Kỹ năng Địa lí là phần không thể thiếu, trong đó có nhiều loại kỹ năng như: khai thác Atlat, vẽ lược đồ, vẽ biểu đồ, phân tích - nhận xét, tính toán qua bảng số liệu, biểu đồ và lược đồ.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT YÊN LẠC 2
=====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: NÂNG CAO KĨ NĂNG BIỂU ĐỒ VÀ NHẬN XÉT CHO HỌC SINH TRONG ÔN THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA MÔN ĐỊA LÍ
Tác giả sáng kiến: Phan Quốc Chinh
Mã sáng kiến: 28.58.03
Trang 2MỤC LỤC
Trang
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 3
9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 16
10 Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến 17
11 Danh sách tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến 18
Trang 3BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Để đạt được thành công trong công việc dạy học người giáo viên phải biết vận dụng một cách linh hoạt kiến thức, kỹ năng, biết liên hệ thực tế và một điều rất quan trọng là phải phù hợp với từng đối tượng học sinh, biết cách gây hứng thú đối với học sinh khi học tập
Địa lí là môn có tính đặc trưng riêng khác với các bộ môn học khác, nó là môn học vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội Đặc trưng của bộ môn chính là những khái niệm, quy luật, đặc điểm về sự vật, đối tượng, hiện tượng địa lí được thể hiện không chỉ trên kênh chữ mà còn bằng kênh hình, không chỉ riêng phần kiến thức lý thuyết mà còn có cả phần kỹ năng, trong đó phần kỹ năng của bộ môn Địa lí cực kỳ quan trọng trong học tập cũng như trong thi cử
Kỹ năng Địa lí là phần không thể thiếu, trong đó có nhiều loại kỹ năng như: khai thác Atlat, vẽ lược đồ, vẽ biểu đồ, phân tích - nhận xét, tính toán qua bảng số liệu, biểu đồ và lược đồ
Ở đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu, nghiên cứu phần kỹ năng vẽ biểu đồ và nhận xét trong chương trình Địa lí nói chung và bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng, đây là một phần vừa dễ lại vừa khó, dễ ở chỗ nếu nắm chắc được kỹ năng
vẽ biểu đồ và nhận xét thì làm bài sẽ đạt hiệu quả cao về tính chính xác, khoa học, thẩm mỹ còn nếu không nắm chắc thì học sinh thường không biết cách chọn biểu đồ và nếu có chọn đúng thì khi thể hiện không chính xác hoặc thiếu một số bước, một số nội dung trong biểu đồ và nhận xét
Tôi là giáo viên bộ môn Địa lí qua gần 20 năm giảng dạy tôi đã nhận thấy điều đó nên tôi đã lựa chọn đề tài này với mục đích:
- Thứ nhất: là củng cố thêm kĩ thuật dạy phần kỹ năng cho việc dạy học
của tôi nhằm đạt đạt kết quả cao hơn trong phần kỹ năng vẽ biểu đồ và nhận xét trong chương trình Địa lí nói chung và bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng
- Thứ hai: tôi mong muốn mình được đóng góp phần nào đó vào phương
pháp giảng dạy phần kỹ năng vẽ biểu đồ và nhận xét biểu đồ, bảng số liệu để việc dạy học môn Địa lí nói chung và dạy phần kỹ năng vẽ biểu đồ và nhận xét trong chương trình Địa lí nói riên đạt hiệu quả cao hơn
Trang 4Qua việc nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn rằng: các đồng nghiệp hãy đóng góp thêm ý kiến để việc dạy học bộ môn Địa lí nói chung và dạy phần kỹ năng biểu đồ và nhận xét nói riêng sẽ đạt hiệu quả cao hơn, học sinh sẽ tiếp thu bài và làm bài tập kỹ năng nhanh và tốt hơn
2 Tên sáng kiến
Nâng cao kĩ năng biểu đồ và nhận xét cho học sinh trong ôn thi trung học phổ thông Quốc gia môn Địa lí.
3 Tác giả sáng kiến
- Họ và tên: Phan Quốc Chinh
- Địa chỉ tác giả: Trường THPT Yên Lạc 2 - Yên Lạc - Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0965 512 559 Email: phanchinh.vp@gmail.com
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
Tác giả sáng kiến
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
- Sáng kiến có thể được sử dụng để ôn thi THPT Quốc gia và bồi dưỡng học sinh thi học sinh giỏi môn Địa lí
- Đề tài tạo ra hứng thú học tập cho học sinh, phát huy tính sáng tạo, độc lập suy nghĩ và tính tự chủ của học sinh, giúp các em có thể hoàn thành tốt kĩ năng vẽ biểu đồ và nhận xét
- Thông qua đề tài, thấy được phương pháp lựa chọn biểu đồ, đọc tên biểu
đồ đúng và cách vẽ một số loại biểu đồ; Cách lựa chọn nhận xét và nhận xét qua bảng số liệu và biểu đồ
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
Đề tài đã được dạy thực nghiệm từ tháng 09/2019 tại trường THPT Yên Lạc 2 trong một số buổi dạy bồi dưỡng cho học sinh ôn thi trung học phổ thông Quốc gia
7 Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1 Về nội dung của sáng kiến:
7.1.1 Kĩ năng biểu đồ:
a) Khái niệm:
Trang 5- Biểu đồ là các hình vẽ thể hiện các đối tượng, hiện tượng, sự vật địa lí
về tự nhiên, kinh tế - xã hội trong một thời gian nhất định
- Biểu đồ thể hiện kiến thức Địa lí bằng các hình vẽ giúp khái quát hoá các số liệu Địa lí trên đó
b) Vai trò của biểu đồ trong học tập và thi cử:
- Do là các hình vẽ nên khi dạy học giúp học sinh có thể dễ dàng hình tượng hoá các số liệu trong bài giúp học sinh dễ nhớ và khắc sâu hơn những kiến thức có liên quan đến biểu đồ
- Biểu đồ cung cấp cho học sinh những kiến thức Địa lí về tự nhiên, kinh
tế và xã hội, giúp minh hoạ cho các đối tượng, hiện tượng, sự vật Địa lí nhất định có liên quan đến kiến thức
- Kĩ năng biểu đồ giúp học sinh có thể khắc sâu phần kĩ năng, thể hiện các
số liệu trong biểu đổ, tổng hợp so sánh được những kiến thức qua các biểu đồ
- Giúp cho việc học tập của học sinh đạt kết quả cao hơn, trang bị cho học sinh các kĩ năng cần thiết để hoàn thành bất kỳ phần kĩ năng vẽ biểu đồ nào trong cả học tập và thi cử vì phần kĩ năng này giúp cho học sinh khắc sâu hơn, củng cố thêm cho phần kiến thức Địa lí
c) Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
- Việc học tập của học sinh thường rất ít chú ý đến kênh hình trong sách giáo khoa cũng như trong các tài liệu, vì vậy phần kĩ năng biểu đồ của học sinh
là rất yếu
- Trong khi kĩ năng biểu đồ là phần rất quan trọng trong học tập và thi cử đối với bộ môn Địa lí
d) Các biện pháp chọn và vẽ biểu đồ nhanh và đúng nhất:
- Kĩ năng biểu đồ là nội dung nằm trong học tập và thi cử của bộ môn Địa
lí, nó trang bị cho học sinh các kĩ năng cần thiết để nhận biết và hoàn thành phần
vẽ biểu đồ một cách đạt hiệu quả cao nhất
- Biểu đồ là phần kĩ năng rất đa dạng bao gồm nhiều loại biểu đồ khác nhau được tập hợp thành 3 nhóm chính: nhóm biểu đồ cơ cấu, nhóm biểu đồ so sánh, nhóm biểu đồ thể hiện sự tăng trưởng, phát triển, biến động,
- Trong 3 nhóm biểu đồ này có nhiều loại biểu đồ cơ bản như: biểu đồ hình tròn, biểu đồ hình vuông, biểu đồ hình cột (cột đơn, cột ghép, cột chồng),
Trang 6biểu đồ đường biểu diễn (đồ thị), biểu đồ kết hợp, biểu đồ miền, biểu đồ tam giác đều, biểu đồ thang ngang (tháp dấn số, cột đơn ngang),
* Các biểu đồ trong từng nhóm: phân chia ra các nhóm biểu đồ nhằm
giúp HS có thể lựa chọn biểu đồ nhanh và đúng:
- Nhóm biểu đồ cơ cấu:
+ Biểu đồ tròn (100% và 200%)
+ Biểu đồ miền
+ Biểu đồ hình vuông (*)
+ Biểu đồ tam giác (*)
- Nhóm biểu đồ tăng trưởng, phát triển, :
+ Biểu đồ cột đơn
+ Biểu đồ cột chồng
+ Biểu đồ đường biểu diễn
+ Biểu đồ kết hợp
+ Biểu đồ điểm rơi (*)
- Nhóm biểu đồ so sánh:
+ Biểu đồ cột ghép
+ Biểu đồ tròn 200%
+ Biểu đồ đường biểu diễn
+ Tháp dân số
+ Biểu đồ thang ngang (gần giống tháp dân số)
+ Biểu đồ điểm (*)
Lưu ý: - (*) là loại biểu đồ ít gặp và ít ra trong các đề thi.
- Có những loại biểu đồ có trong 2 nhóm (là những loại được gạch chân), đây là loại biểu đồ thể hiện cả 2 nội dung.
* Cách chọn biểu đồ nhanh và đúng:
- Nguyên tắc chung:
Các loại biểu đồ rất phong phú và đa dạng, một bảng số liệu có thể vẽ được rất nhiều loại biểu đồ, để chọn biểu đồ được nhanh và đúng ta cần:
Trang 7+ Thứ nhất, phải hiểu đặc điểm của từng loại biểu đồ vì mỗi loại biểu đồ lại có thể dùng để biểu hiện những mục đích khác nhau
+ Thứ hai, cần đọc kĩ và xác định đúng yêu cầu đề bài (vì đây là phần quan trọng nhất), sau đó mới xem xét bảng số liệu (bảng số liệu được xem như
là công cụ để hoàn thành phần yêu cầu)
- Cụ thể:
+ Căn cứ vào đặc điểm của các loại biểu đồ thuộc từng nhóm đã biết (bằng cách ghi nhớ, thuộc)
+ Căn cứ vào yêu cầu cụ thể của đề bài để xem yêu cầu là gì? yêu cầu của
đề thường được gắn liền với các nhóm biểu đồ đã nêu ở phần a) của mục 1.3 (yêu cầu thường có cụm từ: Tăng trưởng, biến động; Quy mô, cơ cấu; So sánh,
so sánh cơ cấu hay so sánh tốc độ tăng trưởng),…
+ Căn cứ vào bảng số liệu đã cho, trong bảng số liệu đã thể hiện các giá trị, đơn vị tuyệt đối hay tương đối, thời gian là bao nhiêu năm, các số liệu cụ thể như thế nào?,…
+ Theo góc độ nào đó thì bảng số liệu chỉ được xem như là công cụ để hoàn thành yêu cầu của đề bài Sự kết hợp đồng thời cả 3 căn cứ trên cho phép chúng ta xác định một cách nhanh chóng và chính xác loại biểu đồ Việc ghi nhớ
là quan trọng nhưng cái quan trọng hơn là vừa kết hợp vừa loại bỏ dần các loại biểu đồ không thích hợp để chọn loại biểu đồ thích hợp nhất theo yêu cầu
Ví dụ 1: Cho bảng số liệu sau:
Diện tích và độ che phủ rừng của nước ta giai đoạn 1943 - 2014
Năm
Diện tích có rừng (triệu ha) Độ che
phủ
(%)
Rừng tự nhiên Rừng trồng
Biểu đồ nào thích hợp nhất thể hiện sự biến động về diện tích, độ che phủ rừng ở nước ta từ năm 1943 đến 2014?
Trang 8Trong ví dụ này: ta chọn loại biểu đồ kết hợp giữa cột chồng và đường biểu diễn là đúng nhất vì nó vừa thể hiện tổng diện tích, các loại rừng trong tổng diện tích và độ tre phủ rừng qua các năm Vừa phù hợp với yêu cầu của đề bài
và vừa phù hợp với bảng số liệu, các loại khác không thích hợp
Ví dụ 2: Cho bảng số liệu sau:
Diện tích và độ che phủ rừng của nước ta giai đoạn 1943 - 2014
Năm
Diện tích có rừng (triệu ha) Độ che
phủ
(%)
Rừng tự nhiên Rừng trồng
Biểu đồ nào thích hợp nhất thể hiện tốc độ tăng trưởng về diện tích, độ che phủ rừng ở nước ta từ năm 1943 đến 2014?
Trong ví dụ này: ta chọn biểu đồ đường biểu diễn là thích hợp nhất vì loại biểu đồ này vừa thể hiện tốc độ tăng trưởng trong nhiều năm, vừa phù hợp với yêu cầu của đề bài
Lưu ý: Qua 2 ví dụ so sánh ở trên ta thấy cùng một bảng số liệu nhưng
yêu cầu khác nhau nên biểu đồ cũng khác nhau vì vậy ta phải căn cứ vào yêu cầu của đề bài, so sánh đặc điểm các loại, dạng biểu đồ; từ đó loại bỏ các loại biểu đồ không thích hợp để chọn loại, dạng biểu đồ thích hợp nhất
7.1.2 Kĩ năng với bảng số liệu và nhận xét:
a) Bảng số liệu:
- Bảng số liệu là phần cũng rất quan trọng, nó cũng giống như phần biểu
đồ, là những chỉ số thay đổi định lượng của các đối tượng, hiện tượng Địa lí về
tự nhiên, kinh tế - xã hội của một địa phương, một vùng, một nước, trong thời gian nhất định
- Phân loại: có 2 loại
+ Bảng số liệu đơn giản: chỉ thể hiện một giá trị trong nhiều thời gian hoặc trong một năm với nhiều giá trị (hoặc nhiều địa phương)
Trang 9+ Bảng số liệu phức tạp: thể hiện nhiều giá trị, nhiều địa phương diễn ra trong nhiều giai đoạn
=> Sự phân chia thành 2 loại này chủ yếu phục vụ cho phần nhận xét để tránh tình trạng nhận xét thiếu ý
b) Nhận xét:
- Nhận xét chung
- Nhận xét cụ thể:
+ So sánh cao/thấp giữa các giá trị cùng đơn vị (dẫn chứng số liệu cụ thể) + Tăng/giảm qua các năm, so sánh sự gia tăng khác nhau giữa các giá trị (dẫn chứng số liệu cụ thể)
Lưu ý:
- Cần chú ý đến những số liệu, giai đoạn đột biến
- Tuỳ theo bảng số liệu đơn giản hay phức tạp để nhận xét có một, hai hay nhiều ý
- Để phục vụ cho phần nhận xét có một số cách tính toán sau:
+ Tính giai đoạn, số năm (năm sau - năm trước)
+ Tính cơ cấu (thành phần muốn tính : tổng số x 100)
+ Tính tốc độ tăng trưởng (số liệu năm sau : số liệu năm đầu)
+ Tính số lần (số liệu năm muốn tính : số liệu năm đầu)
+ Tính trung bình (số tăng thêm : số năm),…
7.1.3 Hướng dẫn cách chọn, vẽ biểu đồ:
- Biểu đồ là một hình vẽ cho phép mô tả một cách dễ dàng động thái phát triển của một giá trị (hoặc động thái phát triển của 2 - 3 giá trị); So sánh tương quan về độ lớn của 1 giá trị (hoặc 2 - 3 giá trị); Thể hiện quy mô và cơ cấu thành phần trong 1 tổng thể Các loại biểu đồ rất phong phú và đa dạng, mỗi loại biểu
đồ lại có thể dùng để biểu hiện nhiều mục đích khác nhau
- Tuy vậy, bất kỳ một biểu đồ nào sau khi vẽ xong cũng cần phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
+ Tính chính xác, khoa học
+ Tính thẩm mỹ (rõ ràng, sạch, đẹp)
Trang 10+ Tính trực quan (đầy đủ nội dung: tên biểu đồ, kí hiệu và chú giải, đơn
vị, năm, số liệu)
Tên biểu đồ:
Biểu đồ thể hiện sự gia tăng dân số Việt Nam giai đoạn 2000 - 2016
Gia tăng dân số: là nội dung thể hiện của biểu đồ
Việt Nam: là địa điểm (không gian)
Năm 2000 đến 2016: là thời gian
Phần chú giải cho biểu đồ, yêu cầu thực hiện như sau:
Phần ghi chú phải theo phần vẽ của biểu đồ
Các kí hiệu cần sử dụng rõ ràng khác biệt nhau, các kí hiệu ở bảng chú giải phải tương ứng với kí hiệu thể hiện trong biểu đồ
Các nội dung cần ghi đối với các loại biểu đồ như sau:
Đối với biểu đồ đồ thị: trên trục tung ghi giá trị (số dân, sản lượng lúa, bình quân sản lượng lúa, diện tích,…) đơn vị tính (triệu người, triệu tấn, kg/người, nghìn ha,…) Trên trục hoành ghi năm, với đầy đủ các năm (có chia khoảng cách năm) Trên đường đồ thị, ứng với các năm, ghi các trị số của giá trị (có thể là số % hoặc là số tuyệt đối tuỳ theo số liệu trong yêu cầu đề bài)
Đối với biểu đồ cột, trên trục tung và trục hoành ghi tương tự như đối với biểu đồ đồ thị; trên đầu mỗi cột ghi số liệu của giá trị, số liệu trong cột nếu là cột chồng
Đối với biểu đồ hình tròn, trong mỗi diện tích hình quạt, ghi số liệu cho từng phần và đơn vị %; ví dụ: 56%, 32% , 27%,… ghi năm (vùng lãnh thổ) xuống dưới hình tròn (hoặc ghi % vào tên biểu đồ)
Đối với biểu đồ kết hợp, ta làm tương tự như đối với biểu đồ đồ thị và biểu đồ cột
Đối với biểu đồ miền, trên trục tung và trục hoành ghi tương tự như biểu
đồ đồ thị, trong mỗi miền ghi số liệu và đơn vị và giữa các miền cho tất cả các giá trị
Mỗi loại và dạng biểu đồ, quá trình thực hành chọn vẽ khác nhau, do vậy giáo viên phải hướng dẫn học sinh nắm chắc các thao tác và nguyên tắc chọn và
vẽ của từng loại, dạng biểu đồ
Trang 11a) Biểu đồ cột:
* Biểu đồ cột đơn: thể hiện 1 giá trị trong nhiều năm, hoặc một năm của nhiều giá trị (nhiều địa phương) Vẽ hệ trục tọa độ vuông góc, trục tung thường chia theo tỷ lệ tăng dần đều, trục hoành chia đúng tỉ lệ năm (nếu là loại biểu đồ nhiều năm), vẽ thường ở giá trị tuyệt đối
Bài tập: Dựa vào bảng số liệu:
Dân số Việt Nam giai đoạn 2005 - 2017
(Đơn vị: nghìn người)
Tổng số dân 82 392 84 291 86 025 87 860 89 760 91 713 93 672 Biểu đồ nào thích hợp nhất thể hiện dân số nước ta từ năm 2005 đến 2017?
* Biểu đồ cột nhóm (cột ghép): thể hiện từ 2 giá trị trở lên của một số năm hoặc một số vùng Vẽ hệ trục tọa độ vuông góc, trục tung thường chia theo tỷ lệ tăng dần đều, trục hoành chia đúng tỉ lệ năm (nếu là năm) còn là vùng lãnh thổ chia đều nhau để đảm bảo tính thẩm mỹ, vẽ thường là giá trị tuyệt đối, gộp từ 2 giá trị (2 vùng lãnh thổ) trở lên trong một năm lại làm một nhóm, (năm thứ nhất
là nhóm thứ nhất, năm thứ hai là nhóm thứ hai,…)
Bài tập: Dựa vào bảng số liệu:
Sản lượng thủy sản của Bắc Trung Bộ giai đoạn 2000 - 2015
(Đơn vị: nghìn tấn)
Năm
Biểu đồ nào thích hợp nhất so sánh sản lượng thuỷ sản đánh bắt với sản lượng nuôi trồng của Bắc Trung Bộ giai đoạn 2000 - 2015?
* Biểu đồ cột chồng: thường thể hiện giá trị tuyệt đối, thể hiện tổng số và các thành phần trong tổng và so sánh tổng thể đó qua nhiều năm Vẽ hệ trục tọa
độ vuông góc, trục tung thường chia theo tỷ lệ tăng dần đều, trục hoành chia đúng tỉ lệ năm (nếu là loại biểu đồ nhiều năm)