1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề lý thuyết liên quan đến định giá cổ phiếu

109 528 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Lý Thuyết Liên Quan Đến Định Giá Cổ Phiếu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 551,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc định giá doanh nghiệp không chỉ đơn giản là lấy tổng giá trị tài sản doanh nghiệp đã được kiểm kê, đánh giá để xác định giá trị của doanh nghiệp, mà còn phải xuất phát từ yêu cầu củ

Trang 1

Những vấn đề lý thuyết liên quan đến định giá cổ phiếu

1 Khái niệm bản chất và vai trò của định giá cổ phiếu

1.1 Khái niệm về định giá cổ phiếu

Định giá cổ phiếu thực chất là quá trình xác định giá trị thực hay giá trị kinh tế doanh nghiệp là công ty cổ phần để từ đó xác định giá trị của cổ phần mà đại diện cho nó là cổ phiếu.

1.2 Bản chất của định giá cổ phiếu

Định giá cổ phiếu thực chất là quá Chương I: Những vấn đề lý thuyết

liên quan đến định giá cổ phiếu

1 Khái niệm bản chất và vai trò của định giá cổ phiếu

1.1 Khái niệm về định giá cổ phiếu

Định giá cổ phiếu thực chất là quá trình xác định giá trị thực hay giá trị kinh tế doanh nghiệp là công ty cổ phần để từ đó xác định giá trị của cổ phần mà đại diện cho nó là cổ phiếu.

1.2 Bản chất của định giá cổ phiếu

Định giá cổ phiếu thực chất là quá trình xác định giá trị doanh nghiệp là công ty cổ phần để từ đó xác định giá trị của của cổ phần mà đại diện cho nó là cổ phiếu Việc định giá trị doanh nghiệp nhằm mục đích đưa doanh nghiệp ra trao đổi, mua bán dưới một hình thức nào đó Do vậy, doanh nghiệp cũng được coi như hàng hoá, có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng Tuy nhiên, doanh nghiệp là một loại hàng hoá đặc biệt vì doanh nghiệp là một hệ thống phức tạp của nhiều yếu tố cấu thành và các mối quan hệ giữa các yếu tố đó Có những yếu tố vật chất như các tài sản hữu hình song cũng có những yếu tố phi vật chất như tài sản vô hình Giá trị của các yếu tố cấu thành tài sản của doanh nghiệp lại luôn thay đổi theo thời gian Hơn nữa, mỗi doanh nghiệp lại có những đặc thù riêng do vậy giữa

Trang 2

các doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể Chính vì vậy, giá trị của doanh nghiệp cũng chỉ là mức giá cá biệt Việc định giá doanh nghiệp không chỉ đơn giản là lấy tổng giá trị tài sản doanh nghiệp đã được kiểm kê, đánh giá để xác định giá trị của doanh nghiệp, mà còn phải xuất phát từ yêu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hoá như một quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, đặc biệt là quy luật lợi nhuận của nền kinh tế thi trường.

Thông thường giá trị doanh nghiệp gồm 3 bộ phận chính: Giá trị tài sản của doanh nghiệp; giá trị đất doanh nghiệp sử dụng; giá trị các yếu tố làm tăng giá trị như địa điểm, uy tín, tiếng tăm của doanh nghiệp.

Đối với người đầu tư, họ xác định giá cổ phiếu không chỉ dựa vào giá trị tài sản hiện hành công ty sở hữu mà quan trọng hơn chính là khả năng thu lợi nhuận trong tương lai Khả năng này không chỉ phụ thuộc vào khả năng thu lợi nhuận trong quá khứ và hiện tại của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như lợi thế thương mại, uy tín doanh nghiệp, bí quyết kinh doanh, ngành nghề kinh doanh và khả năng mở rộng thị trường, sự tác động của các chính sách kinh tế nhà nước đối với ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai.

Những vấn đề nêu trên là những căn cứ khách quan để xem xét định giá doanh nghiệp từ đó xác định giá trị cổ phiếu Xác định giá trị cổ phiếu là phải xem xét toàn diện các yếu tố cấu thành giá trị doanh nghiệp Đó là giá trị các tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp Những giá trị của doanh nghiệp muốn được xã hội thừa nhận cần phải được thông qua trao đổi, tức là mức giá

mà cả người mua và người bán đều chấp nhận được.

Định giá tài sản đáp ứng yêu cầu tính toán, xác định sự thay đổi về mặt giá trị của thực thể tại một thời điểm nhất định, đây được xem như là quá trình ước tính khoản tiền mà người mua sẵn sàng chi trả để họ có quyền sở hữu và thu lợi ở

Trang 3

một thực thể nhất định, và ngược lại cũng là sự ước tính khoản tiền thu được của người bán khi bán thực thể đó

Trong nền kinh tế thị trường, các thực thể kinh doanh cũng trở thành hàng hoá, do đó việc định giá trị tài sản là căn cứ quan trọng để xác định giá trị doanh nghiệp cũng như giá trị

cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, đây cũng chính là mối quan tâm hàng đầu của cả các chủ thể phát hành chứng khoán và công chúng đầu tư.

Trong điều kiện của Việt nam, đang thực hiện quá trình chuyển đổi nền kinh

tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước thì việc định giá doanh nghiệp có một vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới, cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước ở nước ta, nhất là việc trong việc thực hiện chủ trương cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi thị trường chứng khoán Việt nam mới mở cửa hoạt động thì vai trò của việc định giá doanh nghiệp hay định giá cổ phiếu lại càng quan trọng Điều này sẽ giúp tạo ra sự công bằng thông qua việc người mua và người bán đều đánh giá đúng giá trị của cổ phiếu mà mình mua bán, từ đó có thể đưa ra quyết định giao dịch có cơ sở Đến lượt nó, việc đảm bảo cân bằng quyền lợi cho người mua và người bán sẽ giúp cho hoạt động của thị trường chứng khoán ổn định và phát triển bền vững Mặt khác, thông qua việc xác định mức giá thị trường hợp lý, các nhà quản lý thị trường có cơ sở để đưa ra các quyết định quản lý đúng đắn nhằm đảm bảo cho thị trường hoạt động hiệu quả và

an toàn.

1.3 Vai trò của định giá cổ phiếu

Xét ở góc độ chủ thể phát hành, vai trò của việc định giá cổ phiếu thể hiện rất rõ

nét Thông qua việc xác định giá cổ phiếu, các chủ thể phát hành có thể định ra được mức giá hợp lý nhằm đảm bảo người đầu tư sẵn sàng chấp nhận mức giá đó; đồng thời doanh nghiệp cũng không bị thua thiệt do cổ phiếu bị định giá thấp Điều này bảo đảm sự thành công của đợt phát hành trên thị trường sơ cấp, đồng

Trang 4

thời cũng đảm bảo tính thanh khoản cho cổ phiếu khi được giao dịch trên thị trường thứ cấp Trên thực tế, hoạt động định giá cổ phiếu hiện nay ở Việt nam còn nhiều bất cập, khung khổ pháp lý chưa hoàn thiện, đặc biệt là chính sách chế độ về tài chính kế toán, các phương pháp áp dụng nghèo nàn, thiếu các tổ chức tài chính hoạt động chuyên nghiệp về lĩnh vực này gây nên những khó khăn nhất định trong việc định giá và chính điều này là một trong những cản trở trong quá trình

cổ phần hoá các DNNN và hạn chế việc phát hành chứng khoán ra công chúng của các chủ thể phát hành

Đối với người đầu tư, cổ phiếu là một phương tiện có khả năng thu lợi nhuận

cao, nhưng cũng có thể gặp rủi ro lớn Để đi đến quyết định đầu tư đúng đắn đòi hỏi phải có sự lựa chọn loại cổ phiếu thích hợp về giá cả và có mức độ rủi ro mà người đầu tư có thể chấp nhận được Nếu rủi ro càng lớn thì yêu cầu lợi suất đầu

tư càng phải cao và do đó giá cổ phiếu phải càng thấp Vì lẽ đó người đầu tư cần phải tiến hành định giá cổ phiếu để xác định mức giá và độ rủi ro của cổ phiếu đó

có phù hợp với nhau và phù hợp với sở thích của người đầu tư Nếu như người đầu tư có thể đánh giá đúng cổ phiếu của công ty thì người đó sẽ thu được mức lợi suất đầu tư mong muốn

Về phía các cơ quan quản lý nhà nước đối với thị trường tài chính và hệ thống

doanh nghiệp, việc nắm được các phương pháp và kỹ năng định giá cổ phần/ cổ phiếu sẽ giúp cho các cơ quan này đánh giá được thực trạng giá cả các tài sản tài chính trên thị trường Từ đó sẽ có những chính sách và biện pháp hợp lý để điều chỉnh thị trường trên cả tầm vĩ mô lẫn vi mô

Đới với các công ty chứng khoán

Đối với các hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán, để ra quyết định đầu tư thì nhà đầu tư luôn phải cân nhắc giữa giá thị trường và giá trị thực của chứng khoán, quyết định mua khi giá thị trường thấp hơn giá trị thực và quyết

Trang 5

định bán khi giá thị trường cao hơn giá trị thực Giá trị thực của chứng khoán thường được xác định bằng cách định giá, không chỉ được sử dụng cho việc ra quyết định đầu tư mà còn phục vụ cho việc phát hành, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư, tư vấn hợp nhất, sát nhập doanh nghiệp Trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, giao dịch cổ phiếu chiếm tới 89% giá trị giao dịch toàn thị trường, định giá cổ phiếu đối với công ty chứng khoán có những lợi ích sau đây:

- Cung cấp thông tin định lượng cần thiết cho nhà đầu tư cá nhân, qua đó làm tốt nghiệp vụ tư vấn đầu tư, thu hút thêm nhiều nhà đầu tư cá nhân trong nước và nước ngoài, qua đó tăng giá trị giao dịch toàn thị trường và thúc đẩy thị trường phát triển sôi động.

- Hoàn thiện qua trình ra quyết định đầu tư tự doanh và đầu tư danh mục, nâng cao gia trị giao dịch và hiệu quả đầu tư, thu hút thêm nhiều nhà đầu tư có tổ choc để quản lý danh mục đầu tư.

- Đẩy mạnh nghiệp vụ phát hành mới và bảo lãnh phát hành của công ty chứng khoán, tăng lượng hàng hoá cho thị trường, thúc đẩy sự tham giá của các công ty cổ phần mới vào thị trường giao dịch tập trung để huy động vốn, thúc đẩy

sự ra đời của các công ty cổ phần mới để huy động vốn trên thị trường thứ cấp.

Có cơ sở để so sánh các hàng hoá khác nhau, tạo cạnh tranh trên thị trường, qua đó thúc đẩy công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và có sự lựa chọn những doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả vào danh sách cổ phần hoá.

Đẩy mạnh việc chuyển đổi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành công ty cổ phần và thổi luồng sinh khí mới vào thị trường chứng khoán Việt Nam khi Chính phủ có văn bản cho phép định hướng này

Nói một cách tổng quát, việc định giá được quy định trong các trường hợp khác nhau và với các mục đích khác nhau sẽ gây ảnh hưởng tới kết quả thu được

Trang 6

và việc lựa chọn các phương pháp áp dụng Tuy nhiên, việc định giá thường được tiến hành theo một số mục đích chính sau đây:

- Hỗ trợ người mua trong việc xác định mức độ sẵn sàng chấp nhận mua;

- Hỗ trợ người bán trong việc xem xét giá bán;

- Đóng vai trò như quan toà trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên;

- Hỗ trợ người cho vay trong việc định lượng chứng khoán thế chấp đối với một khoản vay;

- Hình thành giá trị liên quan đến các điều khoản trong luật pháp, như nhằm mục đích tính thuế trước bạ;

- Định lượng giá trị đưa vào các báo cáo kế toán;

- Hỗ trợ nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ kiện tụng;

- Đánh giá một khiếu nại về hậu quả tổn thất;

- Xác định giá trị theo hợp đồng hoặc các điều khoản trong Điều lệ công ty;

- Xác định nghĩa vụ thuế lãi vốn hoặc tổn thất;

- Thực hiện việc đánh giá độc lập về một công ty đại chúng phục vụ cho việc thâu tóm hoặc cơ cấu lại theo Luật Công ty, hoặc theo các quy định niêm yết của

cơ quan quản lý thị trường chứng khoán.

Tóm lại, việc định giá cổ phiếu có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau và có các giá trị tương ứng khác nhau Song dù nhìn nhận dưới góc độ nào, mỗi cách xác định giá trị cổ phiếu bao giờ cũng liên quan đến lợi ích của người mua, người bán trên thị trường Vì vậy việc xem xét, lựa chọn một cách đánh giá

cổ phiếu theo phương pháp phù hợp, thoả mãn lợi ích của người mua và người bán trên thị trường là một thực tế không thể bỏ qua.

2 Phương pháp luận trong việc định giá cổ phiếu

Trang 7

2.1 Các khái niệm về giá trị liên quan đến việc định giá cổ phiếu

Quá trình hoạt động của công ty sẽ sinh ra một luồng thu nhập cho cổ đông của công ty và luồng thu nhập này sẽ quyết định giá trị kinh tế qua đó thể hiện sự thành công hay thất bại của hoạt động sản xuất kinh doanh và được phản ánh vào giá cổ phiếu của công ty Tuy nhiên trên thực tế giá trị được xác định bằng nhiều cách khác nhau và do đó sẽ có những khái niệm khác nhau về giá trị Chẳng hạn,

có những giá trị được hình thành từ sổ sách kế toán, có giá trị được hình thành từ luồng thu nhập như nêu trên đây hoặc giá trị được hình thành từ quy luật cung- cầu của thị trường Trong từng trường hợp, giá trị được phân tích đánh giá căn

cứ vào một số điều kiện cụ thể và không nhất thiết chỉ căn cứ vào các chiến lược

và hiệu quả kinh doanh của công ty.

Để hiểu rõ các khái niệm về giá trị và vận dụng chúng một cách thích hợp vào mục đích phân tích trong quá trình định giá, ta có thể xem xét một số khái niệm cơ bản nhất sau đây:

Giá trị kinh tế

Khái niệm giá trị kinh tế liên quan đến công dụng chủ yếu của một tài sản trong việc tạo ra luồng thu nhập sau thuế cho người nắm giữ tài sản đó Những luồng thu nhập này có được từ thu nhập hay các khoản thanh toán theo hợp đồng, hay thanh lý một phần hoặc toàn bộ vào một thời điểm trong tương lai Giá trị kinh tế chính là một khái niệm lựa chọn luồng thu nhập Giá trị của một hàng hoá được định nghĩa là số tiền mà người mua sẵn sàng trả theo giá trị hiện tại của nó

để có được luồng thu nhập dự tính trong tương lai Do vậy, giá trị kinh tế là một khái niệm hướng về tương lai Nó được xác định thông qua việc đánh giá luồng thu nhập tiềm năng trong tương lai, kể cả số tiền thu được từ lần thanh lý hàng hoá cuối cùng ở đây, các chi phí phát sinh do quyết định trước đây là chi phí chìm

Trang 8

và do vậy không liên quan đến việc ước tính luồng thu nhập trong tương lai nếu xét từ góc độ kinh tế.

Giá trị kinh tế làm cơ sở cho một khái niệm giá trị thông thường khác bởi vì

nó dựa trên logic lựa chọn hoàn toàn tất yếu trong quá trình đầu tư tiền bạc Tuy nhiên việc tính toán giá trị kinh tế trên thực tế sẽ rất phức tạp vì chúng ta cần phải lựa chọn và áp dụng một tỷ lệ chiết khấu đại diện (lợi nhuận tiêu chuẩn) khi tính giá trị hiện tại của luồng thu nhập và luồng thu nhập dương trong một thời gian nhất định Những luồng thu nhập này còn bao gồm cả giá trị giả định cuối cùng về lượng tiền có khả năng thu hồi hoặc mọi giá trị hiện thực tại điểm phân tích cuối cùng Quá trình này thực tế quyết định sự cân bằng của luồng thu nhập trong toàn bộ những khoản thời gian khác nhau.

Mặt khác, việc đánh giá rủi ro của một công ty được dựa trên các đặc điểm tương đối của công ty, do vậy giá trị kinh tế không phải là tuyệt đối; nó chỉ là kết quả của việc đánh giá rủi ro tương đối dự tính trong tương lai Trên thực tế, giá trị kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với mức độ chấp nhận rủi ro của mỗi cá nhân.

Do đó, giá trị kinh tế đóng vai trò chủ chốt trong việc đưa ra quyết định đầu tư của mỗi người.

Giá trị thị trường

Giá trị thị trường còn được gọi là giá trị thị trường công bằng, đây là giá trị của một tài sản hay tập hợp tài sản khi giao dịch trên thị trường có tổ chức hoặc giữa các bên cá nhân trong một giao dịch tự nguyện Thị trường có tổ chức sẽ giúp người mua và người bán định ra giá trị thị trường phù hợp cho tất cả các loại tài sản hữu hình và vô hình Giá trị thị trường tất nhiên cũng được hình thành thông qua các giao dịch giữa các bên cá nhân khi không có thị trường có tổ chức.

Một lần nữa, giá trị thị trường cũng không phải là giá trị tuyệt đối mà là một thoả thuận nhất thời giữa hai hay nhiều bên Theo một nghĩa nào đó thì các

Trang 9

bên giao dịch sẽ điều chỉnh các đánh giá cá nhân tương ứng đối với giá trị kinh tế của tài sản đủ để đi đến sự nhất trí Do vậy, giá trị thị trường của cổ phiếu vào một thời điểm nhất định có thể phụ thuộc vào sự ưa thích và thậm chí là quan điểm của các cá nhân liên quan, xu hướng tâm lý phổ biến trên sở giao dịch có tổ chức, độ gay cấn của cuộc chiến giành quyền thâu tóm, các biến đổi về kinh tế, phát triển công nghiệp, điều kiện kinh tế chính trị Hơn nữa, khối lượng tài sản và chứng khoán giao dịch hiện tại sẽ ảnh hưởng tới giá trị do người mua và người bán định ra.

Giá trị thị trường mặc dù có khả năng biến động nhưng nói chung vẫn được coi là một tiêu chuẩn hợp lý để đánh giá giá trị hiện tại của từng tài sản có và tài sản nợ ghi trong bảng cân đối kế toán Giá trị thị trường còn thường được dùng

để đánh giá hàng tồn kho và để phân tích vốn đầu tư dưới dạng các giá trị thu hồi trong tương lai Việc sáp nhập và thâu tóm các công ty đang hoạt động cũng dựa trên giá trị thị trường do các bên đặt ra.

Cũng giống như giá trị kinh tế, việc thiết lập giá trị thị trường cũng gặp phải những trở ngại thực tế Một giá trị thị trường đích thực chỉ có thể xác định được khi thực sự tham gia vào một giao dịch Bởi vậy, trừ khi hàng hoá được mua bán trên thực tế, mọi giá trị thị trường còn lại chỉ mang tính ước lượng và có thể

dễ dàng thay đổi theo điều kiện và nhận thức của mỗi bên.

Nhưng ngay cả khi giá trị thị trường được niêm yết sẵn thì vẫn có thể có những điều chỉnh nhất định Ví dụ các cổ phiếu phổ thông phổ biến tại các sở giao dịch lớn được yết giá công khai trên thị trường, nhưng thường sẽ phải chịu những biến động giá cả quan trọng thậm chí là trong một ngày giao dịch Do đó, giá trị thị trường căn cứ vào các giao dịch cùng loại chỉ có thể biến động trong một giới hạn nhất định gắn với các điều kiện giao dịch theo ngày, theo tuần hay theo tháng.

Trang 10

Đối với hàng hoá không được giao dịch thường xuyên, việc đánh giá giá trị giao dịch thực tế sẽ trở nên khó khăn hơn.

Giá trị sổ sách

Giá trị sổ sách của một tài sản có hay tài sản nợ là giá trị ghi trong bảng cân đối kế toán theo nguyên tắc kế toán được chấp nhận ở mỗi nước Giá trị sổ sách chủ yếu phục vụ cho mục đích kế toán chứ không phải là giá trị kinh tế hiện hành Giá trị sổ sách là một giá trị có tính lịch sử mà vào một thời điểm nhất định nào đó

nó có thể được đánh giá lại để thể hiện giá trị thị trường Tuy nhiên, vì giá trị thị trường luôn thay đổi theo thời gian và những biến động của điều kiện kinh tế, do vậy, giá trị sổ sách và giá trị thị trường sẽ hầu như không đồng nhất Thực tế này rất đúng đối với cổ phiếu phổ thông được giao dịch theo giá trị thị trường và giá trị này thường khác xa so với giá trị ghi sổ Sở dĩ có sự khác biệt trên là vì giá trị

sổ sách được xác định từ bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán được chuẩn bị vào ngày cụ thể, ghi chép các loại và số lượng các tài sản có được sử dụng cho hoạt động kinh doanh (tức là các khoản vốn đã cam kết) và các tài sản nợ đối ứng huy động của người cho vay và các chủ

sở hữu (tức là các khoản vốn đã huy động được) Cũng có thể gọi là bản báo cáo điều kiện tài chính hoặc bản báo cáo tình hình tài chính, bản này luôn phải cân đối bởi vì giá trị ghi sổ của toàn bộ các tài sản đã được đầu tư vào hoạt động kinh doanh tại một thời điểm nào đó phải cân đối một cách chính xác với các khoản nợ

đã vào sổ và các khoản vốn cổ phần của các chủ sở hữu là nguồn gốc của các tài sản này Các khoản nợ này là các nghĩa vụ cụ thể thể hiện các trái quyền đối với tài sản của doanh nghiệp, được xếp hạng cao hơn các cổ đông trong thứ tự ưu tiên thanh toán Vốn cổ phần của các cổ đông đã được ghi sổ thể hiện quyền của cổ đông đối với phần tài sản còn lại sau khi đã trừ đi tất cả các khoản nợ Một bảng cân đối kế toán tổng quát nhất được thể hiện như sau:

Trang 11

Bảng cân đối kế toán (Ngày / / )

Các loại tài sản có chủ yếu hoặc các khoản vốn đã cam kết gồm:

- Các tài sản lưu động (các khoản mục này quay vòng trong trường hợp kinh doanh bình thường trong một khoản thời gian tương đối ngắn như tiền mặt, các chứng khoán dễ chuyển đổi sang tiền mặt, các khoản phải thu và hàng tồn kho).

- Tài sản cố định (gồm có đất đai, các nguồn khoáng sản, nhà cửa, thiết bị, máy móc và các phương tiện vận chuyển).

- Các tài sản khác như các khoản tiền gửi, các bằng sáng chế và các tài sản vô hình khác, kể cả giá trị lợi thế phát sinh khi thâu tóm công ty.

Các nguồn vốn nợ và tài sản ròng chủ yếu bao gồm:

- Các khoản nợ ngắn hạn là nghĩa vụ đối với nhà cung cấp, cơ quan thuế vụ, người lao động và người cho vay trong vòng một năm.

- Các khoản nợ dài hạn bao gồm các công cụ nợ có thời hạn hoàn trả trên một năm như trái phiếu, các khoản cho vay và các khoản thế chấp.

- Vốn cổ phần của chủ sở hữu bao gồm số vốn ròng do các loại chủ sở hữu đóng góp cũng như các khoản thu nhập tích luỹ được giữ lại trong doanh nghiệp sau khi chi trả cổ tức.

Trang 12

Bảng cân đối kế toán là các hình ảnh sao chụp dạng tĩnh phản ánh các điều kiện tại thời điểm lập bảng Các số liệu này cũng mang tính chất tích luỹ vì nó trình bày các kết quả của tất cả các quyết định và các giao dịch được thực hiện kết

từ khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động và được tính toán cho đến thời điểm chuẩn bị báo cáo.

Như chúng ta đã thấy trên đây, các quy định kế toán tài chính quy định rằng tất cả các giao dịch phải được hạch toán theo chi phí và giá trị tại thời điểm hiện thời, và những điều chỉnh về sau giá trị ghi sổ chỉ được thực hiện trong những trường hợp hạn hữu Do vậy, bảng cân đối kế toán (số liệu được tính luỹ) diễn giải các tài sản và các khoản nợ đã mua hoặc phải thực hiện trong những thời gian khác nhau Do các giá trị kinh tế hiện thời của các tài sản có thể thay đổi, đặc biệt trong trường hợp những khoản mục dài hạn (như nhà cửa, máy móc) hoặc các nguồn vốn (như đất đai, khoáng sản), các chi phí được phản ánh trong bảng cân đối kế toán có thể không phản ánh các giá trị kinh tế thực sự Hơn nữa, những thay đổi về giá trị của tiền tệ dùng để hạch toán các giao dịch có thể bóp méo bảng cân đối kết toán theo thời gian.

Cuối cùng, vì giá trị sổ sách của vốn cổ phần là phần chênh lệch giữa tổng tài sản có và vốn nợ nên giá trị này cũng chỉ thể hiện giá trị kế toán chứ không phải là giá trị kinh tế hiện thời Thường có sự khác nhau hoàn toàn giữa giá trị còn lại này với giá trị kinh tế hiện thời của doanh nghiệp được phản ánh trên giá

cổ phiếu hoặc trong việc định giá khi mua bán doanh nghiệp Thực tế, cổ phần của các công ty hoạt động có hiệu quả được mua bán theo các mức giá cao hơn nhiều

so với giá trị ghi sổ của nó.

Từ thực tế trên cho thấy giá trị sổ sách trong nhiều trường hợp chỉ nên dùng để tham khảo chứ không có giá trị phân tích kinh tế để xác định giá trị thị trường của công ty.

Trang 13

Giá trị tái sinh

Đây là chi phí bắt buộc để thay thế một tài sản cố định hiện tại cùng loại Nói cách khác, đây chính là chi phí thay thế máy móc, thiết bị hoặc các tài sản cùng loại khác Trên thực tế, giá trị tái sinh là một trong những thước đo dùng để điều chỉnh giá trị tài sản của một doanh nghiệp đang hoạt động Xác định giá trị tái sinh là một ước tính chủ yếu dựa trên những thay đổi về mặt kỹ thuật.

Giá trị tái sinh liên quan đến việc liệu tài sản cố định có thể được tái sinh hoàn toàn giống như ban đầu hay không Cùng với hao mòn vật chất, phần lớn mọi tài sản hữu hình sản xuất theo công nghệ theo thời gian đều trở nên lỗi thời Đồng thời còn có vấn đề đánh giá các chi phí thực tế phục vụ cho việc tái sinh tài sản cùng loại Còn trong phân tích, giá trị tái sinh thường là tiêu chuẩn để đánh giá giá trị thị trường của tài sản của một doanh nghiệp đang hoạt động.

Giá trị đảm bảo

Đây là giá trị của một tài sản dùng để đảm bảo cho một khoản vay hay các loại tín dụng khác Giá trị đảm bảo nói chung được coi như mức giá trị tín dụng lớn nhất dùng để đánh giá tài sản cầm cố Khi có vật đảm bảo trong tay, các chủ

nợ thường định giá giá trị đảm bảo thấp hơn giá trị thị trường của tài sản đó Như vậy sẽ tạo ra sự an toàn trong trường hợp mất khả năng thanh toán còn mức rủi ro đối với chủ nợ sẽ quyết định mức độ điều chỉnh giảm bớt tuỳ ý Khi giá trị thị trường chưa được hình thành, giá trị đảm bảo được xác định hoàn toàn trên

cơ sở đánh giá, thì chủ nợ sẽ cho phép duy trì một biên độ an toàn đủ lớn phù hợp trong từng trường hợp cụ thể.

Giá trị sau khấu hao

Nói chung, các nguyên tắc và thông lệ kế toán được chấp nhận quy định rằng giá trị của một tài sản hao mòn phải được giảm dần một cách hệ thống và bằng giá trị thực ròng sau quãng đời hoạt động của nó Giá trị giảm này được gọi

Trang 14

là mức khấu hao hoặc giảm giá, thường được quy định phải tính theo lợi nhuận trong suốt những giai đoạn kế toán sử dụng tài sản Giá trị sau khấu hao bằng giá trị sổ sách của một tài sản trừ đi tổng mức khấu hao hoặc giảm giá đã được xác định Vì là giá trị sổ sách nên phản ánh giá thị trường khi bán tài sản hoặc mức chi phí bỏ ra để thay thế tài sản.

Giá trị thẩm định

Giá trị thẩm định được xác định và sử dụng một cách chủ quan khi tài sản liên quan không có giá trị thị trường rõ ràng Người ta thường lấy giá giao dịch phù hợp để so sánh với tài sản được thẩm định Giá trị thẩm định thường được dùng trong các giao dịch có quy mô đáng kể, đặc biệt là đối với bất động sản có tính chất thương mại hay đất đai, giá trị thẩm định được xác định bởi một giám định viên công bằng được hai bên tham gia chấp thuận, đó là người có kiến thức

về giám định các loại tài sản liên quan giúp người mua và người bán tìm ra được mức giá hợp lý, hay ít nhất là đề ra mức độ mặc cả Chất lượng đánh giá phụ thuộc vào khả năng giám định và so sánh với các trường hợp trước đó Một lần nữa, khả năng và đánh giá của cá nhân góp phần làm cân bằng giá trị Hiếm khi những lần thẩm định khác nhau lại có cùng kết quả.

Giá trị hoạt động liên tục

Giá trị hoạt động liên tục là giá trị của một doanh nghiệp đang hoạt động hoặc giá trị của tài sản “đang sử dụng” Khái niệm giá trị hoạt động liên tục thường gặp khi định giá nhà xưởng và thiết bị và thường kết hợp với một yếu tố thu nhập vốn hoá Ví dụ, trong thời kỳ lạm phát cao, giá trị hoạt động liên tục của nhà xưởng và thiết bị có thể vượt quá giá trị sổ sách của chúng rất nhiều Giá trị hoạt động liên tục nói chung thường cao hơn giá trị có thể thực hiện nếu bán tài sản thông qua đấu giá công khai.

Giá trị cổ phần

Trang 15

Như đã trình bày ở trên, giá trị cổ phần được hình thành khi lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh hiện tại và trong tương lai vượt quá chi tiêu về tài sản của công ty Đó là toàn bộ mức tăng về giá trị kinh tế của doanh nghiệp phản ánh trong tổng cổ tức tăng định kỳ được tính bằng tổng cổ tức cộng với lãi hay lỗ Giá trị cổ phần liên quan chặt chẽ với các luồng thu nhập và lợi nhuận dự tính làm cơ

sở cho giá trị kinh tế.

Giá trị thanh lý

Trong trường hợp một doanh nghiệp giải thể hoạt động, thường có ít thời gian để bán tài sản Nhu cầu bán tài sản trong một khoảng thời gian ngắn thường dẫn tới việc không thu hồi được toàn bộ giá trị tài sản so với trường hợp nếu doanh nghiệp có nhiều thời gian để bán tài sản hơn Giá trị thấp này được coi là giá trị thanh lý hoặc giải thể và gần bằng giá trị có thể thu được nếu bán tài sản thông qua đấu giá công khai.

Giá trị đặc biệt

Giá trị đặc biệt là giá trị phụ thêm mà một người mua sẵn sàng trả, phản ánh các nhân tố như quy mô kinh tế, tiềm năng phát triển, khả năng cạnh tranh, đảm bảo một nguồn cung hoặc tiêu thụ cho sản phẩm, và giá trị phụ này là đánh giá của riêng người mua đó Việc tồn tại giá trị đặc biệt này có nghĩa là người mua đó sẵn sàng trả thêm một khoản đáng kể cao hơn giá trị mà những người mua khác sẵn sàng trả.

2.2 Những nguyên tắc cơ bản trong định giá cổ phiếu

2.2.1 Cơ sở định giá cổ phiếu

Giá trị của một công ty được xác định bằng nguồn lợi nhuận mà công ty đem lại hàng năm cho tất cả những người chủ sở hữu công ty Hay nói cách khác,

cổ phiếu phổ thông mang lại cho người sở hữu một nguồn thu nhập tại các thời

Trang 16

điểm khác nhau trong tương lai như: cổ tức (được chia định kỳ hoặc không cố định); giá trị cổ phiếu khi người sở hữu bán cổ phiếu đó đi Nói tóm lại, cổ phiếu đem lại cho người sở hữu một dòng thu nhập trong tương lai.

Do tiền có giá trị về mặt thời gian, cho nên mỗi đồng tiền ở mỗi thời điểm khác nhau sẽ đem lại một giá trị khác nhau Vì vậy, để xác định giá trị cổ phiếu tại một thời điểm nào đó, người ta phải xác định được giá trị luồng thu nhập mà cổ phiếu đó (hoặc công ty đó) đem lại ở các thời điểm khác nhau và quy chúng về cùng thời điểm cần định giá Việc quy đổi này luôn tuân theo nguyên tắc chung là một đồng của ngày hôm nay luôn có giá trị hơn một đồng của ngày mai do tính chất sinh lợi của đồng tiền như sau:

Ngày hôm nay, người đầu tư bỏ ra một đồng để tiết kiệm với lãi suất r thì sau một năm khoản tiền trên có giá trị bằng 1(1+r) Như vậy, giá trị sau một năm của một đồng sẽ là (1+r) đồng Nếu làm phép tính ngược lại thì nếu người đầu tư muốn có được một khoản tiền M 1 = (1+r) đồng sau đây một năm thì ngày hôm nay, người đó phải gửi tiết kiệm một khoản M 1 /(1+r) = (1+r)/(1+r) = 1 đồng Đây chính là nguyên lý cơ bản để xác định giá trị luồng thu nhập theo thời gian Do vậy, việc xác định giá trị cổ phiếu được dựa trên nguyên tắc xác định giá trị đồng tiền theo thời gian như sau:

Xác định giá trị tương lai của một khoản tiền hiện tại

Đồng tiền có giá trị theo thời gian Một khoản đầu tư có thể tăng sau một thời gian do có lãi suất Nếu đầu tư một khoản PV trong n năm, lãi suất các năm tương ứng là r 1 , r 2 , và FV(n; r 1 , r 2 r n ) là giá trị cuối kỳ thì:

FV(n; r 1 , r 2 r n ) = PV(1+r 1 )(1+r 2 ) (1+r n ) Nếu lãi suất không đổi qua các năm: r 1 =r 2 = =r n thì :

FV(n;r) = PV(1+r) n

Trong đó:

Trang 17

FV(n;r) : giá trị cuối kỳ

n: Số năm (hay số thời kỳ)

r : lãi suất năm (%) (hay thời kỳ)

PV: Giá trị ban đầu

- Nếu tính theo tháng thì công thức biến đổi như sau:

FV(n;r) = PV(1+r) n/12

Trong đó:

FV(n;r) : giá trị cuối kỳ

n: Số tháng gửi

r : lãi suất năm (%)

PV: Giá trị ban đầu

- Nếu tính theo ngày thì công thức biến đổi như sau:

FV(n;r) = PV(1+r) n/365

Trong đó:

FV(n;r) : giá trị cuối kỳ

n: Số ngày gửi

r : lãi suất năm (%)

PV: Giá trị ban đầu

- Lãi suất nhiều kỳ trong năm:

Trang 18

- Giá trị tại một thời điểm thời gian trong tương lai của một dòng thu nhập đều đặn trước đó.

)

Xác định giá trị hiện tại của một khoản tiền trong tương lai:

PV= (1 r)(1 r ) (1 r )

r)FV(n,

n 2

r)FV(n,+

Thời gian tính theo tháng:

PV =

n/12r)(1

r)FV(n,+

Thời gian tính theo ngày:

PV =

n/365r)(1

r)FV(n,+

- Giá trị hiện tại của dòng thu nhập tại các thời điểm khác nhau trong tương lai

PV(n, r 1 r 2 r n %) =

1 1

1)r(1

FV+

+

2 2

2)r(1

FV+

+ +

n n

n)r(1

FV+

Trong đó:

Trang 19

PV: Giá trị hiện tại

FV 1 : Giá trị thu nhập của năm 1

FV 2 : Giá trị thu nhập của năm 2

FV n : Giá trị thu nhập của năm n

Nếu FV 1 = FV 2 = FV n = FV và r 1 = r 2 = = r n = r thì

PV(n, r) =

1r)(1

FV+

+

2r)(1

FV+

+ +

nr)(1

FV+

Như vậy, nếu ta cần xác định giá trị của toàn bộ công ty hoặc của từng cổ phiếu tại thời điểm hiện tại thì có thể áp dụng công thức tổng quát sau:

Trong đó:

FV i : là thu nhập của toàn công ty hoặc từng cổ phiếu hàng năm.

r i : lãi suất năm i.

Về nguyên tắc, dòng thu nhập có thể là vô hạn vì một công ty và cổ phiếu của công ty có thể tồn tại vô thời hạn.

2.2.1 Nguyên tắc ngang giá

Trong điều kiện thị trường hoạt động trôi chảy và không có những yếu tố làm nó méo mó giá cả, nguyên tắc giá trị hiện tại và lợi suất tương ứng với rủi ro đưa đến hệ quả là giá cả của nó Tại những thời điểm nhất định, do sự mất cân đối

về thông tin hay thông tin không đầy đủ thì có thể phát sing sự chêch lệch giữa giá

cả và hiện giá của một tài sản nhưng trên thị trường lập tức sẽ đẩy giá thị trường

về sát với hiện giá của nó Đây chính là hoạt động có tác dụng điều chỉnh thường xuyên trên các TTCK phát triển Mặt khác, cơ chế trên còn đưa một nguyên lý nữa

là giá cả của các tài sản có cùng dòng tiền thu nhập và cùng độ rủi ro thì phải

Trang 20

bằng nhau nếu giả định rằng chi phí giao dịch là bằng không và thị trường hoạt động hiệu quả.

2.2.2 Lợi suất tương ứng với rủi ro

Lãi suất r nêu trên chính là tỷ suet để qui các luồng tiền thu nhập trong twong lai của tài sản tài chính về giá trị hiện tại hay còn gọi là tỷ lệ chiết khấu Với choc năng đó, tỷ lệ chiết khấu phải tương xứng với mức độ rủi ro của tài sản tài chính và còn được gọi là lợi suất mong đợi điều chỉnh theo rủi ro bởi vì xét từ góc

độ nhà đầu tư nó là lợi tức được thể hiện theo giá trị tương đối (phần trăm) mà

họ mong muốn thu được qua việc đầu tư vào một tài sản có mức độ rủi ro nhất định Rủi ro này bao gồm rủi ro hệ thống (rủi ro không thể tránh khỏi) và rui ro phi hệ thống (rủi ro có thể loại trừ bằng cách đa dạng hoá) Do vậy, r phải bao hàm hai yếu tố: lợi suất phi rủi ro và phí bù đắp rủi ro Lợi suất phi rủi ro đem lại lợi tức thực, cps tính lợi đến lạm phát cho nhà đầu tư (mà điển hình là lãi suất của Tín phiếu Kho bạc); còn phí bù đắp rủi ro bao gồm: rủi ro vỡ nợ, rủi ro kỳ hạn, rủi

ro về tính thanh khoản, rủi ro tỷ giá hối đoái gắn với từng loại tài sản

Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM)

Một phát triển của lý thuyết thị trường vốn là mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), được áp dụng phổ biến trong bối cảnh tài chính hiện tại Về cơ bản, CAPM chỉ ra rằng lợi suất mong đợi (hay yêu cầu) của tài sản tài chính bằng với lợi suất của chứng khoán phi rủi ro cộng với chi phí bù đắp rủi ro, theo công thức sau:

re = rf + [ E(rm) - rf] βe

Trong đó:

rf = lợi suất phi rủi ro

Trang 21

m e f

= rủi ro hệ thống của tài sản

re= lợi suất yêu cầu

Lợi suất yêu cầu, re là một hàm số của rủi ro hệ thống (β) Rủi ro beta của danh mục thị trường bằng 1,0 Hệ số β của chứng khoán càng lớn thì mức rủi ro

càng cao, và do vậy lợi suất yêu cầu (re) phái càng lớn

Để áp dụng phương pháp CAPM, chúng ta cần phải xác định ba nhân tố: lợi suất phi rủi ro, mức bù đắp rủi ro thị trường, và rủi ro hệ thống (β).

Xác định lợi suất phi rủi ro

Trang 22

Lợi suất phi rủi ro là thu nhập từ một chứng khoán hoặc một danh mục đầu

tư chứng khoán không có rủi ro và hoàn toàn không chịu tác động của các biến đôngk kinh tế Người ta thường áp dụng lãi suất tín phiếu kho bạc là phù hợp nhất Nguyên nhân chủ yếu là do tín phiếu kho bạc có kỳ hạn ngắn, do vậy hầu như không chịu rủi ro biến động lãi suất trên thị trường

Xác định mức bù đắp rủi ro thị trường

Bù đắp rủi ro thị trường (giá của rủi ro) là phần chênh lệch giữa lợi suất dự

tính từ danh mục thị trường và lợi suất phi rủi ro, E(rm) - rf Mô hình CAPM lập luận rằng chứng khoán càng rủi ro thì mức lãi suất yêu cầu khi đầu tư vào chứng khoán đó càng phải lớn, tức là chi phí của công ty phát hành ra chứng khoán đó phải càng lớn Lý do ở chỗ rủi ro càng cao thì mức bù đắp rủi ro phải càng lớn Vì danh mục thị trường có hệ số β bằng 1 nên mức bù đắp rủi ro thị trường E(rm) -

rf được coi là giá của một đơn vị rủi ro Vì vậy, đối với một chứng khoán nào đó có

e

β

> 1 thì mức bù đắp rủi ro cho chứng khoán đó phải cao hơn mức bù đắp rủi ro

thị trường, βe[ E(rm) - rf] Trường hợp ngược lại thì mức bù đắp rủi ro của chứng khoán sẽ thấp hơn mức bù đắp thị trường.

Xác định rủi ro hệ thống (βe):

Xác định hệ số βephụ thuộc vào việc liệu cổ phần của công ty có được niêm yết hay không.

Trang 23

Nếu công ty thực hiện chào bán ra công chúng thì nhà đầu tư có thể sử

dụng các hệ số β được công bố rộng rãi làm thước đo Các hệ số β này được cập nhật theo định kỳ (quý hoặc năm, ) Việc xác định rủi ro hệ thống này được căn

cứ vào các hệ số tài chính của từng công ty Chúng thay đổi khi các hệ số tài chính này thay đổi, và phản ánh sự đánh giá gần nhất của thịư trường vfề rủi ro vốn cổ phần một cách chính xác hơn.

Một phương pháp xác định β một cách phổ biến là dùng thống kê toán học Tuy nhiên, phương pháp này chỉ có thể hực hiện được khi thị trường chứn khoán

đã hoạt động được một thời gian dài Để xác định β của một công ty, người ta thu

thập số liệu quá khứ (ít nhất là 5 năm) về mức chi phí vốn cổ phần (re) của công

ty đó và gắn kết chúng trong mối quan hệ với mức bù đắp rủi ro thị trường thep

mô hình CAPM như sau:

Trang 24

ra = re x D E

E+

+ rd E D

D+

(1-t) Trong đó:

ra là lợi suất thu nhập ước tính trên tài sản của công ty hay chính là chi phí vốn bình quân gia quyền của một công ty.

re là lợi suất phải trả cho vốn cổ phần (chính là lợi suất yêu cầu của nhà

đầu tư) và rd là lãi suất vay nợ.

E và D là khối lượng vốn cổ phần và vốn vay tương ứng

t là thuế suất thuế thu nhập của công ty

Từ công thức trên ta có thể suy ra công thức tính lợi suất yêu cầu đới với cổ phiếu:

re = ra + (D/E) [ ra - rd(1-t)]

Mô hình CAPM đựoc sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực tài chính để xác định lợi suất yêu cầu đối với một tài sản tài chính Tuy nhiên, mô hình này có các nhược điểm sau:

- Không phản ánh được cả rủi ro hệ thống lẫn rủi ro phi hệ thống của chứng khoán

- Do thông tin không cân xứng nên khó dự đoán được hệ số beta, lợi nhận

bù đắp rủi ro của thị trường

3 Phân tích những thông tin cơ bản phục vụ quá trình định giá cổ phiếu phổ thông

Trang 25

3.1 Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp

Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp đi sau xem xét tình hình tài chính những năm đã qua của công ty có cổ phiếu định giá và so sánh với những công ty hoạt động cùng ngành nhằm thu được những đặc thù hoạt động riêng của công

ty, những xu hướng biến động riêng của công ty làm cơ sở dự báo hoặc tìm kiếm công ty tương đương.

Khi phân tích các chỉ số tài chính cần lưu ý rằng: Nếu như bảng cân đối kế toán (BCĐKT) phản ánh những tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của công

ty tịa một thời điểm, thì báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD) phản ánh kết quả kinh doanh của công ty trong một thời kỳ nhất định Vì vậy khi phân tích các chỉ số tài chính mà có một chỉ tiên thuộc BCĐKT, một chỉ tiêu thuộc BCKQKD thì có hai quan điểm khác nhau về việc lựa chọn số liệu phục vụ phân tích: Thứ nhất, có thế tính toán theo số dư cuối kỳ, quan điểm thứ hai lại dùng số dư trung bình của kỳ Nhưng trong báo cáo này, em sẽ phân tích các chỉ số tài chính dựa trên số dư trung bình của kỳ, do số dư trung bình của kỳ cho phép phản ánh hợp lý những thay đổi trong kết quả kinh doanh mà có kiên quan đến việc thay đổi các khoản mục tài sản trong kỳ tài chính Phần này bao gồm:

Phân tích các tỷ số tài chính

Các hệ số tài chính được sử dụng rộng rãi khi xem xét tình hình và đặc điểm hoạt động của một doanh nghiệp do chúng phản ánh được mối quan hệ của những con số tuyệt đối trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp Do các hệ số này

là chỉ tiêu tương đối, phản ánh quan hệ giữa các đại lượng, nên việc phân tích chỉ

có ý nghĩa khi so sánh tương quan; thông thường người ta thường so sánh hệ số của một doanh nghiệp xem xét với:

- Hệ số của nền kinh tế;

- Hệ số trung bình ngành hoạt động của doanh nghiệp;

Trang 26

- Hệ số của các đối thủ cạnh tranh chính trong ngành ;

- Hệ số thực hiện trong quá khứ.

Do các hệ số tài chính được tính toán từ số liệu tuyệt đối trên báo cáo tài chính, để đảm bảo tính so sánh được của các hệ số thì việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các doanh ngiệp phải nhất quán; điều này đòi hỏi phải có sự hiện diện của những nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung hoặc các chuẩn mực kế toán cung như sự tuân thủ của các doanh nghiệp Tại những nước có nền kinh tế phát triển, sự thống nhất về chẩn mực kế toán cho phép việc tính toán hệ số tài chính được thực hiện bởi các công ty chuyên nghiệp Đới với những quốc gia chưa đạt đến sự đồng nhất trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính, tuỳ thuộc quan

hệ tài chính cần tìm hiểu, người phân tích có sự linh hoạt độc lập khi lựa chọn hệ

số phân tích và việc đưa các số liệu từ báo cáo tài chính vào công thức tính toán.

Các tỷ số về khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động

Nợ ngắn hạn Tài sản lưu động thường bao gồm tiền, chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển nhượng, các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho); còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả nàh cung cấp, các khoản phải trả, phải nộp khác Cả tài sản lưư động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định

- tới một năm Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó.

Để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn, các nhà phân tích còn quan tâm tới chỉ tiêu vốn lưu động ròng hay vốn lưu động

Trang 27

thường xuyên của doanh nghiệp Nó được xác định là phần chênh lệch giữa tài sản lưu động và tổng nợ ngắn hạn, hoặc là phần chênh lệch giữa vốn thường xuyên ổn định với tài sản ròng Khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, mở rộng qui mô sản xuất king doanh và khả năng nắm bắt thời cơ thuận lợi của nhiều doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào vốn lưu động ròng Do vậy, sự phát triển của không ít doanh nghiệp còn được thể hiện ở sự tăng trưởng vốn lưu động ròng.

- Tỷ số khả năng thanh toán nhanh: là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu Tài sản dự trữ là tài sản khó chuyển đổi thanh tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ bị lỗ nhất nếu được đem bán Do vậy, tỷ số khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hàon trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ và được xác định bằng cách lấy tài sản lưu động trừ phần dự trữ chia cho nợ ngắn hạn.

Các tỷ số về khả năng cân đối vốn

Tỷ số này dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp

so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp và có ý nghĩa quan trọng trong phân tích tài chính Bởi lẽ, các chủ nợ nhìn vào số vốn của chủ sở hữu công

ty để thể hiện mức độ tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho các món nợ.

- Hệ số nợ (tỷ số nợ trên tổng tài sản)

Tỷ số này được đo bằng lấy tổng nợ phải trả chia cho tài sản Tỷ số này được sử dụng để sác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn Thông thường các chủ nợ thích tỷ số nợ trên tổng tài sản vừa phải vì

tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp ưa thích tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh

Trang 28

nghiệp Song nếu tỷ số nợ quá cao, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Các tỷ số về khả năng hoạt động

Các tỷ số hạot động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp được đầu tư cho các loại tài sản khác nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm tới việc đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu doanh thu được sử dụng chủ yếu trong tính toán các chỉ số này để xem xét khả năng hạot động của doanh nghiệp.

- Vòng quay của tiền

Tỷ số này được xác định bằng cách chia doanh thu (DT) trong năm cho tổng

số tiền và các loại tài sản tương đương tiền bình quân (chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển nhượng); nó cho biết số vòng quay của tiền trong năm.

- Vòng quay dự trữ (tồn kho)

Là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vòng quay dự trữ được xác định bằng tỷ số giữa doanh thu trong năm (hoặc giá vốn hàng bán) và giá trị dự trữ (nguyên vật liệu, vật liệu phụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm) bình quân.

Vòng quay hàng tồn kho sẽ xem xét hiệu quả của công ty trong việc quản lý

và bán hàng trong kho Đó chính là tiêu chuẩn để đánh giá tính thanh khoản của hàng tồn kho của một công ty.

- Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu x 360/DT

Trong phân tích tài chính, kỳ thu tiền được sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân

Trang 29

một ngày Kỳ thu tiền bình quân giúp chúng ta đánh giá khả năng chuyển đổi thành tiền của các khoản thu, hay khả năng của công ty trong việc thu nợ của khách hàng Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp và các khoản trả trước.

- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định

Chỉ tiêu này cho biết một đồng tìa sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm.

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = TSC§

DT

Tài sản cố định ở đây được xác định theo giá trị còn lại đến thời điểm lập báo cáo.

- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản:

Chỉ tiêu này được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó được đo bằng tỷ số giữa doanh thu và tổng tài sản và cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.

Các tỷ số về khả năng sinh lãi

Nếu như các nhóm chỉ số trên phản ánh hiệu quả từng hạot động riêng biệt của doanh nghiệp thì tỷ số về khả năng sinh lãi phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp.

- Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm

Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia thu nhập sau thuế cho doanh thu.

Nó phản ánh số lợi nhuận sau thuế trong một trăm đồng doanh thu.

- Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE)

Trang 30

ROE = VCSH

TNST

Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ

sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư

và doanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp.

- Doanh lợi tài sản (ROA)

ROA phản ánh mức sinh lời của toàn bộ danh mục tài sản của doanh nghiệp

- khả năng quản lý tài sản của các nhà quản lý doanh nghiệp.

- Thu nhập trên cổ phần: Hệ số này được tính bằng cách lấy thu nhập sau thuế chia cho số lượng cổ phiếu đã phát hành Hệ số này cho chúng ta thấy thu nhập của cổ đông thường

- Hệ số chi trả cổ tức: Đo bằng cổ tức cho trả cho cổ phần thường hàng năm chia cho thu nhập của mỗi cổ phần Hệ số này đo lường phần trăm lợi nhận ròng trả cho cổ đông thường dưới dạng cổ tức.

Phân tích rủi ro tài chính

Do mục đích của việc phân tích là tìm kiếm những cơ sở thông tin để dự báo những thông số của dòng tiền trong phương pháp chiết khấu dòng tiền, do vậy

Trang 31

việc phân tích tương quan sẽ tập trung so sánh với mức trung bình ngành và mức thực hiện quá khứ Đồng thời, thống nhất với bản chất của các hệ số thuộc nhóm này, việc phân tích cũng tập trung tìm kiếm mức dộ rủi ro tài chính do việc sử dụng vốn nợ của doanh nghiệp làm cơ sở xác định phần bù rủi ro khi tính toán chi phí vốn chủ sở hữu (hoặc mức lợi tức yêu cầu của chủ sở hữu) Việc phân tích có thể sử dụng cáchệ số sau:

Nợ dài hạn/ Vốn chủ sở hữu = Tængvènchñsëh­u

h¹ndµinîTæng

Hệ số này nói lên cơ cấu sử dụng nợ dài hạn so với vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp trong đó nợ dài hạn bao gồm các khoản vay dài hạn, trái phiếu, các khoản nợ thuế dài hạn, nợ dài hạn khác Việc phân tích cơ cấu sử dụng nợ dài hạn cũng có thể sử dụng một số hệ số khác:

Nợ dài hạn/ Tổng vốn dài hạn = Tængvèndµih¹n

h¹ndµinîTæng

Trong đó tổng vốn dài hạn bao gồm cả nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu

Đối với những công ty sử dụng nhiều nợ ngắn hạn để tài trợ cho vốn lưu động, việc phân tích có thể sử dụng hệ số sau:

Tổng nợ/ Tổng vốn chủ sở hữu = Tængvènchñsëh­u

nîTæng

Trong đó tổng nợ bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn cho phép phản ánh chính xác hơn rủi ro thanh toán, rủi ro tài chính do sử dụng nợ của doanh nghiệp.

Việc phân tích cũng có thể tiến hành với một hệ số điều chỉnh như sau:

Trang 32

Tổng nợ dài hạn có lãi suất/ Tổng vốn chủ sở hữu = Tængvènchñsëh­u

nîTæng

Hệ số này rất gần gũi với công thức xác định chi phí vốn bình quân, nó phản ánh chính công ty phải chia sẻ lợi nhận từ hoạt động kinh doanh và nghĩa vụ phải đảm bảo dòng tiền thanh toán gốc vay.

Khi phân tích các hệ số thuộc nhóm rủi ro tài chính này, đối với một nền kinh tế thị trường non trẻ như Việt Nam, các doanh nghiệp chưa có sự đồng nhất trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính, chính sách kế toán còn nhiều thay đổi, người phân tích cần tìm hiểu kỹ những ghi chú báo cáo tài chính để đạt được

sự hiểu biết thấu đáo về bản chất của các khoản mục của báo cáo Việc phân tích cũng được tiến hành theo hướng đạt được hiểu biết sâu sắc về tình hình sử dụng

nợ và những điểm nhất quán trong chính sách sử dụng nợ của doanh nghiệp hữu hiệu cho việc áp dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền định giá cổ phiếu.

Tiềm năng tăng trưởng

Phân tích các hệ số phản ánh khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp rất

có ý nghĩa trong việc lập dự báo mức tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai Phân tích tương quan ngành, tương quan với các đối thủ cạnh tranh trong ngành, tương quan thực hiện quá khứ kết hợp với các nguồn thông tin về nền kinh tế, ngành hoạt động cho phép chúng ta nắm bắt được vị trí và tình hình hoạt động của doanh nghiệp hiện tại và khả năng tăng trưởng trong những năm tiếp theo Việc phân tích thông thường sử dụng những

hệ số sau:

Hệ số thu nhập giữ lại = ThunhËpsauthuÕ

tøccætr¶

saunhËpThu

Trang 33

Thu nhập không chia cổ tức là một thành phần quan trọng để tái đầu tư sinh lợi, để đạt được một tỷ lệ tăng trưởng doanh thu kế hoạch thì bên cạnh việc

sử dụng nợ, doanh nghiệp cũng phải cân nhắc sử dụng một phần hợp lý của lợi nhận sau thuế để đầu tư cho vốn lưu động hoặc tài sản cố định Hệ số trên nói lên một đồng thu nhập doanh nghiệp có được từ hạot động sản xuất kinh doanh sẽ giữ lại bao nhiêu đồng làm vốn chủ sở hữu để tái đầu tư.

Thu nhập sau thuế/ Vốn chủ sở hữu = Vènchñsëh­u

thuÕsaunhËpThu

Hệ số trên nói lên một đồng vốn chủ sở hữu sử dụng vào sản xuất kinh doanh trong năm qua đã mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận, các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm đến hệ số này khi xem xét tình hình hoạt động của doanh nghiệp.

Sự kết hợp giữa hai hệ số trên sẽ cho ta tỷ lệ tăng trưởng tiềm tàng của thu nhập đối với chủ sở hữu:

g = Hệ số thu nhập giữ lại x Thu nhập sau thuế/ Vốn chủ sở hữu

Tỷ lệ tăng trưởng tiềm tàng trên được sử dụng khi xác định tỷ lệ tăng trưởng của dòng tiền trong phương pháp chiết khấu dòng tiền.

Phân tích cơ cấu

Để dự báo được các dòng tiền (dòng tiền hoạt động, dòng tiền thuần đối với chủ sở hữu, luồng cổ tức) hoặc lấy thông tin cơ sở để tìm môt đối tượng tương quan theo hệ số tham chiếu thì cần thiết phải dự báo được BCĐKT và BCKQKD trong một giai đoạn nhất định Vì vậy, cần thiết phải phân tích cơ cấu: Các khoản mục tài sản, các khoản mục chi phí trên doanh thu của số liệu trong những năm quá khứ Từ đó, tìm được tỷ lệ biến động qua các năm trên cơ sở đó dự đoán xu hướng biến động cho những năm tới của từng khoản mục trong hai báo cáo tài chính.

Trang 34

Các khoản mục tài sản có thể được phân tích trên doanh thu (Ví dụ: Phải thu, TSCĐ ) hoặc phân tích trên tổng tài sản hoặc trên giá vốn hàng bán Qua đó lựa chọn độ biến động của từng khoản mục hợp lý theo tài sản hoặc doanh thu.

3.2 Phân tích môi trường kinh tế

Phân tích môi trường kinh tế xem xét tình hình phát triển kinh tế của quốc gia, tình hình phát triển của ngành xem xét trong tổng thể nên kinh tế quốc dân, tình hình cạnh tranh nội bộ ngành từ đó cung cấp những cơ sở dự báo hoặc có những điều chỉnh thích hợp khi định giá cổ phiếu xem xét Phần này bao gồm:

Phân tích tình hình phát triển và triển vọng nền kinh tế

Môi trường chính trị-xã hội và pháp luật luôn có những tác động nhất định đến hạot động của TTCK của quốc gia đó, thậm chí còn có ảnh hưởng đến TTCK của quốc gia khác Những biến động về môi trường chính trị-xã hội và pháp luật

có thể tạo ra những thay đổi về môi trường kinh doanh, làm tăng thêm sự bất ổn

về thu nhập mong đợi và làm cho nhà đầu tư quan tâm hơn đến khoản tiền bù đắp rủi ro.

Những thay đổi về Chính phủ và các hoạt động chính trị, thay dổi các chính sách kinh tế, chính sách quản lý nhà nước, chính sách đối ngoại, các kế hoạch thu chi của Chính phủ đều tác động đến nhiều ngành nghề, làm thay đổi môi trường kinh tế vĩ mô và tác động tới TTCK.

Các nhà đầu tư và nhà kinh doanh trên thị trường phải luôn thận trọng trước những thay đổi về chính trị và phải có khả năng đánh giá những thay đổi này theo hoạt động của thị trường Họ không thê xem nhệ vấn đề này hơn báo cáo thu nhập mới nhất của công ty.

Như vậy, thật cần thiết khi phân tích các ảnh hưởng của nền kinh tế vĩ mô tới rủi ro chung của TTCK, gọi là rủi ro hệ thống Rủi ro này tác động tới toàn bộ

Trang 35

thị trường, đến tất cả mọi chứng khoán mà bản thân từng doanh nghiệp, từng ngành không thể tránh được.

Có nhiều nhân tố vĩ mô cơ bản tác động trực tiếp tới các hoạt động đầu tư trên TTCK Sau đây sẽ phân tích ảnh hưởng của một số nhân tố.

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), là tổng giá sản phẩm hàng hoá dịch vụ của nền king tế Tốc độ tăng trưởng GDP nhanh thể hiện một nền kinh tế phát triển tạo nhiều cơ hội cho công ty tăng nhanh doanh số bán hàng Đây là đầu ra của nền kinh tế và là sản lượng sản xuất của nền kinh tế.

Việc làm: Tỷ lệ thất nghiệp đo lường mức độ nền kinh tế đang hoạt động với khả năng cao nhất hay chưa tỷ lệ tận dụng hoá năng lực sản xuất cũng cần được chú

ý khi phân tích Tỷ lệ này là chênh lệch giữa săn lượng đầu ra của các nhà máy trên thực tế và sản lượng tiềm năng.

Tỷ giá hối đoái: Khi nhà đầu tư nhận định tỷ giá hối đoái đồng nội tệ tăng, tức là đồng nội tệ có thể bị phá giá trong thời gian tới thì nhà đầu tư đó sẽ quyết định không đầu tư vào chứng khoán hoặc sẽ thay thế chúng bằng tài sản ngoại tệ vì chứng khoán chính là tiền nếu tiền mất giá thì chứng khoán sẽ giảm giá.

Thâm hụt ngân sách: Nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng các khoản vay của Chính phủ, nếu giá trị các khoản vay lớn sẽ có tác động làm tăng lãi suất chuẩn và sẽ cản trở việc vay nợ và đầu tư cá nhân, bóp nghẹt việc đầu tư kinh doanh.

Tâm lý: Thái độ lạc quan hay bi quan đối với nền kinh tế của người tiêu dùng và nhà sản xuất là yếu tố quyết định đến nền kinh tế Ví dụ, nếu người tiêu dùng biết mức thu nhập của mình sẽ tăng trong tương lai thì họ sẽ sẵn sàng chi tiêu cho khoản tiêu dùng có giá trị lớn.

Trang 36

Cung ứng tiền và tổng chi người tiêu dùng: Ccá chỉ tiêu này có ảnh hưởng đến doanh số bán hàng và là cơ sở cho thu nhập của doanh nghiệp.

Lạm phát và lãi suất: Đây là hai nhân tố rất quan trọng gây ảnh hưởng lớn tới quyết định đầu tư vào TTCK Lãi suất là nhân tố tác động tới mức giá chứng khoán và lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư vào chứng khoán.

Mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu: Nếu như mối quan hệ giữa giá trái phiếu và lãi suất là ngược chiều thì mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu lại không trực tiếp không hoàn toàn diễn ra theo một chiều Có thể xẩy ra một số trường hợp như sau:

Lãi suất tăng do tỷ lệ lạm phát tăng và thu nhập công ty theo đó cũng tăng vì công

ty có thể tăng giá cho phù hợp với mức tăng của chi phí Trong trường hợp này, giá cổ phiếu có thể khá ổn định vì ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng tỷ suất lợi nhuận đã được đền bù một phần hay toàn bộ bởi phần tăng của tỷ lệ tăng trưởng thu nhập và cổ tức.

Lãi suất tăng, nhưng luồng thu nhập dự tính thay đổi rất ít do công ty không có khả năng tăng giá để phù hợp với chi phí tăng Do vậy, giá cppr phiếu giảm.

Lãi suất tăng trong khi luồng thu nhập giảm vì các nguyên nhân làm tăng lãi suất lại gây tắc động xấu tới thu nhập của công ty Hoặc là người ta có thể hình dung thời kỳ lạm phát trong đó chi phí sản xuất tăng, nhưng nhiều công ty không thể tăng giá, dẫn tới biên độ lợi nhuận giảm Tcá động của một loạt các sự kiện này là rất tồi tệ, giá cổ phiếu sụt giảm nghiêm trọng.

Đối với những trường hợp ngược lại so với các trường hợp trên, ta có thể hình dung ra một loạt các khả năng ngược lại khi lạm phát và lãi suất giảm, Mối quan hệ giữa lạm phát, lãi suất và giá cổ phiếulà một vấn đề đòi hỏi phải có kinh nghiệm và ảnh hưởng của chúng thay đổi theo từng thời kỳ.

Trang 37

Chu kỳ kinh doanh: Nền kinh tế luôn trải qua các thời kỳ mơ rộng và thu hẹp

Như đã nêu trên, môi trường kinh tế vĩ mô quyết định xu thế chung của TTCK Thông thường, khi nền kinh tế phát triển tốt, TTCk đi lên và ngược lại khi nền kinh tế vĩ mô sa sút thì TTCK đi xuống Như vậy, nếu dự báo được xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, thì cá thể dự báo được xu thế phát triển chung của TTCK Một vấn đề cần lưu ý là, vì nhiều lý do khác nhau, quan hệ này không phải lúc nào cung diễn ra cùng chiều và nếu có thì chúng có thể xẩy ra theo trật tự khác nhau Trên thực tế cho thấy, TTCK trong giai đoạn nền kinh tế phát triển rất mạnh thì lại đi xuống và ngược lại Vì vậy, các nhà đầu tư luôn cố gắng dự đoán tình hình kinh tế để tìm ra những đỉnh điểm của chu kỳ kinh tế và chọn thời cơ tham gia hoặc rút lui khỏi TTCK.

Phân tích tình hình phát triển và triển vọng của ngành xem xét

Mục tiêu của phân tích ngành nhằm lấy thông tin cơ sở để dự báo theo phương pháp chiết khấu dòng tiền hoặc lấy thông tin cơ sở để tìm một đối tượng tương quan theo hệ số tham chiếu.

Một số lý do để phân tích ngành

Trong một ngành thì tỷ suất lợi nhuận cũng không ổn định Một ngành hoạt động tốt tại một thời điểm nào đó thì cũng không có nghĩa có sẽ hoạt động tốt trong tương lai Vì vậy phải luôn theo dõi động thái hoạt động của ngành để thu thập thông tin nhằm phục vụ cho dự báo hoặc tìm một đối tượng tương quan tham chiếu Vào cùng một thời điểm, các ngành khác nhau sẽ có mức rủi ro khác nhau, do đó càn đánh giá mức độ rủi ro của ngành để xác định mức lợi suất đầu

tư tương xứng cần phải có Rủi ro của ngành biến động theo thời gian, do vậy có thể phân tích mức rủi ro của ngành trong quá khứ để dự đoán rủi ro trong tương lai.

Trang 38

Phân tích tình hình phát triển và triển vọng ngành nhằm dự đoán xu hướng biến động tăng, giảm của ngành trong tương lai Vì vậy phải phân tích những số liệu quá khứ về ngành, bao gồm:

Phân tích tình hình cạnh tranh nội bộ ngành

Phân tích môi trường mà ở đó công ty tiến hành hoạt động kinh doanh, đánh giá sức mạnh của các đối thủ hiện có trong ngành sẽ quyết định cường độ cạnh tranh nội bộ ngành Đây chính là áp lực thường xuyên và đe dọa trực tiếp các công ty về vị trí và sự tồn tại của công ty Đặc biệt khi công ty bị lôi cuốn vào cuộc chiến đối đầu về giá sẽ làm cho mức lợi nhuận của ngành giảm sút Những phân tích này nhằm đưa ra bức tranh khái quát chung về các điểm mạnh, yếu của công ty trong mối quan hệ so sánh với tiêu chí chung của ngành Khi phân tích tình hình cạnh tranh nội bộ ngành ta chú ý tới những mặt sau:

Năng lực cạnh tranh:

- Phân tích cơ sở vật chất và điều kiện kinh doanh:

+ Cơ sở vật chất: Lợi thế vị trí, nhà xưởng, phương tiền vận tải, bến bãi + Trình độ quản lý và sự trợ giúp về kỹ thuật.

+ Phần mềm quản lý và kế toán

- Nguồn nhân lực, nguyên liệu, hàng hoá.

- Các mảng hoạt động của doanh nghiệp và ưu thế trong cạnh tranh

Trang 39

+ Khách hàng

+ Chính sách quản lý

+ Ưu thế trong cạnh tranh

4 Các phương pháp định giá cổ phiếu

4.1 Nhóm phương pháp chiết khấu dòng tiền

Cơ sở lý thuyết của phương pháp này: Nền tảng của mô hình này là “luật giá trị hiện hành” cho rằng, giá trị tài sản tại thời điểm hiện tại sẽ bằng tổng giá trị tất cả các dòng tiền mà tài sản này (đã được chiết khấu) sẽ tạo ra trong tương lai:

CF

+

3

3r)+(1

CF

+ +

n

nr)+(1CF

Trong đó: n là tuổi đời của tài sản, CFtlà dòng tiền trong giai đoạn t, r là mức chiết khấu của dòng tiền thể hiện chi phícơ hội và mức rủi ro gắn với dòng tiền dự báo Mức chiết khấu càng cao thì độ rủi ro càng cao.

4.1.1 Phương pháp chiết khấu dòng cổ tức

Nguyên tắc định giá

Cổ phiếu phổ thông đem lại cho người sở hữu một luồng thu nhập tại các thời điểm khác nhau trong tương lai như: cổ tức (được chia hàng nămhoặc theo định kỳ); giá trị cổ phiếu khi người sở hữu bán cổ phiếu đó đi Do vậy, nguyên tắc của phương pháp chiết khấu luồng cổ tức (devident discounted model) xác định giá trị hiện tại cổ phiếu phổ thông dựa trên dòng thu nhập tương lai của cổ phiếu, dùng lợi suất yêu cầu làm lãi suất chiết khấu.

Trang 40

Giá trị cổ phiếu = Giá trị quy về hiện tại của các dòng thu nhập trong

tương lai

Để xác định được công thức tính giá cổ phiếu hiện tại theo phương pháp DDM, trước hết ta hãy xem xét người đầu tư khi mua cổ phiếu sẽ có được các khoản lợi nhuận nào Thứ nhất là cổ tức hàng nămvà sau đó là lãi vốn (tức là chênh lệch về giá cổ phiếu khi bán so với khi mua) Giả sử một người đầu tư mua

và nắm giữ cổ phiếu trong vòng một năm Nếu gọi D1 là cổ tức của cổ phiếu năm sau, P1 là giá của cổ phiếu năm sau và P0 là giá của cổ phiếu hiện tại thì thu nhập của người đầu tư vào năm sau khi bán cổ phiếu sẽ là D1+ (P1 - P0) Ta có lợi suất r đạt được khi mua cổ phiếu với giá P0 là:

0 1 1P

)P-(P+D

(1) Như vậy, ngược lại nếu dự đoán được cổ tức năm sau, giá cổ phiếu năm sau

và tỷ suất lợi nhuận mà người đầu tư yêu cầu (hay còn gọi là lãi suất chiết khấu

hoặc chi phí vốn cổ phần re) thì ta có thể xác định được giá cổ phiếu hiện tại.

Từ (1) ta có:

P0 = 1+r

P+

Ngày đăng: 09/10/2013, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng cân đối kế toán (Ngày..../...../.....) - Những vấn đề lý thuyết liên quan đến định giá cổ phiếu
Bảng c ân đối kế toán (Ngày..../...../.....) (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w