Còn theo Luật các Tổ chức Tín dụng ở Việt Nam, tại khoản 2 điều 20 quyđịnh: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạtđộng ngân hàng và các hoạt động kinh doanh
Trang 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1Khái niệm
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất đối với nềnkinh tế Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặcvai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế
Theo Giáo sư Peter S.Rose trong cuốn “Quản trị ngân hàng thương mại”thì Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính
đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiệnnhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trongnền kinh tế
Còn theo Ngân hàng Thế giới định nghĩa: Ngân hàng là tổ chức tài chínhnhận tiền gửi chủ yếu ở dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra vớimột thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiếtkiệm) Các Ngân hàng gồm có: Ngân hàng thương mại - chỉ tham gia vào cáchoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn, trung và dài hạn; Ngân hàng Đầu tư -hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành; Ngân hàng Nhà ở -cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại khác nữa Tại một
số nước còn có các ngân hàng tổng hợp kết hợp hoạt động ngân hàng thươngmại với hoạt động ngân hàng đầu tư và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm
Luật pháp nước Mỹ thì cho rằng” “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tàikhoản tiền gửi cho phép khách hàng gửi tiền theo yêu cầu và cho vay đối với tổchức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng”
Trang 2Còn theo Luật các Tổ chức Tín dụng ở Việt Nam, tại khoản 2 điều 20 quyđịnh: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạtđộng ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Từ những định nghĩa nói trên có thể rút ra Ngân hàng là một trong nhữngđịnh chế tài chính, mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, vớinghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhucầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
Khái niệm "dịch vụ ngân hàng" cho đến nay vẫn chưa có sự minh định rõràng và còn nhiều cách hiểu khác nhau Có ý kiến cho rằng ngành ngân hàngkhông trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất hoặc tinh thần cho xã hội nên đượcxếp là ngành dịch vụ Do vậy, tất cả các hoạt động của ngân hàng phục vụ chodoanh nghiệp và công chúng đều được coi là dịch vụ ngân hàng
Song, cũng lại có quan điểm cho rằng dịch vụ ngân hàng không thuộcphạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo chứcnăng của một trung gian tài chính (nhận tiền gửi và cho vay) mà chỉ những hoạtđộng không thuộc trung gian nói trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng (như chuyểntiền, môi giới kinh doanh chứng khoán, thu đổi ngoại tệ, quản lý tiền mặt…)
Để hiểu về dịch vụ ngân hàng, trước hết cần làm rõ thuật ngữ dịch vụ:Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, dịch vụ là các hoạt động nhằm thoảmãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt Còn trong cuốn "Lựachọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại" thì kháiniệm về dịch vụ lại được hiểu là các hoạt động của con người được kết tinhtrong giá trị của kết quả trong giá trị của các loại sản phẩm vô hình và không thểcầm nắm được
Vậy, ta có thể thấy hai đặc trưng cơ bản của dịch vụ:
Thứ nhất, Dịch vụ là một sản phẩm.
Trang 3Thứ hai, Dịch vụ là vô hình (phi vật chất) khác với hàng hoá là hữu hình.
Ngân hàng là một tổ chức tài chính, vậy thế nào là dịch vụ tài chính?Dịch vụ tài chính là thuật ngữ được dùng để chỉ hoạt động kinh doanh trong lĩnhvực ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán Theo WTO, dịch vụ tài chính là bất
kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được một nhà cung cấp dịch vụ tài chínhcung cấp Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quantới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừbảo hiểm) Như vậy, dịch vụ ngân hàng được đặt trong nội hàm của dịch vụ tàichính Trong cuốn sách "Phát triển thị trường tài chính Việt Nam trong tiếntrình hội nhập" của Phó Giáo Sư - Tiến sỹ Thái Bá Cẩn và Tiến sỹ Trần NguyênNam cho rằng: Dịch vụ ngân hàng gồm 11 loại hình: Nhận tiền gửi, cung cấpcác tài khoản giao dịch, quản lý tiền mặt, trao đổi ngoại tệ (dịch vụ kiều hối),dịch vụ về tín dụng (chiếu khấu thương phiếu, cho vay tài trợ dự án, cho vaytiêu dùng), dịch vụ uỷ thác, cho thuê tài chính, tư vấn tài chính, dịch vụ quỹtương hỗ và trợ cấp
Tuy nhiên, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai khía cạnh: Rộng vàhẹp
Theo nghĩa rộng: Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đối với doanh nghiệp vàcông chúng Quan niệm theo nghĩa rộng này được sử dụng để xem xét lĩnh vựcdịch vụ ngân hàng trong cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân của một quốcgia Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch
vụ tài chính của WTO và Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng nhưnhiều nước phát triển
Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài
chức năng truyên thống của định chế tài chính trung gian (nhận tiền gửi và chovay) Quan niệm này nên dùng trong phạm vi hẹp khi xem xét hoạt động của
Trang 4một ngân hàng cụ thể để xem xét các dịch vụ mới phát triển như thế nào, cơ cấucủa chúng trong toàn bộ hoạt động của mình.
Trong bài này, dịch vụ ngân hàng được xem xét theo nghĩa hẹp, khôngbao hàm hoạt động truyền thống của ngân hàng thương mại như huy động vốn
và cho vay Các dịch vụ ngân hàng được đề cập ở đây là các hoạt động gắn liềnvới việc thu phí, hưởng hoa hồng do các ngân hàng thương mại thực hiện thôngqua việc phục vụ các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân nhằm tăng nguồnthu cho ngân hàng
1.1.2Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng trước hết mang những đặc điểm chung của hoạt độngdịch vụ như: dịch vụ là vô hình (phi vật chất) Tính vô hình là đặc điểm để phânbiệt sản phẩm dịch vụ với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chất khác trongcác ngành kinh tế Bởi vô hình nên sản xuất và cung ứng dịch vụ diễn ra đồngthời nhưng không thể sản xuất hàng loạt và lưu giữ trong kho để sau đó tiêudùng
Ngoài ra, dịch vụ ngân hàng có những đặc điểm nổi bật sau:
Một là, hoạt động dịch vụ không đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải
sử dụng nguồn vốn của mình Đây là một thuận lợi lớn cho các ngân hàngthương mại có vốn tự có hạn hẹp như các ngân hàng thương mại Việt Nam Dovậy, việc mở rộng hoạt động dịch vụ các loại trở thành lĩnh vực rất cần được cácngân hàng thương mại quan tâm triển khai
Hai là, hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián
tiếp làm tăng thu nhập của ngân hàng thông qua việc thu phí, chênh lệch giá,hoa hồng…
Nếu hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu nhập từ chênh lệch lãi suất chovay thu được và lãi suất đầu vào phải trả thì đối với các hoạt động dịch vụ thu
Trang 5nhập được hình thành từ phí dịch vụ, chênh lệch giá, hoa hồng… (gọi chung làphí dịch vụ).
Một số dịch vụ không đem lại nguồn thu trực tiếp cho ngân hàng nhưnglại nhằm thúc đẩy sự phát triển dịch vụ khác hoặc tăng sức cạnh tranh của ngânhàng nhằm lôi kéo khách hàng
Hoạt động dịch vụ đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng thương mại dochi phí ban đầu thường thấp Đây được coi là một lĩnh vực kinh doanh hiệu quảthu hút các ngân hàng thương mại hiện đại trên thế giới
Ba là, hoạt động dịch vụ được xếp vào những lĩnh vực kinh doanh tương
đối an toàn, có rủi ro thấp Vì thế, mở rộng hoạt động dịch vụ sẽ giúp ngân hànghạn chế những rủi ro như rủi ro lãi suất, đặc biệt là những rủi ro tín dụng do tínhchất thông tin bất cân xứng của thị trường tài chính đem lại
Bốn là, hoạt động dịch vụ ngân hàng đòi hỏi cơ sở hạ tầng tương xứng.
Các ngân hàng thương mại không thể triển khai hoạt động dịch vụ phục vụkhách hàng cá nhân cũng như doanh nghiệp nếu cơ sở vật chất nghèo nàn,lạchậu Hoạt động này gắn liền với sự phát triển của công nghệ hiện đại trong lĩnhvực ngân hàng Hơn nữa, đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình và thành thạotrong các hoạt động nghiệp vụ cũng là đòi hỏi của hoạt động dịch vụ ngân hàng
Năm là, Các dịch vụ ngân hàng mang tính hỗ trợ cao, có mối liên kết chặt
chẽ với nhau Sự ra đời và phát triển dịch vụ này là tiền đề cho sự ra đời và pháttriển của dịch vụ khác Ví dụ: Dịch vụ thanh toán quốc tế phát triển đã đẩymạnh sự phát triển của dịch vụ mua bán ngoại tệ.v.v…
Nhờ đó, đã tạo nên sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các dịch vụ trong sự phát triểndịch vụ ngân hàng Ngân hàng có thể cung cấp những dịch vụ trọn gói chokhách hàng
1.2 CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CHỦ YẾU
Trang 6Ngân hàng thực hiện rất nhiều các nghiệp vụ khác nhau, trong đó có thể
kể đến một số hoạt động cơ bản như sau:
1.2.1 Nhận tiền gửi
Đây là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất đối với hoạt độngkinh doanh của một ngân hàng thương mại Hoạt động nhận tiền gửi giúp ngânhàng có được nguồn vốn để từ đó thực hiện các hoạt động kinh doanh khác, đặcbiệt là nghiệp vụ cho vay Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoảntiền gửi tiết kiệm của khách hàng Khách hàng có những khoản tiền nhàn rỗitạm thời chưa có nhu cầu sử dụng có thể gửi vào ngân hàng trong khoảng thờigian ngắn hoặc dài tuỳ nhu cầu dự kiến sử dụng trong tương lai Vì đây lànguồn vốn quan trọng, hơn nữa trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắtnên các ngân hàng đã tìm mọi cách để huy động nguồn vốn này bằng nhiềuphương thức khác nhau đồng thời cố gắng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của ngườigửi tiền
Một nguồn vốn khác là lượng tiền trên các tài khoản tiền gửi giao dịch
mà ngân hàng có thể sử dụng trong thời gian khách hàng chưa cần dùng đến.Đây là loại tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán choviệc mua hàng hoá, dịch vụ và các nhu cầu cá nhân khác Ngoài ra, ngân hàngcòn có thể huy động vốn từ nền kinh tế bằng việc phát hành các chứng khoán nợtrên thị trường tài chính như: chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu Để thu hút đượcnguồn vốn này, ngân hàng thường phát hành các loại chứng khoán với nhiềuloại kỳ hạn, mức lãi suất khác nhau, có thể ghi danh hoặc không ghi danh
1.2.2 Cho vay
Chiết khấu
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế
là cho vay đối với các doanh nhân địa phương thông qua việc mua bán cáckhoản nợ của khách hàng (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng
Trang 7để lấy tiền trước) Ngày nay, không chỉ dừng lại ở chiết khấu thương phiếu, cácngân hàng thương mại còn chiết khấu các chứng khoán đang còn thời hạn thanhtoán Qua nghiệp vụ này các ngân hàng thu được lãi suất chiết khấu, còn kháchhàng được đáp ứng nhu cầu về vốn.
Cho vay thương mại
Thay vì tài trợ gián tiếp dưới hình thức chiết khấu, các ngân hàng còn chovay trực tiếp đối với các khách hàng (là người mua) giúp họ có vốn để mở rộngsản xuất kinh doanh Hình thức cho vay thương mại có thể là cho vay ngắn hạn
dự trữ hàng tồn kho, hoặc cho vay trung, dài hạn để đầu tư cho việc mua máymóc, thiết bị, nhà xưởng.v.v…
Cho vay tiêu dùng
Trong giai đoạn đầu, các ngân hàng không nhiệt tình cho vay với các cánhân và hộ gia đình do có mức sinh lời không cao và nhiều rủi ro Song sự giatăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã hướng cácngân hàng tới người tiêu dùng như là những khách hàng tiềm năng Từ sauchiến tranh thế giới thứ II, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loạihình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất
Cho vay tài trợ dự án
Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phíxây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong ngành công nghệ cao Do rủi ro trongloại hình này nói chung là cao nên chúng thường được thực hiện qua một công
ty đầu tư cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro
Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (leasing)
Hiện nay, rất nhiều ngân hàng cho khách hàng kinh doanh quyền lựachọn mua các thiết bị, máy móc, thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngânhàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê Các ngân hàng phát triển nghiệp vụnày để phục vụ cho những khách hàng không đủ điều kiện vay như một biện
Trang 8pháp bảo đảm an toàn vốn do tài sản trong thời gian thuê vẫn thuộc sở hữu củangân hàng
Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Vào những năm đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, khả năng huyđộng vốn và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành tâm điểmchú ý của các Chính phủ Do vậy, thông thường ngân hàng được cấp giấy phépthành lập với điều kiện phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất địnhtrên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được Đây chính là hình thứctài trợ cho khoản bội chi ngân sách (đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh thế giớihay khủng hoảng kinh tế)
1.2.3 Dịch vụ thanh toán
Dịch vụ này tạo điều kiện cho cho các khách hàng thực hiện các khoảnthanh toán mà không phải mang đi mang lại một lượng lớn tiền mặt, mở đầucho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt
là thanh toán qua ngân hàng, là tổng hợp các mối quan hệ chi trả tiền tệ đượcthực hiện bằng cách trích chuyển từ tài khoản của người này sang tài khoản củangười khác với sự kiểm soát của ngân hàng mà không cần dùng tiền mặt
Trong mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, ngoài những nghiệp
vụ tín dụng, nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt đóng vai trò cực kỳ quantrọng Khối lượng và chất lượng của nghiệp vụ thanh toán của ngân hàngthương mại về phương diện vi mô, nó tác động đến sự tăng giảm nguồn tàinguyên khả dụng của ngân hàng và sự khai thác của nguồn tài nguyên đó Dovậy, ngân hàng cần phải sử dụng các công cụ thanh toán một cách thuận tiện,hữu hiệu và chính xác
Các công cụ thanh toán qua ngân hàng bao gồm:
Séc
Trang 9Séc là một tờ mênh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản, ra lệnhcho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trong séc,hoặc theo lệnh của ngời ấy hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất địnhbằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản.
Séc bao gồm nhiều loại: Séc ký danh, séc vô danh, séc tiền mặt, sécchuyển khoản, séc bảo chi, séc định mức, séc du lịch…
Thanh toán chuyển tiền
Thanh toán chuyển tiền là phương thức thanh toán cho phép một người
dù có hay không có tài khoản tại ngân hàng có thể trả tiền vào tài khoản củangười khác Phương tiện này đặc biệt có ích trong việc thanh toán các hoá đơntiền điện, cước điện thoại…
Uỷ nhiệm thu
Uỷ nhiệm thu là nghiệp vụ thu tiền mà trong đó người bán uỷ thác chongân hàng thu một khoản tiền của người mua theo hợp đồng mua bán mà ngườimua và người bán ký Uỷ nhiệm thu là một văn thư do khách hàng lập để yêucầu ngân hàng thu một khoản tiền ở người mua trong trường hợp bên mua vàbên bán có tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau
Đây là thể thức thanh toán phức tạp, chậm, rườm rà, không phù hợp vớihoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, chỉ phù hợp với kho bạcNhà nước hoặc là thủ tục áp dụng trong việc mua bán với nước ngoài
Uỷ nhiệm chi
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵncủa ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản của mình để trảcho người thụ hưởng
Thanh toán bằng thẻ
Trang 10Hoạt động nghiệp vụ thẻ thanh toán qua ngân hàng trên thế giới ra đời từnăm 1946 Nhưng nó chỉ thực sự trở thành bước ngoặt trong ngành dịch vụ tàichính – ngân hàng khi vào năm 1949, Frak McNamara, một chủ doanh nghiệpngười Mỹ phát minh ra tấm thẻ thanh toán mang tên Dinner’s Club Với tấm thẻnày, chủ thẻ có thể thanh toán tiền mua hàng hoá, chi trả tiền dịch vụ qua máyđọc thẻ POS hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động ATM Công nghệthanh toán thẻ với nhiều ưu việt nổi trội của nó so với thanh toán bằng tiền mặtnhư không lãng phí vốn trong nền kinh tế, giảm thiểu rủi ro, thuận tiện chokhách hàng đặc biệt là những người hay phải đi xa…nên thẻ thanh toán đãnhanh chóng đi vào cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Thẻ là một sản phẩm dịch vụ có nhiều tiện ích, an toàn dựa trên cơ sở sởcông nghệ hiện đại được ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm hạn chếviệc thanh toán bằng tiền mặt khi mà dân số ngày càng tăng, khối lượng giaodịch ngày càng lớn Đồng thời đây cũng là loại hình dịch vụ làm tăng thêmnguồn thu nhập và khả năng cạnh tranh cho ngân hàng
Các ngân hàng thường phát hành thẻ của ngân hàng mình với các loạinhư thẻ từ, thẻ chíp, thẻ thông minh…Ngoài ra, còn có những tổ chức thẻ Quốc
tế như Master, Visa, Amex…với các sản phẩm thẻ như Visa, Mastercard,Amex, Dinner’s Club…Dịch vụ thẻ đã được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia,vùng lãnh thổ Số lượng thẻ đã phát hành và đang sử dụng vào khoảng trên 2 tỷ,với trên 21 triệu đại lý chấp nhận thanh toán thẻ, hơn 700.000 máy rút tiền tựđộng ATM trên thế giới
Ở Việt Nam, hoạt động thanh toán thẻ mới chỉ được triển khai từ đầunhững năm 90 với sự đi đầu của ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Song chođến nay đã có trên 20 ngân hàng trong nước đã và đang triển khai dịch vụ này
Thư tín dụng
Trang 11Phương thức thanh toán này là một sự thoả thuận mà trong đó một ngânhàng nơi mở thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tíndụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởnglợi số tiền của thư tín dụng) khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một
bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụngnếu bên bán thực hiện đúng và đầy đủ những quy định theo thư tín dụng
Hình thức thanh toán này có độ an toàn và chuẩn xác cao, do đó nó đượcdùng phổ biến trong quan hệ thanh toán quốc tế
Hối phiếu
Hối phiếu ngân hàng là một tờ mênh lệnh trả tiền vô điều kiện do mộtngười ký phát cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu hoặc đếnmột ngày cụ thể nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người nàytrả cho người khác hoặc trả cho người cầm phiếu
1.2.4 Dịch vụ bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng vớibên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khikhách hàng không thực hiện hoặc thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bênnhận bảo lãnh
Căn cứ vào mục đích, bảo lãnh ngân hàng gồm các loại cơ bản sau:
Trang 12 Các loại bảo lãnh khác…
1.2.5 Dịch vụ uỷ thác
Dịch vụ uỷ thác là dịch vụ quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chínhcho cá nhân và doanh nghiệp Dịch vụ này phát triển mạnh khi thị trường tàichính phát triển và đời sống ở mức cao, bao gồm:
Uỷ thác vay hộ và cho vay hộ
Uỷ thác phát hành
Uỷ thác đầu tư
Uỷ thác trong quản lý tài sản và thực hiện di chúc
Uỷ thác trong việc trả lương
Uỷ thác phát hành cổ phiếu, trái phiếu, thanh toán lãi hoặc lợi tức vàthanh toán vốn khi chứng khoán đến hạn
Uỷ thác khác…
1.2.6 Dịch vụ tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyêngia về quản lý tài chính Ngân hàng cung cấp dịch vụ tư vấn dựa trên nhu cầucủa khách hàng và đội ngũ chuyên gia tài chính của mình Ngân hàng có thể tưvấn về thuế, tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sápnhập doanh nghiệp, tư vấn về công nghệ, thị trường cho các doanh nghiệp trên
cơ sở quan hệ với khách hàng và thông tin về thị trường, về công nghệ
1.2.7 Dịch vụ bảo hiểm
Loại hình dịch vụ này nhằm đảm bảo cho khách hàng thanh toán nợ trongtrường hợp tử vong, thương tật hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năngthanh toán Tuy nhiên, tuỳ theo quy định của từng quốc gia cũng giới hạn cácngân hàng thực hiện dịch vụ này như phải thành lập công ty bảo hiểm trực thuộc
Trang 13ngân hàng hoặc chỉ cung cấp bảo hiểm theo một tỷ lệ nhất định so với vốn chủ
sở hữu ngân hàng
1.2.8 Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
Các ngân hàng có khuynh hướng đa năng trong việc cung cấp các dịch vụtài chính trọn gói cho khách hàng, trong đó có dịch vụ môi giới Dịch vụ môigiới được phát sinh nhờ các ngân hàng thương mại có lợi thế thông tin tài chính,
do vậy cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứngkhoán khác
1.2.9 Dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánhhoặc văn phòng ở nhiều nơi Do vậy, các ngân hàng (thường là những ngânhàng thương mại lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàngkhác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầumối trong đồng tài trợ
Bên cạnh những dịch vụ kể trên, ngân hàng còn có các dịch vụ khác nhưcung cấp các kế hoạch hưu trí, cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp, cungcấp các dịch vụ của ngân hàng quốc tế…
1.2.10 Quản lý ngân quỹ
Ngân hàng cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong khi
đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiếnhành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tíndụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán Dịch vụ nàycũng có xu hướng tăng nhằm vào các khách hàng cá nhân
1.2.11 Bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và các tàisản khác cho khách hàng trong két (vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két) Các
Trang 14giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng có thể được lưu hànhnhư tiền – đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng Dịch vụ này pháttriển cùng nhiều dịch vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá cho khách,thanh toán lãi hoặc cổ tức.
1.2.12 Trao đổi ngoại tệ
Đây là một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên, ngân hàng đứng ramua, bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ Trongthị trường tài chính hiện nay, việc trao đổi này là hoạt động thường xuyên và cóquy mô ngày càng mở rộng gắn với hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế.Các ngân hàng thực hiện dịch vụ này với mục đích:
Cung cấp phưong tiện trao đổi cho khách hàng
Thu lợi từ kết quả dự báo diễn biến tỷ giá sẽ tăng trong tương lai
Gửi tại ngân hàng nước ngoài, tổ chức tài chính quốc tế để hưởngchênh lệch lãi suất giữa thị trường trong và ngoài nước
1.3 PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Quan điểm về phát triển dịch vụ ngân hàng thương mại
Sự phát triển dịch vụ ở đây được phân tích trên hai khía cạnh: phát triển
về chiều rộng và phát triển về chiều sâu:
Phát triển về chiều rộng đồng nghĩa với việc đa dạng hoá các loại hìnhdịch vụ Không chỉ duy trì các hoạt động dịch vụ truyền thống như trao đổingoại tệ, bảo quản vật có giá mà phải tiếp cận và áp dụng các dịch vụ hiện đạinhư tư vấn môi giới đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, bảo lãnh…Đồng thời, đẩymạnh phát triển các dịch vụ ứng dụng khoa học kỹ thuật cao như thanh toán quathẻ, dịch vụ internet banking
Như vậy, phát triển ở đây có nghĩa là phải luôn đưa ra được dịch vụ mới,đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng
Trang 15Phát triển về chiều sâu đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng dịch vụ,hoàn thiện các dịch vụ hiện có Khi giữa các ngân hàng không có sự phân biệt
về đa dạng hoá loại hình dịch vụ thì chất lượng dịch vụ là yếu tố quyết định sựthành công của mỗi ngân hàng Vì vậy, ngay từ đầu các ngân hàng phải có kếhoặch và chiến lược ngày càng củng cố và hoàn thiện các hoạt động dịch vụ trên
cơ sở cung ứng cho khách hàng các sản phẩm tiện tích nhanh chóng, thuận tiện,chi phí hợp lý trên cơ sở đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng và tuânthủ các quy định của pháp luật
Chính sách phát triển dịch vụ ngân hàng hướng tới mở rộng khả năng
“cung” dịch vụ Ngân hàng, đồng thời góp phần kích “cầu” về dịch vụ ngânhàng của nền kinh tế
Tóm lại, chính sách phát triển dịch vụ ngân hàng hướng tới mở rộng khảnăng “cung” dịch vụ Ngân hàng, đồng thời góp phần kích “cầu” về dịch vụngân hàng của nền kinh tế
1.3.2 Sự cần thiết của việc phát triển dịch vụ ngân hàng thương mại
Ngân hàng là ngành cung ứng dịch vụ đặc biệt đối với dân cư và nên kinh
tế, sự tồn tại của ngân hàng gắn với sự tồn tại của các dịch vụ do ngân hàngcung ứng Do vậy, phát triển dịch vụ ngân hàng là hết sức cần thiết nhằm gópphần củng cố ngân hàng lớn mạnh, nâng cao vị thế của ngành ngân hàng đối vớinền kinh tế, khẳng định lòng tin trong dân chúng và tự tin trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế
1.3.2.1 Từ yêu cầu của nền kinh tế
Dịch vụ ngân hàng thúc đẩy nền kinh tế theo xu hướng nền kinh tếtri thức
Dịch vụ ngân hàng ngày càng sử dụng nhiều thành tựu của công nghệthông tin Để phát triển các dịch vụ thẻ ATM, dịch vụ internet banking, homebanking, các ngân hàng phải trang bị các thiết bị hiện đại như máy tút tiền tự
Trang 16động, máy đọc thẻ (POS), mạng trực tuyến, Website…Mặt khác, dịch vụ ngânhàng là loại dịch vụ chất lượng ca, đòi hỏi người cung cấp và khách hàng phải
có kiến thức am hiểu nhất định mới có thể sử dụng và vận hành Nhiều trong sốcác loại dịch vụ này tạo ra giá trị tăng cao - một đặc điểm của nền kinh tế trithức
Dịch vụ ngân hàng tạo điều kiện cho các ngành dịch vụ khác pháttriển
Do đặc điểm dịch vụ ngân hàng liên quan sâu rộng đến nhiều ngành,nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống nên sự phát triển của dịch vụ ngân hàngthúc đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ khác Chẳng hạn, lĩnh vực xuấtnhập khẩu sẽ bị hạn chế nếu dịch vụ thanh toán qua ngân hàng không thôngsuốt Đồng thời, dịch vụ thanh toán phát triển đòi hỏi lĩnh vực công nghệ thôngtin cũng phải phát triển Các ngành như du lịch, bưu chính viễn thông, hàngkhông…cũng sẽ phát triển theo
Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế về dịch vụ
Trong điều kiện nền kinh tế mở, tự do hoá thương mại và tự do hoá tàichính ngày càng sâu rộng, nhu cầu thị trường về dịch vụ tài chính phát triển rấtnhanh và vượt xa khả năng đáp ứng của các định chế trung gian tài chính hiện
có của quốc gia Thực tế cho thấy, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính đangngày một tăng, đặc biệt là ở thành thị Nhu cầu đó gắn liền với quá trình ra đờivới tốc độ nhanh chóng của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, cũngnhư quá trình chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần Đó
là nhu cầu về giao dịch cổ phiếu, tư vấn đầu tư, quản lý ngân quỹ…Sự xuất hiệncác doanh nghiệp nước ngoài trong nền kinh tế như chất xúc tác, thúc đẩy sự rađời và phát triển nhanh chóng nhu cầu thị trường về các dịch vụ ngân hàng Đó
là những dịch vụ liên quan đến thanh toán không dùng tiền mặt, rút tiền tựđộng, dịch vụ kiều hối…Rõ ràng, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng mang tính tiên
Trang 17phong, có vai trò tạo động lực kích thích sự ra đời và cơ hội phát triển cho cácnguồn cung ứng dịch vụ trong nước, vốn còn đang rất nghèo nàn.
1.3.2.2 Từ yêu cầu đối với Ngân hàng
Phát triển dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh hiện nay là một trong nhữngbước tiến cần thiết đối với các ngân hàng thương mại Do môi trường cạnhtranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, trước sức ép của hội nhập kinh tếquốc tế các ngân hàng muốn tồn tại buộc phải phát triển dịch vụ của mình đểđảm bảo đứng vững khi nền kinh tế quốc gia hội nhập nền kinh tế quốc tế, khi
mà các ngân hàng phải tham gia vào sân chơi bình đẳng với các ngân hàng nướcngoài và cũng là để cạnh tranh được với các ngân hàng thương mại khác ở trongnước Sự cần thiết phát triển dịch vụ ngân hàng xuất phát từ những lý do cụ thểsau:
Phát triển dịch vụ ngân hàng làm tăng thu nhập của ngân hàng
Từ trước đến nay, nguồn thu nhập chính của ngân hàng là từ lãi cho vay.Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, một ngân hàng không chỉ dựa vào nguồnthu từ tín dụng Sự gia tăng các tổ chức tín dụng đã khiến cho lãi suất đầu vào
có xu hướng tăng cao trong khi lãi suất đầu ra không tăng một cách tương ứng,hay nói cách khác là chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi đang
có xu hướng co hẹp lại Điều này tất nhiên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuậncủa ngân hàng Để có thể duy trì được mức lợi nhuận như trước, các ngân hàng
lựa chọn một trong hai cách: Một là, tăng cường mở rộng hoạt động tín dụng,
đầu tư sang những lĩnh vực có độ rủi ro lớn hơn để có thể duy trì mức chênh
lệch lãi suất như trước kia Hai là, tăng cường phát triển các dịch vụ ngân hàng
để thu hút nguồn vốn có chi phí vốn rẻ hoặc ít rủi ro hơn Song có thể thấy rằng,việc duy trì sự chênh lệch lãi suất thông qua việc tăng trưởng tín dụng và đầu tưvào lĩnh vực rủi ro hơn sẽ mang lại rủi ro hơn cho ngân hàng, trong khi hìnhthức thứ hai an toàn và hiệu quả hơn rất nhiều Do vậy, để tăng cường nguồnthu nhập cho ngân hàng trong điều kiện hoạt động kinh doanh ngày càng có sự