1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng nghề cơ điện luyện kim Thái Nguyên

126 115 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng thì yêu cầu của các nhà tuyển dụng đối với người lao động được đặt ra ngày càng khắt khe. Những yêu cầu đó không chỉ bó hẹp trong phạm vi kiến thức chuyên ngành mà còn bao gồm cả kinh nghiệm công tác, kỹ năng sống, sự nhanh nhạy trong xử lý công việc, cũng như sử dụng thành thạo ngoại ngữ và công nghệ thông tin,… Điều này đã và đang đặt ra những khó khăn, thách thức cho tất cả SV đặc biệt là những người vừa mới ra trường, chưa có kinh nghiệm cũng như các kỹ năng sống và kỹ năng làm việc.

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG NGỌC LONG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN -

LUYỆN KIM THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Giang Nam

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Ngô Giang Nam Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như

số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)

Thái Nguyên, ngày 12 tháng 11 năm 2017

Tác giả

Hoàng Ngọc Long

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, em

đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo ở Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến lãnh đạo Trường Đại học sư phạm, Khoa Tâm lý - Giáo dục, các nhà khoa học, các thầy cô giáo đã giảng dạy và hướng dẫn em nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn TS Ngô Giang Nam, người đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tạo điều kiện của Trường CĐN Cơ điện - Luyện kim TN, các Phòng, Khoa chuyên môn đã tận tình giúp đỡ, cung cấp số liệu, đóng góp ý kiến để việc điều tra nghiên cứu và hoàn thành luận văn được thuận lợi

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do hạn chế về năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả xin trân trọng tiếp thu những ý kiến góp ý chân thành của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các đồng nghiệp để tiếp tục hoàn thiện hơn nữa luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 12 tháng 11 năm 2017

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 6

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Các công trình nghiên cứu của một số nước trên thế giới 6

1.1.2 Các công trình nghiên cứu của Việt Nam 8

1.2 Một số khái niệm công cụ 11

1.2.1 Quản lý 11

1.2.2 Kỹ năng mềm 13

1.2.3 Hoạt động giáo dục kỹ năng mềm 17

1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm 17

1.3 Những vấn đề cơ bản về giáo dục KNM cho Sinh viên trường CĐN 18

1.3.1 Đặc điểm tâm lý của Sinh viên trường CĐN 18

1.3.2 Mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho Sinh viên trường Cao đẳng nghề 21

Trang 6

1.3.3 Đánh giá kết quả hoạt động giáo dục KNM cho Sinh viên trường CĐN 27

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV trường CĐN 28

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV trường CĐN 30

1.4.1 Mục tiêu của quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV trường CĐN 30

1.4.2 Các nguyên tắc và phương pháp quản lý hoạt động GDKNM cho SV trường CĐN 31

1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV trường CĐN 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN -LUYỆN KIM THÁI NGUYÊN 37

2.1 Vài nét về Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên 37

2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 38

2.2.1 Mục đích khảo sát 38

2.2.2 Nội dung khảo sát 38

2.2.3 Đối tượng khảo sát 39

2.2.4 Phương pháp khảo sát 39

2.3 Kết quả khảo sát thực trạng GD KNM cho sinh viên Trường CĐN Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên 40

2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ giáo viên về công tác GD KNM cho sinh viên Trường CĐN Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên 40

2.3.2 Thực trạng GD KNM cho sinh viên Trường CĐN Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên 46

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động GD KNM cho sinh viên Trường CĐN Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên 57

2.4.1 Thực trạng việc xây dựng và triển khai mục tiêu GD KNM cho Sinh viên 57

2.4.2 Thực trạng thực hiện nâng cao hiệu quả hoạt động GD KNM cho Sinh viên 59

Trang 7

2.4.3 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả GD KNM

cho Sinh viên 62

2.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý GD KNM cho Sinh viên 63

2.5 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế về KNM của sinh viên trường CĐN Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên 66

2.5.1 Mặt hạn chế 67

2.5.2 Nguyên nhân 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN - LUYỆN KIM THÁI NGUYÊN 70

3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 70

3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu đào tạo 70

3.1.2 Đảm bảo tính khả thi 70

3.1.3 Đảm bảo tính đồng bộ 71

3.1.4 Đảm bảo tính kế thừa 71

3.1.5 Đảm bảo tính hiệu quả 71

3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động GD KNM cho sinh viên Trường CĐN Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên 72

3.2.1 Nâng cao nhận thức cho Cán bộ giáo viên về GD KNM 72

3.2.2 Quản lý xây dựng chương trình đào tạo chú trọng phát triển KNM cho sinh viên 75

3.2.3 Đa đạng hóa các hình thức tổ chức dạy học nhằm rèn luyện KNM cho sinh viên 77

3.2.4 Tập huấn cho giáo viên về tổ chức hoạt động giáo dục KNM cho SV 80

3.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá hoạt động GD KNM 81

3.2.6 Huy động các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động GD KNM 83

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 85

3.4 Khảo nghiệm tính khả thi và cấp thiết của các biện pháp 85

Trang 8

3.4.1 Các bước tiến hành khảo nghiệm 85

3.4.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi và cấp thiết của các biện pháp nâng cao quản lý hoạt động GD KNM cho sinh viên trường CĐN Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên 86

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên 47 Bảng 2.5 Thực trạng thực hiện nội dung GD KNM ở Trường Cao đẳng

nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên 50 Bảng 2.6 Thực trạng thực hiện phương pháp, hình thức GD KNM ở trường

Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên 52 Bảng 2.7 Những khó khăn khi triển khai thực hiện GD KNM ở trường

CĐN Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên 55 Bảng 2.8 Thực trạng quản lý nội dung, chương trình GD KNM cho Sinh viên 58 Bảng 2.9 Thực trạng sử dụng các phương pháp quản lý hoạt động GD

KNM cho sinh viên 60 Bảng 2.10 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý GD

KNM cho sinh viên 64 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 86 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 88

Biểu

Biểu đồ 3.1 Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp 87 Biểu đồ 3.2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp 89

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang ngày càng phát triển

và hội nhập sâu rộng thì yêu cầu của các nhà tuyển dụng đối với người lao động được đặt ra ngày càng khắt khe Những yêu cầu đó không chỉ bó hẹp trong phạm vi kiến thức chuyên ngành mà còn bao gồm cả kinh nghiệm công tác, kỹ năng sống, sự nhanh nhạy trong xử lý công việc, cũng như sử dụng thành thạo ngoại ngữ và công nghệ thông tin,… Điều này đã và đang đặt ra những khó khăn, thách thức cho tất cả SV đặc biệt là những người vừa mới ra trường, chưa có kinh nghiệm cũng như các kỹ năng sống và kỹ năng làm việc

Kiến thức chuyên ngành mà các trường chuyên nghiệp cung cấp cho sinh viên trong quá trình học tập là yếu tố quyết định giúp cho SV có thể lập nghiệp trong tương lai Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là bên cạnh những kiến thức chuyên ngành đó đã đủ để họ có thể vượt qua những khó khăn và thử thách trong một thế giới đang thay đổi từng ngày và yêu cầu đặt ra đối với SV là bên cạnh việc không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn, cần phải quan tâm đến việc học tập và hoàn thiện các kỹ năng mềm cho bản thân

Có nhiều chuyên gia cho rằng, Kỹ năng mềm quyết định tới 75% sự thành đạt của con người và nhờ kỹ năng mềm mà tư duy của mỗi cá nhân trở nên linh hoạt, sáng tạo và mềm dẻo hơn; đồng thời có cơ hội hợp tác, chia sẻ cùng người khác, thích ứng với thế giới việc làm luôn luôn biến đổi Kỹ năng mềm không tồn tại độc lập mà nó gắn kết với kiến thức chuyên môn tạo nên năng lực hành động của mỗi người và do áp lực cạnh tranh ngày càng cao, trong tương lai các bạn Học sinh - Sinh viên sẽ phải có khả năng tiếp thu và thích ứng nhanh với những quy trình công nghệ và kinh doanh mới để có thể được các nhà tuyển dụng lựa chọn

Trang 12

Trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay, ngành giáo dục nói chung

và các trường Cao đẳng nghề nói riêng, đang tiến hành đổi mới về nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo định hướng phát triển năng lực cho người học Việc nâng cao chất lượng đào tạo, nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội

là đòi hỏi khách quan của xã hội và hoạt động lao động nghề nghiệp và được xây dựng định hướng theo chuẩn nghề nghiệp Vì vậy, các hoạt động giáo dục

và đào tạo nói chung, phát triển kỹ năng mềm cho Sinh viên nói riêng của mỗi nhà trường đều hướng tới hệ thống những chuẩn mực về đào tạo

Các trường Cao đẳng nghề thường có đối tượng tham gia học tập là các Sinh viên thuộc các vùng nông thôn còn nhiều khó khăn, vùng kinh tế chưa phát triển và một phần nhỏ là những người có độ tuổi lớn đi học để trang bị kiến thức chuyên môn thuộc một ngành nghề nào đó nên điều kiện để sinh viên tiếp cận với xã hội hiện đại còn nhiều hạn chế Mặt khác do chương trình đào tạo và cách thức tổ chức đào tạo theo cách tiếp cận nội dung, các trường chưa quan tâm đến cách tiếp cận phát triển năng lực Do đó kỹ năng mềm của Sinh viên còn yếu, bởi vậy nghiên cứu phát triển kỹ năng mềm cho Sinh viên các trường Cao đẳng nghề trở nên rất cấp thiết Phát triển một số kỹ năng mềm cho Sinh viên trong các trường Cao đẳng nghề là một yêu cầu khách quan đang được các nhà khoa học giáo dục quan tâm, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động Tuy nhiên, vấn đề này còn chưa được nghiên cứu một cách cụ thể để áp dụng cho khối các trường Cao đẳng nghề tại Thái Nguyên một cách

hiệu quả Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Quản lý

hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho Sinh viên trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm của Sinh viên ở trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái

Trang 13

Nguyên, đề tài đề xuất các biện quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho Sinh viên Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho Sinh viên ở Trường Cao đẳng nghề

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho Sinh viên ở Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên

4 Giả thuyết khoa học

Trong những năm qua công tác quản lý và giáo dục kỹ năng mềm cho Sinh viên Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên đã đươc quan tâm thực hiện, nhưng còn nhiều hạn chế mặc dù điều này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về yếu tố quản lý Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho Sinh viên đảm bảo tính khoa học, phù hợp với đặc điểm người học và mục tiêu đào tạo thì sẽ nâng cao hiệu quả GD KNM cho SV, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng

mềm cho Sinh viên trường Cao đẳng nghề

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng

mềm cho Sinh viên trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho

Sinh viên trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên

Trang 14

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp sách, tài liệu, tư liệu liên quan đến vấn đền nghiên cứu

để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài; lựa chọn những khái niệm, luận điểm cơ bản làm cơ sở lý luận cho đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán những thuộc tính của đối tượng nghiên cứu; tổng hợp các tài liệu để giúp cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra thực trạng trong công tác

quản lý giáo dục Kỹ năng mềm cho SV bằng phiếu khảo sát ý kiến với hệ thống câu hỏi đóng và mở, lấy ý kiến của cán bộ, giảng viên và sinh viên để thu thập thông tin phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài

- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động ngoại khóa, hoạt động

tập thể ngoài giờ lên lớp, hoạt động trải nghiệm, để thu thập thông tin phục

vụ quá trình nghiên cứu đề tài

- Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn: Tiến hành đàm thoại, phỏng vấn,

trao đổi cùng với Cán bộ, giảng viên và Sinh viên để tìm hiểu nhận thức như thế nào về vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên, thu thập thông tin định tính phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài

6.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ khác

Sử dụng các công thức toán thống kê để xử lý kết quả, khảo sát tỉ lệ trung bình, tỉ lệ % trong luận văn

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mục đích, Kết luận, Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm

cho SV trường Cao đẳng nghề

Trang 15

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho

Sinh viên Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim TN

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho

Sinh viên Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim TN

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên cứu của một số nước trên thế giới

Gần đây, khái niệm “Kỹ năng mềm” không còn quá xa lạ đối với các nước trên thế giới Khái niệm “Kỹ năng mềm” được biết đến từ những năm cuối thế kỷ

XX Có rất nhiều khuynh hướng khác nhau khi nghiên cứu về KNM:

* Nghiên cứu KNM trong giáo dục:

Tác giả Greenberg A D & Nilssen A H đã tiến hành nghiên cứu về vai trò của giáo dục trong xây dựng KNM của người học Công trình nghiên cứu này đã đưa ra các phương thức kiển tra đánh giá và đổi mới phương thức giảng dạy KNM của giáo viên Các tác giả còn khẳng định rằng hoạt động dạy học bằng trải nghiệm sẽ giúp người học rèn luyện và phát triển KNM [28]

Một số nghiên cứu tiêu biểu như sau: Tác giả John Adair với các cuốn sách Develop Your Leadership Skills (2007); Tim Hindle nghiên cứu KN về phỏng vấn, KN đàm phán, KN thuyết trình [30]; Decision Making and Problem SolvingStrategies (2007) nghiên cứu KN về lãnh đạo, KN ra quyết định và giải quyết vấn đề [29] Các nghiên cứu này đã đóng góp đáng kể khung lý luận và KNM và những cách thức thực hiện các hành động cụ thể để rèn luyện KNM

Tác giả Bernd Schulz đã tiến hành nghiên cứu về KNM Ông cho rằng trong rất nhiều KN của KNM thì KN giao tiếp có vai trò quan trọng nhất, nó là

cơ sở hình thành nhiều KNM khác như KN sáng tạo, KN ra quyết định, KN phân tích, KN giải quyết vấn đề Ông còn khẳng định việc dạy KNM cho sinh viên các trường đại học còn thiếu và cần được chú trọng [27]

Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa thế giới -UNESCO đã khẳng

định mục đích học tập của người học là: “Học để biết, học để làm, học để

Trang 17

chung sống, học để tự khẳng định mình” Những năm gần đây, các phương

tiện thông tin đại chúng nhắc nhiều đến cụm từ “kỹ năng”, “kỹ năng mềm” và

“kỹ năng cứng” gắn với bốn mục đích học tập này là những KN cần thiết để giúp người học có thể đạt được các mục đích đó:

Học để biết (learning to know): gồm các kỹ năng tư duy như tư duy phê

phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả ;

Học để làm (learning to do): gồm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm

vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm, Học để làm người

(learning to be): gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng, kiểm

soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin, ;

Học để chung sống (learning to live together): gồm các kỹ năng xã hội

như giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông;

* Nghiên cứu KNM trong hoạt động sản xuất, kinh doanh:

Nhóm tác giả Abdullah AL-Mutairi, Kamal Naser và Muna Saeid đã nghiên cứu yêu cầu về những KNM mà các nhà tuyển dụng lao động ngành kinh doanh yêu cầu đối với các SV tốt nghiệp ở Kuwait Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng KNM của con người được hình thành, phát triển và quyết định bởi yếu tố văn hóa - xã hội, môi trường con người đang sống đồng thời chịu tác động bởi môi trường học tập, làm việc và gia đình Những người sử dụng lao động đều khẳng định rằng KNM đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với người lao động [26]

Vẫn đề thiếu KNM của người học sau khi tốt nghiệp cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong báo cáo của Bộ Giáo dục ĐH ở Malaysia đã công bố gần một phần tư SV nước này tốt nghiệp hàng năm gặp rất nhiều khó khăn để xin được việc làm sau khi tốt nghiệp 6 tháng vì thiếu KNM Nguyên nhân được các nhà tuyển dụng cho rằng các ứng viên thiếu các KNM mà doanh nghiệp cần như: KN giao tiếp, KN kiềm chế cảm xúc, KN sáng tạo, KN giải

Trang 18

quyết vấn đề,…Hiện nay, một trong những KNM mà nhà sử dụng lao động nhấn mạnh hơn hết đó là: KN thông tin liên lạc, KN thích ứng, KN lãnh đạo và

KN làm việc theo nhóm Năm 2007, Bộ Lao động Malaysia đã công bố 7 KNM cần thiết phải trang bị cho người lao động [1]

Tại Mỹ, tác giả Peggy Klaus đã nghiên cứu công trình “Sự thật cứng về KNM” Công trình đã khẳng định được tầm quan trọng của KNM trong cuộc sống nói chung và trong công việc nói riêng của con người [17]

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nghiên cứu về KNM và khẳng định KNM

là những kỹ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn và khoẻ mạnh, đó là những kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp mà mỗi cá nhân có thể có

để tương tác với những người khác một cách hiệu quả hoặc ứng phó với những vấn đề hay những thách thức của cuộc sống hàng ngày

Từ những nghiên cứu mà tác giả đã tổng hợp được ở trên, cho thấy rằng

đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về KNM Mỗi tổ chức và cá nhân khi nghiên cứu về KNM dù ở khía cạnh nào thì cũng đều khẳng định rằng KNM có vai trò đặc biệt quan trọng đối với con người nói chung và đối với sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng nói riêng

1.1.2 Các công trình nghiên cứu của Việt Nam

Ở Việt Nam, gần đây đã có những nghiên cứu chính thức về KNM Đặc biệt từ năm 2010 đến nay, vấn đề GD KNM cho HS, SV ở Việt Nam đang rất được quan tâm từ phía Bộ GD & ĐT đến những nhà giáo dục học, tâm lý học Nhưng về mặt lý luận và phương pháp giáo dục KNM vẫn còn mới mẻ đối với nhận thức của các nhà giáo dục trong nước nên chưa nhận được sự quan tâm đúng mức

Tác giả Vũ Thế Dũng, trong công trình nghiên cứu của mình đã đưa ra những thách thức trong công tác QL, tổ chức thực hiện hoạt động GD KNM cho SV Trên cơ sở nghiên cứu lý luận tác giả đã đưa ra cách tiếp cận mới về tổ chức hoạt động GD KNM cho SV, công tác xây dựng chương trình GD KNM,

Trang 19

tổ chức lớp học KNM, cách thức tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho SV rèn luyện KNM Công trình đã đóng góp đáng kể về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác rèn luyện KNM cho sinh viên [7]

Tác giả Nguyễn Tùng Lâm trong công trình nghiên cứu của mình Từ các căn cứ lý luận cơ bản tác giả đã đề xuất một số giải pháp khắc phục những khó khăn trong công tác tổ chức triển khai hoạt động GD KNM ở các trường hiện nay; Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh “việc GD KNM phải trở thành chương trình

GD quốc gia, được nghiên cứu và chỉ đạo của Chính phủ, Bộ GD&ĐT, Bộ TBXH để giải quyết các vấn đề còn tồn tại hiện nay” [13]

LĐ-Tác giả Lê Thị Hồng Hạnh đã thực hiện nghiên cứu lý luận và đề xuất các biện pháp tổ chức, triển khai hoạt động GD KNM cho SV năm cuối đã được áp dụng tại trường ĐH An Giang và mạng lại hiệu quả đáng kể trong công tác rèn KNM, mở rộng cơ hội tìm kiếm việc làm cho sinh viên [11]

Tác giả Nguyễn Thị Tính [23] nghiên cứu phát triển KNS cho học sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc thông qua dạy học môn Đạo đức và phát triển KNS cho học sinh THPT khu vực miền núi phía Bắc thông qua các con đường giáo dục trong và ngoài nhà trường gắn với giáo dục giá trị sống cho học sinh

Tác giả Phan Thanh Vân [25] đưa ra bốn biện pháp giáo dục KNS cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Ở đây, các tác giả nghiên cứu chủ yếu về hình thành và phát triển KNS cho học sinh phổ thông Tuy nhiên, KNS với ý nghĩa là KNM cho đối tượng là SV, học viên cần có trong học tập công việc và cuộc sống chưa được nghiên cứu sâu

Tác giả Ngô Giang Nam với đề tài nghiên cứu cấp Đại học nghiên cứu

về những vấn đề về phát triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên DTTS, trong công trình này tác giả đã đánh giá thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc thiểu số Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên dân tộc thiểu số Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên [14]

Trang 20

Tác giả Tạ Quang Thảo đã phân tích lý luận, khảo sát và đánh giá thực trạng phát triển KNM cho SV khối ngành kinh tế các trường cao đẳng khu vực trung du, miền núi phía Bắc theo tiếp cận chuẩn đầu ra từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển KNM cho SV khối ngành kinh tế các trường cao đẳng khu vực trung du, miền núi phía Bắc theo tiếp cận chuẩn đầu ra.Theo tác giả, thì sinh viên cần phải được trang bị cả KNM thì mới đáp ứng được chuẩn đầu ra của các trường ĐH [21]

Qua những kết quả nghiên cứu về vấn đề KNM, GD KNM và QL hoạt động GD KNM cho SV và lực lượng lao động có thể kết luận như sau:

Các tác giả đã phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn về các vấn đề: KNM, GD KNM và QL hoạt động GD KNM Có nhiều nghiên cứu về mục đích và tập trung phân tích làm rõ tầm quan trọng của KNM đối với SV và lực lượng lao động trong điều kiện hiện nay Trong đó, nhiều nghiên cứu đã có cùng kết quả đánh giá rằng KNM cho SV các trường hiện nay còn hạn chế đồng thời cũng chỉ rõ tính cấp thiết phải đẩy nhanh hoạt động GD, huấn luyện KNM cho SV đang học ở các trường CĐ, ĐH Các tác giả cũng đã đề xuất một

số biện pháp nhằm phát triển KNM của SV ở trường CĐ, ĐH Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu về QL hoạt động GD KNM áp dụng cho nhóm đối tượng là SV trường CĐ, ĐH hàn lâm chứ chưa thực sự có nghiên cứu nào áp dụng cho nhóm đối tượng là SV các trường đào tạo nghề và cũng mới chỉ được đề cập một cách khái quát trong các công trình nghiên cứu mà chưa đi sâu vào vấn đề như mục tiêu, nội dung QL hoạt động GD KNM cho SV, chủ thể quản lý, các yếu tố ảnh hưởng đến KNM và QL hoạt động GD KNM cho SV

Ở nước ta, kỹ năng mềm chưa thực sự được chú trọng trong hệ thống giáo dục, đặc biệt là trong các trường đào tạo nghề, cũng như trong cuộc sống Trong quá trình học tập SV tập trung tiếp thu kiến thức, rèn luyện tay nghề để

có thể làm việc tốt khi ra trường Tuy nhiên, trong yêu cầu thực tế và đòi hỏi của việc thực hiện công việc không chỉ đơn thuần là kỹ năng chuyên môn mà

Trang 21

còn cần đến các kỹ năng xã hội khác Thực trạng hiện nay cho thấy, SV sau khi tốt nghiệp ra trường tuy có kiến thức nhưng khả năng kết hợp kiến thức đó với những đòi hỏi và biến đổi trong thực tế của công việc lại rất hạn chế

Trong những năm gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng nhắc nhiều đến cụm từ “Kỹ năng” và “KNM” bên cạnh đó cũng đã có rất nhiều các nghiên cứu đề cập đến các vấn đề liên quan đến KNM Tuy nhiên, các nghiên cứu đó cơ bản mới chỉ hướng tới đối tượng là SV các trường CĐ, ĐH hàn lâm và học sinh các trường phổ thông mà chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập sâu đến công tác Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho SV

ở trường Cao đẳng nghề nói chung và các trường Cao đẳng nghề nằm trên địa bàn TP Thái Nguyên nói riêng

1.2 Một số khái niệm công cụ

sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt

Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong

và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú Các trường phái quản lý học đã đưa ra những khái niệm về quản lý như sau:

Trang 22

Theo quan điểm kinh tế học thì F.W Tailor cho rằng "Quản lý là nghệ

thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất" [26]

A.Fayon cho rằng "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình,

doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” [26]

Hard Koont khẳng định"Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm

bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với

tư cách thực hành thì quản lý là nghệ thuật, còn kiến thức thì quản lý là một khoa học" [29]

Peter F Druker "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó

không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích" [29]

Peter F Dalark "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường

bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công"[29]

Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra Sự tác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người chịu quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội Quản lý là một môn khoa học sử dụng trí thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học, thống

kê, kinh tế, tâm lý và xã hội học… Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt tới mục đích

Trang 23

Từ những quan điểm trên ta có thể hiểu Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu đề ra

Tác giả Ivan Banki S cho rằng: “Kỹ năng là năng lực tự có hoặc qua học tập được con người vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình vào những hoạt động mang tính nghề nghiệp, một công việc cụ thể và trong lĩnh vực chuyên môn của mình” [dẫn theo 21]

Theo tác giả N.D Levitốp: “KN là sự thực hiện có hiệu quả một tác

động nào đó hay một hành động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định”

[dẫn theo 24]

Các nhà GD Việt Nam quan niệm kỹ năng như là khả năng của con người thực hiện có kết quả hành động tương ứng với mục đích và điều kiện trong đó hành động xảy ra Một số tác giả khác lại quan niệm, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt các thao tác phức hợp của hành động bằng cách lựa chọn và vận dụng tri thức vào quy trình đúng đắn

Theo Lê Văn Hồng [dẫn theo 2], kỹ năng là “khả năng vận dụng kiến

thức để giải quyết một nhiệm vụ mới" Còn tác giả Nguyễn Văn Đồng [5] cho

Trang 24

rằng: “kỹ năng là năng lực vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực

hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể”, hay

tác giả Nguyễn Quang Uẩn [dẫn theo 25] cho rằng: “kỹ năng là năng lực của

con người biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình”

Từ những khái niệm của những nhà nghiên cứu trên cho thấy những điểm chung trong quan niệm về kỹ năng:

+ Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kỹ năng Tri thức ở đây bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động

+ Kỹ năng là sự chuyển hoá tri thức thành năng lực hành động của cá nhân + Kỹ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định nhằm đạt được mục đích đã đặt ra

Như vậy, kỹ năng được xem xét theo nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, những quan niệm ấy không hề mâu thuẫn nhau mà chỉ khác nhau ở chỗ

mở rộng hay thu hẹp thành phần kỹ năng mà thôi

Từ sự phân tích trên, ta thấy kỹ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức,

cách thức hành động, thao tác đúng đắn để đạt được mục đích đề ra

*Kỹ năng mềm

Kỹ năng mềm hay còn gọi là Kỹ năng thực hành xã hội KNM là thuật ngữ liên quan đến trí tuệ xúc cảm dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: kỹ năng giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, hợp tác, thư giãn, kiềm chế cảm xúc, sáng tạo và đổi mới

KNM là khả năng cho phép cá nhân điều hỉnh hành vi phù hợp để ứng

xử tích cực với mọi người xung quanh, kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống của họ

Tác giả Forland, Jeremy định nghĩa KNM là một thuật ngữ thiên về mặt xã

hội “Kỹ năng mềm là một thuật ngữ thiên về mặt xã hội để chỉ những kỹ năng có

liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, khả năng hòa nhập xã hội, thái độ

Trang 25

và hành vi ứng xử hiệu quả trong giao tiếp giữa người với người Nói khác đi, đó là

kỹ năng liên quan đến việc con người hòa mình, chung sống và tương tác với cá nhân khác, nhóm, tập thể, tổ chức và cộng đồng”[dẫn theo 22]

Tác giả Đinh Phước Tường [24] đưa ra khái niệm KNM như sau: KNM là

những khả năng tâm lý - xã hội giúp con người có những hành vi, cách ứng xử, đối phó với những vấn đề phát sinh trong công việc; KNM là phương tiện để tương tác giữa con người với con người, con người với tổ chức, làm cơ sở để con người phát huy hiệu quả nhất năng lực chuyên môn trong mọi hoàn cảnh

Một vài ý kiến khác cho rằng KNM là khả năng điều chỉnh chính mình, điều chỉnh những kiến thức và điều chỉnh những kỹ năng đã có để thích ứng với người khác và công việc trong hoàn cảnh thực tiễn KNM là thuộc tính của

cá nhân tăng cường khả năng tương tác của cá nhân trong thực tế, góp phần nâng cao hiệu suất của công việc và triển vọng nghề nghiệp KNM liên quan đến khả năng tương tác với người khác mà cụ thể là khách hàng nội bộ hay khách hàng bên ngoài để đạt được hiệu quả làm việc mà cụ thể là vượt chỉ tiêu được giao để góp phần thành công của tổ chức

Tác giả Tạ Quang Thảo [21] cho rằng “Kỹ năng mềm là hệ thống các kỹ

năng cơ bản được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng hòa nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng xử hay tương tác với xã hội, cộng đồng, bạn bè, đồng nghiệp, đối tác, tổ chức của mỗi cá nhân nhằm phát huy tối

đa hiệu quả công việc và thành đạt trong cuộc sống

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa thì cho rằng Kỹ năng mềm là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng thuộc về trí tuệ cảm xúc,

những yếu tố ảnh hưởng đến sự xác lập mối quan hệ với người khác “Kỹ năng

mềm là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng thuộc về trí tuệ cảm xúc như: một số nét tính cách (quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới), sự tế nhị, kỹ năng ứng xử, thói quen, sự lạc quan, chân thành, kỹ

Trang 26

năng làm việc theo nhóm Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến sự xác lập mối quan hệ với người khác.”[dẫn theo 22]

Có nhiều quan niệm hay định nghĩa khác nhau về KNM tùy theo lĩnh vực nghề nghiệp, góc nhìn chuyên môn, ngữ cảnh và liên quan trực tiếp đến hiệu quả sử dụng ngôn ngữ, khả năng hòa nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng

xử áp dụng vào việc giao tiếp giữa người với người, thậm chí là việc đặt thuật

ngữ này bên cạnh những thuật ngữ nào Hiểu một cách đơn giản “Kỹ năng mềm

là những kỹ năng con người tích lũy được để làm cho mình dễ dàng được chấp nhận, làm việc thuận lợi và đạt được hiệu quả.”

Dựa vào những cơ sở phân tích trên và định hướng nghiên cứu, Luận văn

đề cập đến khái niệm KNM:

“Kỹ năng mềm là khả năng thiên về mặt tinh thần, cảm xúc của cá nhân nhằm đảm bảo cho quá trình thích ứng với người khác, công việc để hướng tới việc duy trì tốt mối quan hệ tích cực và góp phần hỗ trợ thực hiện công việc một cách hiệu quả”

Bản chất của KNM được hiểu như sau:

- KNM là hệ thống những kỹ năng cơ bản, đòi hỏi mỗi cá nhân phải vận

dụng sáng tạo trong mọi hoàn cảnh, nó được hình thành do quá trình học tập và

tự rèn luyện, trải nghiệm trong môi trường xã hội, công việc của con người Vai trò, vị trí, hoàn cảnh của mỗi người khác nhau quy định việc hình thành, phát triển khả năng về KNM khác nhau KNM nói lên khả năng hòa nhập, hành vi ứng xử, cách thức tương tác với người khác hay tổ chức Khi môi trường hoạt động của con người thay đổi đòi hỏi KNM cũng sẽ có những thay đổi để thích ứng và phát triển

- Trong thực tế KNM và Kỹ năng chuyên môn là hai mặt hoàn toàn khác

nhau, nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ, Kỹ năng chuyên môn có vai trò định hướng và hình thành tiền đề cho KNM trong thực tiễn và ngược lại trong thực tiễn KNM tạo ra điều kiện để kỹ năng chuyên môn được thực hiện và phát triển

Trang 27

Vì vậy việc bồi dưỡng để nâng cao khả năng về KNM đòi hỏi phải có sự thường xuyên và liên tục KNM thể hiện sự tích lũy kinh nghiệm sống từ xã hội Với những tác động mạnh mẽ bởi xã hội hiện đại, luôn nảy sinh những vấn

đề mới; lao động nghề nghiệp luôn thay đổi; kinh tế, xã hội phát triển, do vậy KNM cũng sẽ luôn thay đổi theo để thích ứng với những thay đổi đó và nó đòi hỏi mỗi cá nhân phải luôn chủ động, tích cực trải nghiệm,nhằm nâng cao và ngày càng hoàn thiện KNM để thích ứng với yêu cầu của xã hội hiện đại,để có

được sự thành công trong cuộc sống và hoạt động nghề nghiệp

1.2.3 Hoạt động giáo dục kỹ năng mềm

Giáo dục KNM hướng đến hoàn thiện tính cách con người, đồng thời đáp ứng yêu cầu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Giáo dục KNM góp phần đào tạo nguồn nhân lực có trình độ, có sự hiểu biết cao và khả năng thích ứng tốt với môi trường làm việc

Hoạt động giáo dục KNM là toàn bộ những hành động, thao tác gắn liền với động cơ, mục đích và phương tiện nhất định của nhà giáo dục tác động đến

SV nhằm tạo lên sự biến đổi, hình thành và phát triển những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội Hoạt động giáo dục KNM luôn gắn liền với các hoạt động Giáo dục đào tạo khác trong các trường Cao đẳng nghề và các cơ sở đào tạo khác, có vai trò hỗ trợ cho quá trình đào tạo cho SV, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực

1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm

Hoạt động giáo dục KNM phải đảm bảo tính mục đích trong hoạt động giáo dục KNM; Tương tác; Trải nghiệm; Tiến trình, thời gian; Đảm bảo thống nhất giữa Giáo dục và Tự giáo dục trong hoạt động giáo dục KNM; Đảm bảo giáo dục KNM gắn với thực tiễn cuộc sống và công việc

Trong điều kiện, môi trường xã hội ở nước ta hiện nay có rất nhiều kỹ năng cần giáo dục cho SV: Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài và thực tế tại trường CĐN Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên, tác giả lựa chọn 10 kỹ năng để

Trang 28

tiến hành nghiên cứu: KN thuyết phục; KN trả lời phỏng vấn; KN giao tiếp hiệu quả; KN làm việc nhóm; KN đàm phán và ký kết hợp đồng; KN lập kế hoạch và tổ chức công việc; KN tư duy sáng tạo; KN giải quyết vấn đề; KN tích lũy kinh nghiệm; KN lãnh đạo bản thân và làm việc tốt dưới áp lực

Với mỗi loại KN đó chúng ta cần nghiên cứu và quản lý một cách chi tiết

về các yếu tố thuộc về người học, để đưa ra một phương pháp và tiến trình tác động phù hợp, đảm bảo hiệu quả của quá trình giáo dục

Quản lý hoạt động giáo dục KNM là sự tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động giáo dục KNM theo những mục tiêu đã được xác định

1.3 Những vấn đề cơ bản về giáo dục KNM cho Sinh viên trường CĐN

1.3.1 Đặc điểm tâm lý của Sinh viên trường CĐN

Sinh viên nói chung là một nhóm xã hội đặc biệt, đang tiếp thu những kiến thức, kỹ năng chuyên môn ở các trường CĐ, ĐH để chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường Đối với SV tại các trường CĐN, do đặc điểm đào tạo có sự khác biệt tương đối lớn so với đào tạo Cao đẳng, Đại học hàn lâm Mục tiêu đào tạo của các trường CĐN là đào tạo công nhân có trình

độ kỹ thuật cao, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp Mặt khác đối tượng tham gia học tập tại các trường CĐN chủ yếu là các SV thuộc các khu vực nông thôn, điều kiện sống, điều kiện tiếp xúc với thông tin,

xã hội có phần hạn chế hơn và điều kiện học tập chưa tốt dẫn đến đa số những

SV này không đảm bảo điều kiện để có thể được tuyển vào các trường CĐ, ĐH hàn lâm, phần còn lại là những SV có điều kiện hoàn cảnh khó khăn hay là những người có thể đã tốt nghiệp CĐ, ĐH trước đó, nay vì lý do việc làm và điều kiện tuyển dụng nên cần phải học nghề để có thể tham gia sản xuất tại các doanh nghiệp

Trang 29

Xét về khía cạnh “Kỹ năng” ngoài kỹ năng áp dụng vào chuyên môn nghề nghiệp, đa số SV tại các trường CĐN hiện nay còn thiếu rất nhiều các kỹ năng bổ trợ khác (Kỹ năng mềm) và cơ bản ngay trong một môi trường học tập thì các kỹ năng này cũng không được đồng đều, điều này cũng góp phần làm cho SV kém tự tin khi gặp phải tình huống ngoài thực tế và sự thiếu hụt đó cũng làm cho khả năng tự học tập, tự phát triển của SV bị ảnh hưởng rất lớn, cộng với sự khác biệt khá lớn giữa kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp trong trường lớp và kỹ năng ngoài thực tế sản xuất Những điều này là rào cản không nhỏ đối với SV các trường CĐN nói chung Xuất phát từ nhiều yếu tố tác động làm cho các kỹ năng của SV trường CĐN không đảm bảo, gây ra tâm lý e dè, ngại tiếp xúc với các nhóm SV khác nhau trong trường

Về khía cạnh tâm lý, mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật riêng, chịu sự chi phối của hoạt động chủ đạo Ở đây, ta quan tâm đến SV, những người có hoạt động chủ đạo là học tập để tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ở các trường CĐN Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên - sinh viên là sự phát triển tự

ý thức Nhờ có tự ý thức phát triển, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội

Đối với SV theo học tại các CĐ, ĐH được trang bị các kiến thức một cách bài bản và với một hệ thống các môn học bổ trợ, làm cơ sở cho kiến thức

và quá trình học tập sau này, giúp họ nhận thức rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của nghề nghiệp, qua đó họ sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lên lớp, thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển mà SV có thể nhìn

Trang 30

nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương pháp học tập của họ

Đối với SV trường CĐN chương trình đào tạo phần lớp tập trung chủ yếu vào các kỹ năng, kỹ xảo để thục hiện một công việc cụ thể trong thực tế, mọi kiến thức thuộc về “Kỹ năng mềm” khác đều chưa được quan tâm một cách thích đáng Điều này đã tạo ra một sự thiếu hụt rất lớn trong quá trình tiếp xúc

và làm việc thực tế sau này, một SV có thể rất giỏi chuyên môn của mình nhưng lại kém về các KNM, điều mà chiếm tới 70% khả năng thành đạt, nhanh nhạy trong xử lý tình huống thực tế

Ở SV đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn

đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày SV là những trí thức tương lai, ở các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập là cơ hội tốt để SV được trải nghiệm bản thân và được định hướng phát triển đúng đắn, vì thế SV rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình

Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa SV là tình cảm ổn định, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp - một động lực giúp SV học tập một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn

SV là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách thức giáo dục khác nhau, không phải bất cứ SV nào cũng được phát triển tối ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản thân mỗi SV Bên cạnh đó, sự quan tâm đúng mực của gia đình, phương pháp giáo dục phù hợp từ nhà trường sẽ góp phần phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế về mặt tâm lý của SV

Trang 31

Mặc dù là những người có trình độ nhất định, SV không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên Đó là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi những cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hoá của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới, kể cả văn hoá phương Đông và phương Tây Việc học tập, tiếp thu những tinh hoa, văn hoá của các nền văn hoá khác là cần thiết Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do đó, SV dễ dàng tiếp nhận

cả những nét văn hoá không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợi cho bản thân

Lứa tuổi SV có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực

và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, SV cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của SV

1.3.2 Mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho Sinh viên trường Cao đẳng nghề

1.3.2.1 Mục tiêu giáo dục KNM cho SV trường CĐN

Theo UNESCO mục đích học tập là: “Học để biết, học để làm, học để

chung sống, học để tự khẳng định mình”, nếu xem xét quan điểm trên là một

định nghĩa và đối chiếu định nghĩa này với giáo dục của Việt Nam ngày nay thì mục đích học tập của chúng ta mới chỉ là học để biết, nghĩa là chỉ đạt được một trong bốn mục tiêu của UNESCO Chính vì vậy khi SV tham gia phỏng vấn tuyển dụng thường chỉ gây ấn tượng với nhà tuyển dụng bằng bằng cấp, khả năng chuyên môn, kinh nghiệm làm việc chưa thể hiện được năng lực của bản

Trang 32

thân Năng lực của con người đánh giá trên cả 3 khía cạnh: kiến thức, kỹ năng và thái độ, điều đó khẳng định rằng học không chỉ để biết mà học còn để làm việc,

để chung sống và để tự khẳng định mình Đối với SV, trình độ kiến thức là điều kiện cần nhưng chưa đủ Ngoài kiến thức, SV cần phải nâng cao các kỹ năng sống, kỹ năng mềm của bản thân Đây là điều kiện cần nhưng lại đang rất thiếu đối với SV hiện nay, chính vì vậy giáo dục KNM rất cần thiết cho mỗi SV

Giáo dục KNM cho SV trường CĐN nhằm các mục tiêu sau:

- Rèn luyện cho SV có khả năng thích ứng, biết cách ứng phó với các tình huống trong quá trình học tập và rèn luyện từ đó có các thái độ phù hợp trước các vấn đề trong cuộc sống và công việc

- Giúp SV thích ứng tốt với môi trường, có cách suy nghĩ, tự tin trong cuộc sống, biết vận dụng các KNM vào trong cuộc sống và công việc

- Giúp SV hiểu được khái niệm KNM nói chung và từng KNM nói riêng và

sự cần thiết cũng như cách biểu hiện các kỹ năng trong cuộc sống và công việc;

Kỹ năng, thái độ với nghề nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách nói chung và năng lực phát triển KNM Đối với SV trường CĐN, quan tâm đến việc phát triển KNM là yếu tố quan trọng giúp SV có được những năng lực cần thiết của người thợ bậc cao sau này Phát triển KNM còn giúp SV dễ dàng thành công hơn trong cuộc sống, trong quá trình tham gia vào các hoạt động xã hội

Do ảnh hưởng của môi trường sống, nền văn hóa, phong tục tập quán, nên SV trường CĐN Cơ điện - Luyện kim TN có các đặc điểm khác biệt so với

SV các trường khác, do đó trong quá trình học tập tại trường nếu SV được có nhiều cơ hội để trải nghiệm, hoạt động, được giao lưu, được nhận sự tác động tích cực từ phía CBGV trong trường sẽ giúp SV hình thành và phát triển các KNM để đáp ứng được những đòi hỏi của nghề nghiệp và cuộc sống sau này Bản thân SV khi đảm bảo được về một số KNM sẽ tự tin để tham gia vào nhiều hoạt động trong nhà trường, ngoài xã hội từ đó hình thành và phát triển cho SV nhiều năng lực khác như năng lực hoạt động xã hội, khả năng học hỏi trao đổi

Trang 33

Tuy nhiên quan trọng hơn cả phát triển KNM là nền tảng giúp SV phát triển năng lực cần thiết như năng lực giao tiếp, khả năng làm việc nhóm…

1.3.2.2 Nội dung giáo dục KNM cho SV trường CĐN

Thực tế cho thấy KNM tạo nên sự phát triển, con người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kỹ năng sống, kỹ năng mềm họ được trang bị Như vậy, để dẫn đến thành công trong cuộc sống và công việc mỗi SV phải biết kết hợp các kỹ năng một cách khéo léo để đem lại hiệu quả Tuy nhiên, kỹ năng mềm cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc đó là một quá trình tích lũy và làm thế nào để rèn luyện được KNM hay nội dung giáo dục KNM cho SV là gì?

Theo nghiên cứu, tùy theo tình hình kinh tế - văn hóa xã hội mà nội dung giáo dục KNM ở mỗi quốc gia có sự khác nhau:

Tại Hoa Kỳ có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc (Kỹ năng học và tự học; Kỹ năng lắng nghe; Kỹ năng thuyết trình; Kỹ năng giải quyết vấn đề; Kỹ năng tư duy sáng tạo; Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn; Kỹ năng đặt mục tiêu/ tạo động lực làm việc; Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp; Kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ; Kỹ năng làm việc đồng đội; Kỹ năng đàm phán; Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả; Kỹ năng lãnh đạo bản thân)

Tại Úc các kỹ năng hành nghề bao gồm có 8 kỹ năng (Kỹ năng giao tiếp;

Kỹ năng làm việc đồng đội; Kỹ năng giải quyết vấn đề; Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm; Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc; Kỹ năng quản lý bản thân; Kỹ năng học tập; Kỹ năng công nghệ)

Tại Canada bao gồm 6 kỹ năng (Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng giải quyết vấn đề; Kỹ năng tư duy và hành vi tích cực; Kỹ năng thích ứng; Kỹ năng làm việc với con người; Kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán)

Tại Anh cũng đưa ra danh sách 6 kỹ năng quan trọng (Kỹ năng tính toán;

Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng tự học và nâng cao năng lực cá nhân; Kỹ năng sử

Trang 34

dụng công nghệ thông tin và truyền thông; Kỹ năng giải quyết vấn đề; Kỹ năng làm việc với con người)

Tại Singapore đã thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề gồm 10 kỹ năng (Kỹ năng công sở và tính toán; Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; Kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định; Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm; Kỹ năng giao tiếp và quản lý quan hệ; Kỹ năng học tập suốt đời; Kỹ năng tư duy mở toàn cầu; Kỹ năng tự quản lý bản thân; Kỹ năng tổ chức công việc; Kỹ năng an toàn lao động và vệ sinh sức khỏe)

Để rèn luyện các KNM, trước hết các nhà giáo dục cần phải xác định những kỹ năng cần giáo dục cho SV và giáo dục các kỹ năng đó như thế nào trong từng hoàn cảnh cụ thể Trong điều kiện hiện nay, theo quan điểm của luận văn nội dung giáo dục KNM cần thiết đưa vào trong chương trình giáo dục cho sinh viên nói chung và sinh viên trường nghề nói riêng bao gồm các KN sau: KN thuyết phục; KN trả lời phỏng vấn; KN giao tiếp hiệu quả; KN làm việc nhóm; KN đàm phán và ký kết hợp đồng; KN lập kế hoạch và tổ chức công việc; KN tư duy sáng tạo; KN giải quyết vấn đề; KN tích lũy kinh nghiệm; KN lãnh đạo bản thân và làm việc tốt dưới áp lực

1.3.2.3 Hình thức giáo dục KNM cho SV trường CĐN

i) GD KNM cho SV thông qua hoạt động dạy học

Trong môi trường giáo dục chuyên nghiệp hoạt động dạy học có những đặc trưng riêng so với các bậc học khác Những tri thức người giáo viên truyền tải cho SV phần lớn là những kiến thức chuyên ngành mà SV đó đang theo học, các phương pháp dạy học cũng theo hướng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động của người học để người học có thể trang bị cho mình đầy đủ những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp trong tương lai Hoạt động dạy học chiếm phần lớn thời gian trong trường học vì vậy thông qua hoạt động này giảng viên không chỉ có thể phát triển cho SV của mình những kiến thức, kỹ năng chuyên môn

mà còn có thể hình thành cho SV những KNM cần thiết

Trang 35

Chính vì vậy thông qua hoạt động dạy học giảng viên có thể lồng ghép việc hình thành, phát triển KNM cho SV bằng một số hình thức khác nhau như: Trang bị cho SV những kiến thức cơ bản về KNM; phát huy tinh thần tự học tự nghiên cứu của SV; làm mẫu để SV bắt trước; thiết kế các bài tập thực hành yêu cầu SV thực hiện; định hướng, điều chỉnh, sữa lỗi cho SV; thường xuyên liên hệ với thực tế hoạt động thực tiễn, trong môi trường lớp học, trong cuộc sống hàng ngày Tóm lại, việc GD KNM cho SV thông qua hoạt động dạy học là một hình thức chiếm ưu thế điều quan trọng là giảng viên có chú trọng đến việc lồng ghép những nội dung đó vào bài giảng của mình hay không và cách truyền tải đến người học có đạt hiệu quả cao hay không

ii) GD KNM thông qua hoạt động đoàn thể

Ngoài hoạt động học tập thì SV còn tham gia rất nhiều các hoạt động khác nhau Đó là những hoạt động: Văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao, hội thi kỹ năng, các hoạt động giao lưu, tham quan, thực tế, hội thảo khoa học, diễn đàn, thảo luận nhóm, tọa đàm… tất cả những hoạt động này đều là điều kiện để

SV vận dụng những kiến thức vào thực tế mặt khác cũng giúp SV rèn luyện, phát triển những KNM, kỹ năng hoạt động Bên cạnh việc tham gia vào các hoạt Đoàn, Hội, các hoạt động tập thể SV cũng có thể tự trang bị cho mình những kiến thức thông qua các hình thức khá phổ biến như qua các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, tạp chí, internet… SV có thể đọc, chắt lọc, học hỏi và biến nó thành những kiến thức của mình từ đó dần hình thành những KNM Với hình thức này CBGV hay đội ngũ cán bộ Đoàn cần giữ vai trò là người định hướng hoạt động cho SV, trợ giúp cho SV khi họ gặp khó khăn để quá trình phát triển những kỹ năng diễn ra một cách thuận lợi nhất Phát triển KNM cho SV học tại các trường CĐN thông qua tổ chức các hoạt động tập thể

là con đường quan trọng và có tác động tích cực giúp SV trải nghiệm, rèn luyện

và phát triển KNM

Trang 36

iii) GD KNM thông qua hoạt động trải nghiệm thực tế trong sản xuất

Hoạt động trải nghiệm thực tế trong sản xuất là một hoạt động chiếm rất nhiều thời lượng trong chương trình đào tạo của SV trường CĐN Các hoạt động trải nghiệm lao động nghề nghiệp được tổ chức đảm bảo các yêu cầu sư phạm là cơ hội tốt để SV học tại trường CĐN tiếp cận với môi trường làm việc thực tế và đây cũng là một yêu cầu học tập quan trọng đối với SV CĐN nói riêng, được coi là hoạt động hướng tiếp cận thực tế của đào tạo CĐN; vận dụng thực hành các kỹ năng (KN cứng, KNM), đồng thời học hỏi những kinh nghiệm, hình thành những kỹ năng mới trong lao động nghề nghiệp Sự trải nghiệm lao động nghề nghiệp sẽ giúp SV củng cố kiến thức, thực hành kỹ năng, có những thao tác phù hợp để hoàn thiện các kỹ năng

1.3.2.4 Phương pháp giáo dục KNM cho SV trường CĐN

Bên cạnh các hình thức GD KNM, luận văn đề cập đến phương pháp giáo dục KNM cho SV trường CĐN: Sử dụng các phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của SV ở trường CĐN thực sự là cần thiết Tùy theo yêu cầu, điều kiện, hoàn cảnh mà các cơ sở giáo dục nói chung vận dụng, phối hợp các phương pháp để đạt hiệu quả tối ưu Các phương pháp chiếm ưu thế nhằm phát triển theo hướng nghiên cứu luận văn với các kỹ năng cụ thể như kỹ năng thuyết trình, kỹ năng xin việc, giao tiếp, tích lũy kinh nghiệm như:

- Thuyết trình thông qua phát vấn

Trang 37

1.3.3 Đánh giá kết quả hoạt động giáo dục KNM cho Sinh viên trường CĐN

Để hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên trường CĐN đạt được hiệu quả cao, chúng ta cần phải thực hiện đúng quy trình giáo dục, trong đó có công tác đánh giá kết quả Đánh giá kết quả giáo dục KNM, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác này là việc làm cần thiết, quan trọng nhằm nhìn nhận thực trạng của quá trình thực hiện, bổ sung, điều chỉnh và tổ chức thực hiện tốt hơn sau đánh giá

1.3.3.1 Đánh giá quá trình triển khai, tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục KNM cho SV trường CĐN

Đánh giá là hoạt động không thể thiếu trong giáo dục Đánh giá kết quả của quá trình triển khai và tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục KNM là một khâu rất quan trọng Điều này giúp nhà trường thấy được kết quả các KNM đã hình thành và rèn luyện cho SV

Đánh giá kết quả tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục KNM cho SV ở trường CĐN tập trung để kiểm nghiệm hiệu quả quản lý trong suốt quá trình triển khai thực hiện Triển khai hoạt động đánh giá cần đảm bảo các nội dung tiếp cận theo góc độ quản lý như sau: Xây dựng kế hoạch; Tổ chức thực hiện kế hoạch; Công tác chỉ đạo của cán bộ quản lý; Kiểm tra, đánh giá, xử lý; Biện pháp cải tiến, khắc phục hạn chế trong quản hoạt động

Các nội dung nêu trên nhằm phát hiện ra những điểm không phù hợp hoặc kém hiệu quả ở các bộ phận triển khai thực hiện hoạt động giáo dục KNM cho SV trường CĐN, đòi hỏi đúng thời điểm và đưa ra cách thức xử lý tích cực hợp lý

1.3.3.2 Đánh giá KNM của SV trường CĐN

KNM của SV trường CĐN cần phải được đánh giá nghiêm túc, khách quan và cũng chính là thước đo hiệu quả quản lý, triển khai hoạt động giáo dục KNM cho SV ở trường CĐN, chính vì vậy đòi hỏi đánh giá KNM của SV cần phải xác định mức độ của từng KNM mà SV đạt được

Trang 38

Việc xác định việc đánh giá kết quả đạt được cần được thực hiện dựa trên các khía cạnh của SV như:

+ Đạo đức: Trách nhiệm xã hội, các giá trị văn hoá nhân văn như: sự

thông cảm, khoan dung, trách nhiệm, ý thức xã hội…

+ Kiến thức: Các cơ sở khoa học, tri thức công nghệ và chuyên môn, các

kiến thức liên môn…

+ Năng lực: Khả năng thu thập và đánh giá, lựa chọn và xử lý thông tin;

giải quyết vấn đề, năng lực phê phán và biện chứng

+ Kỹ năng: Sử dụng trang thiết bị chuyên ngành và các công cụ, kỹ thuật

hỗ trợ (máy tính, trình chiếu, các thiết bị đo kiểm nghiệm…)

+ Khả năng: Về ngôn ngữ, giao tiếp, tư duy tích luỹ tri thức, suy xét, an

hiểu các vấn đề xã hội liên quan…

+ Yếu tố tâm sinh lý: Sức khỏe, tâm lý

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV trường CĐN

Trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục KNM cho SV trường CĐN, có nhiều yếu tố tác động và ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác giáo dục Những yếu tố như năng lực giáo viên, tính tích cực và chủ động của SV, môi trường giáo dục và các yếu tố trong quản lý có vai trò quan trọng, tác động trực tiếp đến hoạt động giáo dục KNM cho sinh viên trường CĐN

1.3.4.1 Năng lực của giảng viên

Năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm và sự hiểu biết về SV là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong hoạt động giáo dục KNM cho SV trường CĐN Bản thân SV luôn coi giảng viên là tấm gương chuẩn mức để học tập và làm theo, vì vậy những hành vi ứng xử sẽ tác động trực tiếp đến SV do đó giảng viên phải là người có khả năng, kỹ năng phân tích, tổng hợp, phán đoán, phản biện, ra quyết định, giải quyết vấn đề… tốt để SV học tập và làm theo

Trang 39

Để có được năng lực phát triển KNM cho SV đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải có năng lực về lĩnh vực giáo dục KNM, phải thường xuyên tìm hiểu

và bồi dưỡng về KNS, KNM của mình, thường xuyên trao đổi với SV để nắm được mức độ, nhu cầu, mong muốn của sinh viên từ đó có cách tổ chức hoạt động GD KNM phù hợp SV, tạo cơ hội để SV được tập luyện, rèn luyện thường xuyên KNM Đặc biệt phải có ý chí quyết tâm vượt khó vì hoạt động giáo dục KNM là hoạt động có tính chất đặc thù và nhất là giáo dục KNM cho

SV các trường CĐN, sẽ gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện

1.3.4.2.Tính tích cực, chủ động của SV trong quá trình tổ chức hoạt động GD KNM

Tính chủ động của SV là nền tảng căn bản quyết định kết quả cuối cùng của quá trình dạy học và giáo dục Nếu SV nhận được sự tác động tích cực từ phía giáo viên, được phát triển trong một môi trường với nhiều yếu tố thuận lợi nhưng bản thân SV không có sự chủ động, tích cực thì quá trình giáo dục khó

mà đạt được kết quả cao Đặc biết là đối với việc GD KNM, yếu tố tích cực chủ động từ phía SV là điều tiên quyết SV phải thay đổi thái độ trong học tập phải xây dựng kiến thức cho mình qua quá trình tự nghiên cứu Chính vì thế, giờ học trên lớp được quan niệm là nơi “trải nghiệm” giữa những kiến thức mà người học có được từ nhiều nguồn khác nhau Phương châm tự chủ trong học tập đã trở thành một chìa khóa then chốt trong phương pháp sư phạm tích cực

KNM sẽ khó được hình thành và phát triển nếu như SV không tự giác, tích cực tham gia vào các các hoạt động trong nhà trường cũng như ngoài xã hội Các hoạt động học tập, trải nghiệm của SV phải diễn ra thường xuyên liên tục mới có hiệu quả, SV phải tích cực tham gia nhiều hoạt động để gặp gỡ, giao lưu với nhiều đối tượng, thiết lập được các mối quan hệ trong và ngoài nhà trường, đó chính là môi trường tốt nhất để SV hình thành và phát triển KNM cho bản thân

1.3.4.3 Ảnh hưởng của môi trường giáo dục và yếu tố quản lý đến hoạt động

GD KNM

Môi trường giáo dục nhà trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển các kỹ năng nghề nghiệp, KNS, KNM của sinh viên Môi trường giáo dục

Trang 40

có văn hóa, hành vi ứng xử mang tính chuẩn mực là điều kiện, phương tiện để

SV hình thành và phát triển KNM trong môi trường đó

Trong môi trường nhà trường, ở đó giảng viên, các nhà quản lý luôn tạo cho SV tâm lý sẵn sàng trao đổi, chia sẻ, bày tỏ những nhu cầu, mong muốn của mình sẽ là cơ hội tốt để các em phát triển kỹ năng

Các yếu tố quản lý mang tính chuẩn mực của văn hóa tổ chức, văn hóa quản lý tạo ra sự thống nhất giữa nhận thức, thái độ và hành vi của nhà quản lý

và đối tượng quản lý, đây là môi trường văn hóa tạo động lực cho SV rèn luyện các kỹ năng trong đó có KNM

1.3.4.4 Ảnh hưởng của yếu tố Văn hóa -Xã hội

Môi trường VH-XH là một hệ thống các giá trị và tiêu chuẩn được hình thành gắn liền với bản sắc, phong tục văn hóa vùng miền, yếu tố truyền thống dân tộc, yếu tố tôn giáo Môi trường VH-XH có ảnh hưởng và tác động rất lớn đến việc hình thành KNM của mỗi SV Chính VH-XH là yếu tố bắt nguồn hình thành tâm lý, tính cách của mỗi con người, môi trường VH-XH nơi SV đang sinh sống, lao động, học tập sẽ có tác động rất lớn đến việc hình thành KNM của SV Yếu tố VH-XH chi phối mạnh mẽ đến văn hóa ứng xử, giao tiếp, cách thức tương tác với người khác Chính vì thế, đối với những SV sớm tiếp cận ở những môi trường VH-XH mà ở đó có nhiều điều kiện thuận lợi, như diễn ra nhiều hoạt động trải nghiệm thực tiễn, thường xuyên giao lưu, tiếp xúc với nhiều người sẽ có nhiều cơ hội hình thành KNM hơn so với những SV khác

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV trường CĐN

1.4.1 Mục tiêu của quản lý hoạt động giáo dục KNM cho SV trường CĐN

Quản lý hoạt động giáo dục KNM với mục đích đưa hoạt động giáo dục KNM đi theo đúng hướng, đúng đường lối đã vạch ra và đạt kết quả cao, bên cạnh

đó sẽ giúp CBQL nhận thấy những điểm hạn chế, chưa hợp lý trong quá trình thực hiện các hoạt động giáo dục KNM cho SV ở các trường CĐN hiện nay

Ngày đăng: 19/06/2020, 16:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w