 26

tri thức kỹ năng hoặc để nâng cao trình độ, mở mang và phát triển những gì đã

có, làm tăng thêm lượng vốn hiểu biết trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào

đó nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của chuyên môn, nghiệp vụ nâng cao hiệu quả lao động Và chủ thể bồi dưỡng là những người đã được đào tạo và có trình

độ chuyên môn nhất định, mục đích bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang nâng cao hệ thống kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ có sẵn với phương châm “Học tập suốt đời” để nâng cao hiệu quả công việc đang làm

1.2.4.2 Lý luận chính trị

Lý luận, theo ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại, nghĩa là tôi đang xem xét, đang nghiên cứu Trong nghĩa rộng, lý luận là hệ thống các quan điểm, các tư tưởng, các khái niệm hướng tới việc tiếp cận và giải thích một sự vật, hiện tượng nào

đó Trong nghĩa hẹp, lý luận là hình thức phát triển cao nhất của nhận thức khoa học mang lại những khái niệm tổng thể về những quy luật và những mối liên hệ

của một phạm vi của hiện thực nào đó V.I.Lênin viết: "nhận thức tồn tại trong dạng lý luận, học thuyết cần phải đưa lại khách thể trong sự tất yếu của nó, trong các mối quan hệ mọi mặt của nó" [30]

Xét về cấu trúc, lý luận là thể hiện sự phân hoá tri thức bên trong, nhưng tổng hợp hệ thống tri thức có tính phụ thuộc lôgíc của những yếu tố này vào những yếu tố kia, phân chia nội dung của lý luận từ tổng số của những khẳng định và khái niệm tức là từ cơ sở xuất phát của lý luận theo các nguyên tắc lôgíc phương pháp luận nhất định

Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích lũy lại trong quá trình lịch sử Bản chất của dư luận nằm ở chỗ, dư luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan Sự phát triển của nhận thức dẫn đến sự xuất hiện của lý luận và lý luận được hình thành trong mối liên hệ với thực tiễn

Trong quá trình hoạt động thực tiễn, trí tuệ con người được phát triển, được

Trang 27

nâng cao dần để trở thành lý luận Nhưng lý luận ra đời không phải do nhu cầu của bản thân lý luận mà do nhu cầu chủ yếu của hoạt động thực tiễn của con người, chúng ta khẳng định rằng, thực tiễn là mục đích của nhận thức, của lý luận

Lý luận là hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và về mối liên hệ cơ bản của hiện thực Lý luận là sự phản ánh và tái hiện hiện thực khách quan Mọi Lý luận đều quy định bởi hoàn cảnh lịch sử, được hình thành từ điều kiện cụ thể của lịch sử sản xuất, kỹ thuật

và thực nghiệm Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [18]

Theo nghĩa rộng, Lý luận là một dạng hoạt động của con người nhằm thu nhận tri thức về hiện thực tự nhiên, xã hội và cùng với thực tiễn tạo thành hoạt động tổng thể của xã hội Thuật ngữ lý luận đồng nghĩa với các hình thức có tổ chức cao và phát triển nhất của ý thức xã hội Với tư cách là sản phẩm cao nhất của tư duy có tổ chức, Lý luận biểu hiện quan hệ gián tiếp của con người đối với hiện thực và là điều kiện cho sự cải biến thực sự có ý thức hiện thực

Theo nghĩa hẹp, Lý luận là một dạng tri thức khoa học đáng tin cậy về một tổng thể các khách thể nào đó Nó là hệ thống các luận điểm gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt lôgíc và phản ánh bản chất, các quy luật hoạt động, phát triển của khách thể để nghiên cứu

Lý luận cách mạng tạo nên nền tảng tư tưởng của đảng Đảng ra đời trên nền tảng tư tưởng đó, tức là có lý luận một cách cơ bản nhất; những người giác ngộ, tiên tiến cùng nhau xây dựng tổ chức đảng theo lý luận đó Khi đảng ra đời, cương lĩnh hành động, đường lối chiến lược sách lược do Đảng đề ra cũng dựa trên nền tảng tư tưởng đó

Chính trị là lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm các hoạt động và các mối quan hệ liên quan đến các công việc và giải quyết các vấn đề chung của toàn

xã hội Đây là biểu hiện bề ngoài của chính trị Thực chất, chính trị là mối quan

Trang 28

hệ, sự tương tác giữa chủ thể xã hội với toàn bộ các tổ chức và thành viên trong

xã hội với quyền lực chi phối chứa đựng bên trong đó, quyền lực chung (quyền lực xã hội), gọi là quyền lực chính trị

Trong các công việc chung của xã hội thì công việc của nhà nước chiếm

vị trí quan trọng hàng đầu Trong xã hội có giai cấp, giai cấp chiếm ưu thế luôn luôn muốn giành lấy vai trò thực hiện các công việc chung để xác lập và duy trì

địa vị thống trị của giai cấp mình Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng,

thực chất chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, là những hoạt động xoay quanh vấn đề giành, giữ chính quyền và sử dụng quyền lực nhà nước

Tất nhiên, chính trị không chỉ bao gồm các công việc của nhà nước Xã hội muốn tồn tại và phát triển thì còn hàng loạt vấn đề chung khác cần giải quyết như các vấn đề liên quan đến hệ tư tưởng, ý thức, đạo đức xã hội, các phương án giải quyết các vấn đề chung của xã hội khác với giai cấp, tầng lớp nắm quyền

Vì vậy, bên cạnh nhà nước trong xã hội còn tồn tại các tổ chức chính trị khác Với góc độ tiếp cận khái niệm lý luận và khái niệm chính trị ở trên đây, có

thể đưa ra một khái niệm lý luận chính trị như sau: Lý luận chính trị là hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của một Đảng, một giai cấp

để giành, giữ và thực thi quyền lực Nhà nước Lý luận chính trị là lý luận trong

lĩnh vực chính trị Lý luận chính trị ra đời khi xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp để đại diện cho một lợi ích của một Đảng, một giai cấp nhất định trong xã hội

Như vậy, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận chính trị của giai cấp vô sản, là hệ tư tưởng chân chính nhất của giai cấp vô sản và chính đảng của mình - Đảng Cộng sản Đó là kim chỉ nam của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh giải phóng mình, giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột của giai cấp tư sản và trả con người về đúng vị trí của nó

1.2.4.3 Hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị

Hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị là quá trình phổ biến, truyền bá một

Trang 29

cách cơ bản, có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, phát luật của Nhà nước cho cán

bộ, đảng viên và nhân dân Bồi dưỡng lý luận chính trị được thực hiện theo các chương trình quy định, nhằm xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cộng sản, tạo nên bản lĩnh chính trị, niềm tin có cơ sở khoa học, vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; nâng cao năng lực công tác thực tiễn, giáo dục đạo đức, lối sống, tinh thần tự giác và tích cực trong các công tác xã hội

Như vậy khi nói đến hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị của Đảng, có thể thấy chủ thể bồi dưỡng là các cơ quan, tổ chức, ban ngành các cấp tham gia công tác bồi dưỡng dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy các cấp Về đối tượng tham gia công tác bồi dưỡng lý luận chính trị là đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, ban ngành các cấp với mục tiêu là nâng cao nhận thức về lý luận chính trị, nhằm trang bị cho họ nắm được những kiến thức, kỹ năng mới, có khả năng vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền và tổ chức thực hiện các phong trào quần chúng ở địa phương, đơn

vị

1.2.5 Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị

Là quá trình quản lý việc bổ sung những thiếu hụt về tri thức kỹ năng hoặc

để nâng cao trình độ, mở mang và phát triển những gì đã có, làm tăng thêm lượng vốn hiểu biết trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của chuyên môn, nghiệp vụ nâng cao hiệu quả lao động

Quản lý bồi dưỡng là quản lý một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố: mục tiêu bồi dưỡng, nội dung bồi dưỡng, phương pháp bồi dưỡng, hình thức tổ chức bồi dưỡng, người dạy, người học, công tác kiểm tra, đánh giá bồi dưỡng

Hoạt động bồi dưỡng LLCT là một việc có ý nghĩa rất quan trọng, gắn liền với quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, trở thành một phương

Trang 30

thức chủ yếu của mọi hoạt động giáo dục, đào tạo Quản lý hoạt động bồi dưỡng

là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Trong hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam về LLCT có nhiều cấp độ khác nhau như: Cử nhân, Cao cấp, Trung cấp, Sơ cấp; các chương trình bồi dưỡng lý luận chuyên đề; chương trình học tập, quán triệt các Nghị quyết của Đại hội Đảng, Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư

Quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở là sự tác động

có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm nâng cao năng lực LLCT cho CBCC cấp cơ sở

Quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực là sự tác động có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm nâng cao năng lực lý luận chính trị và việc vận dụng lý luận vào thực tiễn quản lý nhà nước của đội ngũ CBCC cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.3 Lý luận về bồi dưỡng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

1.3.1 Vai trò, chức năng bồi dưỡng

Bồi dưỡng lý luận chính trị là một trong các bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng của Đảng, có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng C

Mác đã chỉ rõ: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [6] V.I Lênin khẳng định:“Không có lý luận cách mạng thì cũng không có phong trào cách mạng” và “chỉ đảng nào được lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [30] Chủ

tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm

Trang 31

cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, phải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”;

“Không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm” [18] Như vậy, truyền bá lý luận

cho cán bộ, đảng viên và quần chúng chính là quá trình “vật chất hóa” lý luận, góp phần đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống

Bồi dưỡng lý luận chính trị là thực hiện việc giáo dục lý luận chính trị nhằm tăng cường kiến thức lý luận chính trị cho đối tượng được bồi dưỡng nhằm củng cố hoặc bổ sung, làm sâu sắc thêm, cập nhật, mở rộng kiến thức đã được học

Bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt góp nâng cao ý thức tự giác tu dưỡng đạo đức cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân góp phần phòng, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

1.3.2 Nội dung chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng nâng cao trình

độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay là một trọng tâm thiết thực Đó là bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với những nội dung cụ thể, thiết thực và sâu sắc Bởi vì tư tưởng Hồ Chí Minh như Đảng ta khẳng định, là hệ thống các quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Tư tưởng ấy là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Việc bồi dưỡng lý luận chính trị theo

tư tưởng Hồ Chí Minh là bồi dưỡng những vấn đề lý luận cơ bản, những quan điểm cốt yếu về cách mạng nước ta hiện nay, gồm:

1 Bồi dưỡng những nội dung lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Đảng ta xác định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động Trang bị những nội dung cơ bản của

Trang 32

chủ nghĩa Mác - Lênin là được trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa học để nhận thức và hành động đúng đắn, quyết liệt

Chủ nghĩa Mác - Lênin có nội dung lý luận hết sức sâu sắc và rộng lớn Cho nên tùy từng đối tượng mà người dạy và người học phải biết chọn lọc, để rồi điều học được trở nên có ích với mỗi người, mỗi cương vị công tác cụ thể Tránh tình trạng người dạy cứ dạy, người học cứ học, còn hiệu quả trước mắt và lâu dài thế nào chưa được đặt ra để tính toán từng khâu của các hoạt động ấy Hoặc tránh tình trạng học cho xong, cho qua cốt để tiêu chuẩn hóa chức danh, để

"dãn nhãn", còn hiểu sâu, nắm chắc bản chất những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng vào đời sống, vào công việc hằng ngày thì lại bỏ qua, ít quan tâm Để khắc phục tình trạng trên - cơ sở bảo đảm Đảng ta thật sự vững mạnh từ những thành viên của mình, Đảng và Nhà nước có cơ chế chính sách quy định đối với người dạy, người học, lấy hiệu quả thiết thực làm mục tiêu, làm thước đo đánh giá Mặt khác, không ngừng đổi mới nội dung chương trình, đổi mới phương pháp dạy và học lý luận Mác - Lênin dưới mọi hình thức ở các cơ quan đào tạo, bồi dưỡng hiện nay

2 Bồi dưỡng những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nước ta là những người lãnh đạo, người tập hợp các tầng lớp nhân dân ở khắp các địa phương, các vùng miền của đất nước thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng đặt ra Do đó, họ phải học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững những quan điểm lý luận của Người về việc nhận thức và giải quyết các vấn đề của cách mạng nước ta Trong muôn vàn vấn đề của cuộc sống đặt ra đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nắm được những nội dung chính yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh để cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho việc xem xét, xử lý, hành động đúng đắn của mình

Trang 33

Những vấn đề lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh cần tập trung bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt hiện nay gồm:

- Nhận thức rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là gì, tư tưởng ấy có nguồn gốc từ đâu,

cơ sở khoa học của nó ở chỗ nào, cái cần tiếp thu là gì, bằng cách nào, vì sao

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế

- Cán bộ, đảng viên phải hiểu sâu những căn cứ khoa học của lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, về đảng cộng sản, đảng cầm quyền và

lý luận về công tác xây dựng Đảng hiện nay

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp cách mạng và tác phong công tác Những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh là vô cùng phong phú, giúp cho chúng ta những tri thức mới, những nhận thức đúng, những phương pháp tư duy

và hành động đúng Từ những nội dung trên đây, việc giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh là giáo dục những tri thức cách mạng, giáo dục phương pháp cách mạng, tác phong và phong cách công tác của Hồ Chí Minh; giáo dục đạo đức, lối sống của Hồ Chí Minh

3 Bồi dưỡng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tình hình chính trị thời sự cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Trang 34

Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thể hiện ư chí, nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước ta Qua mỗi kỳ đại hội, bằng trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, Đảng ta đã xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước một cách phù hợp từng thời kỳ Do vậy, văn kiện, nghị quyết được đại hội thông qua là cương lĩnh chính trị của Đảng, là chương trình hành động dẫn dắt nhân dân ta xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc một cách cụ thể, phù hợp

Đường lối, nghị quyết đó được Nhà nước, các cơ quan chức năng và các cấp có thẩm quyền thể chế hóa thành chính sách, pháp luật và ban hành những quy định, cơ chế tương ứng để bảo đảm cho nó đi vào cuộc sống

Ngoài những vấn đề nêu trên đội ngũ cán bộ chủ chốt hiện nay cần phải bồi dưỡng, nâng cao nhận thức tình hình thời sự, chính trị trong nước một cách cập nhật, thường xuyên

1.3.3 Phương pháp bồi dưỡng và hình thức bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

* Phương pháp bồi dưỡng

Phương pháp bồi dưỡng là cách thức thực hiện hoạt động dạy học trong công tác bồi dưỡng, là hệ thống tác động liên tục, có kế hoạch của giảng viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của người học để họ lĩnh hội vững chắc các nội dung bồi dưỡng đạt được mục tiêu bồi dưỡng Như vậy, khi xem xét đến phương pháp bồi dưỡng phải chú ý đến hai mặt của quá trình bồi dưỡng (quá trình dạy và quá trình học) Những phương pháp được áp dụng trong bồi dưỡng LLCT gồm:

- Các phương pháp dùng lời nói: Thuyết trình, vấn đáp, nêu và giải quyết vấn đề, thảo luận

- Các phương pháp trực quan: Quan sát, dạy học trực quan

- Các phương pháp thực tiễn: Tham quan, trò chơi, xử lý tình huống

- Phương pháp kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra viết, vấn đáp, viết tiểu luận

Trang 35

Lựa chọn phương pháp bồi dưỡng có tác dụng quyết định chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng, vì vậy việc lựa chọn phương pháp bồi dưỡng cần:

+ Hướng vào học viên được bồi dưỡng

+ Hướng vào hoạt động của học viên

+ Hướng vào mục tiêu bồi dưỡng, nội dung bồi dưỡng

+ Chú ý đến một số đặc điểm về việc học tập của học viên

* Hình thức tổ chức bồi dưỡng

- Căn cứ vào thời gian và cách thức tổ chức bồi dưỡng gồm:

+ Hình thức bồi dưỡng tập trung: Hình thức bồi dưỡng này cũng có những thuận lợi và khó khăn riêng Hình thức bồi dưỡng tập trung thuận lợi là học viên

có thể tập trung cho việc học tập, tiếp thu kiến thức mới, có thể được đi tham quan, trao đổi học hỏi các kinh nghiệm khi áp dụng lý luận vào thực tiễn hoạt động

+ Hình thức bồi dưỡng bán tập trung là việc tổ chức triệu tập học viên bồi dưỡng LLCT 1 tuần/tháng (áp dụng đối với khóa học Trung cấp lý luận chính trị- hành chính)

- Căn cứ vào mục tiêu, đối tượng bồi dưỡng gồm:

+ Hình thức bồi dưỡng theo mục tiêu là bổ sung, cập nhật kiến thức LLCT hàng năm: Thông tin thời sự quốc tế, khu vực, trong nước; các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước hàng năm; chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh…

+ Hình thức bồi dưỡng theo chức danh, nhiệm vụ Là hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo lĩnh vực công tác sau các kỳ Đại hội Đảng, đoàn thể, sau bầu cử Quốc hội, HĐND

1.3.4 Định hướng phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ mới

Với những kết quả sau gần 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nhiệm vụ trung tâm thời kỳ này là đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, tạo cơ

sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh thần

Trang 36

được nâng cao, quốc phòng anh ninh vững chắc, đang hướng đến xây dựng đất nước dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, xây dựng thành công CNXH

Để thực hiện được mục tiêu cơ bản của CNH, HĐH với một nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, Đảng ta xác định phải tập trung đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp Trên cơ sở tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng đầy đủ nhu cầu lương thực cho xã hội, nguyên vật liệu

để mở rộng phát triển công nghiệp chế biến và các ngành kinh tế khác Xây dựng

cơ sở vật chất vững chắc là tiền đề thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Do đó,

phải "đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn" [2, tr.92]

Mặt khác, sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đạt được nhiều thành tựu

to lớn Tuy nhiên nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế Vì vậy, để đạt được mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp, phải tiến hành xây dựng nông thôn mới Để hoàn thành nhiệm vụ

cơ bản trên đòi hỏi đội ngũ cán bộ cấp cơ sở phải tự hoàn thiện cả về trách nhiệm

và năng lực, trí tuệ, trong đó một trong những phương pháp hiệu quả, lâu dài là nâng cao trình độ lí luận chính trị

- Tăng cường sức mạnh và hiệu lực của hệ thống chính trị cấp cơ sở Đánh giá về những hạn chế của hệ thống chính trị nước ta, Báo cáo chính trị của Đại

hội XII nêu rõ: "Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, chiến lược điều hành quản lý của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội chưa nâng lên kịp thời với đòi hỏi của tình hình" [11, tr.66] Nguyên nhân chủ

yếu dẫn đến hạn chế này, trước hết là do: năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán

bộ chưa tương xứng với yêu cầu và nhiệm vụ, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên phai nhạt lí tưởng, tha hoá về phẩm chất, đạo đức cách mạng, từ đó dẫn đến sự suy yếu sức chiến đấu của một bộ phận tổ chức cơ sở Đảng, hiệu lực

Trang 37

của bộ máy Nhà nước cũng như khả năng hoạt động của các đoàn thể quần chúng

bị giảm sút

Thực tiễn ở nước ta trong những năm qua đã cho thấy, việc hạn chế về nhận thức chính trị, năng lực chỉ đạo hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng ở một số địa phương Việc vi phạm nghiêm trọng quyền tự do, dân chủ của nhân dân, các tệ nạn quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, ức hiếp quần chúng nhân dân ở một số địa phương đã làm suy giảm lòng tin của dân đối với Đảng và Nhà nước, không huy động được sức mạnh của dân trong sự nghiệp đổi mới Do đó, nâng cao trình độ về mọi mặt cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là điều kiện tiên quyết nhằm củng cố, tăng cường sức mạnh, hiệu lực của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nước ta hiện nay

Trình độ lý luận chính trị và kiến thức quản lý nhà nước là một yêu cầu khá cấp thiết đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, bởi những kiến thức này

có thể được xem như những kiến thức chuyên môn mà họ phải dùng đến hàng ngày khi giải quyết công việc, đặc biệt là những công việc liên quan đến chức năng, thẩm quyển của nhà nước, liên quan đến việc áp dụng các văn bản pháp luật cũng như các chủ trương, đường lối, chính sách, liên quan đến công việc chuyên môn

Không những thế, trình độ lý luận chính trị còn là điều kiện góp phần đảm bảo bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ

sở

Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự bùng nổ thông tin, chính sách pháp luật của nhà nước luôn có sự điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh một cách kịp thời, đảm bảo cho sự nghiệp cải cách kinh tế, cải cách hành chính, do vậy bồi dưỡng lý luận chính trị kiến thức về quản lý hành chính và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công vụ cho cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp sơ sở là vấn đề quan trọng và mang tính cấp thiết

Trang 38

1.4 Bí thư đảng bộ với hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

Bí thư Đảng bộ là người đứng đầu đảng bộ, có trách nhiệm lãnh đạo mọi mặt công tác của đảng bộ và chịu trách nhiệm trước đảng bộ cấp trên; đồng thời, cùng với đảng bộ tích cực cụ thể hóa, vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và cấp mình, kiểm tra đảng viên chấp hành Điều

lệ, Quy định của Đảng

Bên cạnh đó, Bí thư Đảng bộ còn có trách nhiệm chăm lo xây dựng tổ chức

cơ sở đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, chăm lo đội ngũ cán bộ, đảng viên; biết vận động nhân dân thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy, biết phát huy sức dân Trực tiếp phụ trách các vấn đề cơ mật: an ninh - quốc phòng, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, đảng viên và nhân dân Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong cấp uỷ và đảng bộ Để xây dựng HTCT vững mạnh Bí thư đảng bộ cần tăng cường công tác quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

Đặc biệt trong giai đoạn cách mạng hiện nay, hơn lúc nào hết công tác giáo dục lí luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở được Đảng Cộng sản Vệt Nam hết sức quan tâm và luôn coi đó là một trong những nhiệm vụ chính trị hàng đầu đối với công tác xây dựng Đảng Việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng lí luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt lúc này không những nhằm nâng cao năng lực tư duy lí luận cho họ mà còn thông qua công tác này Đảng làm tốt vai công tác tư tưởng của mình, đó là giúp cho cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng vững vàng, không bị ảnh hưởng, dao động trước những biến động chính trị trên thế giới, cũng như những vấn đề nảy sinh trong thời kì quá độ xây dựng CNXH ở Việt Nam Do đó vai trò của bí thư Đảng bô lại càng quan trọng

Trang 39

1.5 Lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

1.5.1 Nội dung quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực

1.5.1.1 Quản lý công tác xây dựng kế hoạch bồi dưỡng lý luận chính trị

Lập kế hoạch là một tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình,

có thời hạn, nguồn lực, ấn định mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt nhất…để thực hiện mục tiêu cuối cùng đã được đề ra

Lập kế hoạch bồi dưỡng có vị trí, vai trò rất quan trọng, nó giúp cho việc triển khai ở các đơn vị được chủ động theo một quy trình khoa học và logic; là

cơ sở để đánh giá mức độ đạt được về tất cả các mặt theo từng giai đoạn của kế hoạch; giúp lựa chọn được các phương pháp và hình thức tổ chức thực hiện các hoạt động bồi dưỡng phù hợp với chức năng của đơn vị tổ chức và tận dụng được thời gian tối ưu để thực hiện kế hoạch tốt nhất

Việc lập kế hoạch cho hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị ở các đơn vị hiện nay, thường gắn liền với công tác quy hoạch cán bộ, là toàn bộ những công việc về bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ CBCS theo tiêu chuẩn chức danh đối với từng đối tượng cán bộ trong một thời gian nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị Bồi dưỡng theo quy hoạch là bồi dưỡng có chủ đích, nhờ đó tạo dựng được đội ngũ CBCS với cơ cấu trình độ hợp lý để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị của ngành và của từng đơn vị, tạo thế chủ động cho đơn vị trong điều hành công việc Công tác bồi dưỡng theo quy hoạch tránh được hiện tượng bồi dưỡng tràn lan, không đúng đối tượng, gây lãng phí thời gian và tiền bạc của xã hội, làm mất ổn định tư tưởng của CBCS

Khi lập kế hoạch bồi dưỡng phải xem xét đến các vấn đề sau:

- Xem xét thực trạng trình độ đội ngũ CBCS

Trang 40

- Xác định nhu cầu bồi dưỡng (cho ai và cần học cái gì) bằng các cuộc điều tra, khảo sát Nhu cầu bồi dưỡng là sự chênh lệch giữa các kiến thức, kỹ năng cần phải có để thực hiện một công vụ nào đó và kiến thức, kỹ năng hiện có của CBCS đang thực hiện công vụ đó

Xác định nhu cầu bồi dưỡng giúp chúng ta xác định được cần bồi dưỡng cái gì Nhu cầu là sự đòi hỏi làm thỏa mãn mong muốn, khát vọng của mỗi cá nhân, tổ chức trong xã hội về một hay nhiều mặt của cuộc sống và phát triển Nhu cầu bồi dưỡng là nhu cầu nâng cao (phát triển) năng lực làm việc thực hiện nhiệm vụ được giao của mỗi cá nhân hay tổ chức, nhu cầu này chỉ có thể được thỏa mãn bằng con đường đào tạo

Bồi dưỡng không chỉ làm nhiệm vụ lấp đầy, khắc phục những hẫng hụt về năng lực làm việc của cán bộ mà hơn nữa còn liên quan đến việc xác định và thỏa mãn các nhu cầu phát triển như: phát triển kiến thức đa năng, để cán bộ đảm thêm trách nhiệm, tăng cường năng lực thực hiện nhiệm vụ và lý luận chính trị

để chuẩn bị cho việc trở thành đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hoặc đề bạt,

bổ nhiệm lên vị trí cao hơn với trách nhiệm nặng nề hơn trong tương lai

Trên cơ sở đó, thiết kế các khoá học cho phù hợp với từng loại đối tượng Điều đó giúp chúng ta xác định được cần bồi dưỡng cái gì, tránh trùng lặp gây lãng phí tiền của và thời gian của người học

- Vấn đề tài liệu, giáo trình phục vụ cho người học Căn cứ vào chương trình bồi dưỡng để chuẩn bị tài liệu, phương tiện dạy và học cho từng khoá bồi dưỡng Tài liệu phải rõ ràng, dễ hiểu, mang tính khoa học và thực tế ứng dụng

- Năng lực của các cơ sở bồi dưỡng được đánh giá bằng một số chỉ tiêu:

cơ sở vật chất của trường lớp, năng lực của đội ngũ giảng viên, năng lực phục vụ giảng dạy và học tập, trình độ quản lý của cán bộ, chính sách bồi dưỡng, uy tín của cơ sở bồi dưỡng

- Nguồn kinh phí bồi dưỡng

1.5.1.2 Tổ chức thực hiện bồi dưỡng lý luận chính trị

Ngày đăng: 19/06/2020, 19:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w