Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là bệnh thường gặp, có thể dự phòng và điều trị được,đặc trưng bởi sự tắc nghẽn đường thở, tiến triển nặng dần. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đến năm 2020 COPD sẽ đứng hàng thứ ba trong các nguyên nhân gây tử vong và đứng hàng thứ năm trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
NGUYỄN HOÀI BẮC
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP
BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
TẠI HAI HUYỆN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Vệ sinh xã hội học và tổ chức y tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trịnh Xuân Tráng và PGS TS Hạc Văn Vinh Các
số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực, một phần đã được công
bố trong các Tạp chí Khoa học y học, phần còn lại chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi trích dẫn, tham khảo đều được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 5 năm 2020
TÁC GIẢ
Nguyễn Hoài Bắc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trịnh Xuân Tráng, PGS TS Hạc Văn Vinh, là những người thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn các giảng viên Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên đã giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức mới và tạo điều kiện cho tôi để hoàn thành được khóa học này
Tôi xin cảm ơn Phòng Đào tạo, cán bộ Bộ phận đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
về mặt quản lý trong suốt thời gian tôi học tập tại trường
Tôi xin cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương và các khoa/phòng/trung tâm đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong công tác để tôi yên tâm học tập
Cuối cùng, tôi xin gửi tới gia đình, bạn bè, người thân lòng biết ơn sâu sắc Những người luôn ở bên, ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 5 năm 2020
TÁC GIẢ
Nguyễn Hoài Bắc
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HỘP x
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xi
DANH MỤC HÌNH xii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 3
1.1.1 Một vài khái niệm 3
1.1.2 Dịch tễ học COPD trên thế giới 4
1.1.3 Dịch tễ học COPD ở Việt Nam 9
1.2 Yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 12
1.2.1 Hành vi hút thuốc 12
1.2.2 Ô nhiễm môi trường không khí 17
1.2.3 Điều kiện kinh tế xã hội 22
1.2.4 Các yếu tố nội sinh 23
1.3 Phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 30
1.3.1 Một số giải pháp 30
1.3.2 Mô hình quản lý COPD 31
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 41
2.1.1 Đối tượng cho nghiên cứu mô tả cắt ngang 41
Trang 62.1.2 Đối tượng cho nghiên cứu can thiệp 41
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 42
2.1.4 Thời gian nghiên cứu 44
2.2 Phương pháp nghiên cứu 44
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 44
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 45
2.2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính 48
2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu 49
2.2.5 Các khái niệm và chỉ số đánh giá sử dụng trong nghiên cứu 53
2.2.6 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu nghiên cứu 57
2.3 Xây dựng mô hình can thiệp 58
2.3.1 Căn cứ 58
2.3.2 Mục tiêu can thiệp 58
2.3.3 Giải pháp can thiệp tại bệnh viện đa khoa Quế Võ 59
2.3.4 Cách thức tiến hành 60
2.4 Phương pháp khống chế sai số 63
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 64
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 64
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65
3.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 65
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 65
3.1.2 Đặc điểm dịch tễ của COPD 68
3.2 Một số yếu tố liên quan đến COPD 73
3.2.1 Một số yếu tố liên quan đến COPD qua điều tra cộng đồng 73
3.2.2 Một số yếu tố liên quan đến COPD qua điều tra tại bệnh viện 78
3.3 Kết quả của các hoạt động can thiệp tại cộng đồng 92
3.3.1 Cơ sở xây dựng giải pháp can thiệp 92
Trang 73.3.2 Mô hình can thiệp 93
3.3.3 Hiệu quả can thiệp của mô hình can thiệp tại bệnh viện đa khoa Quế Võ 100
Chương 4: BÀN LUẬN 108
4.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại huyện Quế Võ và Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh năm 2015 108
4.2 Một số yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại khu vực nghiên cứu 115
4.2.1 Kết quả điều tra tại cộng đồng 115
4.2.2 Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện 119
4.3 Hiệu quả một số giải pháp can thiệp phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh 129
4.3.1 Hiệu quả một số giải pháp truyền thông phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh 129
4.3.2 Hiệu quả một số giải pháp nâng cao sức khỏe người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh 135
4.4 Hạn chế của đề tài 139
KẾT LUẬN 140
HUYẾN NGHỊ 142 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8: COPD Assessment Test
(Test đánh giá bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ) : Cán bộ y tế
CSHQ
CS
CSSK
: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease) : Chỉ số hiệu quả
: Cộng sự : Chăm sóc sức khỏe GOLD
: Giáo dục sức khỏe : Thể tích khí thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (Forced expiratory volume in the first second) : Forced vital capacity - Dung tích sống gắng sức HPQ
: Kiến thức Thái độ Kỹ năng
: Thanh điểm đánh giá mức độ khó thở (British Medical Research Council)
Trang 9NB
NVYTTB
: Người bệnh : Nhân viên y tế thôn bản PHCN
PHCNHH
: Phục hồi chức năng : Phục hồi chức năng hô hấp TYT
TT GDSK
VPQMT
WHO
: Trạm y tế : Truyền thông giáo dục sức khỏe : Viêm phế quản mạn tính
: Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu 65
Bảng 3.2 Đặc điểm của đối tượng theo nghề nghiệp và huyện 65
Bảng 3.3 Tiền sử mắc bệnh mạn tính của các đối tượng nghiên cứu 66
Bảng 3.4 Thói quen sinh hoạt và làm việc của các đối tượng nghiên cứu 66 Bảng 3.5 Tình hình luyện tập hàng ngày của các đối tượng nghiên cứu 67
Bảng 3.6 Nguồn truyền thông tác động dự phòng bệnh của các đối tượng nghiên cứu 67
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa các yếu tố bản thân với COPD 73
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa tiền sử bệnh với COPD 73
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa một số thói quen sinh hoạt với COPD 74
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa việc rèn luyện hằng ngày với COPD 75
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa yếu tố truyền thông với COPD 76
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa yếu tố CBYT khám và tư vấn dự phòng với COPD 76
Bảng 3.13 Phân tích hồi quy logistic một số yếu tố liên quan với COPD 77
Bảng 3.14 Tỷ lệ người bệnh biết được các triệu chứng của COPD 78
Bảng 3.15 Tỷ lệ người bệnh biết các yếu tố nguy cơ của COPD 79
Bảng 3.16 Thái độ của người bệnh về COPD 82
Bảng 3.17 Tỷ lệ BN thực hành tốt các biện pháp dự phòng COPD 83
Bảng 3.18 Tỷ lệ người bệnh hàng năm đi khám, tư vấn về COPD 84
Bảng 3.19 Đánh giá thực hành chung của người bệnh về tập luyện thể lực và phục hồi chức năng hô hấp đúng cách 84
Bảng 3.20 Mức độ khó thở của người bệnh 85
Bảng 3.21 Đặc điểm rối loạn thông khí 85
Bảng 3.22 Phân bố mức độ tắc nghẽn đường thở theo GOLD 86
Trang 11Bảng 3.23 Số đợt cấp trong năm 87
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa tuổi và giới với số đợt cấp trong năm 87
Bảng 3.25 Mối liên quan giữa tiền sử hút thuốc và tiếp xúc trực tiếp khói bếp với số đợt cấp trong năm 88
Bảng 3.26 Mối liên quan giữa bệnh đồng mắc với số đợt cấp trong năm 88
Bảng 3.27 Kết quả nâng cao năng lực cho CBYT xã phòng chống COPD tại công đồng trước và sau tập huấn 97
Bảng 3.28 Kết quả nâng cao năng lực truyền thông phòng chống COPD cho lãnh đạo cộng đồng trước và sau tập huấn 98
Bảng 3.29 Kết quả nâng cao năng lực cho cán bộ Đơn vị quản lí BN COPD tại bệnh viện đa khoa Quế Võ trước và sau tập huấn 99
Bảng 3.30 Thay đổi kiến thức tốt của người bệnh về các biểu hiện của COPD100 Bảng 3.31 Thay đổi kiến thức tốt của người bệnh về các yếu tố nguy cơ mắc COPD 100
Bảng 3.32 Thay đổi kiến thức tốt của người bệnh về xử lý đúng khi bị đợt cấp COPD 101
Bảng 3.33 Thay đổi kiến thức tốt của người bệnh về dự phòng COPD 101
Bảng 3.34 Thay đổi kiến thức tốt nói chung của người bệnh về phòng chống COPD 102
Bảng 3.35 Hiệu quả cải thiện thái độ chung về phòng chống COPD 102
Bảng 3.36 Hiệu quả cải thiện tỷ lệ người bệnh thực hiện các biện pháp phòng chống COPD 103
Bảng 3.37 Hiệu quả thay đổi tỷ lệ thực hành chung của đối tượng nghiên cứu 103
Bảng 3.38 Hiệu quả cải thiện các biểu hiện của COPD 104
Bảng 3.39 Hiệu quả cải thiện chức năng hô hấp của người bệnh 105
Bảng 3.40 Số đợt cấp trong năm 105
Trang 12DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1 Thực trạng COPD ở các xã của hai huyện điều tra 71Hộp 3.2 Ý kiến CB và người bệnh ở bệnh viện về tình hình COPD 72Hộp 3.3 Một số yếu tố liên quan đến COPD 90Hộp 3.4 Ý kiến của CBYT và bệnh nhân tại bệnh viện về một số yếu tố
liên quan đến bệnh COPD 91Hộp 3.5 Ý kiến của CBYT, lãnh đạo cộng đồng, người bệnh COPD về giải
pháp dự phòng COPD 92Hộp 3.6 Ý kiến của CBYT về hiệu quả các giải pháp quản lý và điều trị
bệnh nhân COPD 106Hộp 3.7 Ý kiến người bệnh về hiệu quả các giải pháp quản lý và điều trị
bệnh nhân COPD 107
Trang 13DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tình hình khám, tư vấn dự phòng COPD của các đối tượng
nghiên cứu 68
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ mắc COPD 69
Biểu đồ 3.3 Phân bố bệnh COPD theo tuổi, giới và nghề nghiệp 69
Biểu đồ 3.4 Phân bố tỷ lệ mắc COPD theo huyện 70
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ COPD phân theo mức độ tắc nghẽn đường thở 70
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ BN biết các triệu chứng khi bị đợt cấp COPD 80
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ người bệnh có kiến thức về dự phòng COPD 81
Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ người bệnh có kiến thức tốt về COPD nói chung 81
Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ BN thực hành xử lý đúng COPD đợt cấp 83
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ người bệnh có bệnh đồng mắc 86
Trang 14DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Tỷ lệ mắc COPD ở người trưởng thành Hoa Kỳ từ năm 2007 đến
năm 2009 4
Hình 1.2 Mười nguyên nhân gây tử vong năm 2015 7
Hình 1.3 Tỷ lệ phơi nhiễm với khói thuốc lá thụ động tại nhà và nơi công cộng 16
Hình 2.1 Bản đồ huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh 42
Hình 2.2 Bản đồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 43
Hình 2.3 Sơ đồ các bước nghiên cứu 48
Trang 15
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh thường gặp, có thể dự phòng và điều trị được, đặc trưng bởi sự tắc nghẽn đường thở, tiến triển nặng dần, liên quan tới phản ứng viêm bất thường của phổi bởi các phân tử và khí độc hại [6], [24], [38] Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đến năm 2020 bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính sẽ đứng hàng thứ ba trong các nguyên nhân gây tử vong và đứng hàng thứ năm trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu [100] Tại Mỹ, theo kết quả điều tra về sức khỏe Quốc gia lần thứ ba có 23,6 triệu người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong đó có 2,6 triệu người mắc bệnh ở giai đoạn nặng Ước tính mức độ lưu hành của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính vào khoảng 10% dân số Hoa Kỳ [63] Tại Vương quốc Anh (2000), có khoảng 3,4 triệu người được chẩn đoán là mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (6,4% dân
số của Anh và xứ Wales) [58], [64] Ở Việt Nam, theo thống kê của dự án phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính quốc gia (2013) cho thấy tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong cộng đồng dân cư trên toàn quốc từ
40 tuổi trở lên là 4,2 , trong đó nam là 7,1 và nữ là 1,9% Phân chia bệnh theo khu vực thì nông thôn là 4,7 , thành thị là 3,3 và miền núi là 3,6% [3] Theo Đinh Ngọc Sỹ năm 2009 trong cộng đồng dân cư có khoảng 1,4 triệu người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tỷ lệ mắc ở nam: 3,5%; nữ: 1,1 Bệnh có xu hướng tăng theo tuổi, liên quan đến hút thuốc lá và sử dụng nhiên liệu đốt hữu cơ [30], còn Phan Thu Phương nghiên cứu ở Lạng Giang, Bắc Giang năm 2009 cho thấy tỷ lệ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 3,85% và các yếu tố hút thuốc lá, tuổi cao, bệnh hen liên quan đến bệnh [28]
Ngày nay, với tình trạng hút thuốc ngày càng gia tăng, với sự phát triển của nền công nghiệp, đặc biệt ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam là điều kiện thuận lợi làm cho tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngày càng gia tăng [2], [5], [23] Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang trở thành mối lo ngại
về sức khoẻ của nhiều quốc gia trên thế giới [54],[55], [57], [58] Bên cạnh việc
Trang 16kiểm soát các yếu tố nguy cơ, quản lý bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở cộng đồng, chúng ta cần tăng cường xây dựng và thực hiện tốt các chính sách liên quan như tăng thuế thuốc lá, cấm hút thuốc nơi công cộng, thực hiện vệ sinh môi trường…Giải pháp tích cực truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại cộng đồng là vô cùng quan trọng và cần thiết [7], [10], [82]
Bắc Ninh là tỉnh đồng bằng Bắc bộ, đất chật người đông Trong những năm gần đây công nghiệp phát triển nóng gây ô nhiễm môi trường nhất là không khí Người dân Bắc Ninh có thói quen lâu đời là hút thuốc lào thuốc lá
và đun nấu bằng rơm rạ, than tổ ong… đây là những nguyên nhân làm cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gia tăng Bệnh viện đa khoa tuyến huyện của tỉnh Bắc Ninh là bệnh viện đa khoa hạng II có khoảng 200 giường bệnh Từ trước đến nay đã và đang điều trị một số bệnh không lây nhiễm trong đó có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tuy nhiên kết quả còn khiêm tốn Để có cơ sở khoa học trong công tác phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bắc Ninh, việc tiến hành nghiên cứu về vấn đề này là cần thiết, kết quả nghiên cứu
có ứng dụng thực tiễn để giải quyết vấn đề này Câu hỏi đặt ra cho chúng tôi
là thực trạng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay như thế nào? Yếu tố nào liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính? Và giải pháp nào phù hợp để dự phòng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở tỉnh Bắc
Ninh hiện nay? Do vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đặc điểm dịch
tễ và hiệu quả can thiệp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại hai huyện tỉnh Bắc Ninh” với ba mục tiêu sau:
1 Mô tả một số đặc điểm dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại huyện Quế Võ và Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh năm 2015
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại khu vực nghiên cứu
3 Xây dựng và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
1.1.1 Một vài khái niệm
- Hội lồng ngực Hoa kỳ (ATS – 1995): bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính - Chronic Obstructive Pulmonary Disease (COPD) là tình trạng bệnh lý của viêm phế quản mạn và/hoặc khí phế thũng có tắc nghẽn lưu lượng khí trong các đường
hô hấp Sự tắc nghẽn này xảy ra từ từ và có khi kèm theo phản ứng phế quản, có thể không hồi phục hoặc hồi phục một phần [96] Chỉ những trường hợp hen phế quản nặng, có co thắt phế quản không hồi phục mới được xếp vào COPD
- Hội hô hấp Châu Âu (ERS – 1995): COPD là tình trạng bệnh lý có đặc điểm chung là giảm lưu lượng khí thở ra tối đa và sự tháo rỗng khí trong phổi xảy ra chậm Bệnh tiến triển chậm và không hồi phục mà nguyên nhân thường
do sự phối hợp giữa các bệnh lý đường hô hấp như viêm phế quản mạn với khí phế thũng [52]
- Định nghĩa theo GOLD 2017 (Chiến lược toàn cầu về COPD - Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease): COPD là bệnh phổ biến có thể dự phòng và điều trị được, đặc trưng bởi sự hiện diện của triệu chứng hô hấp và giới hạn dòng khí do đường dẫn khí và/hoặc bất thường ở phế nang thường do bởi tiếp xúc với hạt và khí độc hại…[58] Bệnh biểu hiện bởi sự giới hạn lưu lượng khí, sự giới hạn này không hồi phục hoàn toàn Sự giới hạn lưu lượng khí thường xảy ra từ từ và phối hợp với một sự đáp ứng viêm bất thường của phổi đối với các hạt độc hay khí COPD bao gồm viêm phế quản mạn và khí phế thũng và hen phế quản không hồi phục Chẩn đoán COPD căn
cứ vào triệu chứng ho, khạc đờm, khó thở và hay là có tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ Chẩn đoán bệnh được xác định bằng phế dung kế sau khi dùng
Trang 18thuốc giãn phế quản mà FEV1< 80% so với trị số dự đoán phối hợp với FEV1/FVC < 70% [90]
1.1.2 Dịch tễ học COPD trên thế giới
1.1.2.1 Tỷ lệ mắc
Theo Chapman K.R (2006), tỷ lệ mắc chung cho tất cả các lứa tuổi khoảng 1,0% [49] Colin R Simpson, Julia Hippisley-Cox và Aziz Sheikh tiến hành nghiên cứu từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 12 năm 2005 cho thấy số lượng người bệnh COPD tăng từ 40.545 năm 2001 lên 51.804 người bệnh năm 2005 Tỷ lệ mắc COPD năm 2001 tăng từ 13,5/1000 lên tới 16.8/1000 năm 2005, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001[50] Ở các nước châu Á Thái Bình Dương tần suất mắc COPD ước tính từ 6 - 8% dân số [89]
Hình 1.1 Tỷ lệ mắc COPD ở người trưởng thành Hoa Kỳ
từ năm 2007 đến năm 2009 [83]
Tỷ lệ mắc COPD ở Hoa Kỳ từ năm 2007 đến năm 2009 tăng cao ở nhóm tuổi từ 45 tuổi trở lên, cao nhất ở nhóm tuổi 75 đến 84 tuổi [83] Tương tự như vậy, theo các nghiên cứu được tiến hành vào những năm 2013-2014 cũng
Trang 19cho thấy tỷ lệ bị COPD tăng dần từ nhóm 35 đến 85 tuổi, tuổi càng cao thì tỷ
lệ mắc COPD cũng tăng theo [77], [81], [101]
Một nghiên cứu về COPD tại 12 nước thuộc vùng Châu Á Thái Bình Dương, với mục đích ước tính tỷ lệ COPD ở những đối tượng từ 30 tuổi trở lên dựa vào mức độ phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ gây bệnh Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc COPD rất khác nhau giữa các nước, trong đó thấp nhất là 3,5%
ở Hồng Kong và Singapore, cao nhất ở Việt Nam với tỷ lệ 6,7% [89] Nghiên cứu của GOLD (2006) tiến hành tại 12 thành phố khác nhau trên thế giới, trên 9.425 đối tượng trên 50 tuổi Các đối tượng nghiên cứu trả lời bộ câu hỏi để phát hiện các triệu chứng hô hấp mạn tính, tình trạng phơi nhiễm với các yếu
tố nguy cơ và tiêu chuẩn chẩn đoán xác định COPD dựa theo tiêu chuẩn của GOLD Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ mắc COPD cao nhất ở Cape Town – Nam Phi với 16,7% và thấp nhất ở Quảng Châu – Trung Quốc với 5,1%, tỉ lệ nam mắc cao nhất ở Cape Town – Nam Phi với 22,2% và thấp nhất
ở Reykjavik – Iceland với 8,5% [57] Theo nghiên cứu của Trung tâm kiểm soát phòng ngừa bệnh tật (CDC) năm 2011 tại ILLINOIS cho thấy tỷ lệ mắc COPD ở người trưởng thành khoảng 6,1% [48] Các nghiên cứu gần đây về COPD ở Châu Á- Thái Bình Dương cho thấy tỷ lệ COPD chung khoảng 6,2 ; dao động từ 4,5% ở Indonesia tới 9,5% ở Đài Loan năm 2012 [70], [72], [102] Ngoài ra cũng còn một số nghiên cứu về dịch tễ học CPOD hay các nguy cơ của COPD đã được công bố [44], [45], [62]
1.1.2.2 Tỷ lệ tử vong do COPD
Theo WHO trong năm 1990, COPD là nguyên nhân gây tử vong xếp hạng thứ 6 với 2,2 triệu người chết Tính đến năm 1997 có khoảng 600 triệu người mắc COPD và là nguyên nhân hàng thứ 4 Theo dự đoán của WHO, COPD sẽ gây ra 2,9 triệu người chết mỗi năm và ước tính đến năm 2020 sẽ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 trên toàn thế giới Tùy từng nước mà tỷ lệ tử
Trang 20vong từ 10-500/100.000 với khoảng 6,0% nam giới và 2-4% nữ giới vì COPD [53], [67], [95], [99] Theo Anthonisen.NR, Manfreda.J (2004) trong một báo cáo sức khoẻ thế giới đã ước tính có 2.660.000 người tử vong do COPD trên toàn thế giới năm 1999, tương ứng với 4,8% tổng số tử vong Tỷ lệ tử vong do COPD khoảng 53% ở nam, 47% ở nữ Một điều đáng chú ý là theo dự báo tỷ lệ
tử vong do COPD trên toàn thế giới sẽ tăng lên do sự tiêu thụ thuốc lá tăng Tỷ
lệ tử vong do COPD ở nữ tăng nhanh hơn ở nam do tỷ lệ nữ giới hút thuốc lá đang tăng lên nhanh chóng [53], [61], [84]
Ở Mỹ, tỷ lệ tử vong do COPD tăng đều đặn trong vài thập kỷ qua Trong giai đoạn từ năm 1965 đến 1998, trong khi tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành ở nam giới giảm 59,0%, bệnh đột quỵ giảm 64,0%, các bệnh tim mạch khác giảm 35,0 thì ngược lại tỷ lệ tử vong do COPD tăng gần 163,0% [68] Trong năm 2000 tỷ lệ tử vong do COPD ở nữ tăng nhiều hơn nam giới cũng như một số nước như Na Uy, Thụy Điển, Niu Di Lân Theo Mannino và cộng
sự tại Mỹ, kết quả cuộc khảo sát mang tầm cỡ quốc gia trên mẫu đại diện ở những người ≥25 tuổi, dựa vào dấu hiệu rối loạn thông khí tắc nghẽn cho thấy
tỷ lệ mắc là 8,8% [76], [78], [82]
Theo WHO, năm 2015 có khoảng 56,4 triệu người chết trong đó khoảng 54,0 do 10 nguyên nhân hàng đầu COPD gây ra 3,19 triệu ca tử vong vào năm 2015, trong khi đó ung thư phổi (cùng với các chứng ung thư khí quản và phế quản) làm 1,7 triệu ca tử vong, làm cho COPD là nguyên nhân thứ 4 gây tử vong trên toàn cầu năm 2015 [60], [85], [98] Theo một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy có khoảng 15,5 triệu người trưởng thành Mỹ được chẩn đoán là mắc COPD Trên thực tế con số này có thể cao hơn nhiều [68]
Trang 21Hình 1.2 Mười nguyên nhân gây tử vong năm 2015 [100]
Choate R, Mannino D 2017 đã rà soát tài liệu phân loại, dịch tễ học,triệu chứng lâm sàng và tiên lượng bệnh nhân COPD Kết quả thấy trong khi hút thuốc vẫn là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với COPD ở phần lớn các nước phát triển, các yếu tố rủi ro khác bao gồm các yếu tố di truyền và phơi nhiễm liên quan tới nghề nghiệp hoặc môi trường vẫn là những yếu tố quan trọng COPD là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba ở Hoa Kỳ Năm
2011, 13,7 triệu người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc COPD tại Hoa Kỳ và có đến 12 triệu người trưởng thành có thể bị COPD nhưng không được chẩn đoán Năm 2010, ước tính 10,3 triệu lượt khám tại phòng khám bác sĩ và 1,5 triệu lượt bệnh nhân tại phòng cấp cứu là do COPD
và ước tính là nguyên nhân thứ hai của số năm sống mất đi hiệu chỉnh do bệnh tật ở người dân Hoa Kỳ COPD có những chiến lược dự phòng ngừa cấp
Trang 221, cấp 2, và cấp 3 Việc điều trị COPD đã được cải thiện trong những năm gần đây với các liệu pháp mới cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Tác giả kết luận COPD vẫn là một sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng và thường không được chẩn đoán, đặc biệt là ở giai đoạn sớm của bệnh Theo tác giả sự
khác biệt về giới: Các bệnh liên quan đến hút thuốc như COPD và ung thư
phổi đang tiếp tục gia tăng ở phụ nữ ở Hoa Kỳ, trong khi có xu hướng giảm ở nam giới Một số bằng chứng hiện tại cho thấy so với nam giới ở mức độ hút thuốc lá tương tự, phụ nữ có thể dễ mắc COPD hơn hay mức độ nghiêm trọng của COPD ở phụ nữ có thể tăng lên Trong nghiên cứu ở bệnh nhân mắc COPD nhẹ, số phụ nữ cho thấy khả năng đáp ứng đường thở tăng lên nhiều hơn so với nam giới, mặc dù sự khác biệt này được cho là có liên quan đến kích thước đường thở hơn là giới tính Phụ nữ trưởng thành có nhiều khả năng mắc và tử vong do hen hơn nam giới Theo NHANES III, số phụ nữ bị bệnh COPD và hen suyễn được bác sĩ chẩn đoán nhiều hơn nam giới, nam giới và
nữ giới có tỷ lệ giảm chức năng phổi tương tự nhau, và tỷ lệ tương tự ở cả nam giới và phụ nữ có chức năng phổi thấp mà không được chẩn đoán bệnh phổi Bằng chứng hiện tại là không đủ để khẳng định xem phụ nữ hút thuốc
có khả năng mắc bệnh COPD hay bị COPD nặng hơn so với nam hay không mặc dù câu hỏi này đang được nghiên cứu bởi nhiều nhóm nghiên cứu [104] Còn theo báo cáo 2019 về chiến lược toàn cầu về chẩn đoán, quản lý và dự phòng COPD toàn cầu cho thấy ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy tiếp xúc với nhiên liệu chất đốt hiện đại và truyền thống được sử dụng trong quá trình nấu ăn có thể khiến phụ nữ phát triển COPD ở nhiều nước đang phát triển (Sana et al 2018) Nghèo đói liên quan đến tắc nghẽn luồng không khí
và tình trạng kinh tế xã hội thấp tăng nguy cơ phát triển COPD (Townend et
al 2017) Có bằng chứng cho thấy bệnh nhân HIV có nguy cơ mắc COPD cao hơn so với nhóm đối chứng âm tính với HIV (11 nghiên cứu; tỷ xuất chênh
Trang 23Ở Việt Nam, tính đến trước năm 2007 thì các nghiên cứu dịch tễ học về COPD chủ yếu được tiến hành tại một số quận, thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh mà chưa có con số dịch tễ nào đại diện cho quốc gia Theo một số thống kê ở Bệnh viện Bạch Mai từ năm 1981 -
1984, COPD chiếm tỷ lệ 12,1% tổng số người bệnh nhập viện tại khoa Hô hấp [3] Nghiên cứu của Ngô Quý Châu, Nguyễn Quỳnh Loan (2005), tỷ lệ mắc COPD trong cộng đồng dân cư trên 35 tuổi của phường Khương Mai quận Thanh Xuân Hà Nội là 1,53 , trong đó 1,57 ở nam giới và 0,36% ở
nữ giới [10] Hiện nay, COPD đang đứng hàng thứ 6 trong 10 bệnh thường gặp Ngô Quý Châu và cộng sự (CS) (2005) nghiên cứu trên 2.583 đối tượng tại Hà Nội thấy tỷ lệ mắc chung cho cả hai giới là 2,0 , trong đó tỷ lệ mắc ở nam là 3,4% và nữ 0,7% [7] Từ năm 1996 - 2000 tỷ lệ các người bệnh mắc COPD vào điều trị tại khoa Hô hấp bệnh viện Bạch Mai là 25,1 , đứng đầu
Trang 24các bệnh lý về phổi Ngô Quý Châu và cộng sự nghiên cứu trên 2.976 đối tượng dân cư từ tuổi 40 trở lên thuộc ngoại thành thành phố Hải Phòng cho thấy tỷ lệ mắc COPD chung cho hai giới là 5,65 ; trong đó nam: 7,91 và nữ: 3,63% [9]
Theo Đinh Ngọc Sỹ và CS trong điều tra dịch tễ COPD toàn quốc năm
2006 cho biết trong cộng đồng dân cư từ 15 tuổi trở lên có khoảng 1,4 triệu người mắc COPD, tỷ lệ mắc COPD là 2,2%, nam: 3,5%, nữ: 1,1 Bệnh có
xu hướng tăng theo tuổi, liên quan đến hút thuốc lá và sử dụng nhiên liệu đốt hữu cơ Nếu chia theo khu vực thì nông thôn là 4,7%, thành thị là 3,3% và miền núi là 3,6% [30]
Qua nghiên cứu điều tra cắt ngang trên 70 điểm thuộc 48 tỉnh – thành phố trên cả nước từ tháng 9 năm 2006 đến tháng 6 năm 2007 của Nguyễn Thị Xuyên đã phát hiện được 536 trường hợp COPD từ giai đoạn I đến giai đoạn
IV chiếm tỷ lệ thô là 2,1% trong dân số từ 15 tuổi trở lên, nam giới là 3,4% và
nữ giới là 1,1%, trong đó lứa tuổi trên 40 tuổi là 4,0% Khi phân loại các đối tượng nghiên cứu theo vùng thì thấy được ở nông thôn có tỷ lệ COPD cao hơn so với thành thị và miền núi (2,6% so với 1,9% và 1,6%) Trong cộng đồng dân cư từ 40 tuổi trở lên, miền Bắc có tỷ lệ mắc COPD là cao nhất (5,7%), miền Trung là 4,6% và miền Nam là 1,9% và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001) [39]
Theo nghiên cứu của Chu Thị Hạnh năm 2007, tiến hành nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và dịch tễ học COPD trong công nhân của một số nhà máy công nghiệp ở Hà Nội cho thấy dựa vào kết quả từ 1.042 phiếu phỏng vấn sàng lọc đã lựa chọn được 667 đối tượng vào khám lâm sàng và đo chức năng thông khí cùng với test hồi phục phế quản để định bệnh Kết quả là có 196 công nhân (29,4%) có rối loạn thông khí, trong đó rối loạn thông khí hạn chế chiếm tỷ lệ cao 9139 người; rối loạn thông khí tắc nghẽn là 38 người và rối
Trang 25loạn thông khí hỗn hợp là 19 người Sau test hồi phục phế quả thu được kết quả là 31/1042 đối tượng mắc COPD, trong đó tỷ lệ mắc ở công nhân nam là 4,5% và nữ giới là 0,7% [17]
Hoàng Thị Lâm và Nguyễn Văn Tường tiến hành nghiên cứu trên 1.500 người được lựa chọn ngẫu nhiên từ 5.782 người tham gia vào nghiên cứu phỏng vấn qua bộ câu hỏi về các bệnh đường hô hấp, được thực hiện 3 năm trước đó Người tham gia nghiên cứu được thăm khám lâm sàng và thăm dò chức năng hô hấp Chức năng thông khí phổi và test phục hồi phế quản được các nhân viên y tế thực hiện tại các trạm y tế địa phương Tỉ lệ COPD ở những người từ 23 đến 72 tuổi trong nghiên cứu là 7,1 trong đó nam giới chiếm 10,9%, nữ giới là 3,9% 10% dân số hơn 40 tuổi mắc COPD Hơn một nửa số người bệnh là COPD giai đoạn I [22] Phan Thu Phương năm 2010, tiến hành nghiên cứu dịch tễ học COPD trong dân cư ngoại thành thành phố
Hà Nội và tỉnh Bắc Giang, dựa vào kết quả phỏng vấn bằng bộ câu hỏi, thăm khám lâm sàng và đo chức năng thông khí cùng với test hồi phục phế quản để định bệnh trên 2005 đối tượng từ 40 tuổi trở lên đã cho thấy ở huyện Sóc Sơn
tỷ lệ mắc COPD chung cho cả hai giới là 3,32%; Ở huyện Lạng Giang, Bắc Giang thì tỷ lệ mắc COPD là 3,85 , trong đó nam giới là 6,92% và nữ giới là 1,42% Tỷ lệ mắc chung cho cả hai huyện là 3,6% [27] Dương Đình Chỉnh
và cộng sự tiến hành điều tra dịch tễ 43.793 người trên 40 tuổi năm 2012 tại
18 xã/phường thuộc thành phố Vinh - Nghệ An đã cho kết quả có 403 người bệnh được chẩn đoán bệnh COPD, chiếm tỷ lệ 6,42% [11] Tại thành phố Quy Nhơn năm 2013-2014, Bùi Phương Anh, Đinh Hoàng Sang (2014) tiến hành điều tra trên 1.200 người ở 34 khu vực đại diện cho 21 xã, phường đã cho kết quả: Tỷ lệ mắc COPD tại thành phố Quy Nhơn ở tuổi >40 là 6,3% Tỷ lệ mắc COPD ở nam (9,5%) cao gấp 3 lần nữ (3,1%) Tỷ lệ mắc COPD ở những vùng có nhiều khu, cụm công nghiệp sản xuất đá, gỗ và dân thường dùng
Trang 26nguyên liệu sinh khối làm chất đốt cao hơn hẳn so với phường trung tâm nội thị [1] Một số kết quả nghiên cứu của Trần Thị Hằng, Hoàng Hà ở Bệnh viện Bắc Kạn, Phan Thu Hương ở ngoại thành Hà Nội và Bắc Giang cũng có các kết quả tương tự các nghiên cứu trên [16], [27]
Nguyễn Đức Thọ và cộng sự (2015) đã tiến hành khám sàng lọc, đo chức năng hô hấp và phỏng vấn tổng số 2489 người dân trên 40 tuổi xã Kiến Thiết, Tiên Lãng, Hải Phòng, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc COPD là 5,3% (7,7% ở nam và 3,4% ở nữ), đa phần (48,9%) bệnh được phát hiện ở giai đoạn trung bình Các triệu chứng chính được phát hiện là là ho, khạc đờm, khó thở, tuy nhiên, đến gần một nửa (46%) người bệnh COPD không có các biểu hiện lâm sàng Kết quả nghiên cứu gợi ý nên áp dụng đo chức năng thông khí phổi khám sàng lọc phát hiện sớm COPD ở những người có nguy cơ [37]
Nghiên cứu của Nguyễn Mậu Thanh về kết quả điều trị ngoại trú người bệnh COPD tại Bệnh viện Đa khoa Quế Võ cũng đã cho kết quả trong nhóm 101 người bệnh mắc COPD thì nam giới chiếm 88,1%, nữ giới chiếm 11,9 Độ tuổi trung bình là 69,2±8,2, trong đó người bệnh thấp nhất là 50 tuổi và cao nhất là 85 tuổi [32]
TÓM LẠI: Tỷ lệ mắc COPD khác nhau giữa các quốc gia nhưng vẫn
tiếp tục gia tăng, dao động từ 4,0 đến 20,0%, gặp nhiều ở nam giới và
những người 40 tuổi trở lên
1.2 Yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
1.2.1 Hành vi hút thuốc
Theo WHO, có khoảng 100 triệu người đã chết do nguyên nhân hút thuốc lá ở thế kỷ 20 và nó sẽ vẫn tiếp tục tăng lên; có thể tăng lên con số 1 tỉ vào thế kỉ 21 Hơn 80,0 người hút thuốc lá sống tại các nước thu nhập thấp
và trung bình Hút thuốc lá sẽ giết chết 5,4 triệu người mỗi năm và ước tính khoảng 10,0% ở người trưởng thành trên thế giới, sẽ có tới 50,0% những
Trang 27người có nguy cơ tử vong do thuốc lá hơn là các bệnh tật khác Và số người chết do thuốc lá sẽ là hơn 8 triệu người mỗi năm vào năm 2030, 80,0 xảy ra
ở các nước đang phát triển Hút thuốc lá là một trong tám nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới dẫn tới các bệnh tật bao gồm bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch và nhồi máu cơ tim, các bệnh ung thư [5]
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây COPD Theo ATS (1995) khoảng 15 - 20% số người hút thuốc mắc COPD và 80 - 90% số bệnh nhân COPD có nghiện thuốc [96]
COPD đang nhanh chóng trở thành cuộc khủng hoảng toàn cầu về sức khoẻ cộng đồng vì hút thuốc được công nhận là yếu tố quan trọng nhất gây ra Điều trị có hiệu quả nhất cho COPD là ngừng hút thuốc lá Có bằng chứng cho thấy tỷ lệ tiến triển của COPD có thể giảm khi người bệnh ngừng hút thuốc, trong khi người hút thuốc suốt đời có xác suất 50% mắc COPD trong suốt cuộc đời của họ Đáng kể hơn nữa, cũng có bằng chứng cho thấy nguy cơ phát triển COPD giảm khoảng một nửa so với hút thuốc lá [65]
Ảnh hưởng của khói thuốc lá đối với bệnh sinh COPD có thể tóm tắt như sau: Khởi phát phản ứng viêm liên tục và bất thường [88] Hình thành các chất oxy hóa gây tổn thương mô và tăng áp lực đường thở [79] Giảm các chất chống oxy hóa, các chất bảo vệ [87] Giảm các phân tử bảo vệ quan trọng khác (ví dụ như kháng Histamin…) trong tế bào, tăng tính nhạy cảm đối với
sự hủy hoại các tế bào phế nang và sự phát triển của phá hủy mô [64] Ảnh hưởng đến quá trình Apoptosis (Apoptosis là một quá trình xuyên suốt cuộc sống giúp cơ thể loại bỏ những tế bào không cần thiết, hoặc các tế nào bị tổn thương, sai hỏng mà có thể dẫn tới ung thư, giúp cơ thể luôn khỏe mạnh) [83] Đối với những người hút thuốc lá, đường hô hấp liên tục bị tiếp xúc và phá hoại bởi hàng loạt các chất độc hại trong khói thuốc Điều này dẫn đến một quá trình viêm liên tục và làm gia tăng việc sản xuất chất nhầy dẫn đến viêm
Trang 28phế quản mạn tính đồng thời phá hủy mô làm gián đoạn quá trình sửa chữa và bảo vệ của cơ quan hô hấp Việc sản xuất chất nhầy quá nhiều và không có hạn chế thông khí, không loại bỏ được nó ra khỏi đường hô hấp, rối loạn chức năng của các tuyến nước bọt… sẽ dẫn đến tình trạng ho kéo dài, thở khò khè
là đặc trưng của COPD Ngoài ra, chất nhầy còn tạo ra một môi trường ẩm ướt, ấm có thể thuận lợi cho việc phát triển các vi khuẩn gây bệnh, dẫn đến tình trạng COPD ngày càng trầm trọng hơn [5], [42], [86]
*Hút thuốc chủ động: Các số liệu từ nhiều nghiên cứu cho thấy ở
những người hút thuốc có các triệu chứng về hô hấp, Chức năng thông khí (CNTK) không bình thường cao hơn ở người không hút thuốc và tỷ lệ tử vong
do COPD ở nhóm người bệnh hút thuốc cao hơn so với nhóm người bệnh không hút thuốc Các nghiên cứu cho thấy có khoảng 15,0% số người hút thuốc có triệu chứng của COPD và từ 80,0 đến 90,0% các người bệnh COPD đều có hút thuốc [5]
Một điều tra ở Mỹ từ năm 1988 đến 1994 về CNTK cho thấy giới hạn lưu lượng khí thở biểu hiện ở 14,2% những người đang hút thuốc, 6,9% ở những người đã bỏ hút thuốc và 3,3% ở những người không hút thuốc Vai trò của hút thuốc đối với nguy cơ mắc COPD tùy thuộc vào tuổi bắt đầu hút, thời gian hút, mức độ hút, phản ứng tương tác với các yếu tố môi trường khác và yếu tố di truyền [56] Hút thuốc là nguyên nhân chủ yếu của COPD, là yếu tố quyết định quan trọng nhất tới mức độ lưu hành của bệnh ở từng quốc gia, tỷ
lệ mắc COPD cao ở những nước đã và đang thịnh hành việc hút thuốc, trong khi tỷ lệ này thấp nhất ở những nước có tỷ lệ tiêu thụ thuốc lá trên đầu người thấp Một số nghiên cứu dịch tễ học về COPD trong cộng đồng dân cư Hà Nội
và một số tỉnh thuộc khu vực phía Bắc cũng có một số nhận xét cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc với COPD, những đối tượng hút thuốc
có mắc các triệu chứng hô hấp cao gấp 3 đến 7 lần so với những đối tượng không hút thuốc, trong nhóm đối tượng mắc COPD thì tỷ lệ người hút thuốc
Trang 29là 65,5 trong đó 54,94 số người hút với số lượng trên 15 bao mỗi năm, những đối tượng hút thuốc có nguy cơ mắc COPD cao gấp 2 - 5 lần so với đối tượng không hút thuốc [2], [8], [74]
Đinh Ngọc Sỹ và CS trong điều tra dịch tễ COPD toàn quốc năm 2011 cho biết, trong cộng đồng dân cư từ 15 tuổi trở lên, bệnh có xu hướng tăng theo tuổi, liên quan đến hút thuốc lá và sử dụng nhiên liệu đốt hữu cơ [31] Nghiên cứu của Roberto de Marco, Simone Accordini, Alessandro Marcon và cộng sự
từ năm 1991 đến năm 2002 trên 4000 người trưởng thành độ tuổi từ 20 đến 44 tuổi, thời gian theo dõi trung bình là 9 năm đã cho kết quả: Hút thuốc là là nguyên nhân chính dẫn đến COPD ở những người trẻ tuổi và ước tính khoảng 50,0 đến 70,0 người hút thuốc lá bị COPD Những người có thói quen hút thuốc có tỷ lệ bị COPD cao gấp 2,61 lần so với người không hút thuốc và tỷ lệ COPD ở những người đã từng hút thuốc cũng cao gấp 2,08 lần so với những người chưa từng hút thuốc và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Người ta nghiên cứu thấy rằng những người hút thuốc sau 20 đến 25 năm sẽ bị mắc COPD [90] Khoảng 50 đối tượng tử vong do COPD ở các nước đang phát triển đã bị phơi nhiễm với khói thuốc trong thời gian sống [92]
Natalie Terzikhan và cs tiến hành từ năm 1989 đến năm 2009 trên gần 15.000 người trưởng thành (≥45 tuổi) cho thấy trong nhóm nghiên cứu có 21,7 người hiện đang hút thuốc, 41,7 người đã từng hút thuốc và 34,2% người chưa từng hút thuốc Trong nhóm người đã từng hút thuốc có tới 17,8% người mắc COPD, ở nhóm người chưa từng hút thuốc tỷ lệ mắc COPD là 6,4% [79]
*Hút thuốc thụ động: Hút thuốc thụ động là sự kết hợp của khói thuốc
phát ra từ đầu đốt của thuốc lá hoặc các sản phẩm của thuốc lá khác và khói thuốc lá do người hút thải ra ngoài Khói thuốc lá có chứa hàng ngàn các hóa chất, ít nhất có 250 loại chất được biết đến gây ung thư hoặc gây độc Khói
Trang 30thuốc lá thụ động là thành phần quan trọng gây ra ô nhiễm không khí trong nhà, trong văn phòng…[5], [8]
Ở trẻ em, khói thuốc lá gây nguy hiểm làm tăng nguy cơ cho sức khỏe, các bệnh tai giữa, bệnh đường hô hấp dưới ; đối với người lớn, khói thuốc lá
có liên quan đến việc làm tăng nguy cơ mắc các bệnh hô hấp mạn tính, ung thư phổi, ung thư khác…Hút thuốc thụ động cũng là yếu tố nguy cơ đối với COPD Những người sống cùng nhà với người hút thuốc cũng bị lắng đọng khói thuốc lá trong phổi cũng như nồng độ nicotin và carboxyhemoglobin tăng trong máu Những đối tượng hút thuốc thụ động có nguy cơ mắc bệnh như người hút thuốc mức độ nhẹ Ở trẻ nhỏ, sự phát triển của phổi cũng bị ảnh hưởng khi chúng có tiếp xúc với khói thuốc
Một nghiên cứu dọc kéo dài 7 năm cho thấy nếu người mẹ hút thuốc thì đứa trẻ sẽ bị giảm mức tăng FEV1 là 7% so với dự tính Một nghiên cứu trên 3.914 người trưởng thành không hút thuốc nhưng có hút thuốc thụ động có nguy cơ có triệu chứng tắc nghẽn đường thở cao gấp 1,7 lần so với những người không hút thuốc thụ động [54]
Hình 1 3 Tỷ lệ phơi nhiễm với khói thuốc lá thụ động tại nhà và
nơi công cộng [58]
Trang 31Trước năm 2004 tại New Brunswick, khi chưa có đạo luật cấm hút thuốc nơi công cộng thì tỷ lệ hút thuốc lá thụ động ở cả trong nhà và nơi công cộng khá cao từ 14 đến 19,0%; từ năm 2004, khi đã có đạo luật cấm hút thuốc nơi công cộng thì tỷ lệ hút thuốc lá thụ động cũng đã giảm đi nhiều, tuy nhiên trong vài năm gần đây tỷ lệ này lại có xu hướng tăng nhẹ [81]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra hút thuốc lá (khói thuốc lá) là nguy cơ hàng đầu đối với COPD, tuy nhiên, ngoài hút thuốc ra còn rất nhiều các yếu tố khác ảnh hưởng, liên quan đến việc mắc COPD, thậm chí ngay cả trong bản chất hành vi hút thuốc lá đã dẫn đến mắc COPD còn phụ thuộc vào các yếu tố nội tại của nó như thời điểm hút, thời gian hút, thời điểm bỏ hút… Trong các nghiên cứu thuần tập cũng chỉ ra có những trường hợp thời gian hút thuốc lá dưới 20 năm cũng dẫn đến mắc COPD ở nhiều trường hợp
1.2.2 Ô nhiễm môi trường không khí
1.2.2.1 Ô nhiễm không khí ở ngoài trời và trong nhà
*Ô nhiễm không khí ngoài trời: Mối liên quan giữa ô nhiễm không khí
và COPD vẫn chưa được hiểu đầy đủ Một vài loại khói và bụi (với nồng độ đủ lớn) có thể gây nên tắc nghẽn và tổn thương cấp và mạn tính ở đường hô hấp Việc tiếp xúc với ô nhiễm không khí ngoài trời với các mức độ khác nhau là không thể tránh khỏi trong suốt cuộc đời Ở các khu vực thành thị, ô nhiễm không khí đang là một vấn đề nóng đối với sức khỏe cộng đồng do sự phát thải các chất ô nhiễm từ các hoạt động giao thông và các nhà máy xí nghiệp Có nhiều nghiên cứu đã cho thấy, ô nhiễm không khí ngoài trời có ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của phổi ở trẻ em từ 10 đến 18 tuổi [54], [55] Đã có một số nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa các chất gây ô nhiễm không khí ngoài trời với COPD Ví dụ như một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành từ năm 1985 đến 1994 trên 4.757 người phụ nữ sống ở lưu vực Rhine-Ruhr của Đức cho thấy tỷ lệ COPD là 4,5%, những người mắc COPD có liên quan đến việc tiếp
Trang 32xúc với những hạt bụi có đường kính dưới 10mm và phơi nhiễm với bụi, khí thải giao thông Những phụ nữ sống cách khu đường giao thông dưới 100 m có
tỷ lệ mắc COPD cao gấp 1,79 lần so với với những phụ nữ sống ở cách xa đường giao thông hơn [75] Một nghiên cứu tiếp theo nhằm đánh giá chức năng phổi trong một nhóm 402 phụ nữ từ năm 2008 đến năm 2009 cho thấy việc giảm tỷ lệ mắc COPD có liên quan đến việc cải thiện chất lượng không khí [86] Một nghiên cứu dọc kéo dài trong 7 năm tại Berlin và New Hampshire nhận thấy tỷ lệ mắc viêm phế quản mãn tính (VPQMT) và COPD giảm đồng thời với giảm ô nhiễm môi trường Điều này vẫn có giá trị ngay cả khi đó tính tới yếu tố tuổi, sự thay đổi thói quen hút thuốc ở nhóm quần thể nghiên cứu Kết quả của một nghiên cứu ở Nhật Bản cũng nhận thấy cư dân sống ở vùng ô nhiễm nặng của Tokyo và Okohama bị hạn chế CNTK hơn so với những vùng
ít bị ô nhiễm [99] Các nghiên cứu với quy mô lớn ở Mỹ và Châu Âu cũng cho thấy có mối liên hệ đáng kể giữa ô nhiễm không khí ngoài trời với tình trạng nhập viện vì COPD, đặc biệt là nhập viện do các đợt cấp của COPD [59]
*Ô nhiễm không khí trong nhà: Các chất ô nhiễm không khí trong nhà
bao gồm các loại khói thuốc lá, NO2, CO, các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, các chất gây dị ứng sinh học… Chỉ riêng khói thuốc lá trong nhà đã là yếu tố nguy cơ lớn đối với sự mắc và phát triển của COPD Người ta ước tính có khoảng 50,0% dân số thế giới sử dụng nhiên liệu sinh học làm nguồn nhiên liệu sơ cấp trong nấu ăn, sưởi ấm và chiếu sáng trong gia đình [90] Việc đốt các nhiên liệu chủ yếu là các sinh khối liên quan đến gỗ, các dư lượng thực vật hay phân động vật… sẽ phát thải ra môi trường nhiều chất độc do hiệu quả đốt thấp Ở các vùng nông thôn thuộc các nước đang phát triển, việc đốt sinh khối thường được tiến hành trong môi trường trong nhà, với bếp lửa hở, thông gió kém Liên quan đến những ảnh hưởng có hại của tiếp xúc sinh khối, phụ nữ bị ảnh hưởng ở mức độ lớn hơn nam giới, vì họ dành nhiều thời gian
Trang 33nấu ăn và ở trong nhà Người ta đã gợi ý rằng phụ nữ bị phơi nhiễm với chất đốt sinh học trong cơ thể có thể bị COPD có đặc điểm lâm sàng, chất lượng cuộc sống bị suy giảm và tăng tỷ lệ tử vong tương tự như ở những người hút thuốc lá [61]
Theo GOLD, ô nhiễm không khí trong nhà do đốt gỗ và nhiên liệu sinh học khác ước tính sẽ giết chết hai triệu phụ nữ và trẻ em mỗi năm Trong một báo cáo nhằm tổng hợp các kết quả từ các nghiên cứu độc lập, đã cho thấy việc tiếp xúc với nhiên liệu sinh học có liên quan đến COPD ở phụ nữ nông thôn (OR: 2,40; 95%CI: 1,47-3,93) Nghiên cứu này còn cho thấy, phụ nữ có nguy cơ mắc COPD gấp 2,4 lần khi phơi nhiễm là khói nhiên liệu sinh học so với các loại nhiên liệu khác Ngoài ra, so với nam giới, phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh viêm phế quản mạn tính gấp 1,5 lần nếu họ không hút thuốc và gấp 2,0 lần nếu họ hút thuốc [57], [58]
Ô nhiễm không khí trong gia đình cũng ảnh hưởng tới phổi của trẻ Sử dụng khí tự nhiên trong nấu ăn cũng gây các bệnh hô hấp và ảnh hưởng tới chức năng thông khí của trẻ mà không phụ thuộc vào tác dụng của khói thuốc
do bố mẹ chúng gây ra Sử dụng củi để nấu ăn trong nhà cũng là nguồn gây ô nhiễm [37], [38] Các nguồn gây ô nhiễm trong gia đình cũng bao gồm: bụi, thuốc xịt tóc, thuốc diệt côn trùng, bột xà phòng…
1.2.2.2 Nguy cơ từ khói, bụi và hóa chất nghề nghiệp
Có nhiều nghiên cứu nhằm xác định mối quan hệ giữa yếu tố nghề nghiệp
và COPD; tuy nhiên, nghiên cứu mối quan hệ này thực sự khó khăn do vẫn tồn tại song song các yếu tố thuận lợi khác như: khói thuốc, khói bếp củi, bếp than Một nghiên cứu tiến hành trên các công nhân làm việc tại mỏ than và mỏ vàng, khi các dữ liệu được hiệu chỉnh với số người hút thuốc thì công nhân làm việc tại mỏ than và vàng có tỷ lệ mắc phá hủy mô cao hơn so với các công nhân không tiếp xúc với khói bụi [28], [66] Tiếp xúc với bụi amiăng cũng ảnh
Trang 34hưởng tới đường thở, công nhân bị bụi phổi amiăng có tỷ lệ mắc phá hủy mô là 54% Với các nhóm tác nhân và nhóm nghề nghiệp khác nhau có những liên quan đến nguy cơ mắc COPD Tiếp xúc với bụi than thông qua hoạt động khai thác mỏ là một trong những nguyên nhân dẫn đến COPD và các bệnh viêm phế quản mạn tính, phá hủy mô ở các công nhân than với sự suy giảm chức năng phổi có mức độ phơi nhiễm dưới 20 năm Khoảng 15-20 trường hợp mắc bệnh phổi tắc nghẽn là do các chất gây ô nhiễm trong môi trường làm việc Những người có tiếp xúc nghề nghiệp với khói bụi, hóa chất có nguy cơ mắc COPD cao gấp 2,6 lần so với nhóm khác [82]
Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về mối liên quan giữa COPD với một số yếu tố nguy cơ như mối liên quan giữa bụi với COPD ở công nhân của một số nhà máy công nghiệp Hà Nội năm 2007 của Chu Thị Hạnh, tuy nhiên kết quả chưa được rõ ràng [18]
Theo Aasen và cộng sự (2009), trong số 15 nghiên cứu thuần tập nghề nghiệp có tiếp xúc với vật liệu vô cơ có 12 nghiên cứu đã phát hiện ra sự liên quan giữa sự phơi nhiễm và tắc nghẽn đường thở Ba nghiên cứu còn lại nghiên cứu các phơi nhiễm tiềm tàng gây suy giảm chức năng phổi, rối loạn chức năng thông khí hạn chế Trong số 19 nghiên cứu thuần tập nghề nghiệp với các chất hữu cơ có 17 mối liên quan giữa tiếp xúc nghề nghiệp và tắc nghẽn đường thở [40]
Nghiên cứu dịch tễ học COPD tại thành phố Quy Nhơn năm 2013-2014 của Bùi Phương Anh, Đinh Hoàng Sang và CS trên 1200 người ở 34 khu vực đại diện cho 21 xã, phường đã cho kết quả: Tỷ lệ mắc COPD ở những vùng
có nhiều khu, cụm công nghiệp sản xuất đá, gỗ và dân thường dùng nguyên liệu sinh khối làm chất đốt cao hơn hẳn so với phường trung tâm nội thị Nếu coi sự tiếp xúc với khói, bụi, hóa chất là yếu tố nguy cơ gây COPD thì khả năng mắc COPD ở người tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ này sẽ tăng gấp 2
Trang 35lần so với người không tiếp xúc (Với OR=2,1; 95% CI = 1,653 – 2,887) Ngoài thuốc lá và chất đốt sinh khối, tình trạng ô nhiễm môi trường và đặc biệt là lao phổi đã làm tăng tỷ lệ mắc COPD ở Việt Nam [1]
Theo nghiên cứu ở Anh năm 2016, khoảng 15% COPD có thể là do sự phơi nhiễm tại nơi làm việc, tương đương với khoảng 4.000 ca tử vong do COPD mỗi năm tại Anh [81]
1.2.2.3 Nhiễm khuẩn
Các nghiên cứu hồi cứu cho thấy viêm phế quản ở trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi liên quan tới sự bất thường của CNTK và là yếu tố nguy cơ quan trọng của COPD Ở những trẻ bẩm sinh có đường hô hấp nhỏ hơn bình thường thì dễ bị nhiễm virus cũng như dễ bị đáp ứng tắc nghẽn đường thở đối với khói thuốc Các nghiên cứu cho thấy, sự nhiễm khuẩn đường hô hấp làm gia tăng
sự trầm trọng của COPD; theo nghiên cứu Rohde và cộng sự (2003) có khoảng 50,0% COPD trầm trọng có liên quan đến nhiễm virus và phần lớn là do rhinovirus [7], [91]
1.2.2.4 Khí hậu
Có mối liên hệ giữa đợt cấp COPD và khí hậu (đặc biệt là nhiệt độ và độ ẩm) Có thể độ ẩm cao đi kèm với nhiễm khuẩn không khí hoặc không khí khô trong thời tiết lạnh làm xuất hiện và nặng lên các triệu chứng hô hấp, số lượng người bệnh COPD nhập Khoa Cấp cứu cũng tăng lên khi thời tiết lạnh Theo nghiên cứu của M.Grabenhorst và cộng sự (2012) tiến hành nghiên cứu so sánh
và đánh giá chức năng hô hấp cho nhóm người bệnh COPD sau hai thời điểm; thời điểm đầu tiên đánh giá người bệnh sau 32 ngày có nhiệt độ trung bình là 29,0oC, thời điểm tiếp là đánh giá sau 32 ngày họ sống trong môi trường có nhiệt độ trung bình dưới 19,0oC và kết quả đã cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê; chỉ số FEV1 giữa hai thời điểm là: 51,7 và 62,6 (p<0,001); điểm CAT: 19,2 và 16,2 (p<0,001) [65]
Trang 361.2.3 Điều kiện kinh tế xã hội
Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy nguy cơ mắc COPD gia tăng ở những người có điều kiện kinh tế xã hội thấp Các yếu tố liên quan như thói quen hút thuốc, tiếp xúc với khói bụi công nghiệp, hút thuốc thụ động, ăn kiêng, nhiễm khuẩn lúc trẻ Bên cạnh đó, những đối tượng có điều kiện sống chật chội, dinh dưỡng kém là điều kiện thuận lợi gây gia tăng nhiễm khuẩn hô hấp [86]
Một nghiên cứu từ năm 2007 đến năm 2009 tại Hàn Quốc trên 24.871 người và tìm ra 3.747 người 40 tuổi trở lên chưa bao giờ hút thuốc, chức năng phổi bình thường, không mắc bệnh hen suyễn hay các bệnh hạn chế thông khí phổi; đã tiến hành phân tích hồi quy logistic để tìm hiểu các yếu tố nguy cơ đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và có kết quả: tỷ lệ mắc COPD là 7,6% Những người trình độ học vấn thấp có tỷ lệ mắc COPD cao gấp 2,0 lần; những người có BMI thấp (<18,5) có tỷ lệ mắc COPD cao gấp 3,1 lần so với nhóm có BMI từ 18,5 đến 24,9; những người bị lao phổi có tỷ lệ mắc COPD cao gấp 4,5 lần [93]
Ngoài ra, trên người bệnh COPD, sự kết hợp của nhiều bệnh lôi cuốn
sự chú ý của các thầy thuốc do tính phổ biến và biểu hiện nặng trong tình huống này Thuốc lá không chỉ gây bệnh đơn thuần đối với phổi mà còn là tác nhân của nhiều bệnh lý tim mạch cũng như ung thư Câu hỏi đặt ra là trên người bệnh COPD hiện tượng kết hợp của những bệnh này là đồng mắc (comorbidity) hay là bệnh đồng phát (multimorbidity) Có hai bài báo quan
trọng được Enrico M Clini và CS (2013) phân tích với tiêu đề “COPD chỉ là
một thành tố trong các bệnh đồng phát phức tạp trên người bệnh COPD”
(Chronic Obstructive Pulmonary Disease Is Just One Component of the Complex Multimorbidities in Patients with COPD) Hai bài báo mà tác giả này đề cập đến đã phân tích tình hình kết hợp của nhiều bệnh với hiện tượng viêm toàn thân trên người bệnh COPD và hiệu quả của các thuốc tim mạch
Trang 37trên người bệnh COPD nặng Trên cơ sở này, Enrico M Clini và cs đã kết luận rằng hiện tượng mắc nhiều bệnh trên người bệnh COPD là hậu quả tất nhiên hơn là hiện tượng kết hợp mang tính ngoại lệ Trong sự kết hợp này, COPD không nhất thiết phải là bệnh nặng nhất Với đặc điểm bệnh học như vậy, đối với COPD, nhất là ở giai đoạn nặng, cần được xem xét các bệnh lý mạn tính và kết hợp các biện pháp chăm sóc điều trị
1.2.4 Các yếu tố nội sinh (các yếu tố cơ đị )
*Yếu tố gen: Những nghiên cứu quan sát được tiến hành trong các gia
đình có người bị COPD và trên những trẻ sinh đôi ủng hộ giả thuyết về vai trò của yếu tố gen trong quá trình phát sinh và phát triển COPD [47], [62], [73], [94]:
- Họ hàng của người bệnh COPD có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn
- Có mối quan hệ về CNTK của bố mẹ và con cái, anh chị em ruột
- Tỷ lệ mắc bệnh COPD giảm đối với những người có yếu tố gen xa nhau
- Có sự tương hợp về mắc bệnh và CNTK giữa anh em sinh đôi cùng trứng nhiều hơn là anh em sinh đôi khác trứng
Gen SerpinaA1 mã hóa tổng hợp α1-AT: Thiếu hụt α1-AT là một trong những rối loạn chuyển hóa di truyền xảy ra ở mọi nơi trên toàn thế giới, đặc biệt phổ biến ở châu Âu, liên quan đến một số bệnh lý tại phổi và gan Phân
tử α1-AT bất thường bị mất hoặc giảm khả năng ức chế Neutrophil Elastase, đồng thời không được giải phóng hoàn toàn vào máu sau khi tổng hợp làm cho nồng độ trong máu thấp Chức năng sinh học chính của α1-AT là ức chế Neutrophil Elastase, vì vậy nó có vai trò bảo vệ sự toàn vẹn của phế nang Thiếu hụt α1-AT gây phá hủy mô và COPD Những người thiếu hụt α1-AT
do di truyền nhiều khi không xuất hiện bệnh ngay hoặc có biểu hiện bệnh hết sức đa dạng ở những mức độ khác nhau, và không phải trường hợp nào cũng
sẽ trở thành bệnh lý
Trang 38Một số nghiên cứu đã đề cập đến tần suất của đột biến gen Serpina1 và thấy rằng tần suất người bệnh COPD mang alen đột biến S và Z khá dao động,
có thể từ 4,0 đến 30,0% tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và phương pháp sàng lọc
Từ năm 1963, Laurell CB, Eriksson S đã chỉ ra rằng ở các người bệnh bị giảm α1-AT trong máu nặng có nguy cơ gây tràn khí màng phổi [69] Các triệu chứng lâm sàng của người bệnh COPD có thiếu hụt α1-AT cũng tương
tự như các trường hợp người bệnh không thiếu hụt, tuy nhiên các triệu chứng này thường xuất hiện rất sớm ở độ tuổi 32 đến 41 tuổi ở những người
có tiền sử hút thuốc Theo ATS (2003), hút thuốc lá là đồng yếu tố nguy cơ cho sự phát triển của COPD ở những đối tượng thiếu hay giảm nặng α1-AT Những người thiếu α1-AT có hút thuốc thì tốc độ suy giảm chức năng phổi tiến triển mạnh:
- Mức độ giảm FEV1 ở người không hút thuốc có giảm α1-AT là 50 đến
Tại Việt Nam, cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về α1-AT Năm
2013, Vũ Văn Giáp nghiên cứu về tính đa hình thái của gen serpinai và đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cho kết quả: 20,0% người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có kiểu gen đột biến PiMZ Tần suất đột biến gây thiếu hụt α1-AT ở người bệnh
Trang 39COPD thường bị bỏ sót, không được chẩn đoán trên lâm sàng Nồng độ
α1-AT trong máu giảm sẽ có nguy cơ xuất hiện các tổn thương phổi, tổn thương gan Tùy theo mức độ thiếu hụt sẽ có biểu hiện lâm sàng hoặc không có Với nồng độ α1-AT thấp từ 20 đến 45 mg/dL hoặc không có trong máu thì nguy
cơ tổn thương phổi, gây phá hủy mô và COPD ở mức rất cao [14]
Một số gen khác liên quan đến COPD: Gen tổng hợp epoxide hydroxylase, Tumor Necrosis factor α, heme oxygenase -1, beta 2- adrenergic receptor, IL-4 và IL 10 [43], [71], [80]
*Giới tính: Người ta thấy rằng tỷ lệ mắc COPD ở nam giới cao hơn so
với nữ giới; Nam giới có tỷ lệ mắc cao gấp 4,2 lần so với nữ giới Nghiên cứu của Natalie Terzikhan và cộng sự cũng cho thấy tỷ lệ mắc chung mỗi năm của nam giới là 13,3/1000 cao hơn so với nữ giới (6,1/1000) [79]
Theo nghiên cứu ở New Brunswick từ 2003 đến 2014 cũng cho thấy tỷ
lệ mắc COPD ở những người từ 35 tuổi trở lên ở nam giới có xu hướng cao hơn so với nữ giới [81]
Trong nghiên cứu điều tra của Nguyễn Quỳnh Loan (2002), tỷ lệ mắc COPD trong cộng đồng dân cư trên 35 tuổi của phường Khương Mai quận Thanh Xuân, Hà Nội là 1,53 , trong đó 1,57 ở nam giới cao hơn so với nữ giới (0,36%) [10] Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuyên tiến hành trên
2500 người từ 15 tuổi trở lên tại 70 điểm thuộc 48 tỉnh thành phố, đại diện cho dân ở Việt Nam từ tháng 9 năm 2006 đến tháng 6 năm 2007 Kết quả cho thấy
tỷ lệ mắc COPD ở nam giới là 3,4% cao hơn so với tỷ lệ mắc COPD ở nữ giới (1,1%) [39] Nghiên cứu dịch tễ học COPD tại thành phố Quy Nhơn năm 2013-2014 của Bùi Phương Anh, Đinh Hoàng Sang và CS cho thấy tỷ lệ mắc
ở nam (9,5%) cao gấp 3 lần nữ (3,1%) [1]
Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Lâm và Nguyễn Văn Tường tiến hành nghiên cứu trên 1.500 người được lựa chọn ngẫu nhiên từ 5782 người tham
Trang 40gia vào nghiên cứu phỏng vấn qua bộ câu hỏi về các bệnh đường hô hấp, được thực hiện 3 năm trước đó Người tham gia nghiên cứu được thăm khám lâm sàng và thăm dò chức năng hô hấp Chức năng thông khí phổi và test phục hồi phế quản được các nhân viên y tế thực hiện tại các trạm y tế địa phương Tỉ lệ COPD ở những người từ 23 đến 72 tuổi trong nghiên cứu là 7,1 trong đó nam giới chiếm 10,9%, nữ giới là 3,9% [22]
Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu khác thì tỷ lệ mắc bệnh tăng ở nữ và kèm theo là tỷ lệ tử vong do COPD ở nữ tăng nhanh hơn so với nam giới Theo nghiên cứu của Lara J Akinbami và Xiang Liu ở Anh từ năm 1998 đến năm 2009 cho thấy tỷ lệ nữ giới mắc COPD cao hơn so với nam giới và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [68]
Sự khác nhau về giới tính trong COPD là kết quả của sự tương tác về gen giới tính và sự khác biệt giữa nam và nữ về văn hóa xã hội trong thời kì niên thiếu, dậy thì và trưởng thành Sự khác biệt về giới tính trong chức năng sinh lý của phổi và đáp ứng của hệ miễn dịch có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc COPD Ngoài ra sự khác biệt này cũng liên quan đến sự khác nhau ở mức độ phơi nhiễm và các loại yếu tố nguy cơ khác như khói thuốc, nghề nghiệp và ô nhiễm môi trường [90], [93]
*Tuổi: Trong hầu hết các nghiên cứu dịch tễ học về COPD người ta nhận
thấy tỷ lệ mắc, mức độ tàn phế, tỷ lệ tử vong tăng theo lứa tuổi, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới độ tuổi 70 - 74 cao gấp 6 lần so với độ tuổi 55 - 59, ở nữ giới
tỷ lệ mắc tăng bắt đầu từ sau tuổi 55 Tỷ lệ mắc COPD tăng trong những năm gần đây là do dân số thế giới ngày càng già và tỷ lệ tử vong do các bệnh lý tim mạch và nhiễm trùng cấp giảm [41], [50]
Các nghiên cứu cho thấy ở nhóm người trưởng thành trên 40 tuổi, tỷ lệ COPD vừa và nặng là 5 đến 10,0% và nhẹ là 15 đến 20,0%; ở những người trên 70 tuổi, tỷ lệ COPD ở mức độ trung bình và nặng khoảng 20,0% ở nam